Phẩm IV.b#
Ðại Phẩm (tiếp theo)
5. (40) Chuyện Cây Mía (Ucchu)
Trong khi đức Thế Tôn đang trú tại Veluvana
(Trúc Lâm), một người đang chở mía, cầm một khúc mía, vừa đi vừa ăn. Các
vần kệ này kể lại câu chuyện trên.
Một hôm, Tôn giả Mahà-Moggallàna
(Ðại Mục-kiền-liên) đang đi khất thực vào Vương Xá, gặp một ngạ
quỷ thưa trình như sau:
1. Một rừng mía lớn hiện bên mình,
Bát ngát, mùa phong phú tốt lành,
Song nó không cho tôi chút ít,
Kính thưa Tôn giả đại uy danh,
Nghiệp gì gây quả này như vậy,
Tôn giả cho tôi biết sự tình?
2. Tôi đang thống khổ, bị hành thân,
Tôi cố gắng tìm chút để ăn,
Tôi phấn đấu hoài bên khóm mía,
Sắp tàn hơi thở, chết kề gần,
Tôi than khóc tấm thân đày đọa,
Do nghiệp gì đem quả ấy chăng?
3. Thất bại, tôi nhào xuống đất ngay,
Lăn tròn trong lửa đốt thiêu này
Như con cá nọ, tôi than khóc,
Nước mắt nhỏ ra cả mặt mày,
Tôn giả, xin ngài cho biết rõ,
Nghiệp gì đem kết quả như vầy?
4. Tôi đói khát và kiệt sức tàn,
Kinh hoàng, tôi chẳng biết bi hoan,
Chúc ngài hưởng phước, tôi xin hỏi,
Làm thế nào tôi được mía ăn?
Tôn giả Moggallàna:
5. Khi làm người ở một thời xưa,
Ngươi đã tạo nên một nghiệp tà,
Ta nói cho ngươi nghe việc ấy,
Khi nghe, ngươi biết chuyện vừa qua.
6. Ngươi bước trên đường, lấy mía ăn,
Một Tỳ-kheo đến tự sau lưng,
Bảo ngươi rằng muốn xin đôi chút,
Ngươi chẳng đáp lời, chẳng hé răng.
7. Cho dẫu ngươi không muốn nói năng,
Người kia vẫn nói, giọng xin van:
'Cho tôi khúc mía, thưa ông chủ',
Sau đó ngươi cho một ít phần
Từ phía sau lưng và kết quả
Nghiệp kia ngươi đã lãnh vào thân.
8. Nhìn đây! Cầm mía ở sau mình,
Hãy lấy mía ăn thật thỏa tình,
Do chính việc này, ngươi sẽ được
Hân hoan, thích thú, hưởng ân lành!
9. Nó đi cầm mía tự sau mình,
Khi đã cầm, ăn thật thỏa tình,
Do chính cách này, nên nó được
Hân hoan, thích thú, hưởng ân lành.
Ngạ quỷ ấy bèn cầm một bó mía cúng
dường vị Trưởng lão và vị này đem dâng đức Phật ở Trúc Lâm. Ðức
Thế Tôn cùng hội chúng Tỷ-kheo dùng mía ấy rồi nói lời tùy hỷ
công đức.
Từ đó về sau ngạ quỷ ấy có thể
ăn mía thỏa thích.
Theo thời gian, ngạ quỷ được tái sanh
giữa hội chúng cõi trời Ba mươi ba.
6. (41) Chuyện Các Vương
Tử (Kumara)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong khi
đang trú tại Jevatana (Kỳ Viên)
Tương truyền Ðại Vương nước Kosala
(Kiều-tát-la) trị vì tại Sàvatthi (Xá-vệ) có hai vương tử khả
ái đang độ hoa niên. Trong nỗi đam mê dục vọng của tuổi trẻ không
được kềm chế, hai vị đã phạm tội tà dâm nên sau khi từ trần hai vị
tái sanh làm ngạ quỷ bị đè bẹp trong một ống cống.
Suốt đêm, ngạ quỷ thường than khóc với
những tiếng kêu la khủng khiếp. Dân chúng nghe vậy rất kinh hãi.
Do sự việc này, dân chúng cúng dường
đại lễ lên Giáo hội do đức Phật cầm đầu và bảo nhau:
- Ðiềm xấu này phải chấm dứt.
Sau đó họ trình lên đức Thế Tôn
những việc đang xảy ra. Ngài bảo:
- Này chư đệ tử, chư vị không thể
chấm dứt tiếng kêu la này được đâu.
Rồi Ngài nói rõ nguyên nhân sự việc
này cho hội chúng qua các vần kệ sau:
1. Có một kinh thành tên Xá-vệ,
Ở trên sườn núi Tuyết, cao sơn,
Tôi nghe vầy: Có đôi vương tử
Là các con trai bậc đế vương.
2. Phóng dật buông lung các dục tham,
Tìm nguồn lạc thú ở trần gian,
Chúng không suy xét tương lai chúng,
Tận hưởng thú vui hiện tại tràn.
3. Khi chúng bỏ thân xác thế nhân
Ði sang thế giới khác người trần,
Dù không ai thấy, thường kêu khóc
Về ác nghiệp xưa chúng đã làm
4. 'Quả thật nhiều người đáng cúng dâng
Với nhiều lễ vật', chúng than van,
'Xưa ta chẳng tạo nên công đức
Ðem đến cho mình chỗ trú an'.
5. 'Ác nghiệp nào đời trước tạo ra,
Do vầy từ giã chốn hoàng gia,
Tái sanh vào cõi loài ma đói,
Chịu đói khát giày xéo chúng ta?
6. Những kẻ làm vua cõi thế nhân
Sẽ không làm chúa tể âm cung,
Sang, hèn, hai loại đều quanh quẩn
Bị đói khát hành hạ khổ thân.
7. Biết rằng đau khổ có nguồn căn
Vua chúa buông lung phóng dật tâm,
Nam tử bỏ vương quyền ngã mạn,
Do vầy, thành một vị Thiên nhân,
Sau khi xả báo thân phàm tục,
Bậc trí tái sanh cõi sáng bừng'.
Như vậy, bậc Ðạo Sư kể lại số phận
của các ngạ quỷ xong, liền hồi hướng về chúng công đức do đám
người này cúng dường lễ vật và thuyết pháp theo ý Ngài.
7. (42) Chuyện Vợ Vương Tử
(Ràjaputta)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc
trú tại Jevatana (Kỳ Viên).
Thuở xưa có một nam tử của vua mệnh danh
là Kitava làm tổn thương một vị Ðộc Giác Phật. Chàng phải đọa
vào địa ngục nhiều ngàn năm, và chính vì lỗi lầm kia, chàng bị tái
sanh vào loài ngạ quỷ. Chuyện của chàng đã được kể đầy đủ chi
tiết trong sự tích các ngạ quỷ ở Sànuvàsi (Số 27, phẩm III)
Bấy giờ trong khi kể cho một vị Trưởng
lão nghe số phận đám quyến thuộc quá vãng của ngạ quỷ kia, bậc Ðạo
Sư bảo:
- Quả thật không phải chỉ quyến thuộc
của ông, mà cả ông nữa, lúc trở thành ngạ quỷ trong đời trước, sau khi
từ giã thế giới này, cũng đã chịu nỗi thống khổ khốc liệt.
Rồi do lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão,
Ngài kể chuyện này:
1. Quả do các nghiệp tạo ngày xưa
Có thể làm dao động trí ta
Liên hệ sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Những gì đem lạc thú say sưa.
2. Ông hoàng đã hưởng thú cao sang,
Ðàn địch, ái ân thật ngập tràn,
Sau lúc nhàn du quanh thượng uyển,
Chàng đi vào cổ lũy Ða Sơn.
3. Chốn kia chàng thấy Su-net-ta,
Thanh tịnh, điều thân, một Phật gia,
Thiểu dục, khiêm cung và biết đủ
Với bình khất thực kiếm từng nhà.
4. Hoàng nam bước xuống tự lưng voi,
Và đến Hiền nhân ấy, thốt lời:
'Tôn giả, xin chào!' rồi lập tức
Chàng cầm bình bát ném lên trời.
5. Ném vỡ chiếc bình xuống đất kia,
Vừa cười vừa nói lúc đi xa:
'Ta là vương tử Ki-ta chúa,
Ðạo sĩ có làm ích lợi ta?'
6. Quả báo cho hành động bất nhân
Thật là khắc nghiệt, khổ muôn phần,
Tương truyền vương tử về sau đó
Phải đọa vào trong ngục tối tăm.
7. Hơn năm mươi vạn năm đày thân
Trong ngục tối đau khổ tận cùng
Vì tội lỗi mà chàng đã tạo,
Bị nhiều hình phạt đến xoay vần.
8. Chàng cứ nằm, đưa mặt xuống sàn
Xoay quanh phải, trái, biết bao lần,
Ðôi chân chổng ngược lên cao mãi;
Rồi đứng thẳng, người ngốc khổ thân.
9-10. Qua mấy ngàn năm, mấy vạn năm,#
Bị hành địa ngục khổ vô ngần,
Chính vì tội lỗi chàng gây tạo,
Quả khắc nghiệt kia phải lãnh phần
Bởi những người đưa tay phá hại
Bậc Hiến trí giải thoát mê lầm.
11. Sau khi đã trải biết bao năm
Trong ngục khổ đau thật hãi hùng,
Chàng phải mạng chung vì đói khát,
Trở thành một ngạ quỷ mình trần.
12. Như vầy, khi thấy cảnh đau thương
Do vị vua buông thả kỷ cương,
Ta chẳng làm vua buông thả nữa,
Mà nên hướng đến tính khiêm nhường.
13. Ngay cả trong đời sống hiện thời,
Người tôn trọng Phật đáng khen hoài,
Có đầy trí tuệ, khi thân hoại,
Ðược tái sanh vào cõi sáng tươi .
8. (43) Chuyện Những Ngạ
Quỷ Ăn Phân (Gùthakhàdaka)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc
đang trú tại Jetavana (Kỳ Viên).
Tương truyền trong một thị trấn nọ
không xa Sàvatthi , có một gia chủ ra lệnh xây một tinh xá cúng
dường vị Tỷ-kheo vốn là bạn thân của mình. Về sau nhiều
Tỷ-kheo từ khắp nơi đến cư trú tại đó.
Khi thấy chư Tăng, dân chúng liền cung
cấp đủ mọi thứ cần dùng. Bấy giờ vị Tỷ-kheo thân tín của chủ nhà
không chịu được cảnh này và lòng đầy ganh tỵ (như các vần kệ
kể lại).
Về sau Tôn giả Mahà-Moggallàna
thấy vị ấy và hỏi:
1. Ngươi chính là ai, khốn khổ thân,
Ðứng kia, vừa đến tự hầm phân,
Nói cho ta biết hành vi ác
Ngươi đã làm trong quá khứ chăng?
Ngạ quỷ:
2. Tôn giả, tôi là ngạ quỷ nhân,
Thần dân khốn khổ Dạ-ma quân,
Vì tôi đã phạm hành vi ác,
Từ cõi đời, tôi đến cõi âm .
Trưởng lão:
3. Thời xưa đã phạm ác hành gì
Do khẩu, ý, thân đã thực thi?
Vì nghiệp quả nào ngươi đã tạo
Giờ ngươi phải chịu cảnh sầu bi?
Ngạ quỷ:
4. Nhà tôi thường trú một Tỳ-kheo,
Tật đố và ganh tỵ đủ điều,
Ở tại nhà tôi, ham dục lạc,
Vị này phỉ báng, xan tham nhiều.
5. Tôi đã nghe lời của ác nhân,
Và tôi khiển trách các Sa-môn;
Bởi vì tôi phạm hành vi ấy,
Từ cõi đời, tôi đến cõi âm.
Trưởng lão:
6. Bạn thiết của ngươi chính kẻ thù
Giả danh bạn đấy, hỡi người ngu,
Ðến khi thân hoại, đi nơi khác,
Số phận nào cho kẻ giả tu?
Ngạ quỷ:
7. Nay tôi đang đứng ở trên đầu
Của phạm nhân này tự bấy lâu,
Nó đã đọa vào miền ngạ quỷ,
Chỉ mình tôi, nó phải theo hầu
8. Vật nào người khác trút cho vơi
Liền trở thành đồ ăn của tôi,
Và nó, đến phiên mình, kiếm sống
Những gì tôi tống khứ ra ngoài!
Tôn giả Mahà-Moggallàna tường thuật
sự việc này lên đức Thế Tôn, Ngài liền giải thích ý nghĩa
của nó và nêu rõ mối nguy hiểm của sự chỉ trích người khác.
9. (44) Chuyện Thứ Hai
Về Các Ngạ Quỷ Ăn Phân (Gùthakhàdaka)
Trong lúc đang trú tại Jetavana , bậc
Ðạo Sư kể chuyện này giống như chuyện trên. Ở đây, một nữ
cư sĩ xây tinh xá và bị tái sanh làm nữ ngạ quỷ.
Các vần kệ đều giống nhau.
10. (45) Chuyện Bầy Ngạ
Quỷ (Ganapeta)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc
đang trú tại Jetavana .
Tương truyền tại Sàvatthi , có một
đám người không mộ đạo, không có lòng tin và có tật xan tham, keo kiệt.
Họ thường thờ ơ đối với những ý tưởng họ đã chấp nhận cùng
nhiều vấn đề khác trong cuộc đời.
Sau khi đã sống một thời gian dài, họ
từ trần và tái sanh làm ngạ quỷ gần kinh thành. Rồi một hôm, Tôn giả Mahà-Moggallàna
đi đến Sàvatthi để khất thực, Tôn giả thấy bầy ngạ
quỷ trên đường, bèn hỏi chúng:
1. Trần truồng và xấu xí hình dung,
Hốc hác, khắp thân thể nổi gân,
Gầy guộc, các xương sườn lộ rõ,
Vậy là ai đó, các tôn ông?
Bầy ngạ quỷ:
2. Tôn giả, chúng con chính quỷ nhân,
Thần dân khốn khổ Dạ-ma quân,
Chúng con đã phạm hành vi ác,
Từ cõi đời, đi đến cõi âm.
Trưởng lão:
3. Ngày xưa đã phạm ác hành gì
Do khẩu, ý, thân đã thực thi?
Vì nghiệp quả nào nên đã đọa
Từ đây tới cảnh giới âm ty?
Bầy ngạ quỷ:
4. Cả bọn đi quanh bến tắm công,
Lang thang suốt cả nửa tuần trăng;
Chúng con chẳng tạo nơi an trú
Bằng cách đem tài vật cúng dâng.
5. Chúng con kinh hãi đến dòng sông,
Sông nước trở thành bãi trống không;
Ngày nắng chúng con vào bóng mát,
Tàn cây lại hóa nóng bừng bừng.
6. Cơn gió như thiêu đốt, lửa hồng
Thổi ào lên khắp cả toàn thân,
Chúng con xứng đáng nhiều đau khổ
Hơn thế này, Tôn giả biết chăng?
7. Ðói khát mong cầu thức uống ăn,
Chúng con đi cả mấy do-tuần,
Trở về không được gì đâu cả,
Cơ khổ! Chúng con ít phước phần.
8. Ðói lả và bất tỉnh ngã lăn
Chúng con gục xuống đất khô cằn,
Tấm thân sóng sượt nằm co quắp,
Ðầu ngã lộn nhào xuống dưới chân.
9. Do vậy chúng con phải ngã liền
Xuống nền đất lạnh khổ triền miên;
Chúng con đấm ngực và đầu tóc,
Cơ khổ! Chúng con ít phước duyên.
10. Tôn giả, chúng con xứng lãnh phần
Khổ đau này nữa thật nhiều lần.
Chúng con chẳng tạo nơi an trú
Cho chính mình bằng cách cúng dâng.
11. Quả thật, khi từ biệt cõi này,
Tái sanh nhân thế kiếp sau đây,
Chúng con nguyện hết lòng hào phóng,
Tu tập giới, hành thiện sự ngay .
Vị Trưởng lão trình đức Thế Tôn toàn
thể sự việc này.
11. (46) Chuyện Ngạ Quỷ
Thành Pàtaliputta ( Pàtaliputtapeta)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong khi
đang trú tại Jetavana.
Tương truyền một số đông thương nhân
từ Sàvatthi và Pàtaliputta đi thuyền đến Suvannabhumì (Xứ
vàng). Ở đó có một người trong bọn họ là một đệ tử tại gia
luyến ái một nữ nhân, mắc bệnh và từ trần.
Mặc dù vị ấy đã làm nhiều thiện
sự, vị ấy vẫn không được sanh lên thiên giới; nhưng vì luyến ái người
yêu, vị ấy tái sanh làm một quỷ thần trong lâu đài giữa đại dương.
Ở đấy quỷ thần vẫn giữ tình yêu đối với nữ nhân kia.
Riêng phần nàng đã lên thuyền du hành
đến Xứ vàng ấy. Bấy giờ vị quỷ thần muốn chiếm nàng, liền
chận đường đi của chiếc thuyền. Lúc ấy các thương nhân suy nghĩ
trong trí: 'Này, thế nào đây? Thuyền không đi được nữa!'.
Vì thế họ rút thăm để quyết
định số phận mỗi người. Do thần lực, chiếc thăm rớt xuống ba lần
trên không ai khác hơn nữ nhân mà quỷ thần đang mong ước.
Chẳng bao lâu sau khi nàng bị thả xuống
biển thì chiếc thuyền nhanh chóng tiến lên về hướng Xứ
vàng kia. Thế rồi vị phi nhân đem nàng vào lâu đài của mình và hưởng
hạnh phúc bên nàng.
Một năm sau, nàng sinh ra bất mãn và cầu xin
vị quỷ thần:
- Bao lâu em còn sống ở đây, em sẽ không
thể tìm được các cảnh giới khác. Xin tôn ông đưa em về thành Pàtaliputta .
Ðáp lời khẩn cầu này, quỷ thần bảo:
1. Nàng đã thấy bao địa ngục rồi,
Các miền súc vật, quỷ và người,
A-tu-la với Thiên thần nữa,
Nàng đã nhận ra nghiệp chín muồi,
Ta sẽ đưa nàng về phố cũ
Bình an, hành thiện sự trên đời .
Nàng hoan hỷ đáp lại:
2. Chàng muốn em an lạc, Dạ-xoa,
Chàng mong em lợi ích sâu xa,
Em xin thực hiện lời chàng dạy,
Chàng đối với em chính đạo sư,
Em đã thấy bao miền địa ngục,
Các miền súc vật, quỷ, người ta,
A-tu-la với Thiên thần nữa,
Em đã nhìn xem nghiệp báo mà.
Em nguyện thi hành nhiều thiện sự
Ngay khi vừa đến chốn quê nhà.
Sau đó vị quỷ thần đem nàng ấy cùng du
hành qua không gian; rồi đặt nàng xuống ngay giữa thành Pàtaliputta , và
đi về đường cũ. Lập tức thân bằng quyến thuộc của nàng cùng
nhiều người khác trông thấy nàng, họ vô cùng hân hoan và nhận xét:
- Chúng ta nghe trước kia nàng đã bị thả
xuống biển cả và chết rồi. Thật phước đức quá! Không ngờ nàng
được trở về bình an!
Vì thế họ hỏi nàng về mọi
chuyện phiêu lưu mạo hiểm kia. Nàng liền kể cho họ nghe tất
cả.
Khi trở về, các thương nhân ấy đến
Sàvatthi trình sự việc lên bậc Ðạo Sư.
12. (47) Chuyện Các Trái
Xoài (Amba)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong khi
đang trú tại Sàvatthi .
Ở Sàvatthi có một gia chủ đã
khánh kiệt tài sản. Khi vợ từ trần, vị ấy để con gái duy nhất lại
cho một người bạn, rồi vay một số tiền, mua hàng hóa lên đến một
trăm đồng Kahàpana và đi buôn bán theo một đoàn lữ hành.
Chẳng bao lâu vị ấy trở lại kinh thành và
kiếm thêm năm trăm đồng nữa. Sau đó vị ấy đi về nhà nhưng liền
bị bọn cướp tấn công. Các thương nhân chạy trốn đây đó, còn gia chủ
này ném các đồng tiền vào bụi cây rồi ẩn mình.
Tuy nhiên bọn đạo tặc kia tìm ra vị ấy
và giết đi. Do lòng tham luyến của cải, vị ấy tái sanh làm một ngạ
quỷ ngay tại chỗ kia.
Cô con gái nhớ đến người cha quá cố
liền cúng cháo gạo trong một cái bình bằng đồng và một số trái xoài
dâng đức Thế Tôn, thỉnh cầu Ngài nhận lễ vật như thể do cha nàng
cúng vậy. Từ đó ngạ quỷ kia hưởng thọ một lâu đài mỹ lệ.
Về sau, đám thương nhân ấy lại du hành
và dừng chân ban đêm ngay đúng chỗ kia, trông thấy vị quỷ thần
liền hỏi:
1. Hồ sen ngài có diệu kỳ thay,
Bến nước làm ta phải đắm say
Bờ thật phẳng lì, nhiều nước mát,
Trang hoàng hoa đủ loại như vầy,
Một bầy ong điểm tô đây đó,
Sao ngài được cảnh mỹ hồ này?
2. Ðây ngài lại có một vườn xoài
Tuyệt mỹ và sinh quả mọi thời,
Vườn được trang hoàng hoa nở rộ,
Bầy ong điểm xuyết khắp nơi nơi,
Làm sao ngài được lâu đài ấy
Xin nói cho ta biết hỡi ngài?
Quỷ thần:
3. Con gái ta làm lễ cúng dâng
Cháo hoa, xoài chín, nước trong ngần,
Chính vì việc ấy nên ta được
Hưởng bóng cây êm mát tuyệt trần.
Sau đó vị quỷ thần đưa cho họ năm
trăm đồng tiền Kahàpana ấy và bảo:
- Hãy lấy một nửa số tiền đây và sau
khi giải thích phần tiền kiếm được này của tôi, hãy giao nó cho con
gái tôi rồi dặn: 'Hãy sống cho đầy đủ sung sướng'.
Ðúng thời, đám thương nhân trở lại Sàvatthi ,
kể chuyện này với cô gái ấy, rồi đặt vào tay nàng đầy đủ số
tiền mà cha nàng đã cho nàng. Nàng bèn đưa số tiền ấy giao cha nuôi.
Nhưng ông trả lại hết cho nàng và bảo:
- Số tiền này không thuộc về ai cả
trừ con.
Rồi ông cưới nàng về làm vợ người con
trai trưởng của ông. Theo thời gian, nàng sinh được một trai và nàng thường
hát ru con với bài ca này:
4. Nhìn phước báo ngay ở cõi trần
Do dâng lễ vật, tự điều thân.
Xưa ta tỳ nữ nhà danh giá,
Nay được làm dâu, nữ chủ nhân .
Rồi một hôm, bậc Ðạo Sư nhận xét nàng
đã thuần thục trong tri thức, liền phóng một hình ảnh đầy đủ hào quang
ngay trước mặt nàng và xuất hiện toàn thân.
Vào dịp này, Ngài ngâm vần kệ:
5. Các bậc chánh chân thường nhiếp
phục
Những điều bất lạc bằng hân hoan,
Những điều thù oán bằng từ ái,
Nhiếp phục khổ đau với lạc an .
13. (48) Chuyện Trục Xe và
Cây Gỗ (Akkharukkha)
Trong khi bậc Ðạo Sư đang trú tại Sàvatthi ,
một đệ tử tại gia chất đầy hàng hóa lên xe và đi Videha
(Vi-đề-ha) để buôn bán.
Khi đã đặt hàng xuống đó, vị ấy chất
đầy đoàn xe số hàng hóa mới đem về và lên đường trở lại Sàvatthi .
Trong khi đang đi giữa rừng, cái trục của
một chiếc xe bị gãy. Bấy giờ có một người đang muốn tìm cây gỗ,
liền đem rìu lớn, rìu nhỏ đi ra khỏi làng. Khi đang đi quanh trong rừng,
kẻ ấy đến nơi kia và thấy vị đệ tử tại gia đang buồn khổ vì trục
xe bị gãy. Y thấy thương xót người này, liền đi đẵn cây xuống, và sau
khi làm xong một trục xe vững chắc, y ráp cái trục vào xe ấy mà không lấy từ
kẻ kia tiền phí tổn gì cả.
Nhưng về sau, y từ trần và tái sanh ngay
chỗ này trong khi rừng làm một địa thần.
Khi suy xét hạnh nghiệp của mình, vị
địa thần đến nhà người đệ tử tại gia ấy vào ban đêm, đứng ngay
cửa lớn và ngâm kệ này:
Vật gì mà kẻ ấy đem cho,
Không chỉ trở thành như vật xưa,
Vậy hãy cứ phân chia tặng vật,
Nhờ đem cho, kẻ ấy đi qua
Cả hai thế giới, và do đó
Kẻ ấy đi lên. Hãy tiến tu!
Khi trở lại Sàvatthi ,vị thương nhân
trình chuyện này lên bậc Ðạo Sư.
14. (49) Chuyện Thu Góp Tài
Sản (Bhogasamharana)
Trong lúc đức Thế Tôn đang trú tại
Trúc Lâm, bốn nữ nhân tại Vương Xá dùng nhiều phương tiện gian dối
buôn bán sữa lạc, mật ong, dầu mè, ngũ cốc và nhiều thực phẩm khác.
Suốt đời họ chỉ lo thu góp của cải một
cách ngu si, và vì vậy sau khi chết, họ tái sanh làm bầy nữ ngạ
quỷ trong ống cống ngoại thành.
Ban đêm bầy ngạ quỷ chịu mọi thống
khổ ngập tràn, thường đi quanh quẩn vừa thét lên những tiếng khủng
khiếp vang dậy, vừa than khóc:
1. Ta đã góp thu lắm bạc vàng
Công bằng cùng với chẳng công bằng
Khi người khác hưởng bao tài vật,
Phần chúng ta nay thật thảm thương .
Khi dân chúng nghe chuyện này, họ vô
cùng kinh hoảng và sáng hôm sau liền đem nhiều lễ vật cúng dường
đến hầu cận đức Thế Tôn rồi trình lên Ngài những tiếng hét kia.
Ngài lại ngâm vần kệ của bầy ngạ quỷ và kể chuyện chúng đã
sống đời trước ra sao.
15. (50) Chuyện Các Nam Tử
Của Nhà Triệu Phú (Setthiputta)
Bấy giờ đức Thế Tôn đang trú tại Jetavana
(Kỳ Viên) ở Sàvatthi (Xá-vệ).
Thời ấy, một hôm Ðại vương Pasenadi
(Ba-tư-nặc) của nước Kosala (Kiều-tát-la) phục sức lộng lẫy ngự
trên mình voi với vẻ oai nghi đầy quyền lực. Nhà vua thấy trên thượng
lầu của một nhà kia có một nữ nhân đang nhìn xuống, trông diễm lệ như
một Thiên nữ.
Lòng nhà vua đâm ra mê mẩn vì trí nhà vua
vốn buông lung khó kiềm chế được. Vì thế nhà vua ra hiệu cho
một người ngồi kế sau mình. Và mọi việc được thực hiện
giống như trong Chuyện Ngạ Quỷ Ambasakkhara , nhưng có điểm
khác biệt này.
Ở đây, người đàn ông ấy thực ra đã
đến nơi trước khi hoàng hôn, nhưng cổng thành đã đóng. Vì thế, y
buộc vào cột trụ của cổng thành gói đất đỏ và bó sen xanh mà y đã mang
về và đi vào Kỳ Viên.
Bấy giờ trong lúc đang an giấc, giữa canh
khuya, nhà vua nghe bốn vần này: ' Sa, na, du và so' được thét vang
một cách đau đớn.
Tương truyền đây là bốn vần đầu của
bốn câu kệ do bốn con trai một vị triệu phú thành Xá-vệ thốt ra.
Vào thời hoa niên họ đã tham đắm dục lạc và đi với vợ nhiều người
khác, tạo nên điều thất đức. Khi từ trần, họ tái sanh vào Ðịa ngục
Chảo sắt gần kinh thành ấy.
Nhà vua vô cùng kinh hãi, và rạng ngày hôm
sau liền kể cho vị tế sư nghe sự việc đã xảy ra. Vị ấy đang
mong kiếm một số lợi nhuận, bèn thưa:
- Tâu Ðại vương, than ôi, một đại họa
xảy ra. Xin Ðại vương cử hành tế lễ đầy đủ bốn phần.
Nhà vua truyền lệnh thi hành việc
này.
Khi hoàng hậu Mallikà (Mạt-lợi) nghe
chuyện, liền thưa với nhà vua:
- Tâu Ðại vương, tại sao vì nghe lời của
một Bà-la-môn, Ðại vương lại muốn làm một việc gây tổn thương và sát
hại nhiều sanh vật như vậy? Nay Ðại vương nên tham kiến đức Thế
Tôn là bậc Minh Hạnh vô song và khi Ngài giải thích ra sao thì Ðại vương
phải làm theo như vậy.
Sau đó vị Ðại vương đến tham kiến
bậc Ðạo Sư và trình Ngài sự việc trên. Ðức Thế Tôn bảo:
- Thưa Ðại vương, Ðại vương sẽ không
gặp nguy hiểm nào vì việc ấy cả.
Rồi Ngài kể chuyện ngay từ đầu
về tiếng thét của những người tái sanh vào địa ngục Lohakumbhi
(Chảo sắt). Sau đó Ngài đọc cho nhà vua nghe đầy đủ các vần kệ mà
chúng đã bắt đầu thốt ra:
1-2. Với người trong ngục bị hành thân#
Suốt cả thời gian sáu vạn năm,
Việc ấy khi nào thì chấm dứt?
- Sẽ không chấm dứt. Chẳng sau cùng.
Bao giờ chấm dứt? - Không nhìn thấy,
Quả bạn và ta phạm lỗi lầm.
3. Chúng ta đang phải sống đau thương
Vì chúng ta không biết cúng dường
Những vật cần cho khi có sẵn,
Ta không tạo chỗ trú an toàn.
4. Quả thật khi từ biệt chốn đây
Ðược làm người ở cõi đời này,
Ta nguyền hào phóng, chuyên trì giới,
Ta quyết làm nhiều thiện sự ngay.
Khi bậc Ðạo Sư ngâm các vần kệ xong,
Ngài thuyết pháp đầy đủ chi tiết. Lúc kết thúc bài giảng, người
đàn ông đã đi tìm đất đỏ và hoa sen ấy được an trú vào Sơ quả Dự
Lưu. Còn nhà vua, lòng đầy xúc động, liền bỏ tham đắm vợ người khác
và hài lòng với vợ của mình.
16. (51) Chuyện Sáu Vạn Cái
Búa (Satthikùtasahassa)
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc
đang trú tại Trúc Lâm.
Ngày xưa trong thành Ba-la-nại, có một
người què giỏi nghề ném đá. Chuyện này là Chuyện Tiền Thân Sàlittaka
số 107, phần chính được kể qua các vần kệ.
Thế rồi một hôm Tôn giả Mahà-Moggallàna
đang đi xuống từ núi Linh Thứu, Tôn giả nhìn thấy ngạ quỷ này và
hỏi:
1. Tại sao ngươi cứ chạy xoay vần
Như chú nai đi lạc phát cuồng,
Chắc chắn ngày xưa gây ác nghiệp
Ngươi nghĩ thế nào việc ấy chăng?
Ngạ quỷ đáp:
2. Tôn giả, con là ngạ quỷ nhân,
Thần dân khốn khổ Dạ-ma quân,
Vì con đã phạm hành vi ác,
Con đến cõi ma đói ẩn thân.
3. Sáu mươi ngàn chiếc búa vừa tròn
Bổ xuống đầu con, chẻ sọ con.
Trưởng lão hỏi tiếp:
4. Ngày xưa đã phạm ác hành gì
Do khẩu, ý, thân đã thực thi,
Vì nghiệp quả nào ngươi đã tạo,
Từ đời này đến cõi âm ty?
5. Sáu mươi ngàn chiếc búa liên hồi
Bổ xuống đầu ngươi, chẻ sọ ngươi!
Ngạ quỷ:
6. Ngày xưa con thấy Su-net-ta,
Hoàn thiện các căn, một Phật gia,
Vừa đến gốc cây ngồi tĩnh tọa,
An nhiên thiền định, chẳng âu lo.
7. Con ném ngài bằng cục đá vôi
Làm tan vỡ cả chiếc đầu ngài,
Vì hành vi ấy ngày xưa phạm,
Con phải chịu đau khổ thật dài.
8. Sáu mươi ngàn chiếc búa vừa tròn
Bổ xuống đầu con, chẻ sọ con.
Khi nghe vầy, vị Trưởng lão giải thích:
9. Vì Chánh pháp, này hỡi ác nhân,
Sáu mươi ngàn chiếc búa xoay vần
Giờ đây đánh xuống đầu ngươi mãi,
Chẻ nát đầu ngươi sáu vạn lần .
-[Hết Tập II, Tiểu Bộ Kinh]-