Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-074 · 546. CHUYỆN

Jātaka group 74 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-074
Số MN74
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương XXII#

Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-

546. CHUYỆN#

ĐƯỜNG HẦM VĨ ĐẠI
(Tiền thân Mah à-Ummagga)
Vua Brah-ma-dát xứ Pãn-ca. . . .,
Trong khi trú tại Kỳ-Viên, bậc Đạo Sư kể
chuyện n ày liên quan đến sự Vi ên
mãn của Trí tuệ Tối thắng.
Một ngày kia, các Tỷ kheo ngồi tại Chánh pháp
đường, mi êu tả Trí tuệ Tối thắng của
đức Phật:
- Này các hiền giả, đức Phật Chánh Đẳng Giác
có Thắng trí thật quảng bác, linh lợi, tinh anh, sắc sảo, đánh tan mọi t à
thuyết, chính nhờ thần lực đại trí của Ng ài,
sau khi quy phục Bà-la-môn Kùtadanta và nhiều Bà-la-môn khác, các ẩn sĩ
Sàbhiya và nhiều ẩn sĩ khác, cường đạo Angulim àla
cùng nhiều cường đạo khác, thần Dạ-xoa
Àlavaka cùng nhiều thần Dạ-xoa khác, Thiên chủ Sakka cùng nhiều Thiên chủ
khác, Bà-la-môn Baka cùng nhiều Bà-la-môn khác, v.v…khiến bọn họ phải khiêm
nhường bái phục, Ngài lại truyền Đại giới cho
một số đông ẩn sĩ v à an trú họ vào Thánh
Đạo Quả.
Bậc Đạo Sư đi đến, hỏi các Tỷ-kheo đang b àn
luận gì, khi các vị nói cho ngài biết, Ngài bảo :
- Không phải bây giờ đức Phật mới có trí tuệ
vi ên mãn, mà ngày xưa, trước khi trí tuệ Ngài viên mãn, Ngài
đ ã đủ đại
trí v ào thời kỳ Ngài còn đang đi t ìm
đạo Giác Ngộ.
Sau đó Ng ài kể một chuyện quá khứ .
*
Ngày xưa có vị vua danh hiệu Vedeha trị vì ở Mithilà. Ngài
được bốn vị hiền trí dạy ng ài về giáo
pháp, đó l à Senaka, Pukkusa, Kàvinda và
Devinda.
Lúc bấy giờ Bồ-tát còn ở trong mẫu thai, một buổi tảng sáng, vua chiêm
bao thấy mộng như sau: bốn cột lửa bừng sáng ở bốn gốc hoàng cung, cao như
bức trường thành, ở giữa nổi lên một tia lửa bằng con
đom đóm, bỗng chốc nó vượt cao quá bốn ngọn kia
v à bùng lên đến tận Phạm thi ên
giới, soi sáng toàn cõi thế gian, ngay đến một
hột cải cũng được thấy r õ. Nhân giới và Thiên giới liền
đưa hương hoa ra cung kính cúng dường ngọn lửa
ấy rồi một đám đông đi xuy ên qua ngọn lửa nhưng chẳng hề bị cháy sợi
tóc nào. Vua thấy cảnh tượng ấy giật mình kinh hãi ngồi dậy suy
đoán những điềm sắp xảy ra v à
đợi trời sáng. Bốn vị hiền trí sáng hôm sau đến
vấn an vua có được ngon giấc chăng. Ng ài bảo:
- Làm sao trẫm an giấc được khi trẫm chi êm
bao như vậy?
Hiền giả Senaka tâu:
- Xin Đại vương đừng ngại, đó l à mộng
lành, Đại vương sẽ được vinh quang.
Rồi khi được y êu cầu giải thích rõ,
ông nói:
- Tâu Đại vương, một vị hiền trí thứ năm sắp
ra đời sẽ vượt hẳn chúng thần, chúng thần nay như bốn cột lửa, nhưng ở giữa
chúng thần sẽ phát ra cột lửa thứ năm, l à bậc Vô thượng Sĩ chiếm vị
trí tối cao trong cõi nhân thiên.
- Thế vị ấy bây giờ ở đâu?
- Tâu Đại vương, vị ấy hoặc sẽ xuất hiện
hoặc sẽ sinh ra từ mẫu thai.
Nhờ tri kiến do thiên nhãn thông, vị này nói như vậy, nên từ
đó vua nhớ kỹ những lời ấy. Lúc bấy giờ ở bốn
cổng th ành Mithilà có bốn thị trấn gọi là
Đông trấn, Nam trấn, Tây trấn v à Bắc
trấn. Ở Đông trấn có một phú gia t ên gọi
Sirivaddhaka và bà vợ tên là Sumanàdevi. Vào ngày vua nằm mộng ấy, bậc
Đại S ĩ từ cõi trời Ba mươi ba xuống nhập
thai mẹ và một ngàn vị Thiên tử cũng từ Thiên giới xuống
đầu thai v ào gia
đ ình các phú thương ở làng ấy.
Sau mười tháng bà Sumàna sinh một cháu trai có màu da như vàng ròng. Lúc
ấy Sakka Thiên chủ phóng mắt nhìn xuống thế gian, thấy bậc
Đại Sĩ ra đời, ng ài nhủ thầm ngài phải
thông báo khắp cõi nhân thiên rằng vị Phật tương lai
đ ã ra
đời, ng ài liền xuất hiện khi hài nhi vừa sinh ra,
đặt một nhánh cỏ thuốc v ào tay hài nhi,
rồi trở về Thiên giới. Bậc Đại Sĩ nắm chặt
nhánh cỏ trong tay v à khi ngài ra đời từ
bụng mẹ, mẹ ng ài không thấy đau đớn tí n ào
cả, mà ngài ra nhẹ nhàng như nước tuông ra từ bình thánh lễ. Khi mẹ ngài
trông thấy nhánh cỏ thuốc trong tay ngài, bà liền nói:
- Này con, con cầm vật gì thế?
Ngài đáp:
- Thưa mẹ, đó l à cỏ thuốc.
Ngài đặt nó v ào tay mẹ và bảo bà cất
lấy để cho bất cứ người n ào bị bệnh dù
bệnh gì cũng được. L òng
đầy hoan hỷ, b à mẹ liền nói chuyện này
với phú gia Sirivadhaka, vốn đ ã bị bệnh
nhức đầu trong bảy năm qua. Ông sung sướng tự
nhủ : H ài nhi này sinh ra từ bụng mẹ đ ã
cầm cây thuốc và vừa ra đời đ ã trò
chuyện cùng mẹ, cây thuốc do một bậc tài trí siêu phàm như vậy trao cho chắc
phải có đại công lực".
Thế là ông chà cây thuốc vào hòn đá m ài
rồi thoa một ít vào trán, lập tức chứng nhức
đầu đeo đẳng ông trong bảy năm qua liền ti êu tan như nước l ăn
khỏi lá sen.Vô c ùng sung sướng, ông kêu to:
- Đây l à thuốc thần.
Tin tức lan truyền khắp nơi rằng bậc Đại Sĩ
ra đời với cây thuốc thần trong tay, khiến bệnh nhân kéo đến tấp nập tại nh à
phú thương xin thuốc. Họ lấy một ít đem cho mọi
bệnh nhân, ch à lên đá m ài, trộn
với nước, hễ thân bệnh nhân nào đụng đến thuốc
thần đều l ành bệnh cả, nên các bệnh nhân hân hoan ra
đi loan truyền tin về công lực kỳ diệu của thần
dược trong nh à phú thương Sirivadhata.
Vào ngày đặt t ên hài nhi, phú thương
nghĩ thầm: "Con ta không cần phải được đặt t ên
theo dòng họ tổ tiên, mà phải để con ta mang t ên
cây thuốc thần mới được", v à ông liền
đặt t ên con là Osadha-Kumàra (Dược thảo
Nam tử). Rồi ông lại nghĩ thầm: "Con ta có được
đại công đức như thế, chắc chẳng ra đời một m ình
đâu, c òn có nhiều hài nhi khác cũng ra
đời một lượt". Khi hỏi thăm, phú ông nghe được
cả ng àn hài nhi khác cùng ra đời một
lượt với con m ình, ông liền gởi chúng cho nhũ mẫu cùng y phục và
quyết địn h rằng những hài nhi kia sẽ là
người hầu cận của con ông, ông cử hành một đại
lễ d ành cho bậc Đại Sĩ c ùng các
hài nhi kia, điểm trang cho chúng thật đẹp v à
ngày ngày đến chơi đ ùa với ngài. Bậc
Đại Sĩ lớn l ên cùng các trẻ kia vui chơi
thỏa thích.
Khi được bảy tuổi, ng ài xinh
đẹp như một pho tượng bằng v àng. Những
lúc ngài chơi đ ùa với các trẻ trong
làng, các bầy voi ngựa đi ngang qua cản trở tr ò
chơi, hoặc đôi khi đám trẻ bị mệt nhọc v ì
mưa nắng.
Một ngày kia khi họ đang vui chơi, th ình
lình một cơn bão rớt trái mùa chợt đến, bậc Đại
Sĩ lúc ấy đ ã mạnh như voi, thấy vậy vội chạy vào nhà,
đám trẻ kia chạy theo v ào, té ngã lên
nhau, sưng trầy chân cẳng. Ngài liền nghĩ thầm: "Ta phải xây một hí trường
tại đây, ta không thể chơi kiểu n ày mãi
được". Ng ài liền bảo các trẻ kia:
- Ta hãy xây một hí trường tại đây, để có
thể v ào đứng, nằm, ngồi những lúc mưa
gió, oi nồng, vậy các bạn h ãy đem mỗi
người một số tiền lại đây.
Đám ng àn trẻ kia vâng lời và bậc
Đại Sĩ mời một chú thợ mộc đến trao số tiền v à
nhờ ông ta xây một sảnh đường tại đó. Người chủ
thợ mộc nhận lời, san bằng mặt đất, dựng cột v à gi ăng
dây đo đạc, nhưng ông ta chưa hiểu ý bậc Đại Sĩ, n ên ngài phải dặn
người chủ thợ ấy đo dây thế n ào cho phù
hợp ý ngài. Người ấy nói:
- Lão gi ăng dây ra theo kinh nghiệm h ành
nghề của lão thôi, chứ lão không biết làm cách khác.
- Nếu lão không biết chỉ một chuyện này thôi thì làm sao lão nhận tiền
của ta mà xây nhà cho được? Vậy l ão hãy
cầm dây đi, ta sẽ đo v à chỉ cho lão
thấy.
Ngài bảo ông cầm dây rồi chính ngài đo lấy
đồ án, như thể thần Vissakamma đ ã thực hiện trước
đây vậy. Xong ng ài hỏi người thợ mộc:
- Thế lão có biết vẽ đồ án cách n ày
không?
- Thưa ngài, lão không biết.
- Thế lão có thể vẽ theo lời ta chỉ dẫn không?
- Thưa ngài, được.
Bậc Đại Sĩ liền sắp đặt sảnh đường có một
phần l à nơi cư trú cho lữ khách bình thường, một phần là nơi cư trú
cho các phụ nữ nghèo khổ, một phần là nơi cư trú cho những người bần cùng,
một phần là nơi cư trú của các Sa-môn, Bà-la-môn, một phần khác dành cho
đủ loại nam nhân, một phần khác d ành cho
các khách thương lạ cất hàng hóa, mọi phòng đều
có cửa lớn thông ra ngo ài. Lại có một nơi công cộng dành cho các trò
giải trí, một tòa án và một phòng lớn để l àm
thánh lễ.
Khi công việc đ ã hoàn tất, ngài triệu
tập các họa sĩ lại và chính ngài xem họ họa hình thật
đẹp để trang ho àng sảnh
đường chẳng khác n ào thiên cung Sudhamma
của Sakka Thiên chủ. Ngài vẫn nghĩ rằng cung
điện ấy chưa ho àn hảo: "Ta phải cho xây một hồ nước mới
được". Ng ài liền ra lệnh
đ ào đất v à
bàn luận việc này với một kiến trúc sư xong, ngài trao tiền bảo ông ta xây
một hồ nước có một ngàn lối rẽ trên bờ và một tr ăm
bến tắm.
Mặt nước thả n ăm loại hoa sen rực rỡ chẳng
khác n ào hồ trên hoa viên Nandana của thiên giới. Trên bờ ngài trồng
nhiều loại cây và hoa viên chẳng khác nào vườn thiên lạc Nandana. Gần sảnh
đường, ng ài dựng lên một nơi cúng dường
các bậc tu hành dù là Sa-môn hay Bà-la-môn, cùng các lữ khách hay dân chúng
từ các làng lân cận.
Các hành động của ng ài gây tiếng vang
khắp nơi khiến các đám dân chúng tụ tập tại
sảnh đường. Bậc Đại Sĩ thường ngồi đó b àn luận chánh tà trong các
việc thiện ác của các đám người đến xin ở lại
đây, ng ài phán xét từng trường hợp và thời kỳ ấy thật an lạc chẳng
khác nào thời một đức Phật xuất hiện tại thế.
Lúc bấy giờ, khi mãn hạn bảy n ăm, vua Vedeha
nhớ lại bốn vị hiền trí đ ã bảo rằng một hiền trí thứ n ăm
sẽ ra đời vượt l ên hẳn bốn vị ấy về tài trí và tự nhủ: "Thế vị này
hiện nay ở đâu?". Vua liền phái bốn vị cận thần
ra bốn ho àng môn, ban lệnh cho họ đi t ìm
vị hiền trí ấy. Khi họ ra ba hoàng môn kia, họ không tìm thấy dấu hiệu nào
của bậc Đại Sĩ, nhưng khi họ ra phía Đông môn
họ thấy sảnh đường ấy c ùng nhiều lâu đ ài
khác, họ tìm chắc rằng chỉ có bậc hiền trí mới xây dựng lâu
đ ài này hoặc bảo dân chúng xây dựng lên
như vậy. Họ liền hỏi công chúng:
- Vị kiến trúc sư nào đ ã xây lên sảnh
đường n ày?
Dân chúng đáp:
- Lâu đ ài này không phải do một kiến
trúc sư nào xây hoặc do quyền lực của vị ấy xây lên, mà là do sự hướng dẫn
của bậc Trí giả Mahosadha ( Đại thần dược ), con
trai của phú thương Sirivaddha.
- Cậu ấy bao nhiêu tuổi?
- Cậu vừa tròn bảy tuổi.
Vị cận thần suy xét lại mọi biến cố xảy ra từ ngày vua chiêm bao
đến nay v à tự nhủ: "Chuyện này ứng với
chiêm bao của vua rồi", liền sai sứ giả dâng sớ trình vua:
- Mahosadha, con trai của phú thương Sirivaddha ở
Đông môn th ành, nay lên bảy tuổi,
đ ã bảo xây một sảnh
đường c ùng hoa viên và hồ nước như vậy,
xin cho tiểu thần đem cậu bé ấy đến yết kiến
Đại vương được chăng?
Khi nghe vậy, vua vô cùng hoan hỷ, truyền mời Senaka
đến. Sau khi kể lại sự việc, vua hỏi ông xem có
n ên triệu vị Trí giả ấy đến chăng. Nhưng
ông ganh tỵ với chức Trí giả ấy, liền đáp:
- Tâu Đại vương, ta không n ên gọi một
người nào là hiền trí chỉ vì người ấy ra lệnh bảo xây những lâu
đ ài như vậy cả,
đó chỉ l à việc nhỏ chẳng quan trọng gì.
Khi vua nghe vậy, nhủ thầm: "Chắc phải có lý do bí mật nào
đây", rồi ng ài im lặng. Ngài cho sứ giả
ra về, dặn viên đại thần phải ở lại nơi ấy một
thời gian v à quan sát vị Trí giả ấy thật kỹ lưỡng. Vị cận thần ở lại
đó thăm d ò mọi hành vi của vị Trí giả và
sau đây l à một loạt các cách thử tài hay
cuộc th ăm d ò.
1. MIẾNG THỊT.
Một ngày kia khi bậc Đại Sĩ đi đến giải trí
trường, một con diều hâu tha đi một miếng thịt từ chiếc b àn
đồ tể, bay vụt l ên không, vài người thấy
vậy, định bắt nó thả xuống n ên
đuổi theo nó. Diều hâu bay đủ hướng, khiến họ
nh ìn lên đuổi theo nó mệt nho ài,
ném đá c ùng nhiều khí giới khác, ngã
nhào lên nhau. Bậc Đại Sĩ liền bảo họ:
- Ta sẽ làm cho nó thả thịt xuống.
Họ liền yêu cầu ngài làm ngay. Ngài bảo họ nhìn lên rồi chính ngài cũng
nhìn lên và chạy nhanh như gió, dẫm lên bóng con diều hâu, vỗ tay thật lớn.
Nhờ uy lực của ngài, tiếng thét ấy dường như xuyên thủng bụng diều hâu khiến
nó kinh hoảng thả miếng thịt xuống. Bậc Đại Sĩ
canh chừng theo cái bóng nó rớt xuống, chụp lấy thịt tr ên không trước
khi nó chạm đất. Dân chúng thấy việc hy hữu như
vậy, reo h ò vỗ tay vang dội.
Vị cận thần nghe tin ấy, liền gởi sớ về dâng vua kể chuyện vị Trí giả
dùng phương tiện bắt con diều hâu thả miếng thịt. Vua
được tin, hỏi Senaka có n ên triệu hồi
Trí giả về triều không. Senaka suy nghĩ : "Nếu nó về
đây ta sẽ mất hết vinh quang v à
đức vua sẽ qu ên ta mất. Thôi ta không
thể để đức vua mang nó về đây được".Thế l à
vì ganh tỵ, ông bảo:
- Không thể gọi là hiền trí chỉ vì một việc như vậy,
đó chỉ l à việc nhỏ.
Vua muốn thật chí công vô tư, liền ra lệnh nhắn vị cận thần phải thử
thách ngài thêm nữa.
2. Đ ÀN
BÒ.
Một người dân làng Yavamajjhaka mua một số trâu bò từ làng bên cạnh
đem về nh à. Hôm sau gã
đem b ò ra
đồng cho ăn cỏ rồi cỡi một con dạo chơi. Khi mệt mỏi g ã ngồi xuống
đất ngủ say, một t ên trộm xuất hiện mang
đ àn bò đi
mất. Khi g ã thức dậy chẳng thấy đ àn
bò đâu, nhưng khi nh ìn quanh gã thấy tên
trộm đang chạy trốn. G ã nhảy tới kêu
gào:
- Mi đem đ àn bò ta
đi đâu?
- Đây l à
đ àn bò của ta, ta muốn đem đi đâu mặc
ta.
Một đám người xúm lại nghe đấu khẩu. Khi bậc
Hiền trí nghe tiếng ồn ào lúc bọn họ đi
ngang qua cửa sảnh đường, ng ài cho mời họ vào. Khi ngài thấy dáng
điệu của họ, ng ài biết ngay ai là tên
trộm, còn ai là chủ nhân thật sự của đ àn
bò. Nhưng dù ngài biết chắc như vậy, ngài vẫn hỏi họ
đang tranh c ãi
điều g ì. chủ nhân
đ àn bò bảo:
- Tôi mua đ àn bò của người kia ở một
làng nọ, tôi đem chúng về nh à rồi cho ra
đồng ăn cỏ. T ên trộm này thấy tôi không
canh chừng kỹ liền đến dắt nó đi. Nh ìn
quanh tôi thấy gã, liền chạy theo bắt lấy gã. Dân làng kia biết tôi mua bò
và mang về.
Tên trộm đáp:
- Kẻ này nói dối, đ àn bò sinh ra
trong nhà tôi.
Bậc Trí giả nói:
- Ta sẽ xử vụ này công bình, các anh có nghe ta xử ch ăng?
Họ đều hứa sẽ tuân theo. Thế l à tự
nhủ rằng ngài sẽ chiếm được l òng dân
chúng, ngài hỏi tên trộm trước tiên:
- Anh cho đ àn bò
ăn thức g ì?
- Chúng uống nước cháo cùng ăn bột m è
và đậu.
Ngài lại hỏi chủ nhân thật sự, người này
đáp :
- Thưa Tôn ông, nhà nghèo như kẻ hèn đây, l àm
gì có cháo cùng các thức kia, kẻ hèn chỉ cho bò
ăn cỏ.
Bậc Hiền trí liền triệu tập một đám người
lại, bảo họ đem hột tắc đến, nghiền nát trong cối, trộn với nước rồi cho b ò
ăn, chúng liền nôn ra to àn cỏ. Ngài chỉ
cho đám đông thấy, rồi hỏi t ên trộm :
- Anh có phải kẻ trộm hay không?
Gã liền thú nhận chính là tên trộm. Ngài bảo gã:
- Thôi từ nay đừng phạm tội như thế nữa.
Nhưng đám quân hầu của Bồ-tát mang g ã
ra ngoài và chặt tay chân gã khiến gã rất khốn
đốn, ng ài liền khuyên r ăn g ã
thêm:
- Nỗi khổ đau n ày
đến với anh trong đời hiện tại, nhưng đời sau
anh sẽ chịu cực hình ở nhiều địa ngục
nữa, vậy từ nay anh phải từ bỏ ác hạnh như vậy đi.
Ngài dạy gã Ngũ giới.
Vị cận thần dâng sớ kể vệc này, vua lại hỏi ý Senaka, nhưng ông khuyên
vua nên chờ đợi :
- Đây chỉ l à việc nhỏ về việc
đ àn bò, ai cũng có thể xử
được.
Vì muốn công bình vua ban lệnh như trước.(Các vụ xử sau
đây cũng được hiểu như vậy, ta cứ theo thứ tự
từng vụ một).
3. XÂU CHUỔI BẰNG CHÌ.
Một người đ àn bà nghèo buộc nhiều sợi
chỉ màu lại làm thành sợi dây đeo cổ. B à
cởi nó ra để tr ên áo quần khi xuống tắm
trong hồ mà bậc Trí giả đ ã cho
đ ào. Một cô gái thấy vậy
đem l òng thèm muốn, cầm sợi dây lên bảo:
- Mẹ ơi, dây đeo cổ n ày
đẹp quá, giá bao nhi êu con muốn làm cho
con một sợi. Mẹ cho con đeo thử để biết chắc cỡ
n ào hở mẹ?
Bà kia cho phép cô gái, cô liền đeo v ào
và chạy mất. Bà già vội nhảy ra khỏi nước, mặc áo quần
đuổi theo cô gái, chụp lấy cô ta thét l ên :
- Cô lấy sợi dây của ta làm mà chạy trốn.
Cô kia đáp:
- Tôi không lấy cái gì của bà cả, dây này tôi vẫn
đeo tr ên cổ lâu nay.
Một đám đông tụ lại xem khi nghe chuyện c ãi
cọ. Bậc Hiền trí đang nô đ ùa cùng lũ
trẻ, nghe họ cãi nhau khi đi ngang qua sảnh
đường, liền hỏi chuyện g ì gây ồn ào. Khi biết nguyên nhân vụ cãi cọ,
ngài cho gọi cả hai vào, nhìn dáng điệu ng ài
biết ngay ai là kẻ cắp, ngài liền hỏi họ có chịu nghe theo ngài xét xử
không. Cả hai đều bằng l òng. Ngài hỏi kẻ
cắp :
- Cô dùng hương gì để tẩm v ào sợi dây
đeo cổ n ày?
Cô gái đáp:
- Tiện nữ luôn luôn dùng hương gồm nhiều thứ hương (Sabbasamhàraka) pha
trộn để tẩm v ào nó.
Rồi ngài lại hỏi bà kia, bà liền đáp:
- Một người nghèo như lão làm gì có hương Sabbasamhàraka? Lão chỉ tẩm nó
với hương hoa Piyangu mà thôi.
Bậc Trí giả bảo đem đến một b ình nước
và thả dây vào trong, rồi ngài cho gọi một người bán nước hoa
đến ngửi b ình nước
để nhận ra m ùi gì, gã liền nhận ra ngay
mùi hoa Piyangu và đọc b ài kệ
đ ã từng đưa
ra trong Chương một: (số 110) :
Chẳng có mùi hương của bá hoa,
Chỉ Kan-gu cứ thoảng bay ra,
Nữ nhân ác độc kia gian dối,
Bà lão nhà quê nói thật thà.
Bậc Đại Sĩ liền kể cho khách b àng
quan nghe mọi sự việc, xong hỏi riêng hai người trong cuộc:
- Chị có phải kẻ cắp không? Bà không phải kẻ cắp chứ?
Rồi ngài bắt kẻ kia phải nhận tội. Từ đó ng ài
nổi tiếng khôn ngoan tài trí khắp vùng.
4. SỢI CHỈ.
Một người đ àn bà kia thường
đứng canh ruộng bông vải. Một bửa nọ, chị lấy
một ít sợi đẹp cuộn th ành quả cầu dệt trên vạt áo. Lúc
đi về nh à, chị ta nghĩ thầm: "Ta xuống
tắm trong hồ của bậc Đại trí mới được", rồi chị
ta đặt quả cầu tr ên áo bước xuống hồ tắm. Một người
đ àn bà khác thấy vậy sinh lòng thèm
muốn, bảo:
- Quả cầu chỉ này đẹp quá, chị cuộn lấy phải
không?
Rồi chị ta bật nhẹ ngón tay, đặt quả cầu tr ên
vạt áo như thể muốn xem thật kỹ, rồi bỏ đi mất.
(Chuyện n ày cũng giống như các chuyện trước
đây).
Bậc Trí giả hỏi kẻ cắp:
- Khi cuộn quả cầu này, chị bỏ gì vào trong
đó?
Chị ta trả lời:
- Thưa ngài, một hột bông vải.
Rồi ngài hỏi người kia, chị ta đáp:
- Thưa ngài, một hột timbaru.
Khi đám đông đ ã nghe hai người nói
xong, ngài tháo quả cầu lấy ra một hột timbaru bên trong khiến cho kẻ cắp
phải thú nhận tội. Đám đông vui vẻ reo h ò
trước cảnh xử kiện của bậc Đại trí.
5. ĐỨA
CON TRAI.
Một người đ àn bà kia
đem con trai xuống hồ của bậc Đại Sĩ đi tắm
rửa. Khi tắm con xong, chị đặt con nằm tr ên áo mình rồi
đi tắm. Lúc ấy một nữ quỷ Dạ-xoa cái thấy đứa
bé muốn ăn thịt, liền cầm nó l ên và hỏi:
- Này chị bạn, cháu xinh quá, con chị đấy
phải không?
Rồi nó hỏi xem nó có thể cho đứa bé bú
không. Khi người mẹ bằng l òng, nó liền ẵm
đứa bé l ên chơi
đ ùa một lát rồi chạy
đi mất. B à mẹ rượt theo chụp lấy nó la
lên:
- Này chị mang con tôi đi đâu?
Con quỷ cái đáp:
- Sao chị dám đụng v ào
đứa bé n ày? Nó là con tôi mà.
Họ vừa cãi cọ vừa đi ngang cửa sảnh đường,
bậc Đại trí nghe tiếng ồn ào cho gọi họ và hỏi chuyện. Nghe xong, mặc
dù nhìn thấy đôi mắt đỏ không chớp của nữ y êu
tinh, ngài biết ngay ai là con quỷ cái, ngài cũng hỏi họ có chịu nghe theo
lời ngài xét xử ch ăng. Khi họ hứa nghe theo, ng ài
liền vẽ một đường thẳng, đặt đứa bé l ên,
bảo con quỷ nắm tay đứa bé v à người mẹ
nắm chân nó. Rồi ngài bảo:
- Nắm lấy nó mà lôi đi, kẻ n ào lôi
được nó về phía m ình là con của mình.
Cả hai đều lôi kéo, đứa bé bị đau òa
khóc to. Người mẹ đau l òng như cắt
đ ành để đứa
bé bị lôi đi v à đứng khóc. Bậc Hiền trí
hỏi đám đông:
- Có phải chính lòng mẹ mới thương yêu con mình hay lòng của kẻ không
phải là mẹ?
Họ đáp:
- Chính lòng mẹ.
- Thế người nắm chặt đứa bé l à mẹ nó
hay người để cho nó bị lôi đi l à mẹ nó?
Họ đáp :
- Người để cho nó bị lôi đi.
- Các ngươi có biết kẻ trộm đứa bé l à
ai ch ăng?
- Thưa bậc Hiền giả, chúng tôi không được
biết.
- Nó là quỷ cái bắt trẻ con để ăn thị t.
Họ hỏi làm thế nào ngài biết được như vậy,
ng ài đáp:
- Ta nhìn thấy đôi mắt đỏ của nó, nó lại
không đổ bóng xuống đường, tính t ình táo tợn và tàn bạo nữa.
Rồi ngài hỏi nó là ai, nó thú nhận chính là quỷ cái.
- Tại sao ngươi bắt đứa bé?
- Thưa ngài, để ăn thịt.
- Ngươi thật ngu muội quá, đời trước ngươi đ ã
phạm tội phải sinh làm yêu quỷ, nay lại vẫn tiếp tục gây tội, thật mê mờ
quá.
Rồi ngài khích lệ nó, dạy nó Ngũ giới, xong thả cho nó
đi; c òn người mẹ chúc tụng ngài:
- Tiện tỳ xin cầu chúc Chúa công trường thọ.
Rồi chị ẵm con về.
6. QUẢ CẦU
ĐEN .
Có một gã đ àn ông tên gọi Golakàla.
Gã có tên "Gola" nghĩa là Quả cầu bởi vì thân hình lùn tịt và "kàla" vì màu
da đen bóng. G ã làm việc trong nhà kia
bảy n ăm liền, cưới được cô vợ t ên là
Dìghatàla (Cây dừa cao).
Một ngày kia gã bảo vợ:
- Này hiền thê, nàng hãy làm mứt bánh cùng thức
ăn rồi ta về thăm cha mẹ n àng.
Lúc đầu người vợ phản đối dự định n ày,
bảo chồng:
- Ta còn liên hệ gì đến cha mẹ nữa.
Nhưng sau khi gã chồng nài nỉ ba lần, gã cũng bảo
được vợ nấu bánh kẹo, đem th êm một số
thực phẩm và quà biếu. Gã cùng vợ lên đường. Tr ên
đường đi, g ã
đến một d òng sông không sâu lắm, nhưng
cả hai đều sợ nước, n ên không dám lội
qua, chỉ đứng tr ên bờ.
Bấy giờ có một gã nghèo khổ tên Dìghapitthi (Lưng dài)
đi dọc bờ suối, đến nơi n ày, họ liền hỏi
gã suối sâu hay cạn. Thấy họ sợ nước, gã bảo:
- Sâu lắm và đầy lo ài cá
ăn thịt.
- Thế làm sao ông qua sông được?
- Ta đ ã
đánh bạn với cá sấu v à thủy quái ở đây n ên
chúng không hại ta.
- Vậy xin Tôn ông đem chúng tôi qua suối
với. Họ bảo g ã.
Khi gã bằng lòng, họ cho gã ăn uống rượu
thịt; xong bữa, g ã hỏi họ gã sẽ đem ai
qua suối trước. Golak àla bảo:
- Xin đem tiểu muội qua trước rồi tiểu đệ sẽ
qua sau.
Gã liền đặt n àng ngồi trên vai, cầm
lấy thực phẩm, quà biếu và bước xuống dòng. Khi
đ ã đi được một lát, g ã cúi người
xuống và đi với dáng cong cong. Golak àla
đứng tr ên bờ thấy vậy, nghĩ thầm: "Dòng
suối này chắc phải sâu lắm, một người như Dìghapitthi mà còn khó kh ăn
vậy thay, huống g ì ta chắc không thể nào qua
được." Khi g ã kia
đem người đ àn bà ra
đến giữa d òng, gã bảo nàng:
- Nương tử ơi, ta sẽ yêu quý nàng, nàng sẽ sống
đời cao sang, mặc gấm vóc lụa l à,
đeo nữ trang ngọc v àng, có kẻ hầu người
hạ, chứ gã gù kia làm gì cho nàng được? Xin n àng
hãy nghe ta.
Nàng nghe gã nói êm tai nên không còn yêu chồng nữa mà mê mẩn ngay kẻ xa
lạ này, nàng bằng lòng bảo gã:
- Nếu chàng không bỏ thiếp, thiếp xin vâng lời chàng.
Thế là khi họ sang bờ bên kia, họ vui thú cùng nhau, bỏ rơi gã Golakàla
bên bờ cũ. Trong khi gã đứng trông chừng, th ì
họ ăn hết rượu thịt v à ra
đi. G ã thấy vậy liền la lên:
- Chúng đ ã
đánh bạn với nhau v à bỏ trốn,
để ta lại đây!
Trong khi gã chạy lui chạy tới, gã mới bước xuống nước một khoảng liền
thối lui vì sợ hãi, nhưng lòng c ăm giận cách ăn
ở của bọn kia, g ã tuyệt vọng nhảy ùm xuống nước và bảo:
- Thà một chết một sống!
Và khi xuống nước rồi gã mới biết nước cạn quá chừng. Thế là gã lội qua
vừa đuổi theo chúng vừa la to:
- Tên trộm khốn nạn kia, mi đem vợ ta đi
đâu?
Gã kia đáp:
- Sao lại vợ ngươi? Vợ ta chứ?
Rồi nắm cổ gã lùn, gã xoay y một vòng và ném y xuống
đất. G ã lùn chụp tay Dìghatàla hét to:
- Ngừng lại, nàng đi đâu đấy! N àng là
vợ ta, ta cưới được n àng sau bảy n ăm
l àm lụng tại nhà kia mà.
Họ đang c ãi cọ như vậy thì vừa
đến sảnh đường. Một đám đông tụ lại xem. Bậc
Đại Sĩ hỏi chuyện g ì gây ồn ào, ngài hỏi họ có chịu nghe ngài xử kiện
ch ăng. Khi họ đều bằng l òng, ngài gọi gã
Dìghapitthi lại, hỏi tên gã, xong hỏi tên vợ gã nhưng gã không biết nên nói
một tên khác. Rồi ngài hỏi tên cha mẹ gã, gã
đáp được nhưng ng ài hỏi tên cha mẹ vợ thì gã không biết, nên
đ ã nói một tên khác.
Bậc Đại Sĩ sắp đặt câu chuyện của g ã
xong và cho gã lui ra. Rồi ngài cho gọi gã lùn vào và cũng hỏi tên họ như
vậy. Gã này biết hết nên trả lời đúng cả. Ng ài
lại bảo gã lui ra, rồi cho gọi Dìghatàla vào, hỏi tên nàng, nàng
đáp được, nhưng khi hỏi t ên chồng, nàng
không biết nên nói sai. Khi hỏi tên cha nàng, nàng
đáp đúng, nhưng khi được hỏi t ên cha mẹ
chồng, nàng đáp bừa v à nói sai. Sau
đó bậc Trí giả cho gọi hai g ã vào và hỏi
đám đông:
- Câu chuyện của người đ àn bà này hợp
với Dìghapitthi hay Golakàla?
Họ đáp:
- Hợp với Golakàla.
Rồi ngài tuyên án:
- Người này là chồng chị ta, người kia là kẻ trộm.
Khi ngài hỏi lại gã, ngài buộc gã phải thú tội
đ ã làm tên trộm vợ người.
7. CỖ XE.
Một người đ àn ông trên xe ngựa bước
xuống đất để rửa mặt. Vừa lúc ấy Sakka Thi ên
chủ đang xem xét thế gian, khi ng ài thấy
bậc Trí giả liền quyết định l àm cho thế
nhân biết được uy lực v à tài trí của
Mahosadha, đức Phật trong thời vị lai. V ì
thế, ngài giáng thế, giả dạng đ àn ông
theo sau chiếc xe, giữ tay lái đằng sau. Người
chủ ngồi trong xe hỏi:
- Anh đến đây l àm gì?
Ngài đáp:
- Thưa Tôn ông, để hầu hạ Tôn ông.
Người ấy bằng lòng ngay và xuống xe qua bên
đường đi tiểu tiện. Lập tức Sakka Thi ên chủ lên xe phóng
đi mất. Người chủ xe xong việc trở lại, thấy
Sakka Thi ên chủ phóng xe chạy trốn, liền
đuổi theo v à la to:
- Ngừng lại, ngừng lại, anh đem xe ta đi
dâu?
Thiên chủ đáp:
- Xe của ông là cái nào kia chứ, đây l à
xe ta mà!
Vừa cãi cọ họ vừa chạy ngang qua cửa sảnh
đường. Bậc Trí giả hỏ i:
- Chuyện gì thế?
Và ngài cho mời Thiên chủ vào. Khi Thiên chủ vào, nhìn dáng
điệu oai vệ v à
đôi mắt không chớp của ng ài, bậc Trí giả
biết ngay là Sakka Thiên chủ và kẻ kia là chủ xe. Tuy thế ngài vẫn hỏi
nguyên do cuộc cãi vã và bảo họ:
- Các vị có chịu nghe ta xét xử ch ăng?
Họ đồng đáp:
- Thưa vâng.
Ngài tiếp tục nói:
- Ta sẽ làm cho xe chạy, cả hai vị đều phải
giữ tay lái đằng sau, người n ào chủ chiếc xe sẽ không
để xe chạy mất, c òn người kia mới
để nó chạy.
Xong ngài bảo một người lái xe, còn hai người kia giữ tay lái
đằng sau. Chủ xe chạy được một qu ãng thì
không thể nào chạy theo kịp, đ ành
để nó đi mất, c òn Sakka Thiên chủ vẫn
tiếp tục chạy theo xe. Khi Bậc Trí giả gọi chiếc xe trở lại, ngài bảo với
đám đông:
- Người này mới chạy một lát đ ã
để nó đi mất, c òn người kia chạy
đến c ùng với chiếc xe rồi còn chạy lui
nữa, mà lại chẳng đổ một giọt mồ hôi n ào
trên thân. Không thở dốc, không sợ sệt gì cả,
đôi mắt lại không chớp, đây chính l à Sakka Thiên chủ,
Đại đế của chư Thi ên.
Rồi ngài hỏi:
- Thưa ngài, chính phải ngài là Thiên chủ ch ăng?
- Chính phải.
- Thế ngài đến đây l àm gì?
- Để l àm rạng danh tài trí của Hiền
giả.
Ngài đáp:
- Vậy thì xin Thiên chủ chớ làm như vậy nữa.
Bấy giờ Sakka Thiên chủ xuất lộ oai thần bằng cách
đứng lơ lửng tr ên không, tán thán bậc
Hiền giả:
- Thật là một lối xét xử đầy t ài trí.
Rồi ngài trở về thiên giới.
Lúc ấy vị cận thần không đợi lệnh vua triệu
tập, vội trở về triều đ ình:
- Tâu Đại vương, việc cỗ xe ấy đ ã
quyết định được rồi: Ngay đến Sakka Thi ên
chủ còn chịu khuất phục trước ngài nữa, cớ sao
Đại vương không ch ịu thừa nhận tính siêu phàm ở thế nhân?
Nhà vua hỏi Senaka:
- Khanh nghĩ sao Senaka, ta có nên đem bậc
Trí giả về triều chăng?
Senaka tâu:
- Việc đó cũng chưa hẳn quyết định một bậc
Trí giả. Tâu Đại vương, cứ chờ đợi một lúc nữa: Thần sẽ xin đi thử t ài
vị này xem sao.
8. KHÚC CÂY.
Thế rồi một ngày kia, với mục đích thử t ài
bậc Hiền trí, họ đi t ìm một nhánh
phượng, cắt một khúc độ một gang tay, cho thợ
tiện đẻo thật láng rồi đưa ra sông thị trấn, với lời rao:
- Dân thị trấn này nổi danh tài trí, vậy hãy tìm cho ra phía nào là
đầu ngọn, phía n ào gốc của cành cây này.
Nếu không đoán được sẽ bị phạt một ngh ìn
đồng tiền.
Dân chúng tụ tập lại nhưng không ai tìm ra
được, liền nói với chủ họ:
- Có lẽ bậc Trí giả Mahosadha biết đấy, ta
thử mời ng ài xem.
Người chủ cho mời bậc Trí giả đang chơi ngo ài
sân, kể chuyện họ không biết đầu đuôi c ành
cây ấy nhưng chắc ngài biết. Bậc Trí giả nghĩ thầm: " Đức vua chẳng lợi
gì khi biết gốc ngọn cây ấy, chắc chắn ngài đưa nó đến đây thử tài ta". Ngài
bảo:
- Các hiền hữu hãy mang nó lại đây, ta sẽ t ìm
ra.
Khi cầm trong tay, ngài biết đâu l à
ngọn, đâ u là gốc, tuy nhiên
để l àm vui lòng mọi người, ngài cho
đem đến một chậu nước, buộc một sợi dây giữa
khúc cây rồi cầm đầu dây thả v ào mặt nước. Phía gốc nặng hơn nên chìm
trước. Ngài hỏi dân chúng:
- Gốc cây nặng hơn hay ngọn cây nặng hơn?
- Thưa bậc Trí giả, gốc cây nặng hơn.
- Vậy hãy nhìn đây, phần n ày chìm
trước, vậy là gốc.
Nhờ dấu hiệu này ngài đ ã phân biệt
được gốc ngọn. Dân chúng tr ình khúc cây
lên vua đ ã phân biệt phía nào gốc phía
nào ngọn. Vua hoan hỷ hỏi:
- Ai đ ã tìm ra?
Họ đáp:
- Tâu Đại vương, chính bậc Trí giả
Mahosadha, con trai của chủ nhân ông Sirivaddhi.
- Này Senaka, thế ta triệu vị ấy về triều
được chăng?
- Tâu Đại vương, xin cứ chờ đợi để chúng
thần thử t ài vị ấy cách khác nữa.
9. CHIẾC
ĐẦU NGƯỜI .
Một ngày kia, hai chiếc đầu được mang đến để
phân biệt chiếc n ào là đầu đ àn
bà, chiếc nào là đầu đ àn ông. Nếu không
tìm ra được, họ phải chịu phạt một ng àn
đồng tiền. Dân chúng không quyết đoán được,
liền mời bậc Đại Sĩ. Ng ài nhận ra vì người ta thường nói
đường khớp tr ên
đầu đ àn ông thì thẳng, còn
đường khớp tr ên xương
đầu đ àn bà thì cong. Nhờ dấu hiệu này,
ngài phân biệt được ngay v à dân chúng
trình lên vua. Phần cuối như các chuyện trên.
10. CON RẮN.
Một ngày nọ, một rắn đực v à một rắn
cái được đưa đến cho dân l àng
đoán thử. Họ hỏi bậc Trí giả. Ng ài biết
ngay khi thấy rắn vì đuôi rắn đực th ì
dày, đuôi rắn cái th ì mỏng;
đầu rắn đực tr òn,
đầu rắn cái d ài, mắt rắn
đực lớn,mắt rắn cái nhỏ. Nhờ những dấu hiệu n ày
ngài phân biệt con đực với con cái. Phần cuối
như cũ.
11. CON GÀ TRỐNG.
Ngày nọ vua ban lệnh xuống dân chúng ở Đông
thị trấn thi h ành:
- Hãy đưa về triều một b ò
đực trắng bạch, có sừng tr ên chân, cục
bướu trên đầu, rống l ên ba nhịp một ngày
không sai chạy, nếu không, sẽ phải bị phạt một ngàn
đồng tiền.
Dân chúng chẳng biết làm sao, liền hỏi bậc Hiền trí. Ngài
đáp:
- Nhà vua đ òi các ông gửi dâng ngài
con gà trống đấy. Con g à trống có sừng
trên chân đó l à cái cựa, cục bướu trên
đầu đó l à mào và cất giọng gáy
đúng ba nhịp (ngắn, vừa, d ài). Thế thì
hãy dâng vua con gà trống như ngài tả.
Họ liền gửi dâng vua ngay một con.
12. VIÊN NGỌC.
Viên ngọc này do Sakka Thiên chủ tặng vua Kusa, có hình bát giác. Sợi dây
đeo ngọc bị đứt nhưng không ai lấy được sợi dây
cũ ra để xâu sợi mới v ào.
Một ngày kia họ đem vi ên ngọc
đến bảo dân l àng lấy sợi dây cũ ra
để xâu dây mới v ào. Dân làng chẳng làm
gì được đ ành
đem chuyện khó khăn kể lại với bậc Trí giả. Ng ài
bảo họ đừng sợ g ì cả, hãy
đem đến một cục mật. Ng ài xoa mật vào
hai lỗ hạt ngọc, rồi se một sợi len, xoa mật vào một
đầu dây, đẩy đầu dây v ào một chút trong
lỗ ngọc, xong đặt vi ên ngọc vào nơi kiến
thường đi qua. Bầy kiến nghe m ùi mật bò
ra khỏi ổ, cắn hết sợi dây cũ rồi cắn sợi dây len kéo qua tận lỗ bên kia.
Khi ngài thấy lỗ đ ã thông, ngài bảo
dân chúng trình lên vua khiến vua rất đẹp l òng
khi nghe câu chuyện sợi dây được xâu như vậy.
13. BÒ
ĐỰC ĐẺ CON.
Con bò đực của nh à vua
được cho ăn quá nhiều trong v òng mấy
tháng nên bụng nó trương lên, sừng nó phờ phạc, nó phải
được xoa dầu, rồi họ đem nó đến Đông thị trấn
với lệnh vua ban:
- Nghe các khanh thật tài trí, vậy đây l à
con bò đực của đức vua đang có chửa, h ãy
giúp nó sinh con, rồi dẫn về triều, có đủ cả b ò
con. Nếu không sẽ chịu phạt vạ một ngàn đồng
tiền.
Dân làng hoảng hốt chẳng biết làm sao liền vấn kế bậc Trí giả, ngài nghĩ
nên đặt một câu hỏi tr ùng hợp với câu
kia, và hỏi:
- Các ông có thể tìm ra một người bạo gan dám
đối đáp với đức vua chăng?
Họ đáp chuyện ấy không khó g ì. Rồi họ
đem một người đến. Bậc Đại Sĩ bảo:
- Này anh bạn, anh hãy xõa tóc xuống vai đi
đến ho àng môn khóc lóc kêu than thật thống thiết. Ai hỏi gì cũng
không trả lời chỉ kêu khóc, trừ khi đức vua
hỏi. Nếu đức vua bảo đem anh v ào để hỏi
tại sao than khóc, anh cứ tâu: "Bảy ng ày nay con trai thần
đang lâm bồn nhưng không thể n ào sinh
con được, xin cứu thần với. Xin nói cho thần
biết l àm cách nào giúp nó sinh con?". Đức vua sẽ bảo: "Thật là
điên khùng. Làm sao đàn ông có thể sinh con được?". Lúc ấy anh sẽ đáp: "Nếu
quả thật như thế thì làm sao dân Đông thị trấn có thể giúp bò đực của Đại
vương sinh bò con được?".
Người ấy được lệnh cứ thế m à thi
hành. Vua hỏi ai nghĩ ra cách trả lời phản công lại như vậy và khi nghe nói
chính bậc Trí giả Mahosadha, ngài rất đẹp l òng.
14. NẤU CƠM.
Một ngày kia để thử t ài bậc Trí giả,
lệnh vua phán ra:
- Dân Đông thị trấn phải dâng về kinh một
thứ cơm nấu theo tám điều kiện sau: không gạo, không nước, không nồi, không
l ò, không lửa, không củi, không do đ àn
ông hay đ àn bà
đem về kinh theo đường cái. Nếu không l àm
được phải chịu phạt một ng àn
đồng tiền.
Dân làng bối rối vấn kế bậc Trí giả. Ngài bảo:
- Đừng lo g ì, hãy
đem một ít tấm lại đây, v ì nó không phải
gạo, đem tuyết v ì nó không phải nước,
đem đến một cái bát đất v ì nó không phải
nồi, chặt lấy vài tấm gỗ, đó không phải l à
cái lò, nhóm lửa bằng cách cọ xát chứ không dùng mồi lửa thật,
đốt lá thay v ì gỗ. Nấu cơm xong
để v ào một chậu khác, ép xuống thật
chặt, đặt tr ên
đầu của một hoạn quan, người n ày phi nam
phi nữ, bỏ đường cái m à
đi theo đường m òn,
đem l ên dâng vua.
- Dân chúng làm như vậy và vua rất đẹp l òng
khi nghe chuyện nhờ người nào mà vấn đề đ ã
được giải quyết.
15. CÁT
Một ngày kia để thử t ài bậc Trí giả,
lệnh vua ban xuống cho dân làng này:
- Đức vua rất thích thú nằm v õng, mà
võng cũ đ ã
đứt. Vậy các ngươi h ãy làm một chiếc võng bằng cát. Nếu không, phải
chịu phạt vạ một ngàn đồng tiền.
Dân làng chẳng biết làm sao lại phải cầu cứu bậc Trí giả. Ngài thấy
đây cũng l à chuyện
đặt vấn đề phản công lại. Ng ài trấn an
dân chúng rồi đi t ìm hai ba người
đối đáp thật thông minh lanh lợi đến, v à
ngài bảo họ đến tr ình lên vua:
- Tâu Đại vương, dân l àng chúng thần
không biết chiếc võng cát phải dày hay mỏng, vậy xin cho chúng thần một mảnh
chiếc võng cũ, dài độ một gang tay hay chừng
bốn ngón tay, chúng thần sẽ theo đó m à bện dây thừng
đúng cỡ đó. Nếu đức vua đáp: -"Trẫm chẳng hề có
chiếc v õng cát trong cung", thì họ phải tâu ngay: -"Nếu
Đại vương không thể l àm võng bằng cát
thì làm sao dân làng có thể làm được?"
Dân làng vâng theo lời nói như vậy và vua rất hài lòng khi nghe bậc Trí
giả đ ã nghĩ ra cách
đối đáp phản công lại như tr ên.
16. HỒ NƯỚC.
Một ngày kia có lệnh vua ban:
- Đức vua muốn vui chơi dưới nước, các ngươi
phải đem dâng ng ài một hồ nước mới có đủ
năm loại sen súng, nếu không phải chịu phạt một ng àn
đồng tiề n.
Dân làng kể chuyện với bậc Trí giả, ngài thấy
đây cũng cần đối đáp phản công lại. Ng ài
cho gọi nhiều người đối đáp lanh lợi đến rồi
bảo họ:
- Hãy lội xuống nước chơi đ ùa cho
đỏ cả mắt, rồi đi đến ho àng môn tóc tai
áo quần lấm bê bết, tay cầm dây thừng, gậy gộc,
đất đá, nhờ tâu tr ình với đức vua rằng
các ông đ ã đến chầu, v à khi các
ông được phép v ào cung, hãy tâu với
ngài: -"Tâu Đại vương, v ì
Đại vương ban lệnh cho dân Đông thị trấn dâng
ng ài một hồ nước, chúng thần đ ã
mang đến đấy một hồ nước thật lớn để đẹp ý Đại
vương nhưng hồ n ày quen sống ở rừng nên vừa thấy thị thành với hào
lũy tháp canh thì nó sợ hãi bức tung dây thừng chạy trốn vào rừng, chúng
thần đ ã ném
đất đá v ào nó, lấy gậy gộc đán h
đập nó nhưng cũng không bắt nó trở lại được.
Vậy xin cho chúng thần chiếc hồ cũ m à chúng thần nghe nói
Đại vương đ ã mang từ rừng về, chúng thần
sẽ buộc chúng chung với nhau để mang chiếc hồ
kia trở l ãi đây". Đức vua sẽ bảo: "Trẫm
chẳng hề bảo ai đem hồ từ rừng về đây cả v à cũng không hề bảo buộc hồ
lại rồi đem hồ kia về đây". Khi ấy các ông sẽ
phải tâu: "Nếu vậy th ì làm sao dân làng chúng thần dâng
Đại vương m ột hồ nước
được?".
Họ y theo vậy mà làm khiến đức vua rất đẹp l òng
khi nghe nói bậc Trí giả đ ã nghĩ ra
chuyện ấy.
17. HOA VIÊN.
Lại một ngày kia, vua ban lệnh:
- Trẫm muốn giải trí trong hoa viên và hoa viên của trẫm
đ ã xưa cũ quá rồi. Dân chúng
Đông thị trấn phải dâng trẫm một hoa vi ên
mới đầy đủ kỳ hoa dị thảo...
Bậc Trí giả lại trấn an dân chúng như trước kia, rồi cho người
đi đối đáp với vua như tr ên.
18. YẾT KIẾN VUA VỚI CON LỪA
Lúc ấy vua rất hoan hỷ bảo Senaka:
- Này khanh, trẫm có nên triệu bậc Trí giả ấy về triều ch ăng?
Nhưng ông ganh ghét vì thấy kẻ khác được
vinh hiển, liền tâu:
- Như thế chẳng có gì phải gọi là bậc Trí giả cả, ta hãy chờ xem.
Nghe vậy vua nghĩ thầm: "Hiền giả Mahosadha thật là tài trí dù còn bé
khiến ta rất ái mộ. Trong những cuộc thử thách
đầy bí hiểm v à những lần đối đáp phản
công vừa qua, vị n ày đ ã ứng
đối như một vị Phật. Tuy nhi ên một người
tài trí như vậy thì Senaka lại không muốn ta triệu hồi về triều cho ta. Vậy
ta cần gì Senaka đ ã chứ? Ta cứ triệu vị
ấy về đây".
Thế là vua cùng với một đám đông t ùy
tùng khởi hành đến ngôi l àng ấy và vua
ngự trên vương mã. Nhưng vừa lên đường th ì
con ngựa sụp hố gãy chân, vua phải trở về cung. Senaka liền vào yết kiến vua
và nói:
- Tâu Đại vương, phải chăng Đại vương đ ã
đi về Đông thị trấn để đem bậc Trí giả v ào
triều?
- Chính phải, hiền khanh.
Senaka lại tâu:
- Đại vương xem tiểu thần chẳng v ào
đâu cả. Tiểu thần xin Đại vương chờ đợi một ít
lâu, nhưng Đại vương cứ vội ra đi v à vừa lên
đường th ì vương mã bò gãy chân.
Vua không nói gì với ông nữa. Một ngày kia, vua lại hỏi Senaka:
- Trẫm triệu hồi vị Hiền trí này về triều
được chăng, hiền khanh Senaka?
- Tâu Đại vương, nếu vậy xin Đại vương đừng
tự thân h ành ngự đi, m à chỉ cần
cho sứ giả đến bảo: "N ày Hiền giả, trẫm
đ ã thân hành
đi tri ệu hồi ngài và con ngựa của trẫm
bị gãy chân, vậy hãy tiến cung một con ngựa tốt hơn và một
đại tuấn m ã". Nếu vị ấy chọn chuyện
đầu ti ên, vị ấy sẽ
đích thân về triều, nếu chọn chuyện thứ hai, vị
ấy sẽ nhờ thân phụ đi thế. Như vậy cũng l à việc
để thử thách vị ấy nữa.
Vua cho sứ giả đem lệnh ấy ra đi. Bậc Trí
giả khi nghe vậy, hiểu ngay rằng vua mong muốn gặp Ng ài và phụ thân
ngài. Ngài liền đi t ìm phụ thân và chào
hỏi:
- Thưa phụ thân, đức vua muốn gặp cha con
ta. Xin phụ thân l ên đường trước c ùng
đo àn tùy tùng gồm cả ngàn thương nhân.
Khi đi đường, phụ thân đừng đi hai tay không, m à
đem theo một hộp bằng gỗ đ àn hương
đựng đầy bơ tươi. Đức vua sẽ ân cần ch ào
hỏi thân phụ và mời thân phụ ngồi ghế gia chủ, xin thân phụ cứ ngồi xuống.
Khi ấy, con sẽ đến, đức vua cũng lại ân cần ch ào
đón con v à mời con ngồi một ghế như vậy.
Rồi con sẽ nhìn thân phụ; thân phụ đưa ám hiệu
v à đứng l ên bảo: "Hiền giả
Mahosadha nam tử, hãy ngồi xuống đi". Vấn đề
lúc ấy sẽ chín muồi để ta giải quyết.
Thân phụ ngài làm theo như vậy. Khi đến
cung, ông xin tr ình vua họ đ ã
đến, rồi được vua cho v ào, ông
đến tung hô chúc tụng vua xong v à
đứng sang một b ên. Vua ân cần chào
đón ông v à hỏi th ăm
bậc Trí giả Mahosadha nam tử ở đâu.
- Tâu Đại vương, hiền nhi sẽ đến sau tiểu
thần.
Vua hài lòng khi nghe bậc Trí giả sắp đến,
liền mời thân phụ ng ài ngồi xuống một nơi thích hợp. Ông ngồi xuống.
Trong lúc ấy, bậc Đại Sĩ được trang sức xi êm
y cực kỳ lộng lẫy, cùng với một ngàn nhi đồng
theo hầu, ngồi tr ên chiếc xe thật sang trọng uy nghi. Khi
đến kinh th ành, ngài thấy một con lừa
đứng cạnh một cái hố, liền bảo mấy người bạo
dạn bịt miệng con lừa lại để cho nó khỏi k êu, xong bỏ nó vào bao vát
lên vai. Họ làm như vậy, rồi Bồ-tát vào cung với
đo àn tùy tùng
đông đảo của ng ài. Dân chúng không ngớt
tán thán ngài. Họ la lên:
- Đây l à bậc Trí giả Mahosadha, nam
tử của phú ông Sirivaddhaka, người ta bảo ngài sinh ra có cây thuốc thần
trong tay, chính ngài đ ã biết cách giải
đáp mọi vấn đề được đặt ra để thử t ài
ngài.
Khi đến trước cung, ng ài bảo trình
vua ngài đ ã
đến. Vua rất đẹp ý, liền bảo:
- Hãy mời Trí giả Mahosadha nam tử của trẫm mau vào chầu.
Vì thế ngài liền vào cung cùng đám t ùy
tùng. Tung hô vua xong, ngài đứng sang một b ên.
Vua rất hoan hỷ khi trông thấy ngài nên nói giọng rất ngọt ngào, ban lệnh
cho ngài tìm một nơi thích hợp mà ngồi. Ngài liền nhìn cha, ông thấy ám hiệu
liền đứng dậy mời con ngồi chỗ ấy, ng ài
liền ngồi ngay. Thế là các kẻ ngu si đằng kia
như Senaka, Pukkusa, K àvinda, Devinda cùng nhiều kẻ khác nữa, thấy
ngài ngồi như vậy, liền vỗ tay cười rộ lên và bảo:
- Đây l à thằng ngốc
đui m ù mà chúng bảo là bậc Trí giả. Nó
bảo cha nó đứng dậy để nó ngồi v ào chỗ
ấy. Chắc chắn không thể gọi nó là bậc Trí giả
được.
Vua cũng tiu nghỉu như mèo cụt tai. Bậc Trí giả liền hỏi:
- Tâu Đại vương, Đại vương không đẹp ý
chăng?
- Đúng vậy, n ày Hiền giả, trẫm buồn
lắm. Trước đây trẫm rất hoan hỷ khi nghe nói về
Hiền giả, nhưng nay gặp Hiền giả trẫm lại không được vừa l òng.
- Tại sao như vậy?
- Chỉ vì khanh bảo thân phụ khanh đứng dậy
để khanh ngồi v ào chỗ ấy.
- Tâu Đại vương, ng ài cho rằng lúc
nào cha ông cũng hơn con cái cả hay sao?
- Đúng vậy, n ày Hiền giả.
- Thế Đại vương đ ã không ban lệnh cho
tiểu thần tiến dâng một tuấn mã tốt hơn nữa hoặc một
đại tuấn m ã ưu tú nhất
đó sao?
Nói xong, ngài đứng dậy nh ìn các nhi
đồng theo hầu ng ài và bảo:
- Đem con lừa của các bạn v ào
đây.
Đặt con lừa trước mặt vua, ngài tiếp tục hỏi:
- Tâu Đại vương, con lừa n ày
đáng giá bao nhi êu?
Vua đáp:
- Nếu dùng được th ì nó
đáng giá tám đồng tiền (ru-pi).
- Nhưng nếu nó tạo được một con la con với
một ngựa cái thuần giống Sindh th ì giá con la sẽ bao nhiêu?
- Thế thì nó vô giá.
- Tâu Đại vương, tại sao ng ài lại nói
vậy? Ngài chẳng vừa bảo là bất cứ lúc nào ông cha cũng hơn con cái cả hay
sao? Theo như ngài nói thì con lừa phải đáng
giá hơn con la chứ! Giờ đây các bậc Trí giả của ng ài
đ ã không vỗ tay chế nhạo tiểu thần chỉ
vì họ không biết điều ấy đó sao? Vậy t ài
trí của các bậc Trí giả ấy ở đâu chứ? Đại vương
đ ã tìm họ ở đâu ra vậy?
Rồi tỏ vẻ khinh thường cả bốn vị kia, ngài
đọc b ài kệ này trong Chương một (số 111) trình vua:
Tâu Đại vương, ng ài vẫn nghĩ rằng
Con luôn thua kém bậc cha ông?
Thế thì lừa phải hơn la chứ,
Lừa ấy với la chính phụ thân!
Sau đó, ng ài tiếp tục nói:
- Tâu Đại vương, nếu ông cha phải hơn con
cái th ì xin Đại vương h ãy sử dụng
thân phụ của tiểu thần; còn nếu con cái hơn ông cha thì xin sử dụng tiểu
thần.
Vua rất đẹp ý v à tất cả quần thần reo
hò nhiệt liệt tán thán cả ngàn lần:
- Bậc Đại trí giải quyết vấn đề thật vi diệu
thay !
Tiếng vỗ tay vang dậy và cả ngàn chiếc kh ăn
qu àng giơ lên vẫy tưng bừng khiến bốn vị kia tiu nghỉu.
Thời bấy giờ không ai hiểu rõ hơn Bồ-tát về giá trị của phụ mẫu mình. Nếu
ai hỏi lúc ấy tại sao ngài lại làm như vậy, thì
đó không phải l à vì ngài xem thường thân phụ ngài, nhưng chỉ vì khi
vua ban lệnh tiến dâng một tuấn mã tốt hơn hoặc một tuấn mã ưu tú
đệ nhất, ng ài phải làm như thế
để giải quyết vấn đề vua đặt ra, để l àm
hiển lộ tài trí của ngài vượt hẳn bốn vị kia.
Vua rất hoan hỷ, cầm chiếc bình vàng đựng
nước hương, rót nước l ên bàn tay của vị phú thương kia và phán:
- Khanh hãy thọ hưởng Đông thị trấn l à
tặng vật trẫm ban thưởng cho khanh. Các phú thương trong vùng phải thần phục
vị này.
Sau đó vua lại ban thưởng mẫu thân của
Bồ-tát đầy đủ các loại nữ trang. V ì đẹp
ý trước cách Bồ-tát giải quyết vấn đề con lừa, vua ước mong nhận Bồ-tát l àm
con mình, liền nói với người cha ngài:
- Này hiền khanh, hãy để bậc Đại trí l àm
con trẫm.
Ông đáp:
- Tâu Đại vương, nay con của Tiểu thần c òn
quá thơ dại, miệng còn hôi sữa; nhưng khi lớn khôn, tiểu nhi xin
đến hầu hạ Đại vương.
Tuy thế, vua vẫn phán:
- Này hiền khanh, từ nay đừng lưu luyến cậu
bé n ày nữa, từ hôm nay nó là con của trẫm. Trẫm có thể nuôi nấng con
của trẫm, vậy khanh hãy đi về.
Rồi vua ban lệnh cho ông ra về. Ông tuân lệnh vua, ôm lấy con
trong đôi v òng tay mình, hôn lên
đầu v à nhắn nhủ
đôi điều. Cậu bé gi ã biệt phụ thân,
khuyên cha chớ lo âu, rồi để cha ra đi.
Sau đó vua hỏi bậc Trí giả muốn d ùng
cơm bên trong cung hay ở ngoài. Ngài nghĩ rằng với
đám t ùy tùng
đông đảo như vậy, tốt nhất n ên
ăn uống b ên ngoài cung
điện, n ên tâu trình vua theo mục
đích ấy. Vua liền ban cho ng ài một ngôi
nhà hợp ý, cung cấp vật dụng đầy đủ cho một ng àn
nhi đồng ăn ở tại chỗ, từ đó bậc Trí giả phụng
sự vua.
19. VIÊN BẢO NGỌC.
Lúc bấy giờ vua lại muốn thử tài ngài. Thời
đó có một vi ên bảo châu nằm trong tổ quạ trên cây cọ dừa (tàla) bên
bờ hồ cạnh Nam môn và ảnh của viên bảo ngọc thường phản chiếu trên mặt hồ.
Dân chúng trình vua rằng có viên bảo ngọc dưới hồ. Vua liền triệu Senaka
đến bảo:
- Dân chúng bảo có viên bảo ngọc dưới hồ, làm thế nào
để lấy l ên
được?
Senaka tâu:
- Cách tốt nhất là tát cạn nước.
- Vua bảo ông thi hành, ông liền tập họp một
đám người tát nước v à lấy bùn ra, rồi đ ào
đất dưới đáy h ồ, nhưng chẳng thấy ngọc
đâu. Thế m à khi hồ
đầy nước lại, ánh ngọc vẫn phản chiếu tr ên
hồ như cũ. Senaka lại cho tát nước nữa và cũng không tìm thấy ngọc. Sau
đó vua triệu bậc Trí giả v à bảo:
- Dân chúng có thấy viên ngọc trong hồ, Senaka
đ ã cho tát nước bùn ra và
đ ào đất l ên
mà chẳng thấy ngọc đâu, nhưng vừa khi nước hồ
đầy th ì ngọc lại hiện lên, hiền nhi có thể lấy ngọc lên ch ăng?
- Tâu phụ vương, chuyện đó không khó g ì,
thần nhi xin đi lấy ngọc về dâng phụ vương.
Vua rất đẹp ý khi nghe ng ài hứa, rồi
cùng một đám đông cận thần theo hầu, vua ngự ra
hồ, sẵn s àng chứng kiến oai lực đại trí
của bậc Hiền giả. Bậc Đại Sĩ đứng tr ên hồ quan sát, ngài nhận xét
rằng ngọc không ở trong hồ, mà phải ở trên cây, nên ngài nói to:
- Tâu phụ vương, ngọc không có trong hồ.
- Sao không thấy ngọc dưới nước ch ăng?
Thế là ngài bảo đem đến một th ùng
nước và nói:
- Tâu phụ vương, đây chẳng phải l à ta
thấy ngọc trong thùng nước và cả trong hồ sao?
- Thế thì ngọc ở đâu?
- Tâu phụ vương, đây chỉ l à ánh ngọc
phản chiếu trong hồ nước lẫn trong thùng, còn ngọc ở trong tổ quạ ở trên cây
cọ dừa kia. Xin phụ vương cho người lên lấy ngọc và
đem xuống đây.
Vua y lời, cho người đem ngọc xuống v à
bậc Hiền trí đặt vi ên ngọc vào tay vua.
Mọi người tán dương bậc Trí giả và nhạo báng Senaka:
- Đây l à viên bảo ngọc nằm trong tổ
quạ trên cây, thế mà Senaka lại bảo đám người
lực lưỡng đ ào hồ. Chắc chắn một bậc Trí giả phải như Mahosadha này.
Họ cứ ca ngợi bậc Đại Sĩ như vậy, c òn
vua rất đẹp ý, ban cho ng ài xâu chuỗi
ngọc mà vua đang đeo tr ên cổ và ban
đủ chuỗi ngọc cho cả ng àn nhi
đồng kia, xong lại cho phép từ nay ng ài
và đám t ùy tùng của ngài vào chầu vua
được miễn lễ.
20. CON TẮC KÈ.
Một ngày kia, vua cùng bậc Trí giả bước vào ngự viên, thì một con tắc kè
ở trên chiếc cổng vòng cung trông thấy vua, liền bò xuống, nằm sát
đất. Vua thấy vậy, hỏi:
- Này bậc Trí giả, nó làm gì vậy?
- Tâu Đại vương, nó tỏ l òng cung kính
đối với phụ vương.
- Nếu vậy ta chẳng nên bỏ qua việc nó cung kính mà không thưởng nó, hãy
cho nó thật nhiều tặng vật.
- Tâu phụ vương, tặng vật chẳng ích lợi gì cho nó, cái nó cần là thức
ăn.
- Vậy nó ăn g ì?
- Tâu phụ vương, thịt.
- Nó cần ăn độ bao nhi êu?
- Chừng một xu, tâu phụ vương.
- Chỉ đáng một xu th ì chẳng xứng quà
thưởng của vua ban-Vua bảo.
Rồi ngài truyền cho một người đến, ban lệnh
đem cho con tắc k è đều đều mỗi ng ày
n ăm xu thịt. Việc n ày
được thi h ành sau
đó. Nhưng v ào ngày trai giới, không có
sát sinh, người đó không kiếm ra thịt, n ên
gã đục một lỗ qua đồng h ào nửa, buộc một
sợi dây vào cổ con tắc kè. Việc ấy làm con tắc kè sinh kiêu mạn.
Một ngày kia, vua lại vào ngự viên, nhưng con tắc kè thấy vua
đến gần, m à nó
đang ki êu mạn vì cho rằng nó cũng nhiều
của cải như vua, nó nghĩ thầm: " Đại vương gi àu
có lắm, này Đại vương Videha, nhưng ta đây cũng
vậy". Thế l à nó không bò xuống, mà cứ nằm yên trên cổng vòng cung gõ
nhịp chiếc đầu. Vua thấy vậy liền hỏi:
- Này bậc Trí giả, hôm nay con vật kia không xuống
đây như lệ thường, cớ sao vậy?
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu ti ên:
1. Tắc kè thuở trước chẳng bò lên,
Khung cửa vòng cung, bậc Trí hiền,
Hãy giải thích ngay cho trẫm rõ,
Tắc kè sao cứng cổ như trên?
Bậc Trí giả nhận thấy rằng có lẽ gã kia không kiếm
đâu ra thịt v ào ngày trai giới cấm sát
sinh, nên con vật này ắt sinh lòng kiêu mạn vì
đồng tiền buộc v ào cổ nó; bởi thế ngài ngâm kệ này:
2. Con tắc kè kia được thưởng cho,
Món tiền nó chẳng có bao giờ,
Nửa h ào, nên nó không tôn trọng,
Đại đế Vi-đề Mi-thi-la.
Vua truyền triệu gã kia đến hỏi chuyện v à
gã kể mọi sự đúng như vậy. Vua lại c àng
đẹp ý về bậc Trí giả hơn nữa v ì hình như
ngài biết được ý con tắc k è mà chẳng cần
hỏi han gì cả, thật tài trí chẳng khác nào trí tuệ tối thượng của một vị
Phật. Vì thế vua cho phép ngài thu lợi tức cả bốn cửa thành. Vua giận con
tắc kè, muốn gián đoạn việc ban thưởng cho nó,
nhưng bậc Trí giả bảo đó l à việc không nên làm và khuyên can vua.
21.
ĐẠI PHƯỚC V À BẤT HẠNH
Thời bấy giờ một thiếu sinh tên gọi Pinguttara ở thành Mithilà
đến Takkasil à học với một danh sư. Sau
thời kỳ tinh cần học tập đ ã viên mãn,
chàng tạ từ sư phụ ra về.
Nhưng trong gia tộc của danh sư này có tục lệ: nếu con gái
đến tuổi lấy chồng, th ì phải gả cho môn
đồ lớn tuổi nhất. Vị danh sư n ày có cô
con gái đẹp như ti ên, do
đó bảo môn đồ:
- Này đệ tử, ta sẽ gả con gái ta cho đệ tử,
vậy con h ãy đem con ta c ùng
đi về với con.
Lúc ấy cậu thiếu sinh thật là kẻ bất hạnh, thiếu may mắn, còn cô gái kia
thật có phước lớn. Khi chàng ta thấy nàng, chàng chẳng hề quan tâm
đến n àng, nhưng nghe thầy bảo vậy, chàng
cũng đồng ý v ì không muốn xem thường lời
dạy của thầy, thế là vị Bà-la-môn này gả con gái cho chàng.
Đ êm động ph òng
hoa chúc, chàng lên giường nằm; nàng vừa mới leo lên giường thì chàng càu
nhàu leo xuống đất, n àng cũng bước xuống
nằm cạnh chàng, chàng liền đứng dậy leo l ên
giường lại, nàng cũng bước lên giường, chàng lại bước xuống, vì kẻ bất hạnh
không đi đôi với người đại phước được. Thế l à
cô gái nằm trên giường, cậu trai nằm dưới đất.
Cứ thế bảy ng ày trôi qua.
Sau đó ch àng trai tạ từ sư phụ và ra
đi với vợ ch àng. Trên
đường đi chẳng có g ì hơn ngoài vài câu
chuyện trao đổi giữa hai vợ chồng. Cả hai đều
buồn khổ đi đến th ành Mithilà. Không xa thành mấy, Pinguttara thấy
một cây sung đầy trái v à
đang lúc đói bụng, ch àng trèo lên cây
hái vài quả ăn. Cô gái cũng đói bụng đến gốc
cây gọi l ên:
- Xin chàng ném xuống cho thiếp vài quả.
- Ô hay, chàng bảo, nàng không có tay chân sao? Trèo lên mà tự hái lấy.
Nàng đ ành trèo lên hái sung
ăn. Ch àng vừa thấy nàng trèo lên, liền
nhanh chân trèo xuống, chất gai góc quanh gốc cây và bỏ
đi, tự nhủ thầm: "Nay ta đ ã thoát
được người đ àn bà tồi tệ này rồi". Nàng
không leo xuống được đ ành ngồi trên cây.
Lúc bấy giờ vua đang vui chơi trong rừng đến
chiều, rồi ngự l ên vương tượng trở về thành. Khi thấy nàng, vua
đem l òng yêu ngay, vì thế vua cho người
hỏi nàng có chồng chưa, nàng đáp:
- Tiện thiếp đ ã có chồng do gia
đ ình gả cho, nhưng người ấy
đ ã ra đi v à
bỏ tiện thiếp lại đây một m ình.
Vị cận thần trình chuyện với vua, ngài bảo:
- Thật là bảo vật đưa về tay vua.
- Nàng liền được mang xuống, đặt l ên
voi chở về triều. Tại đây n àng
được rảy nước phong chức ho àng hậu. Nàng
được vua rất sủng ái v à
được mệnh danh l à Udumbarà hay "Hoàng
hậu cây Sung" vì vua thấy nàng trên cây sung lần
đầu ti ên.
Một ngày nọ, dân chúng ở cạnh cổng kinh thành phải dọn
đường cho vua ngự du v ào hoa viên và
Pinguttara phải đi kiếm ăn n ên cũng xắn
áo quần lên và dùng cái cào dọn đường. Trước
khi đường sá dọn dẹp xong, vua c ùng hoàng hậu Udumbarà
đ ã ngự đến
tr ên vương xa, hoàng hậu trông thấy kẻ khốn khổ ấy
đang dọn đường, không giữ được vẻ đắc thắng, n àng
nhìn chàng ta mỉm cười. Vua nổi giận khi nàng mỉm cười, liền hỏi tại sao.
Nàng đáp:
- Tâu Đại vương, kẻ dọn đường kia l à
chồng cũ của thần thiếp, người đ ã bắt
thần thiếp trèo lên cây sung rồi chất gai quanh gốc cây xong lại bỏ
đi, bây giờ gặp lại g ã, thần thiếp không
sao khỏi thấy đắc thắng về số phận may mắn của
thần thiếp v à mỉm cười khi gặp gã đằng
kia.
Vua bảo:
- Ngươi nói láo, ngươi cười với một kẻ khác, ta sẽ giết ngươi.
Và vua rút kiếm ra. Nàng hoảng hốt kêu lên:
- Tâu Đại vương, xin Đại vương vấn ý các vị
hiền thần của Đại vương.
Vua hỏi Senaka xem ông có tin lời nàng hay ch ăng.
Ông đáp:
- Tâu Đại vương, thần không tin được v ì
ai có thể bỏ một mỹ nhân đẹp thế kia khi đ ã
chiếm được n àng?
Nàng nghe vậy càng run sợ hơn nữa. Nhưng vua nghĩ thầm: "Senaka làm sao
biết được chuyện n ày,
để ta hỏi bậc Hiền trí xem sao", rồi vua ngâm
kệ hỏi ng ài:
3. Một nữ nhi đức hạnh, diễm kiều,
Nhưng nam nhân ấy chẳng thương y êu,
Hiền khanh có thể tin không chứ?
Trí giả Sa-dha hãy nói nào.
Bậc Trí giả đáp:
4. Thần vẫn tin điều ấy, Đại vương,
Kẻ kia thật bất hạnh bần c ùng,
Người nhiều ân phước và vô phước,
Chẳng có bao giờ kết bạn chung.
Những lời này làm dịu cơn thịnh nộ của vua, lòng ngài bình tĩnh lại và
rất hân hoan ngài bảo:
- Này bậc Trí giả, nếu khanh không ở đây, ắt
hẳn trẫm đ ã nghe lời kẻ ngu si Senaka kia và mất nữ báu này, khanh
đ ã cứu hoàng hậu cho trẫm.
Vua liền ban thưởng bậc Trí giả một ngàn
đồng tiền. Rồi ho àng hậu kính cẩn tâu với vua:
- Tâu Đại vương, chính nhờ bậc Hiền trí n ày
mà thần thiếp được cứu sống. Vậy xin Đại vương
ban cho thần thiếp một điều ước: Đó l à cho phép thần thiếp
đối xử với bậc Trí giả như một tiểu đệ.
- Được, n ày ái khanh, trẫm chấp thuận
ban điều ước ấy.
- Tâu Đại vương, nếu được như vậy, bắt đầu
từ hôm nay thần thiếp không thể d ùng cao lương mỹ vị mà không có tiểu
đệ, từ nay đúng m ùa hay trái mùa thiếp
điều mở cửa cung đem bánh trái cho tiểu đệ,
thần thiếp tha thiết ước ao như vậy.
- Ái khanh cũng được toại nguyện nữa-Vua
bảo.
Đến đây chấm dứt chuyện Đại phước và Bất hạnh.
22. CON DÊ VÀ CON CHÓ.
Một ngày kia, sau bữa điểm tâm, vua dạo chơi
tr ên lối đi bộ chợt thấy qua bậc cửa một
con d ê và một con chó đang đánh bạn với
nhau. Lúc bấy giờ con d ê có thói quen ăn
cỏ ném cho bầy voi cạnh chuồng voi trước khi voi ăn, cho n ên những
người quản tượng đánh đuổi con d ê
đi. Trong khi nó vừa chạy vừa k êu be be
thì một người rượt theo lấy gậy đánh v ào
lưng nó. Con dê oằn lưng lại vì đau đớn, chạy
đến nằm cạnh trường th ành của hoàng cung, trên chiếc ghế dài.
Lúc bấy giờ có một con chó đ ã
ăn hết xương, da v à vật thừa trong nhà
bếp của hoàng cung, cùng ngày hôm ấy, người đầu
bếp đ ã nấu nướng thức ăn xong, để v ào
dĩa hẳn hoi. Trong khi gã đang lau mồ hôi tr ên
mình thì con chó nghe mùi thơm của cá thịt, chịu không nổi, liền vào bếp giở
nắp đậy ra v à bắt
đầu ăn thịt. Những người đầu bếp nghe tiếng bát
đĩa rổn rảng liền chạy v ào thấy chó đang
ăn thịt, g ã đóng cửa lại, lấy đá v à
gậy đánh nó. Con chó thả miếng thịt vừa chạy
vừa la ẳng ẳng, người đầu bếp thấy nó chạy, c òn rượt theo
đánh một gậy đích đáng v ào lưng. Con chó
cong lưng lại co rút một chân lên, chạy đến nơi
con d ê đang nằm. Con d ê hỏi:
- Này bạn, tại sao bạn cong lưng lại, bạn
đau bụng chăng?
Con chó đáp:
- Bạn cũng đang cong lưng lại đấy chứ, bạn
cũng đau bụng chăng?
Con chó liền kể chuyện của nó xong, con dê hỏi thêm:
- Thế bạn có vào nhà bếp được nữa không?
- Không, chuyện này cũng đáng đời ta lắm
rồi, thế bạn có đến chuồng voi được nữa chăng?
- Cũng chẳng hơn gì bạn, chuyện đó cũng đáng
đời ta lắm rồi.
- Thế rồi chúng bắt đầu băn khoăn không biết
l àm cách nào để sống đây. D ê nói:
- Hay là ta cùng chung sống được chăng? Tôi
có ý kiến n ày.
- Xin cho ta biết ngay.
- Này bạn, bạn hãy đi đến chuồng voi, những
người quản tượng sẽ không để ý đến bạn v ì họ nghĩ rằng chó không
ăn cỏ đâu, thế l à bạn mang cỏ về cho
tôi. Tôi sẽ đến nh à bếp và người
đầu bếp sẽ không chú ý đến tôi v ì nghĩ
rằng tôi không ăn cá thịt được đâu. Thế l à
tôi sẽ đem thịt về cho bạn.
- Thật là diệu kế ! Con chó đáp.
Rồi chúng giao hẹn: Con chó đến chuồng voi
tha về một nắm cỏ trong mồm v à đặt cạnh
trường th ành và con dê vào nhà bếp mang ra một miếng thịt lớn
đặt v ào cùng chỗ ấy, con chó
ăn thịt v à con dê
ăn cỏ. Theo cách nầy chúng sống chung h òa
hợp cạnh bức trường thành .
Khi vua thấy tình bằng hữu của chúng, ngài suy nghĩ: "Trước kia ta chưa
từng thấy một việc kỳ lạ như thế: Hai kẻ thù truyền kiếp lại sống chung
đầy thân t ình với nhau. Ta sẽ
đưa câu chuyện n ày thành một vấn
đề b àn cãi cho các hiền thần của ta. Nếu
họ không hiểu nổi, ta sẽ đuổi họ ra khỏi triều,
c òn nếu ai đoán được, ta sẽ tuy ên
dương là bậc Trí giả vô thượng và sẽ tỏ lòng tôn kính vị ấy. Hiện nay không
có việc, nhưng ngày mai, khi họ đến chầu ta, ta
sẽ đem vấn đề ra hỏi".
Thế là hôm sau, khi các hiền thần vào chầu vua, ngài liền
đặt vấn đề qua vần kệ:
5. Hai kẻ thù theo lẽ tự nhiên,
Chưa từng bảy bước đứng kề b ên,
Trở thành bạn thiết không rời nữa,
Duyên cớ là đâu? Các bậc hiền!
Sau đó, vua ngâm th êm một vần kệ:
6. Nếu không giải đáp trước trưa nay,
Trẫm sẽ đuổi luôn hết cả bầy,
Trẫm không cần những người ngu nữa,
Vậy h ãy tìm lời giải đáp ngay.
Lúc bấy giờ Senaka ngồi trên chiếc cẩm đôn h àng
đầu, bậc Trí giả ngồi cẩm đôn cuối c ùng,
ngài tự nhủ thầm: Đức vua chậm hiểu không tự nghĩ ra cách giải quyết
vấn đề này, chắc ngài phải thấy một chuyện gì đấy. Nếu ta được gia hạn một
ngày, ta sẽ giải quyết xong việc này. Senaka chắc chắn sẽ tìm kế hoãn lại
một ngày. Còn bốn vị kia chẳng thấy việc gì cả, chẳng khác nào ở trong phòng
tối, Senaka nhìn Bồ-tát xem ngài sẽ làm gì, Bồ-tát liền nhìn lại Senaka.
Nhìn vẻ mặt bậc Trí giả Mahosadha, Senaka hiểu
được tâm trạng ng ài, ông thấy rằng ngay cả bậc Trí giả cũng không
hiểu vấn đề, ng ài chưa giải
đáp được hôm nay m à cần gia hạn thêm một
ngày nữa, ngài sẽ hoàn thành việc giao ước này. Thế là ông cười to
để trấn an v à nói:
- Tâu Đại vương, Đại vương sẽ
đuổi chúng thần nếu chúng thần không giải đáp được vấn đề này chăng?
- Chính phải, hiền khanh.
- Đại vương biết đây l à một vấn
đề rắc rối, chúng thần không thể giải đáp nổi,
vậy xin Đại vương đợi một thời gian. Một vấn đề rắc rối không thể giải quyết
giữa đám đông. Xin cho chúng thần suy nghĩ thật kỹ rồi sẽ giải đáp sau. Xin
h ãy cho chúng thần một cơ hội.
Ông nói vậy vì tin tưởng bậc Đại Sĩ, rồi
ngâm hai vần kệ:
7. Giữa đám đông người tụ tập trung,
Thật ồn ào quá, trí mông lung,
Không sao tập hợp tư duy được,
Để giải đáp ngay, tâu Đại vương.
8. Nhưng hễ khi nào được độc cư,
B ình tâm tĩnh trí để suy tư,
Vấn đề xem xét cho tường tận,
Sẽ giải đáp ngay, h ãy đợi chờ.
Mặc dù nổi giận khi nghe lời này, vua vẫn
đáp lại giọng đe dọa:
- Được lắm, các khanh cứ suy nghĩ cho kỹ rồi
trả lời trẫm, nếu không được, trẫm sẽ đuổi hết đi.
Bốn vị hiền thần rời triều ra về, Senaka bảo ba vị kia:
- Chư hiền, đức vua đặt một vấn đề gay go,
nếu chúng ta không giải quyết n ổi thì thật
đại họa cho chúng ta. Vì vậy ta hãy
ăn uống no say rồi suy nghĩ cho kỹ.
Sau đó mỗi vị về tư dinh, c òn bậc Trí
giả đi t ìm hoàng hậu Udumbarà và thưa
bà:
- Tâu hoàng hậu, hôm qua và hôm nay thánh thượng thường ở
đâu?
- Này bậc Trí giả, ngài dạo chơi trên lối đi
v à nhìn ra cửa sổ.
Bồ-tát liền nghĩ: "Ồ, thế thì phải thấy chuyện gì
đó". Bồ-tát liền đến nơi ấy nh ìn ra và
thấy việc làm của con chó và con dê. "Vấn đề
của đức vua đ ã được giải quyết rồi", ng ài
kết luận và đi về nh à.
Ba vị hiền thần kia chẳng tìm thấy gì liền
đi đến Senaka, ông hỏi: Các vị đ ã tìm ra vấn
đề ấy chưa?
- Thưa ngài, chưa.
- Nếu vậy, đức vua sẽ đuổi các vị, tính sao
đây?
- Còn ngài đ ã nghĩ ra chưa?
- Cũng chưa nghĩ ra.
- Ngài còn chưa tìm ra, huống hồ chúng tôi? Chúng ta
đ ã rống lên như sư tử trước mặt
đức vua l à xin
để chúng ta suy nghĩ rồi sẽ giải quyết; nay ta
l àm không được ắt vua sẽ tức giận.Vậy ta
phải l àm thế nào đây?
- Vấn đề n ày chúng ta giải quyết
không được đâu. Chắc chắn bậc Trí giả đ ã
giải quyết cả tr ăm cách rồi.
- Thế thì ta đi đến ng ài xem sao.
Cả bốn vị kéo nhau đến trước cửa nh à
Bồ-tát, nhờ thông báo việc họ đến gặp ng ài,
rồi bước vào kính cẩn chào ngài xong, họ đứng
sang một b ên hỏi bậc Đại Sĩ:
- Thưa ngài, ngài đ ã nhìn ra vấn
đề ấy chưa?
- Nếu ta chưa nghĩ ra thì còn ai nghĩ ra đó
chứ. Dĩ nhi ên ta đ ã nghĩ ra rồi.
- Vậy xin ngài cho chúng tôi biết với.
Ngài nghĩ thầm: "Nếu ta không nói cho họ biết,
đức vua sẽ đuổi họ v à ban thưởng cho ta
bảy báu vật nhưng thôi, chớ để những t ên
ngu si kia tàn đời, ta sẽ cho họ biết". Rồi ng ài
bảo họ ngồi xuống ghế thấp, đưa tay l ên
chào ngài, sau đó, không nói thẳng cho họ biết
những g ì vua đ ã thấy tận mắt,
ngài chỉ làm bốn vần kệ, dạy cho mỗi vị một vần bằng tiếng Pàli
để đọc l ên trình vua khi
được hỏi đến, xong cho họ ra về.
Ngày hôm sau khi họ vào chầu vua, rồi ngồi xuống chỗ
được vua cho phép, vua liền hỏi Senaka:
- Hiền khanh đ ã giải
đáp vấn đề được chưa, Senaka?
- Tâu Đại vương, nếu thần không giải đáp
được th ì còn ai nữa chứ?
Vậy nói cho trẫm biết .
- Xin Đại vương nghe đây.
Rồi vị này đọc b ài kệ
đ ã học
được:
9. Bọn hành khất trẻ, các ông hoàng,
Rất thích thịt dê đực ngọt ngon,
Thịt chó, họ đều không thọ dụng,
Nhưng d ê- chó giữ mối thân bằng.
Mặc dù Senaka đọc kệ, ông vẫn chẳng hiểu ý
nghĩ g ì, còn phần vua lại hiểu, vì ngài
đ ã chứng kiến sự việc ấy. Ngài nghĩ: "Senaka
đ ã tìm ra rồi". Ngài liền quay sang
Pukkusa và hỏi ông ta:
- Tại sao thế tâu Đại vương, tiểu thần không
phải l à người có trí ch ăng?
Pukkusa hỏi vua, rồi đọc b ài kệ
đ ã học
được:
10. Họ lấy da dê phía núi rừng,
Phủ che ngựa quý ở trên lưng,
Còn da của chó không dùng được,
Nhưng chó d ê cùng kết bạn thân.
Ông này cũng chẳng hiểu chuyện gì, nhưng vua tưởng ông hiểu vì chính ngài
đ ã chứng kiến sự việc. Rồi ngài lại hỏi
Kàvinda và ông cũng đọc vần kệ:
11. Cặp sừng cong xoắn, chú dê rừng,
Nhưng chó lại không có cặp sừng,
Một con ăn cỏ, con ăn thịt,
Tuy thế, chó, d ê, kết bạn thân.
"Vị này cũng tìm ra rồi". Vua nghĩ thầm, rồi hỏi
đến Devinda, ông ta cũng như các vị kia, đọc l ên
bài kệ đ ã học
được:
12. Cừu dê ăn cỏ, lá cây luôn,
Cỏ, lá thì con chó chẳng ăn,
Chó thích ăn mèo hay thịt thỏ,
Nhưng dê- chó giữ mối thân bằng.
Kế đó vua hỏi bậc Trí giả.
- Này vương nhi, con có hiểu vấn đề n ày
ch ăng?
- Tâu Đại vương, c òn ai khác nữa hiểu
được nó từ địa ngục Av ìci (A-tỳ hay vô
gián) đến từng trời Bhavagga (Hữu đảnh), từ địa
ngục thấp nhất đến v ùng trời cao nhất?
- Vậy thì hãy nói cho trẫm.
- Xin phụ vương nghe đây.
Rồi ngài nói rõ sự hiểu biết vấn đề của ng ài
qua hai bài kệ này:
13-14. Con dê cao tám tất dùng chân,
Tám móng, không ai thấy, vội mang,
Món thịt về cho con chó ấy,
Chó đem cỏ đến chú d ê rừng.
Vi- đề-ha, chúa to àn dân chúng,
Đứng tại thượng lầu tận mắt trông,
Việc lấy thức ăn trao đổi ấy,
Giữa d ê, chó kết mối thân bằng.
Vua không hiểu các vị kia đ ã biết câu
chuyện nhờ Bồ-tát, nên rất hoan hỷ cho rằng cả n ăm
vị đều t ìm ra câu giải đáp vấn đề nhờ t ài
trí riêng của mình, và ngài cũng ngâm kệ:
15. Trẫm có các bậc hiền giả tại triều
Thật là ích lợi biết bao nhiêu,
Vấn đề tế nhị v à uyên áo,
Họ thấu triệt, lời lẽ tối ưu.
Rồi ngài bảo họ kẻ có công sẽ được đền đáp
xứng đáng. V à ngài ân thưởng qua câu kệ:
16. Cứ mỗi hiền khanh, trẫm thưởng ban,
Một xe, la cái, một ngôi làng,
Giàu sang thượng hạng cho người trí,
Trẫm thích thú lời lẽ ngọc vàng !
Rồi ngài ban thưởng tất cả các thứ ấy.
Đến đây chấm dứt vấn đề con Dê trong Chương mười hai.
*
Nhưng hoàng hậu Cây Sung biết rõ các kẻ kia hiểu
được vấn đề nhờ bậc Trí giả, b à nghĩ
thầm: " Đức vua ban thưởng giống nhau cho cả năm vị, chẳng khác nào một
kẻ không phân biệt được đậu nhỏ và đậu lớn, chắc chắn hiền đệ của ta phải
được phần thưởng đặc biệt hơn".
Rồi bà đến hỏi vua:
- Tâu Đại vương, ai đ ã giải
đáp câu đố ấy cho Đại vương?
- Này ái khanh, cả n ăm hiền giả.
- Nhưng tâu Đại vương, nhờ ai m à bốn
vị kia biết được?
- Ái khanh, trẫm không rõ.
- Tâu Đại vương, các vị kia biết g ì?
Chính bậc Trí giả muốn các vị ấy khỏi bị suy tàn vì ngài, nên cho họ biết
vấn đề ấy. Thế m à
Đại vương ban thưởng cho cả năm vị giống nhau.
Như vậy không công bằng, Đại vương n ên có phần thưởng
đặc biệt cho bậc Trí giả.
Vua rất đẹp ý v ì bậc Trí giả không
tiết lộ chuyện các vị kia biết được nhờ ng ài
và muốn ân thưởng thật trọng hậu cho ngài, vua nghĩ: "Không hề gì. Ta sẽ hỏi
con ta một vấn đề nữa, nếu con ta đáp trúng ta
sẽ hậu thưởng". Nghĩ vậy xong, vua đặt ra Vấn đề Gi àu Nghèo.
23. GIÀU VÀ NGHÈO.
Một ngày kia, khi n ăm bậc hiền thần v ào
chầu vua và khi họ đ ã an tọa, vua hỏi:
- Senaka, ta sẽ hỏi hiền khanh một chuyện.
- Tâu Đại vương, xin cứ hỏi.
Vua liền đọc vần kệ đầu trong Vấn đề Gi àu-Nghèo:
17. Có trí khôn nhưng thiếu bạc vàng,
Hoặc giàu tiền lại kém khôn ngoan,
Se-na-ka, trẫm hỏi khanh nhé:
Bậc trí gọi ai tốt đẹp hơn?
Lúc bấy giờ vấn đề n ày
được truyền lại từ đời n ày sang
đời khác trong gia tộc Senaka, n ên ông
đáp ngay:
18. Quả thật, kẻ ngu hoặc trí nhân,
Vô v ăn ph àm tục, hoặc
đa văn,
Đều hầu hạ những người gi àu có,
Dù họ cao sang hoặc hạ tầng,
Nhìn thấy điều n ày, thần mới nói:
Trí nhân thua kém kẻ giàu sang.
Vua nghe đáp xong không nói g ì thêm
ba vị kia mà nói với bậc Trí giả Mahosadha ngồi bên cạnh :
19. Ta cũng hỏi con, Đại trí nhân,
Bậc tinh thông vạn pháp tr ên trần:
Kẻ ngu lắm của, người khôn khó,
Bậc trí gọi ai tốt bội phần?
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Xin Đại vương nghe đây:
20. Người ngu phạm tội, nghĩ suy rằng:
"Trên cõi đời, ta thắng thế hơn",
Họ thấy đời n ày, không cõi kế,
Nên mang tai họa cả hai đường.
Điều n ày con thấy, nên con nói:
Bậc trí hơn xa trọc phú đần.
Nghe nói vậy, vua nhìn Senaka và nói:
- Này hiền khanh, có thấy Mahosadha bảo bậc Trí nhân là cao hơn cả
đấy chăng?
Senaka đáp:
- Tâu Đại vương, Mahosadha chỉ l à một
trẻ thơ, miệng còn hôi sữa, đ ã biết gì?
Và ông ngâm kệ:
21. Kiến thức không đem lại bạc v àng,
Cũng không gia thế hoặc dung nhan,
Hãy nhìn ngốc tử Go-ri ấy,
Đang hưởng vinh hoa, đại phú cường,
V ì Đại vận chìu người hạ tiện.
Điều n ày thần thấy, mới thưa rằng:
Bậc hiền trí chịu phần hèn mọn,
Còn kẻ giàu tiền thắng thế hơn.
Nghe vậy, vua bảo:
- Này vương nhi Mahosadha, bây giờ con nghĩ sao?
Ngài đáp:
- Tâu phụ vương, Senaka có biết gì? Lão chỉ như con quạ thấy nơi nào có
thóc vãi, hay như con chó cố liếm cho hết sữa, chỉ thấy mình mà không thấy
chiếc gậy đang sẵn s àng giáng xuống
đầu. Xin phụ vương h ãy nghe
đây:
22. Một người tiểu trí hóa mê man.
Bị nhiễm độc khi hưởng bạc v àng:
Nếu gặp tai ương, thành ngớ ngẩn,
Rủi may số phận đến không lường,
Nó v ùng như cá phơi ngoài nắng,
Khi thấy điều tr ên, trẻ nói rằng:
Người trí hơn xa người có của,
Giàu tiền nhưng trí óc ngu đần.
- Này Đại Sư, thế th ì sao?
Vua bảo khi nghe ngài nói vậy, Senaka liền
đáp:
- Tâu Đại vương, cậu ấy n ào biết gì?
Chẳng nói gì đến người, m à ngay cả cây
tốt tươi, đầy quả ngọt, chim chóc cũng bay đến
đậu.
Rồi ông ngâm kệ:
23. Trong rừng, chim chóc tự mười phương,
Tụ tập trên cây có trái ngon,
Cũng vậy, người nhiều tiền lắm của,
Đám đông hám lợi đến quây quần.
Thấy vầy, thần nói: người hiền trí,
H èn kém, kẻ giàu thắng thế hơn.
- Này vương nhi, bây giờ con nghĩ sao? Vua hỏi.
Bậc Trí giả đáp:
- Lão bụng bự ấy nào có biết gì? Xin phụ vương nghe
đây.
Rồi ngài ngâm kệ:
24. Kẻ ngu quyền thế chẳng hiền lương,
Dùng bạo lực khi chiếm bạc vàng,
Nó rống thật to tùy ý thích,
Quỷ nhân kéo nó xuống âm cung!
Thấy điều n ày, tiểu nhi xin nói:
Bậc trí hơn xa trọc phú đần.
Vua lại bảo:
- Này Senaka?
Senaka liền đáp:
25. Mọi dòng nước đổ xuống sông Hằng,
Đều mất tánh danh với giống d òng,
Đổ xuống biển, sông Hằng cũng sẽ,
Không c òn phân biệt được th ành
phần.
Vậy đời phục vụ người gi àu của;
Nhìn thấy điều tr ên, thần nói rằng:
Người có trí chịu phần thấp kém,
Còn người giàu của chiếm phần hơn.
Vua lại bảo:
- Này bậc Trí giả nghĩ sao?
Ngài liền đáp:
- Xin phụ vương nghe đây.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
26-27. Biển cả, người kia nói, lệ thường,
Muôn sông đổ xuống, đập không ngừng,
V ào bờ, nhưng chẳng bao giờ vượt,
Bờ nọ, dù hùng vĩ đại dương.
Cũng vậy, lời người ngu nhảm nhí,
Phồn vinh không thể vượt hiền nhân,
Thấy điều n ày, tiểu nhi xin nói:
Người trí hơn xa trọc phú đần.
- Khanh nghĩ sao? Senaka? Vua hỏi.
- Xin Đại vương nghe đây.
Ông đáp v à ngâm vần kệ:
28. Người giàu ở địa vị cao sang,
Có thể thiếu ph òng hộ bản thân,
Nhưng nếu nói gì cùng kẻ khác,
Lời kia giá trị giữa nhân quần.
Trí khôn không thể gây uy tín,
Cho kẻ nào không có bạc vàng.
Thấy vầy thần nói: người hiền trí,
Thấp kém, người giàu thắng thế hơn.
- Con nghĩ sao? Vua hỏi.
- Tâu Đại vương, xin nghe đây. Kẻ ngu si
Senaka ấy n ào có biết gì?
Rồi ngài ngâm vần kệ:
29. Vì kẻ khác hay chính bản thân,
Kẻ ngu thường chẳng nói chân ngôn,
Chịu ô nhục giữa nơi quần chúng,
Đời kế nó rơi cảnh khổ buồn.
V ì thấy điều n ày, con trẻ nói:
Trí nhân hơn trọc phú ngu đần.
Sau đó Senaka lại ngâm vần kệ:
30. Cho dù người Đại trí khôn ngoan,
Thiếu gạo thóc, lâm cảnh khốn n àn,
Nếu có nói điều g ì phải trái,
Cũng không giá trị giữa thân nhân,
Phồn vinh không đến nhờ tri kiến.
Nh ìn thấy điều tr ên, thần nói
rằng:
Người trí phải chịu phần thấp kém,
Còn người giàu của thắng phần hơn.
Vua lại hỏi:
- Vương nhi nói sao về việc này?
Bậc trí đáp:
- Senaka nào có biết gì? Lão chỉ nhìn đời n ày,
chứ không thấy đời sau.
Và ngài ngâm vần kệ:
31. Chẳng vì mình, cũng chẳng vì người,
Bậc Đại trí nhân phải dối lời,
Người được tôn s ùng trong hội chúng,
Đời sau hưởng hạnh phúc an vui.
Thấy điều n ày trẻ thơ xin nói:
Bậc trí hơn người trọc phú thôi.
Sau đó Senaka lại ngâm vần kệ:
32. Voi, ngựa, bò, vòng ngọc, nữ nhân,
Thấy nhiều trong các hộ giàu sang,
Để d ành cho các người giàu hưởng,
Mà chẳng cần uy lực thánh thần,
Nhìn thấy điều n ày, thần dám nói:
Bậc hiền thấp kém, phú gia hơn.
Bậc trí giả đáp:
- Lão ấy nào có biết gì?
Rồi ngài ngâm kệ, tiếp tục giải thích vấn
đề:
33. Người ngu hành động thiếu suy tư,
Nói những lời ngu xuẩn, dại rồ;
Vô trí bị quăng v ì Đại vận,
Như con rắn bỏ lớp da khô.
Thấy điều n ày, trẻ thơ xin nói:
Bậc trí hơn xa phú hộ ngu.
- Khanh nghĩ sao? Vua hỏi.
Senaka liền đáp:
- Tâu Đại vương, trẻ thơ n ày nào biết
gì, xin Đại vương nghe đây !
Rồi lão ngâm kệ, vì tưởng rằng sẽ làm cho bậc Trí giả không nói thêm gì
được nữa:
34. N ăm trí nhân l à bọn chúng thần,
Thảy đều hầu cận đấng tôn quân,
Hết l òng kính trọng ngài là chúa,
Là chủ nhân ông của thứ dân.
Như Đế Thích l à vua vạn vật,
Chính là chúa tể của thiên nhân.
Thấy vầy thần nói: người hiền trí,
Thấp kém, người giàu thắng thế hơn.
Khi vua nghe vậy, liền nghĩ thầm: " Điều ấy đ ã
được Senaka nói thẳng ra, ta không biết con ta
có bác bỏ được v à nói gì thêm không đây"
. Vì thế vua hỏi:
- Này, bậc Trí giả nghĩ sao đây?
Tuy nhiên lý luận này của Senaka không ai bác bỏ
được, trừ Bồ-tát thế l à bậc
Đại Sĩ liền bác bỏ ngay, ng ài
đáp:
- Tâu phụ vương, kẻ ngu ngốc kia nào biết gì? Lão chỉ nhìn thấy mình mà
không biết đến tính si êu việt của trí
tuệ, xin Đại vương h ãy nghe
đây.
Rồi ngài ngâm kệ:
35. Người ngu nô lệ của người hiền,
Khi vấn đề n ày phát khởi lên,
Bậc trí giải đề khôn khéo lắm,
Kẻ ngu rối trí tựa cuồng đi ên.
Thấy điều n ày, trẻ thơ xin nói:
Bậc trí hơn xa kẻ lắm tiền.
Bậc Đại Sĩ đưa ra lý luận n ày biểu lộ
đại trí của ng ài, chẳng khác nào ngài
đ ào được
cát v àng dưới chân núi Tu-di hay đem
vầng trăng tr òn sáng tỏ lên bầu trời.
- Này Senaka, nếu được th ì khanh cứ
đối đáp lại đi.
Nhưng cũng như kẻ đ ã dùng hết thóc
gạo trong kho, Senaka ngồi yên, rầu rĩ, lòng phiền muộn không nói n ăng
g ì được nữa. Nếu ông t ìm ra
được một lý luận khác, chắc cả ng àn câu
kệ nữa cũng chưa hết chuyện Tiền thân này, nhưng khi ông ấy không trả lời
được nữa, bậc Đại Sĩ lại tiếp tục ngâm kệ tán
thán trí tuệ, chẳng khác n ào ngài để d òng
hồng thủy tuôn tràn:
36. Trí tuệ được s ùng bởi thiện nhân,
Bạc vàng được chuộng bởi người trần,
Đắm say hưởng thụ bao tham dục.
Tri kiến Phật-đ à thật tuyệt luân;
Vàng bạc chẳng bao giờ vượt quá
Trí cao siêu việt, tấu vương quân.
Nghe xong vua rất hoan hỷ với cách giải đáp
vấn đề của bậc Đại Sĩ, đến độ vua ban thưởng ng ài vô số tài sản và
ngâm kệ:
37. Con đáp mọi câu hỏi của ta,
Pháp Sư độc nhất, Ma-ho-sa,
Ng àn bò cái, một voi, bò đực,
Tuấn m ã kéo mười cỗ đại xa,
Mười sáu ngôi l àng giàu đẹp nhất,
Hân hoan ta tặng thưởng con thơ.
Đến đây chấm dứt Vấn đề "Giàu Nghèo" (Chương XX).
24. CON
ĐƯỜNG BÍ MẬT.
Từ ngày ấy, vinh quang của Bồ-tát thật lẫy lừng và hoàng hậu Udumbarà
điều h ành chu
đáo mọi việc ch o ngài.
Khi ngài được mười sáu tuổi, b à nghĩ
thầm: "Tiểu đệ đ ã lớn, danh vọng thật
lẫy lừng, vậy ta phải tìm nơi xe duyên cho tiểu
đệ". B à liền tâu chuyện này với vua, và vua rất hài lòng:
- Tốt lắm, ái khanh, cứ nói chuyện cho vương nhi biết.
Bà nói với ngài chuyện ấy, ngài ưng thuận và bà nói:
- Vậy để ta t ìm tân nương cho con.
Bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Ta s ẽ chẳng
bao giờ vừa ý cho ai chọn vợ cho ta, ta sẽ tự chọn lấy mà thôi". Ngài liền
đáp:
- Tâu hoàng hậu, khoan nói chuyện này với thánh thượng trong vài ngày nữa
đ ã, xin để
tiểu đệ tự đi tìm vợ cho hợp ý mình, rồi tiểu đệ sẽ tâu trình sau.
- Được rồi, em cứ l àm như vậy.
Ngài từ giã hoàng hậu, đi về nh à
thông báo cho các thân hữu. Rồi ngài tìm cách kiếm
được bộ đồ nghèo của thợ may, một mình
đi ra cửa Bắc, tiến v ào Bắc thị trấn.
Lúc bấy giờ ở đó có một gia đ ình
thương nhân cổ kính bị suy sụp, là gia đ ình
của cô gái tên là Amarà (Bất tử) rất xinh đẹp,
khôn ngoan, có đầy đủ mọi tướng tốt của phúc phận. Sáng sớm hôm ấy cô gái đi
đến nơi cha n àng cày ruộng, để đem cháo
n àng nấu cho cha, tình cờ nàng cũng đi
tr ên con đường ấy. Khi bậc Đại Sĩ thấy n àng
đi đến, ng ài tự nhủ: "Một nữ nhân
đủ mọi tướng tốt l ành thay! Nếu nàng
chưa có gia thất, nàng phải làm vợ ta". Còn nàng khi vừa trông thấy ngài,
cũng tự nhủ: "Nếu ta được chung sống với một
nam nhân như vậy, ta có thể khôi phục cơ đồ sự nghiệp".
Bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Ta không biết n àng
có gia thất chưa, vậy ta sẽ hỏi nàng bằng cách ra dấu tay và nếu nàng thông
minh, nàng sẽ hiểu". Thế là đứng đằng xa, ng ài
nắm chặt tay lại. Nàng hiểu rằng ngài hỏi nàng có chồng chưa, liền xoe tay
ra. Thế rồi ngài vội đi đến hỏi t ên
nàng. Nàng đáp:
- Tên thiếp là cái hiện nay không có, trước kia
đ ã không có và sau này cũng sẽ không có
được.
- Thưa nương tử, không có gì trên đời n ày
bất tử cả, vậy chắc hẳn tên quý nương là Amarà, người Bất tử, phải ch ăng?
- Đúng vậy, thưa công tử.
- Nương tử đem cháo cho ai?
- Cho vị thần ngày xưa.
- Các thần ngày xưa là cha mẹ ta. Vậy chắc quý nương muốn nói
đến quý phụ thân?
- Đúng vậy, thưa công tử.
- Quý thân phụ hiện đang l àm gì?
- Người đang l àm một thành hai.
Lúc bấy giờ làm một thành hai là cầy ruộng.
- Người đang cầy ruộng chăng, hỡi quý nương?
- Thưa công tử, phải.
- Thế ruộng người cày ở đâu?
- Ở nơi người ra đi nhưng không trở lại nữa.
- Nơi người ra đi không trở lại l à
nghĩa địa, vậy người đang cầy ruộng gần nghĩa
địa?
- Đúng thế, thưa công tử.
- Quý nương có trở lại đây nữa chăng?
- Nếu nó đến th ì thiếp không
đến, c òn nếu nó không
đến th ì thiếp sẽ
đến, thưa công tử.
- Có lẽ quý thân phụ cày ruộng cạnh bờ sông, nên nếu nước dâng thì quý
nương không trở lại được, c òn nước không
dâng thì quý nương sẽ trở lại, phải ch ăng?
Sau cuộc trò chuyện trao đổi n ày,
nàng Amarà mời ngài uống nước cháo. Bậc Đại Sĩ
nghĩ nếu từ chối th ì khiếm nhã, nên ngài nhã nhặn xin nàng một ít.
Khi nàng để b ình nước cháo xuống
đất, ng ài nghĩ thầm: "Nếu nàng mời ta mà
không rửa cái hũ và cho ta nước rửa tay, ta sẽ từ giã nàng ra
đi".
Nhưng nàng lấy nước trong hũ đưa ng ài
rửa tay, rồi đặt chiếc hũ không xuống đất chứ
không đưa ng ài cầm, khuấy nước cháo trong bình xong, nàng
đổ đầy v ào hũ. Nhưng thấy rất ít gạo
trong nước cháo, ngài bảo:
- Này quý nương, có ít gạo quá!
- Thưa công tử, trước đây chúng tôi không có
nước.
- Quý nương muốn bảo là lúa đang mọc, quý
nương không đưa nước v ào đó chăng?
- Đúng vậy, thưa công tử.
Rồi nàng để lại một ít nước cháo cho cha, v à
mời Bồ-tát một ít. Ngài uống xong, súc miệng và hỏi:
- Thưa quý nương, ta muốn đến thăm nh à
quý nương, xin quý nương làm ơn chỉ đường.
Nàng chỉ đường cho ng ài bằng cách
đọc b ài kệ
đ ã được đưa ra trong Chương Một:
38. Nhờ món bánh và cháo nấu nhừ,
Cùng cây song điệp trổ muôn hoa,
B àn tay thiếp để ăn v à chỉ,
Chẳng phải bàn tay thiếp bỏ qua,
Đó chính l à
đường đi thị trấn,
Con đường bí mật phải t ìm ra.
Đến đây chấm dứt Vấn đề Con đường Bí mật.
25. BẬC TRÍ GIẢ
ĐI CƯỚI VỢ.
Ngài đến nh à nàng theo cách
đ ã chỉ dẫn, mẹ Amarà thấy ngài, liền mời
ngài ngồi:
- Ta muốn mời công tử dùng cháo, được chăng?
- Xin cám ơn hiền mẫu, hiền muội Amarà đ ã
cho tiểu sinh ăn cháo rồi.
Bà mẹ liền nhận ra ngay là chắc hẳn ngài đến
đây v ì ái nữ của bà. Bậc Đại Sĩ thấy
cảnh ngh èo túng của họ, lại nói:
- Thưa hiền mẫu, tiểu sinh làm nghề thợ may, hiền mẫu cần may vá gì
không?
- Thưa công tử, có chứ, nhưng không có tiền
để trả công.
- Thưa hiền mẫu, không cần phải trả công, hiền mẫu cứ
đem các thứ ra đây cho tiểu sinh may vá.
Bà liền đem áo quần cũ ra, Bồ-tát vá từng
thứ, công việc của người có trí bao giờ cũng trôi chảy v à ngài lại
bảo bà:
- Hiền mẫu đi báo cho dân chúng ngo ài
đường biết nhé.
Bà liền thông báo khắp làng, chỉ một ngày nhờ công việc may vá, bậc
Đại Sĩ kiếm được một ng àn
đồng tiền. B à lão nấu cơm trưa cho ngài
ăn v à buổi chiều bà hỏi cần nấu bao
nhiêu nữa.
- Thưa hiền mẫu, nấu đủ cho mọi người trong
nh à thôi.
Bà liền đi nấu cơm với c à ri và thêm
các thứ gia vị vào.
Buổi xế chiều, Amarà từ khu rừng trở về nhà, mang theo một bó củi trên
đầu v à bó lá quanh hông. Nàng vứt củi
xuống ở cửa trước và đi v ào cửa sau. Cha
nàng cũng về sau đó. Bậc Đại Sĩ ăn một bữa cơm
thật ngon miệng; cô gái hầu cơm cha mẹ trước khi ăn, rồi rửa chân cho cha
mẹ cùng Bồ-tát. Ngài ở đó v ài
ngày th ăm d ò nàng. Rồi một ngày kia,
để thử n àng, ngài bảo:
- Ái nương Amarà ơi, đem nửa đấu thóc ra l àm
cho ta một cái bánh, một nồi cháo và một nồi cơm.
Nàng bằng lòng ngay, đi s àng gạo sạch
trấu, lấy hột lớn nấu cháo, hột vừa nấu cơm, hột nhỏ làm bánh, thêm gia vị
cho đầy đủ. N àng
đem nấu cháo đ ã nêm gia vị mời bậc
Đại Sĩ.
Ngài vừa ăn một miếng đ ã cảm thấy mùi
thơm đặc biệt thấm qua cổ họng, tuy nhi ên
để thử n àng, ngài bảo:
- Quý nương ơi, nếu nàng không biết nấu, sao nàng lại làm hỏng gạo cơm
của ta?
Rồi ngài nhổ cháo xuống đất, nhưng n àng
không hề giận, chỉ trao bánh cho ngài và bảo:
- Nếu cháo không ngon, thì xin ăn bánh.
Các bánh kia ngài cũng nói như thế và từ chối món cơm, ngài bảo :
- Nếu nàng không biết nấu nướng sao lại phí phạm của cải ta?
Rồi như thể giận dữ lắm, ngài trộn cả ba thứ với nhau bôi khắp người nàng
từ đầu đến chân, bảo n àng ngồi xuống bậc
cửa.
- Hay lắm, thưa công tử.
Nàng vâng lời ngồi xuống, không tỏ vẻ giận dữ gì. Thấy nàng không có vẻ
cao ngạo, ngài bảo:
- Quý nương ơi, đến đây.
Vừa nghe ngài gọi tiếng đầu, n àng
đ ã đến
ngay.
Khi Đại Sĩ đến đây, ng ài có
đem theo một ng àn
đồng tiền v àng và một chiếc áo trong giỏ
cau trầu.
Bấy giờ ngài lấy nó ra, đưa cho n àng
và bảo :
- Quý nương ơi, hãy cùng bạn hữu đi tắm v à
mặc áo này vào và đến đây với ta.
Nàng vâng lời. Bậc Trí giả trao cho cha mẹ nàng tất cả số tiền ngài
đem theo v à vừa kiếm
được, khuy ên nhủ
đôi lời, rồi đem n àng lên kinh thành.
Tại đây ng ài muốn thử nàng, liền bảo
nàng ngồi trong nhà người canh cổng, nói cho bà vợ người canh cổng biết mưu
kế của ngài, rồi về nhà ngài. Tại đó ng ài
cho gọi các quân hầu của ngài đến v à
bảo:
- Ta có để lại một nữ nhân ở nh à kia,
hãy đem một ng àn
đồng tiền đến thử n àng xem.
Ngài đưa tiền v à bảo họ
đi. Họ l àm theo lời ngài dặn. Nàng từ
chối, bảo:
- Số tiền này không đáng giá bằng đám đất
bụi bám tr ên chân công tử của ta.
Đám quân hầu tr ở về kể lại cho ngài
nghe kết quả cuộc thử. Ngài lại bảo họ đi lần
nữa, đến lần thứ ba, thứ tư, rồi bảo họ kéo n àng
đi bằng vũ lực. Họ vâng theo v à khi nàng
nhìn thấy bậc Đại Sĩ uy nghi rực rỡ, n àng
không nhận ra ngài, mà chỉ cười rồi khóc khi nhìn ngài. Thấy thế ngài hỏi cớ
sao, nàng đáp:
- Thưa công tử, thiếp mỉm cười khi ngắm vẻ huy hoàng của công tử và nghĩ
rằng công tử được hưởng cảnh huy ho àng
này không phải là không có nhân duyên, mà là do thiện nghiệp của công tử
đời trước: "H ãy xem quả phước báo".
Thiếp nghĩ vậy và mỉm cười. Nhưng rồi thiếp khóc khi nghĩ rằng công tử sẽ
gây tội ác phá hại tài sản mà kẻ khác ch ăm sóc
trông nom v à sẽ xuống địa ngục, n ên
vì thương cảm, thiếp phải khóc.
Sau lần thử này, ngài biết nàng rất tiết hạnh, nên bảo họ
đem n àng về chỗ cũ. Ngài giả dạng người
thợ may, trở về với nàng và ở lại đ êm
đó.
Sáng hôm sau, ngài trở về cung, kể mọi chuyện với hoàng hậu Udumbarà.
Bà báo cho vua biết xong, trang điểm cho Amar à
đủ ngọc v àng trân bảo
đặt n àng ngồi trên một cỗ xe sang trọng,
đầy vẻ uy nghi, vinh hiển rước n àng về
cung của bậc Đại Sĩ v à mở ngày lễ hội
vương hầu.
Vua ban thưởng Bồ-tát món quà đáng giá một
ng àn đồng tiền, dân chúng trong th ành
đem qu à đến
dâng, từ người giữ cửa trở đi. N àng Amarà chia quà vua ban làm hai
phần, gửi lại một phần dâng lên vua; các quà dân chúng tặng, nàng cũng chia
như vậy, trả về cho họ một nửa, vì thế rất được
l òng dân. Từ ngày ấy, bậc Đại Sĩ c ùng
nàng sống rất hạnh phúc và chỉ bảo cho vua mọi thế sự cũng như thánh sự.
Một ngày kia Senaka bảo ba người kia nhân lúc họ
đến thăm:
- Này các bạn, chúng ta chưa đấu trí nổi vôí
Mahosadha con nh à dân giả này, nay nó tìm
được vợ khôn lanh hơn cả nó nữa, l àm sao
chúng ta kiếm kế ly gián nó với đức vua đây?
- Thưa Tôn sư, làm sao chúng tiểu đệ biết
được? Chuyện đó t ùy ngài định đoạt.
- Được rồi đừng lo g ì, ta
đ ã có cách. Ta sẽ trộm hạt bảo châu trên
vương miện, hiền hữu Pukkusa trộm chuỗi đeo cổ
bằng v àng của đức vua, hiền hữu Kavinda
trộm chiếc áo lông của ng ài và hiền hữu Devinda lấy
đôi h ài bằng vàng của ngài.
Cả bốn người ấy tìm cách làm các việc này. Sau
đó Senaka nói:
- Song ta phải bỏ vào nhà gã này mà không cho nó biết.
Thế là Senaka để hạt bảo châu v ào
bình hạt dẻ, bảo một tỳ nữ:
- Nếu ai mua bình hạt dẻ này, ngươi đều từ
chối, chỉ bán cho người nh à Mahosadha mà thôi.
Người tỳ nữ đem lọ đến nh à bậc Trí
giả đi l ên
đi xuống v à rao:
- Ai muốn mua hạt dẻ?
Nhưng nàng Amarà đứng b ên cửa nhìn
thấy rõ, nàng nhận xét cô nữ tỳ nọ không đi nơi
n ào khác ngoài nhà nàng, chắc phải có
điều g ì bên trong chuyện này. Nàng liền ra dấu cho tỳ nữ của nàng lại
gần, còn chính nàng kêu to gọi cô gái:
- Đến đây cô bé, ta muốn mua hạt dẻ.
Khi cô gái đến, b à chủ gọi các nữ tỳ
ra, nhưng không có ai trả lời cả, nên phải nhờ cô gái
đi kiếm hộ. Khi cô gái đi rồi, Amar à
thọc tay vào bình tìm ra hạt bảo châu. Khi cô gái trở lại, Amarà liền hỏi:
- Cô là tỳ nữ nhà ai?
- Thưa phu nhân, nhà bậc Trí giả Senaka ạ.
Nàng liền hỏi tên họ tỳ nữ cùng tên mẹ cô gái rồi bảo:
- Nào cho ta ít hạt dẻ.
- Thưa hiền mẫu, nếu mẹ cần thì cứ lấy cả bình, con không lấy tiền
đâu.
- Vậy thì cô về đi.
Amarà bảo người tỳ nữ ra rồi, nàng viết trên một ngọn lá: Vào ngày ấy
tháng ấy, đại sư Senaka gửi đến một hạt bảo
châu tr ên vương miện để l àm quà
tặng do một nữ tỳ tên họ ấy đem đến.
Pukkusa gửi đến chuỗi đeo cổ bằng v àng
giấu trong giỏ hoa lài, Kàvinda gửi đến chiếc
cẩm y giấu trong giỏ rau, Devinda gửi đến đôi h ài bằng vàng
để trong bó rơm. N àng nhận tất cả và
viết tên họ vào ngọn lá, cất đi rồi kể lại cho
bậc Đại Sĩ nghe mọi chuyện. Khi năm vị hiền thần kia v ào cung, liền
hỏi vua:
- Tâu Đại vương, sao Đại vương không đội
vương miện có bảo châu?
- Được đem nó ra đây cho trẫm mang v ào.
Vua bảo.
Nhưng họ không kiếm ra viên bảo châu và các thứ kia. Thế là cả bốn vị
bảo:
- Tâu Đại vương, các vật trang sức của Đại
vương đều nằm trong nh à Mahosadha, gã ấy
đang d ùng chúng đấy, g ã con trai
nhà dân giả ấy chính là kẻ thù của Đại vương
đấy.
Họ vu cáo cho ngài như vậy. Sau đó những kẻ
tốt bụng đi t ìm Mahosadha kể chuyện cho ngài, ngài bảo:
- Để ta yết kiến đức vua v à
đi t ìm.
Ngài đến chầu vua. Đang cơn thịnh nộ, vua
phán:
- Trẫm chẳng nhìn nhận tiểu tử kia nữa, nó còn muốn gì ở
đây?
Vua không cho phép ngài vào trần tình. Khi bậc Trí giả biết vua
đang cơn thịnh nộ, ng ài trở về nhà. Vua
ban lệnh bắt ngài và ngài biết được nhờ những
kẻ tốt bụng, n ên bảo cho Amarà biết đ ã
đến lúc ng ài phải ra
đi, r ồi ngài trốn ra khỏi kinh thành,
đến Nam thị trấn giả dạng l àm nghề thợ
đồ gốm ở trong một l ò gốm. Cả kinh thành
loan tin ngài bỏ trốn. Khi Senaka và ba vị kia hay tin ấy mỗi người liền gửi
cho phu nhân Amarà một bức thư mà không cho ba vị biết, nhắn tin với nàng:
Xin phu nhân đừng ngại g ì, chúng ta
không phải là những trí giả hay sao?
Nàng cất cả bốn bức thư rồi trả lời cho mỗi vị
đến gặp n àng vào một ngày giờ nào
đó. Khi họ đến, n àng cho người lấy dao
cạo râu tóc họ sạch nhẵn, ném họ vào buồng tắm, hành hạ họ thật khổ sở, rồi
lấy mền quấn họ lại và thông báo cùng vua biết. Nàng
đem họ c ùng bốn bảo vật
đến cung đ ình, tung hô vua xong, nàng
nói:
- Tâu Đại vương, bậc Trí giả Mahosadha không
phải l à kẻ trộm, mà chính đây l à
các kẻ trộm: Senaka trộm bảo châu, Pukkusa trộm dây chuyền vàng, Devinda
trộm đôi gi ày mạ bằng vàng vào ngày ấy
tháng ấy, do tay của một nữ tỳ, các vật này
được gửi đến l àm quà tặng. Xin Đại vương
nh ìn ngọn lá này và nhận lại các bảo vật rồi thả các kẻ trộm ra.
Làm cho các vị kia chịu muôn phần sỉ nhục như thế xong, nàng liền ra về.
Tuy nhiên, vua lại bối rối trước chuyện này, vì từ khi Bồ-tát ra
đi v à không có bốn bậc hiền thần kia,
ngài không nói gì nữa, chỉ bảo họ tắm rửa rồi ra về.
27. VỊ NỮ THẦN VÀ CON
ĐOM ĐÓM.
Lúc bấy giờ vị nữ thần ở trong chiếc lọng hoàng gia không
được nghe giọng Bồ-tát thuyết pháp, không hiểu
nguy ên nhân gì và khi bà biết được, liền
quyết định đem bậc Trí giả trở về.
Vì thế ban đ êm, bà hiện ra từ một cái
lỗ quanh lọng, hỏi vua bốn vấn đề được t ìm
thấy trong "Các vấn đề của Nữ thần" Chương IV,
với các vần kệ bắt đầu: "Kẻ ấy đánh bằng chân lẫn tay". Vua không trả lời
được, nhưng hứa sẽ hỏi các vị hiền thần v à xin gia hạn một ngày.
Hôm sau, vua ban lệnh triệu hồi họ, nhưng họ
đều đáp:
- Chúng thần hổ thẹn nếu xuất hiện trước công chúng. Vì chúng thần bị cạo
râu tóc sạch nhẵn.
Thế là ngài gửi cho họ bốn chiếc mão đội đầu
(dân chúng cho rằng đó l à nguồn gốc các chiếc mão).
Khi họ đến, họ được mời ngồi xong, vua bảo:
- Này Senaka, đ êm qua vị thần ở trong
chiếc lọng của trẫm hỏi trẫm bốn vấn đề m à
trẫm không giải đáp được, phải bảo l à
trẫm sẽ hỏi các hiền thần. Vậy các khanh hãy giải
đáp cho trẫm.
Và ngài đọc b ài kệ thứ nhất:
39. Kẻ ấy đánh bằng chân lẫn tay,
Đánh luôn cả mặt mũi tai mày,
Tuy nhiên kẻ ấy, tâu Hoàng thượng;
Thân thiết hơn chồng nữa, lạ thay !
Senaka lắp bắp các chữ đầu:
- Đánh l àm sao,
đánh ai đ ã chứ?
Rồi ông chẳng tìm ra đầu đuôi g ì cả.
Ba vị kia đều im lặng . Vua hết sức túng thế. Đ êm
đến nữ thần lại hỏi ng ài
đ ã giải đáp
câu đố được chưa, ng ài bảo:
- Trẫm đ ã hỏi bốn hiền thần mà không
ai nói được cả.
Bà đáp:
- Họ có biết gì đ ã chứ, trừ bậc Trí
giả Mahosadha, chẳng ai giải đáp được cả. Nếu
Đại vương không triệu ng ài về giải đáp
các vấn đề n ày, ta sẽ chặt đầu Đại vương
với lưỡi dao oan nghiệt n ày.
Sau khi dọa vua như vậy, bà nói tiếp:
- Tâu Đại vương, khi Đại vương cần lửa, đừng
thổi con đom đóm, khi cần sữa đừng vắt cái sừng b ò.
Rồi bà lập lại Vấn đề con Đom đóm trong

Chương V:#

- Khi lửa tắt, có ai đi t ìm lửa từng
nghĩ rằng con đom đóm có thể l àm mồi lửa
được chăng, nếu người ấy trông thấy đom đóm ban
đ êm? Nếu người ấy vò vụn phân bò và cỏ chất lên nó thì thật là
đi ên rồ, vì không thể làm nó bắt lửa
được.
Cũng vậy, một thú vật không ích lợi gì cho ta nếu ta dùng nó theo cách
sai lạc, ví như vắt sữa sừng bò, thì chẳng bao giờ sữa chảy ra. Con người
được lợi lạc nhờ nhiều phương tiện như l à
trừng phạt kẻ thù và tỏ tình thân ái với bằng hữu. Nhờ chinh phục các tướng
lãnh giữa chốn ba quân và lời bằng hữu khuyên r ăn,
các vị chúa tể tr ên thế gian ngự trị cả thế gian và hưởng thụ trọn
vẹn.
Các vị vua ấy chẳng giống Đại vương đang
thổi con đom đóm v à tưởng đó l à
lửa. Đại vương giống như người thổi con đom đóm
khi ngọn lửa đang sẵn s àng bên cạnh, như người ném cái cân xuống và
đo lường bằng tay, như người cần sữa vắt sừng b ò,
khi ngài đem các vấn đề sâu xa như vậy m à
hỏi Senaka và những kẻ tương tự lão ấy, chúng nó biết gì
đâu chứ? Chúng chỉ l à những con
đom đóm, c òn Mahosadha sáng ngời trí tuệ
mới là ngọn lửa vĩ đại đang cháy b ùng
rực rỡ, nếu Đại vương không t ìm ra lời
giải đáp vấn đề n ày,
Đại vương sẽ l à cái xác không hồn.
Sau khi dọa cho vua khiếp sợ như thế, bà biến mất.
Đến đây chấm dứt Vấn đề con Đom đóm.
*
Từ đấy vua kinh ho àng vì sợ chết.
Sáng hôm sau vua ra lệnh bốn cận thần lên bốn cỗ xe
đi ra bốn ho àng môn và bất kỳ nơi nào họ
tìm được vương tử, bậc Trí giả Mahosadha, đều
phải đón ch ào ngài thật trọng thể rồi lập tức rước ngài về hoàng
cung. Ba vị trong số này không tìm được bậc Trí
giả ; nhưng vị thứ tư đi ra phía Nam môn t ìm thấy bậc
Đại Sĩ ở Nam thị trấn, lúc ấy đang ngồi tr ên
bó rơm lấm lem bùn đất, ăn những vắt cơm chấm
ít nước canh sau khi đ ã kiếm xong đất
sét v à quay bánh xe cho chủ lò gốm. Ngài
đ ã làm như vậy là vì ngài nghĩ rằng vua có thể nghi ngờ ngài muốn lên
cầm vương quyền, nhưng nếu vua hay tin ngài
đang sống bằng nghề thợ gốm th ì mối nghi kỵ sẽ tan ngay. Khi ngài
trông thấy vị cận thần, ngài hiểu ông đi đến t ìm
ngài, ngài hiểu rằng vinh quang của ngài đ ã
được phục hồi, ng ài sẽ
được thưởng thức mọi cao lương mỹ vị do phu
nhân Amar à dọn ra thiết đ ãi, vì
thế ngài thả vắt cơm đang cầm v à
đứng dậy súc miệng. Vừa lúc ấy vị cận thần đi
đến, đây l à một người trong vây cánh của Senaka nói với ngài một cách
thô lỗ như sau:
- Thưa Tôn sư, những lời mà bậc hiền giả Senaka nói
đều l à những
điều báo trước rất hữu ích cho ng ài:
vinh quang của ngài đ ã mất, tài trí của
ngài chả ích lợi gì, bây giờ đây ng ài
ngồi trên đống rơm b ê bết bùn lầy
đất m à ăn
cơm như vậy đó.
Rồi gã này đọc b ài kệ trong chuyện
Bhùri-pãnha hay Vấn đề Trí tuệ, Chương X:
40. Có thật ngài là bậc Trí nhân,
Như người đồn có trí uy ên thâm,
Vậy tài trí, đại vinh quang ấ y,
Chẳng phục vụ ngài đúng nghĩa chăng,
V à đ ã trở thành không ý nghĩa,
Trong khi ngài nuốt chút cơm hầm?
Bậc Đại Sĩ liền đáp lại:
- Tên ngu si mê muội kia, nhờ tài trí của ta, khi nào ta muốn phục hồi
vinh quang đều được cả.
Rồi ngài ngâm hai vần kệ:
41. Vinh quang ta tạo bởi gian truân,
Đúng lúc, trái thời, ta biệt phân,
Để ẩn náu m ình theo ý muốn,
Mở toang các cửa lợi vô ngần,
Cho nên ta biết điều tri túc,
Với chút cơm hầm, vẫn muốn ăn.
42. Khi ta nhận thấy đúng thời cơ,
Nỗ lực tạo th ành mối lợi to,
Theo kế hoạch, ta liền chịu đựng,
Can cường chẳng khác một thanh sư,
Và nhờ n ăng lực oai h ùng ấy,
Ông sẽ thấy ta trở lại mà.
Lúc ấy vị cận thần đáp:
- Thưa bậc Trí giả, vị thần ở trong chiếc lọng hoàng gia
đặt một câu hỏi cho đức vua, ng ài liền
hỏi cả bốn vị hiền thần nhưng không ai giải đáp
nổi, v ì thế đức vua ra lệnh tiểu thần đi
rước ng ài về.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Trong trường hợp như thế mà ông chưa thấy
được uy lực của trí tuệ hay sao? Những lúc như vậy của cải n ào có ích
gì, chỉ có trí là hữu ích.
Ngài tán thán trí tuệ như vậy. Sau đó vị cận
thần trao cho bậc Đại Sĩ ng àn đồng tiền
v à bộ y phục vua ban, để ng ài tắm
rửa và thay quần áo ngay. Người chủ lò gốm kinh hãi vì
đ ã lầm tưởng bậc Trí giả Mahosadha là
thợ gốm của lão, tuy nhiên bậc Đại Sĩ liền trấn
an l ão:
- Tôn ông đừng sợ, ông đ ã cứu giúp ta
thật quý giá vô cùng.
Rồi ngài tặng lão ngàn đồng tiền v à
với thân mình còn lấm lem bùn đất, ng ài
đ ã leo lên xe về kinh thành ngay. Viên
cận thần báo tin cho vua biết ngài đ ã
về.
- Này hiền khanh đ ã tìm ra bậc Trí
giả, vương nhi ở đâu?
- Tâu Đại vương, vương tử đang sống bằng
nghề l àm đồ gốm ở Nam thị trấn, nhưng
vừa được tin Đại vương tri ệu ngài về là ngài về ngay chẳng
đợi tắm rửa g ì,
đất c òn lấm lem cả người.
Vua nghĩ thầm: "Nếu nó là kẻ thù của ta thì nó
đ ã trở về trong cảnh xa hoa long trọng
có tùy tùng hầu hạ kia chứ, như vậy nó chẳng phải là
đối thủ của ta rồi".
Vua liền ban lệnh đưa ng ài về tư thất
tắm rửa, trang sức cho ngài rồi trở lại chầu vua với lễ nghi rực rỡ long
trọng mà vua đ ã ban. Khi mọi việc xong
xuôi, ngài trở vào triều, tung hô vua xong, liền
đứng sang một b ên. Vua nói n ăng
ôn tồn với ng ài, rồi muốn thử ngài, ông ngâm kệ này:
43. Lắm kẻ không gây tạo lỗi lầm,
Bởi vì họ đ ã
được gi àu sang,
Nhưng nhiều người chẳng gây lầm lỗi,
Vì sợ bùn nhơ cấu uế tâm,
Con đủ t ài n ăng
l àm sự nghiệp,
Sao con không hãm hại vương quân?
Bồ Tát đáp lại:
44. Bậc Trí giả không tạo lỗi lầm,
Chỉ vì lạc thú hưởng giàu sang,
Thiện nhân dù gặp cơn tai họa,
Và bị lâm vào cảnh khốn nàn,
Chẳng vì thân hữu hay thù hận,
Mà phải khước từ đạo chánh chân .
Vua lại đọc b ài kệ này, là những lời
huyền bí của một vị Sát- đế-lị (quý tộc):
45. Người nào vì bất cứ nguyên nhân,
Dù nhỏ, dù to, với bản thân,
Đưa chính m ình lên từ chỗ thấp,
Về sau tiến bước đạo Như chân.
Còn bậc Đại Sĩ đọc kệ n ày lấy ví dụ
cái cây để minh họa:
46. Dưới một gốc cây bóng mát lành,
Nếu ta ngồi xuống nghỉ thân mình,
Chặt cành lá ấy là làm phản,
Bọn giả dối, ta phải ghét khinh.
Rồi ngài tiếp tục:
- Tâu Đại vương, nếu chặt c ành của
một cây mà ta đ ã hưởng lợi lạc là chuyện
phản bội, thì còn nói gì đến kẻ sát nhân? Đại
vương đ ã ban cho phụ thân tiểu thần hưởng
đại phú quý v à sủng ái tiểu thần phúc
lộc tràn trề, làm sao tiểu thần có thể phản trắc làm hại
Đại vương được?
Sau khi bày tỏ lòng trung thành của mình, ngài lại khiển trách vua về lầm
lỗi ấy:
47. Nếu một người khai đạo chánh chân,
Đánh tan nghi hoặc của tha nhân,
Người n ày thành một nơi nương tựa,
Và bảo hộ cho chính bản thân,
Bậc Trí không bao giờ hủy diệt,
Mối dây này kết hợp thân bằng.
Bấy giờ để khuyến giáo vua, ng ài ngâm
hai vần kệ:
48. Ta ghét thế nhân đắm dục t ình,
Giả tu là dối gạt rành rành,
Hôn quân xử án không nghe thấy,
Sân hận người hiền chẳng biện minh.
49. Vị vua thận trọng suy tư kỹ,
Xử án đầy suy xét tận t ình,
Vua chúa suy tư phân xử đúng,
Đời đời danh vọng m ãi quang vinh.
Khi vua nghe xong liền mời bậc Đại Sĩ ngồi l ên
ngai vàng dưới chiếc lọng hoàng gia mở rộng, còn chính vua ngồi xuống một
ghế thấp và nói:
- Thưa bậc Trí giả, vị thần ở trong chiếc lọng trắng này hỏi trẫm bốn
câu. Trẫm đ ã vấn ý bốn hiền thần mà
không ai tìm ra giải đáp. Vậy xin vương nhi
giải đáp cho trẫm.
- Tâu Đại vương, d ù là vị thần trong
chiếc lọng, hay bốn Đại thi ên vương,
hoặc dù ai đi nữa, xin cứ hỏi, tiểu thần sẽ
giải đáp.
Vua liền đưa câu hỏi nữ thần đ ã
đọc ra v à nói:
50. Kẻ ấy đán h bằng chân lẫn tay,
Đánh luôn cả mặt, mũi, tai, m ày,
Tuy nhiên kẻ ấy, tâu Hoàng thượng,
Thân thiết hơn chồng nữa, lạ thay!
Khi bậc Đại Sĩ nghe câu hỏi xong, ng ài
thấy ý nghĩa lộ rõ ràng, chẳng khác nào vầng tr ăng
hiện l ên bầu trời:
- Xin Đại vương nghe đây, Ng ài nói.
Khi đứa bé ngồi trong l òng mẹ sung sướng
chơi đ ùa lấy tay
đánh mẹ nó, kéo tóc mẹ nó, nắm tay lại đấm mẹ
nó, mẹ nó bảo: "N ày ranh con, sao dám
đánh mẹ?". Rồi b à âu yếm ôm sát con vào ngực và không nén
được l òng thương yêu con, bà mẹ hôn hít
con, vào lúc đó đứa con c òn thân thiết
với bà còn hơn là cha nó nữa.
Ngài đ ã làm sáng tỏ vấn
đề như thể đem vầng nhật l ên bầu trời,
nghe xong, nữ thần hiện nửa thân qua kẽ hở của chiếc lọng và nói bằng một
giọng dịu dàng:
- Câu hỏi đ ã
được giải đáp thỏa đáng.
Sau đó b à tặng bậc
Đại Sĩ một giỏ đầy hoa ti ên và hương
thần, rồi biến mất.
Vua cũng ban thưởng ngài các loại hương hoa như vậy rồi
đọc câu kệ thứ hai, hỏi vấn đề thứ hai:
51. Bà mắng kẻ kia thật tệ tàn,
Nhưng bà muốn nó ở kề gần,
Kẻ kia, tuy vậy, tâu Hoàng thượng,
Còn thiết thân hơn chính cả chồng.
Bậc Đại sĩ:
- Tâu Đại vương, đứa bé l ên bảy, có
thể làm theo lời mẹ dặn. Khi bà bảo nó ra đồng
hay đến tiệm tạp hóa, nó đáp: "Nếu mẹ cho con bánh kẹo con sẽ đi"; b à
mẹ bảo: "Bánh kẹo đây con", rồi đưa bánh kẹo cho
nó. Nó ăn xong lại nói: "N ày mẹ, mẹ ngồi trong nhà im mát mà con lại
phải đi ra ngo ài làm công việc cho mẹ".
Nó nh ăn mặt, l àm bộ
điệu chế nhạo mẹ nó, rồi không chịu đi. B à
nổi giận chụp lấy chiếc gậy la lên: "Mày ăn các
thứ ta cho m ày rồi lại không chịu ra
đồng l àm việc cho ta". Bà dọa nó, nó vụt chạy thật nhanh, bà theo
không kịp bà liền la lên: " Đi đi cho kẻ trộm xé
xác m ày ra". Thế là bà mắng nhiếc nó thật thậm tệ, nhưng dù miệng nói
gì đi nữa, b à cũng không muốn thế tí
nào, bà chỉ muốn nó ở gần bà. Nó đi chơi lang
thang suốt ng ày, đến tối không dám tr ở
về nhà, nó đến nh à bà con. Bà mẹ trông
ra đường chờ nó về m à không thấy, nghĩ
rằng nó không dám về, lòng bà đau đớn, nước mắt
r àn rụa, bà đi đến nh à các quyến
thuộc tìm nó. Khi thấy con, bà ôm nó hôn hít kéo nó sát vào lòng và thấy
thương yêu nó hơn bao giờ hết, bà kêu lên: "Con tưởng mẹ nói thật sao?", thế
là tâu Đại vương, lúc giận người mẹ lại thương
con hơn trước nữa.
Ngài giải đáp vấn đề thứ hai như vậy. Nữ
thần lại tặng thưởng ng ài như lần trước và vua cũng thế. Sau
đó vua hỏi ng ài vấn
đề thứ ba qua một vần kệ khác:
52. Nàng mắng nhiếc chàng chẳng lý do,
Và nàng trách móc thật vu vơ,
Tuy nhiên, chàng ấy, tâu Hoàng thượng,
Thân thiết hơn chồng nữa, lạ chưa?
Bậc Đại Sĩ đá p:
- Tâu Đại vương, khi một đôi uy ên
ương lén lút hưởng lạc thú ái tình, người nọ bảo người kia: "Người chẳng hề
để ý đến ta, ta biết tâm hồn người để tận đâu
đâu". Tất cả đều ngụy tạo v à không có lý do gì cả, họ la mắng trách
móc lẫn nhau, rồi họ càng thân thiết nhau hơn.
Đó l à ý nghĩa câu hỏi trên.
Nữ thần lại tặng quà cho ngài và vua cũng vậy. Sau
đó vua lại hỏi câu nữa qua vần kệ thứ tư:
53. Lấy thực phẩm, y phục, tọa sàng,
Thiện nhân mang mọi vật lên đ àng,
Tuy nhiên, các vị, tâu Hoàng thượng,
Còn thiết thân hơn chính cả chồng.
Ngài đáp:
- Tâu Đại vương, vấn đề n ày liên hệ
đến các khất sĩ B à-la-môn chân chính.
Các gia đ ình sùng
đạo tin tưởng v ào
đời n ày và
đời sau, thường cúng dường các vị n ày và hoan hỷ lúc cúng dường. Khi
họ thấy các Bà-la-môn nhận vật cúng dường và ăn
uống liền nghĩ thầm "Chính các vị n ày
đến nh à ta khất thực để thọ dụng", họ c àng
t ăng mối cảm t ình
đối với các vị n ày. Thật vậy, các vị này
nhận phẩm vật, đặt l ên vai mọi vật cúng
dường và trở thành thân thiết với gia chủ.
Khi ngài giải đáp xong vấn đề n ày, nữ
thần bày tỏ mối đồng t ình bằng tặng vật
như trước và đặt dưới chân bậc Đại Sĩ một giỏ
quý đựng đầy bảy báu vật xin ng ài nhận lấy. Vua cũng hoan hỷ phong
ngài làm đại tướng.
Từ đó vinh quang của ng ài càng chói
lọi huy hoàng hơn nữa.
Đến đây chấm dứt Vấn đề của Nữ thần.
27. N ĂM
VỊ HIỀN NHÂN.
Bốn vị hiền thần lại bảo nhau:
- Gã thường dân lại càng cao danh vọng hơn nữa, ta phải làm sao
đây?
Senaka bảo họ:
- Được rồi, ta đ ã có kế, ta cứ
đến gặp g ã và hỏi: Ta nên nói chuyện bí
mật với ai? Nếu gã bảo: Không nên nói với ai cả, ta sẽ nói xấu
để hại g ã với
đức vua v à bảo gã là tên phản bội.
Cả bốn vị liền kéo đến nh à bậc Trí
giả và chào ngài xong, liền bảo:
- Thưa bậc Trí giả, ta muốn hỏi bậc Trí giả một chuyện.
Ngài bảo:
- Xin cứ nói ngay.
Senaka nói:
- Thưa bậc Trí giả, con người phải an trú vững chắc ở
đâu?
- Ở chân lý.
- Xong rồi, còn phải làm gì nữa?
- Phải tạo sự nghiệp.
- Rồi phải làm gì nữa?
- Phải học hỏi các lời khuyến thiện.
- Và sau đó nữa?
- Đừng nói với ai chuyện bí mật của m ình.
- Xin đa tạ bậc Trí giả.
Họ nói xong sung sướng ra về và nghĩ: "Hôm nay ta sẽ tống cổ gã
đi khuất mắt". Rồi họ v ào yết kiến vua
và tâu:
- Tâu Đại vương, g ã ấy là tên phản
bội Đại vương.
Vua đáp:
- Trẫm không tin các khanh đâu, bậc Trí giả
không bao giờ phản bội trẫm.
- Tâu Đại vương, xin h ãy tin chúng
thần vì đó l à sự thật, nếu
Đại vương không tin, xin cứ hỏi g ã: "Ta
nên nói điều bí mật với ai, nếu g ã không
phản bội, gã sẽ bảo nói với người này người nọ, còn nếu gã phản bội, gã sẽ
bảo: "Không nên nói điều bí mật với ai cả. Khi
nguyện ước đ ã thành tựu rồi mới nói
được". Xin Đại vương h ãy tin chúng thần,
đừng nghi ngờ g ì nữa.
Thế là một ngày kia, khi cùng ngồi với các cận thần, vua
đọc b ài kệ
đầu trong "Vấn đề của bậc Trí giả" Chương XX:
54. N ăm vị hiền nhân họp buổi nay ,
Vấn đề trẫm chợt nghĩ, nghe đây:
C ùng ai, bí mật nên bày tỏ,
Dù tốt xấu, hay dở, nói ngay!
Senaka muốn kéo vua về phe mình, liền ngâm kệ:
55. Xin Đại vương cho biết ý trời,
Muôn tâu Chúa thượng ở tr ên đời,
L à người bảo hộ, cưu mang nặng,
N ăm trí giả mong hiểu ý ng ài,
Cùng sở thích ngài, xin hãy nói,
Muôn tâu chúa tể cõi trần ai!
Vua vốn bản chất yếu đuối, liền ngâm kệ:
56. Nếu nữ nhân đức hạnh phục t ùng,
Tuân theo ý nguyện của phu quân,
Đầy t ình thân ái thì nên nói,
Điều bí mật, hay dở mặc l òng!
"Nhà vua theo phe ta rồi". Senaka nghĩ thầm, sung sướng
đọc câu kệ nói r õ lối xử thế của mình:
57. Ai bảo vệ người bệnh khốn cùng,
Là nguồn cấp dưỡng, chốn nương thân,
Thì nên bày tỏ cùng thân hữu.
Điều bí mật, hay dở mặc l òng.
Rồi vua lại hỏi Pukkasa:
- Hiền khanh nghĩ sao, Pukkasa? Phải nói chuyện bí mật với ai?
Pukkasa liền ngâm kệ:
58. Dù già hay trẻ, hoặc trung niên,
Nếu chú em đức hạnh, đáng khen,
Với chú em n ày, điều bí mật,
D ù là tốt xấu, hãy nêu lên.
Kế đó vua hỏi K àvinda và ông ngâm kệ:
59. Khi đứa con vâng phục ý cha,
Con trai th ành thật, trí cao xa,
Với con như vậy, thì nên nói,
Điều bí mật, d ù tốt xấu mà.
Sau đó, vua hỏi Devinda v à ông ngâm
kệ:
60. Muôn tâu Chúa tể của quần sinh,
Nếu mẹ yêu con thật tận tình,
Đối với mẹ n ày,
điều bí mật
Dở hay, có thể nói cho r ành.
Sau khi hỏi bọn họ xong, vua hỏi:
- Này bậc Trí giả, con nghĩ sao về việc này?
Và ngài ngâm kệ:
61. Giữ gìn bí mật chính là hay,
Chẳng đáng khen cơ mật tỏ b ày,
Người khôn phải giữ điều thầm kín,
Khi việc chưa th ành tựu, khéo thay!
Sau lúc thực hành điều bí mật,
Khi người muốn, có thể n êu ngay.
Khi bậc Trí giả nói xong, vua phật ý nên nhìn Senaka và Senaka cũng nhìn
lại vua. Bồ-tát thấy ngay điều n ày và
nhận rõ sự thật là trước kia bốn kẻ này đ ã
vu cáo ngài với vua, còn vấn đề n ày ắt
hẳn cũng được đặt ra để thử ng ài.
Lúc bấy giờ trong lúc họ đang đ àm
luận thì mặt trời đ ã lặn,
đ èn đ ã
được thắp sáng. Ng ài nghĩ thầm: Cung
cách vua chúa thật khó lắm thay, chẳng ai còn biết sẽ xảy ra chuyện gì nữa,
thôi ta phải lo nhanh chân tẩu thoát mới đượ c".
Thế là ngài liền đứng dậy, vái ch ào
vua rồi ra về, và nghĩ thầm: "Trong bốn vị này, người thì bảo phải nói với
bạn, người thì bảo nói với anh em, người thì bảo với con trai, người thì bảo
nói với mẹ, chắc hẳn họ đ ã làm hay thấy
cái gì rồi, hoặc ta chắc chắn rằng họ đ ã
nghe các kẻ kia kể những điều trông thấy. Thôi
được rồi, ta phải t ìm ra nội hôm nay".
Lúc bấy giờ vào các ngày khác, khi bốn vị này ra khỏi cung, thường ngồi
trên ống dẫn nước ở cửa cung, bàn bạc mưu kế trước khi về nhà, vì thế bậc
Trí giả nghĩ rằng ngài phải núp dưới ống dẫn nước
đó mới có thể biết được những chuyện bí mật của
họ. Do vậy, ng ài giở ống nước lên, trải một tấm nệm phía dưới và bò
vào, ra lệnh cho quân hầu của ngài tìm ngài khi bốn vị kia ra về sau cuộc
bàn bạc.
Đám quân hầu tuân lệnh ra đi. Trong lúc ấy Senaka tâu với vua:
- Tâu Đại vương, ng ài không tin chúng
thần, bây giờ Đại vương tính sao?
Vua liền công nhận lời của các kẻ gây hận thù này mà không cần tìm hiểu
điều tra g ì cả, hốt hoảng hỏi:
- Hiền khanh Senaka, bây giờ phải làm sao
đây?
- Tâu Đại vương, phải giết nó đi, không được
tr ì hoãn, không được tiết lộ với ai.
- Này Senaka, không ai lưu tâm đến quyền lợi
của trẫm ngo ài ái khanh. Vậy hiền khanh hãy
đem thân hữu đến đợi ở cửa, sáng mai g ã
đến chầu trẫm, h ãy lấy kiếm chặt
đầu g ã đi.
Nói xong, vua trao cho họ thanh bảo kiếm của mình.
- Tâu Đại vương, tuyệt quá. Đại vương ch ớ
sợ gì, chúng thần quyết giết nó cho được.
Họ đồng bước ra v à nói:
- Chúng ta đ ã tống cổ
được kẻ th ù
đi rồi.
Và họ ngồi trên ống xối. Rồi Senaka hỏi:
- Này các hiền hữu, ai sẽ hạ thủ thằng đó?
Các vị kia đáp:
- Thưa Đại sư, chính ng ài.
Họ giao trách nhiệm cho lão.
Senaka lại hỏi:
- Này các hiền hữu, các vị đ ã nói
rằng nên tiết lộ bí mật với người nọ người kia, vậy các vị
đ ã làm hay nghe thấy chuyện
đó chăng?
- Thưa Đại Sư, đừng ngại gì,
khi ngài bảo nên tiết lộ bí mật với một thân hữu, vậy chính ngài đã làm điều
đó chăng?
- Điều ấy có li ên quan gì
đến các vị đâu? L ão hỏi.
Họ đồng đáp:
- Xin Đại Sư cho chúng tiểu đệ biết với.
Lão đáp:
- Giá như đức vua biết chuyện n ày thì
đời ta phải ti êu ma.
- Xin Đại Sư đừng sợ, không ai ở đây tiết lộ
bí mật của ng ài đâu, xin Đại sư cho
chúng tiểu đệ biết với.
Senaka liền đập tr ên ống xối và bảo;
- Nếu thằng nhà quê ấy núp dưới này thì sao?
- Thưa Đại Sư, thằng nh ãi ấy
đang hưởng vinh hoa, đời n ào lại bò
xuống dưới chỗ này làm gì? Chắc nó đang m ê
mẩn trong cảnh phú quý rồi, xin Đại Sư nói đi.
Senaka liền kể bí mật của mình ra:
-Các vị có biết cô ả bán phấn nọ trong kinh thành này ch ăng?
- Thưa Đại Sư, chúng đệ có biết.
- Giờ đây có ai thấy ả chăng?
- Thưa Đại Sư, không.
- Trong khóm Sà-la kia, ta đ ã ân ái
cùng ả, sau đó giết ả đi để lấy nữ trang, ta đ ã
buộc thành một gói đem về nh à treo trên
chiếc ngà voi để trong ph òng kia của
tầng lầu nọ, nhưng ta chưa dùng chúng được cho
đến khi câu chuyện ch ìm đi, ta đ ã
tiết lộ tội ác này với một người bạn. Người này không nói với ai nữa, nên ta
mới bảo là có thể tiết lộ bí mật với bạn.
Bậc Trí giả nghe chuyện bí mật của Senaka liền ghi nhớ thật kỹ. Sau
đó Pukkasa kể bí mật của l ão:
- Trên đ ùi
đệ có một vết hủi lở. Buổi sáng em trai của đệ
rửa ráy nó xong, bôi thuốc rồi băng lại m à chẳng hề nói với ai. Những
khi đức vua yếu l òng, ngài kêu lên: "Này
Pukkasa đến đây". V à ngài thường
đặt đầu l ên
đ ùi của đệ, nhưng nếu ng ài biết,
chắc ngài giết đệ mất. M à chẳng ai biết
trừ em trai của đệ, v ì thế
đệ nói: "Có thể kể chuyện bí mật với anh
em".
Kàvinda lại kể chuyện bí mật của lão:
- Về phần đệ, trong nửa tháng tối trời v ào
ngày trai giới, một con yêu quỷ tên Naradeva cứ cắn lấy
đệ v à đệ
sủa như chó dại. Đệ kể chuyện với con trai đệ, n ên con trai
đệ mỗi khi thấy đệ bị quỷ ám, liền trói đệ
trong nh à, rồi đóng cửa lại, tổ chức đám
hội đông đảo để che lấp tiếng sủa ồn ào của
đệ. V ì thế
đệ mới nói l à có thể tiết lộ bí mật với con trai..
Sau đó cả ba vị hỏi Devinda v à ông
tiết lộ bí mật.
- Đệ l à viên tuần tra các
đồ trang sức của đức vua v à
đệ đ ã trộm một viên ngọc thần ban phúc
lộc, đó l à tặng vật của Sakka Thiên chủ
ban vua Kusa và đệ đ ã
đem về cho mẹ. Mỗi khi đệ v ào cung, mẹ
của đệ lại trao cho đệ m à không nói với
ai. Nhờ có viên ngọc ấy đệ tr àn
đầy phúc phận mỗi khi v ào cung,
Đức vua ban phán với đệ trước các vị, cho đệ ti êu
dùng tám đồng tiền hoặc mười sáu hoặc ba mươi
hai , hoặc sáu mươi bốn. Nếu Đức vua biết
đệ lấy vi ên ngọc ấy, chắc đệ phải chết
mất! V ì lẽ đó đệ bảo chuyện bí mật có
thể nói với mẹ.
Bậc Đại Sĩ ghi nhớ cẩn thận mọi chuyện bí
mật của họ, c òn bọn họ, sau khi tiết lộ bí mật như thể mổ bụng phơi
bày gan ruột rồi, liền đứng dậy đi về bảo nhau:
- Chắc chắn ta phải đến sớm m à giết
thằng khốn đó mới được!
Khi họ đi rồi, đám quân hầu của bậc Trí giả
đến lật ống xối l ên đưa bậc Đại Sĩ về nh à.
Ngài tắm rửa, thay áo quần ăn uống xong xuôi v à
ngài biết rằng chị ngài, hoàng hậu Udumbarì ngày hôm ấy sẽ gửi cho ngài một
thông điệp từ ho àng cung, nên ngài cử
người thân tín ra canh chừng, bảo gã thấy ai từ hoàng cung
đến phải đưa v ào trong lập tức. Rồi ngài
nằm ngủ trên giường.
Lúc ấy vua cũng nằm trên vương sàn nhớ lại công
đức của bậc Trí giả: "Bậc Trí giả Mahosadha đ ã
phụng sự ta từ khi mới bảy tuổi, chưa bao giờ làm gì sai trái cả. Khi nữ
thần hỏi ta, giá như không có bậc Trí giả thì ta
đ ã chết rồi, nay tin theo lời các kẻ báo
thù, trao kiếm cho chúng rồi ra lệnh giết bậc Trí giả vô thượng, thật là
chuyện ta chẳng nên làm, từ ngày mai ta chẳng còn thấy bậc Trí giả nữa".
Ngài buồn bã, mồ hôi đổ ra như tắm, l òng
nặng trĩu ưu phiền, ngài thấy bất an. Hoàng hậu Udumbarì ở bên cạnh ngài
trên long sàng, thấy tâm trạng ngài như vậy, liền hỏi:
- Tâu Đại vương, thần thiếp có l àm gì
xúc phạm đến Đại vương chăng? Chẳng hay việc g ì
khiến Đại vương sầu muộn?
Rồi bà ngâm kệ:
62. Vì sao lo lắng, tâu Quân vương?
Thần thiếp chẳng nghe giọng Chúa công,
Hoàng thượng nghĩ gì sinh khổ não,
Có gì lầm lỗi, thiếp làm ch ăng?
Vua liền ngâm kệ:
63. Chúng tâu: "Trí giả Đại Sa-dha
Phải bị giết ngay v ì đức vua",
Đệ nhất hiền nhân, ta xử trảm,
Khi ta nghĩ vậy, trí buồn lo.
Không g ì lầm lỗi từ khanh cả,
Hỡi ái hậu yêu dấu của ta.
Nghĩ đến việc n ày, trẫm buồn phiền
lắm, Ái khanh không có lỗi gì.
Nghe xong, nỗi sầu muộn âu lo vì bậc Đại Sĩ
đ è nặng bà như cả tảng đá, b à
nghĩ thầm: "Ta biết kế an ủi đức vua rồi, khi
ng ài ngủ ta sẽ gửi thông điệp cho em
ta". B à liền thưa:
- Tâu Đại vương, chính nhờ Đại vương trọng
dụng m à gã thường dân ấy được l ên
đ ài vinh quang,
Đại vương phong g ã làm tổng tư lệnh. Bây
giờ họ bảo gã đ ã trở thành kẻ thù của
Đại vương. Không có kẻ th ù nào không
đáng kể đâu, phải giết g ã
đi, vậy xin Đại vương đừng ưu phiền.
Nàng cứ thế an ủi vua, khiến nỗi buồn của vua vơi dần và ngài ngủ thiếp
đi, ho àng hậu Cây Sung liền trở dậy về
phòng bà viết thư báo tin như sau: Mahosadha, bốn vị hiền thần
đ ã vu cáo hiền
đệ, khiến đ ức vua phẫn nộ, ngày mai ra
lệnh giết hiền đệ tại cửa cung. Vậy đừng v ào
cung sáng mai, hoặc hiền đệ có đến, th ì
phải đặt to àn kinh thành dưới quyền
điều khiển của hiền đệ.
Bà đặt thư trong gói kẹo, buộc dây, bỏ v ào
một cái bình mới, rảy nước hoa xong, dán kín lại, trao cho một nữ tỳ và dặn:
- Đem gói kẹo n ày cho em ta.
Nàng ấy tuân lệnh. Ta không lạ gì chuyện nàng ấy ra khỏi cung ban
đ êm, vì vua
đ ã ban đặc ân n ày cho hoàng hậu,
nên không ai cản trở nàng. Bồ-tát nhận được qu à
tặng ấy, rồi bảo tỳ nữ ra về. Nàng này về tường trình việc
đ ã giao xong, lúc ấy hoàng hậu trở lại
nằm cạnh vua. Bồ-tát mở gói kẹo, đọc thư xong
hiểu r õ mọi chuyện, sau khi tính toán mọi việc phải làm rồi ngài
đi nghỉ.
Sáng hôm sau, bốn vị hiền thần cầm kiếm đứng
ở cung môn, nhưng không thấy bậc Trí giả, họ thất vọng buồn b ã
đi v ào yết kiến vua.
Vua hỏi:
- Này, tên khốn kiếp ấy đ ã bị giết
chưa?
Họ đáp:
- Tâu Đại vương, chúng thần không thấy g ã
đâu cả.
Còn bậc Đại Sĩ, lúc tảng sáng, nắm to àn
binh lực trong tay, cử quân thị vệ khắp nơi, rồi ngài lên xe cùng
đo àn tùy tùng rầm rộ uy nghi tiến vào
cung môn. Vua đứng nh ìn ra từ cửa sổ.
Khi ấy bậc Đại Sĩ xuống xe liền vái ch ào
vua và vua nghĩ thầm: "Nếu gã là kẻ thù của ta, thì gã
đ ã không vái chào ta". Rồi vua cho mời
ngài vào, xong ngồi trên ngai. Bậc Đại Sĩ bước
v ào, ngồi qua một bên, bốn vị hiền thần cùng ngồi xuống
đó. Vua l àm như thể không biết chuyện gì
cả, ngài bảo:
- Này vương nhi, hôm qua vương nhi bỏ ra về, hôm nay lại
đến đây, tại sao vương nhi thờ ơ đối với ta như
vậy?
Rồi vua ngâm kệ:
64. Chiều tối hôm qua, con đ ã
đi,
Bây giờ lại đến, hỡi vương nhi!
Điều g ì lo sợ trong tâm trí,
Hoặc giả con nghe nói những gì?
Ai bảo con làm, này Trí giả,
Nào ta lắng đợi, nói ngay đi!
Bậc Đại Sĩ bảo:
-Tâu Đại vương, Đại vương đ ã nghe lời
bốn hiền thần này, ra lệnh giết tiểu thần vì thế tiểu thần không
đến.
Rồi ngài ngâm kệ trách vua:
65. Bậc hiền trí Đại O-sadha,
Phải bị giết ngay, nếu tối qua,
Ng ài kể chuyện này cho chánh hậu,
Thì điều bí mật bị phơi ra!
Vua nghe vậy giận dữ nhìn hoàng hậu, cho rằng có lẽ bà
đ ã nhắn tin này lập tức cho ngài. Thấy
vậy bậc Đại Sĩ bảo:
- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương nổi thịnh
nộ với ho àng hậu? Tiểu thần biết việc quá khứ, hiện tại và vị lai mà.
Giả sử hoàng hậu tiết lộ bí mật của Đại vương,
th ì ai tiết lộ bí mật của các vị Senaka, Pukkusa và
đồng bọn? Nhưng tiểu thần biết hết cả.
Rồi ngài kể chuyện bí mật của Senaka qua câu kệ:
66. Tội ác bạo tàn Se-na-ka,
Đã làm trong bụi rậm Sà-la,
Lão cho bạn biết nơi thầm kín,
Thần đã nghe: cơ mật lộ ra!
Nhìn Senaka, vua hỏi:
- Có thật không?
- Tâu Đại vương, có thật.
Vua ra lệnh bắt giam lão lại. Rồi bậc Đại Sĩ
kể chuyện bí mật của Pukkusa qua vần kệ:
67. Trong người này, lão Pu-ku-sa,
Có một bệnh không thích hợp cho,
Một đấng quân vương n ào
đụng chạm,
L ão đem bí mật nói ri êng tư,
Cho em mình biết, điều thầm kín,
Thần đ ã nghe, được tiết lộ ra.
Vua nhìn lão và hỏi:
- Có đúng không?
- Tâu Đại vương, đúng.
Vua lại bắt giam lão. Rồi bậc Trí giả kể bí mật của Kàvinda qua vần kệ:
68. Kẻ kia bệnh hoạn, tính tà gian,
Bị quỷ Na-ra ám ảnh tâm,
Lão nói cho con điều bí mật,
Thần nghe bí mật bị phơi trần!
Vua hỏi:
- Có đúng không K àvinda?
Lão đáp:
- Tâu Đại vương, đúng.
Vua lại bắt giam lão. Bấy giờ bậc Trí giả nói chuyện bí mật của Devinda
qua vần kệ:
69. Bát giác ngọc thần ấy thuở xưa,
Thượng hoàng được tặng bởi Sak-ka,
De-vin-da giữ trong tay l ão,
Lão kể chuyện kia với mẹ già,
Trong chỗ kín, thần nghe thấy được,
Điều cơ mật ấy được phôi ra!
- Có đúng không Devinda? Vua hỏi.
Lão đáp:
- Tâu Đại vương, đúng.
Thế là vua bắt giam lão. Như vậy, những kẻ âm mưu giết Bồ-tát
đều bị giam cầm. Bồ-tát lại nói:
- Vì thế tiểu thần bảo là ta không nên tiết lộ bí mật với ai cả, kẻ nào
bảo phải tiết lộ bí mật, kẻ đó s ẽ bị suy
tàn.
Rồi ngài ngâm các vần kệ tuyên thuyết đạo lý
cao si êu hơn:
70. Giữ điều bí mật mới l à hay,
Bí mật không nên được tỏ b ày,
Người trí phải duy trì bí mật,
Khi người thành tựu mục tiêu này,
Thì người hãy nói như mình muốn.
Vậy chớ phơi ra bí mật vầy,
Phải giữ nó như kho bảo vật,
Người khôn chẳng lộ việc riêng tây.
71. Người trí chẳng nên nói lộ ra,
Một điều bí mật với đ àn bà,
Với cừu địch, người ham tư lợi,
Hoặc bởi t ình thân ái thiết tha.
Người tiết lộ ra điều bí mật,
V ì lo sợ bạn chẳng tin ta,
Về sau phải chịu làm nô lệ,
Cho chính kẻ kia thật dại khờ!
72. Càng nhiều người biết chuyện riêng tư,
Càng có thêm nhiều mối sợ lo,
Vậy chẳng nên phơi bày bí mật,
Ban ngày hãy đến một nơi xa,
Nói điều bí mật, c òn đ êm tối,
Hãy nói giọng nho nhỏ ấy mà,
Vì lắm người nghe lời nói ấy,
Nên lời ấy thoáng chốc tuôn ra.
Khi vua nghe bậc Đại Sĩ nói xong, liền nổi
trận lôi đ ình và nghĩ thầm: "Các tên kia phản bội quân vương mà lại
bảo bậc Trí giả phản bội ta". Vua liền bảo:
- Đem chúng ra khỏi th ành
đóng cọc qua thân chúng hay chặt đầu đi.
Bậc Trí giả thưa:
- Tâu Đại vương, họ l à những cựu
Đại thần của Đại vương, xin tha tội cho họ.
Vua chấp thuận, cho họ làm nô lệ, rồi phóng thích họ ra. Vua lại bảo:
- Thôi, chúng không được sống trong quốc độ
ta nữa.
Rồi vua ban lệnh đuổi họ đi. Nhưng bậc Trí
giả van xin vua tha tội lỗi m ù quáng của họ, ngài xoa dịu vua và
thuyết phục vua cho họ phục hồi chức vị cũ. Vua rất
đẹp ý v ì bậc Trí giả:
đối với các kẻ th ù ngài mà ngài từ bi
như vậy, huống gì đối với các người khác. Từ
đó, bốn vị hiền nhân như rắn mất răng, nọc độc đ ã hết, nên không còn
nói gì được nữa, ta cũng biết vậy.
Đến đây chấm dứt Vấn đề Năm vị Hiền nhân hay chuyện Đại vu cáo.
28. CUỘC
ĐẠI CHIẾN.
Sau thời kỳ này, ngài thường khuyến cáo vua về thế sự cũng như thánh sự,
ngài nghĩ thầm: "Ta thật đúng l à chiếc
lọng trắng của đức vua, chính ta điều khiển
việc nước. Vậy ta phải cảnh giác mới được".
Ngài truyền xây thành lũy quanh kinh thành. Dọc theo trường thành là các
tháp canh, tại cửa thành giữa các tháp canh, ngài cho
đ ào ba hào, một hào nước, một hào
đất sét v à một hào khô.
Bên trong kinh thành ngài bảo trùng tu các nhà xưa cũ,
đắp bờ đ ê thật lớn làm hồ chứa nước kho
vựa chứa đầy thóc. Các bậc khổ hạnh thân tín
phải đem đất sét v à hột giống sen ăn
được từ v ùng Tuyết Sơn về. Các ống nước
được ch ùi rửa sạch sẽ, nhà cửa cũ ở ngoài thành cũng
được tr ùng tu. Mọi việc
đó được l àm
để ph òng hiểm họa trong tương lai. Các thương nhân từ mọi nơi
đến đây đều được hỏi họ từ đâu lại, khi họ nói
xong, họ được hỏi vua của họ thích g ì, họ lại
được ân cần tiếp đ ãi trước khi ra
đi.
Rồi ngài cho triệu một tr ăm lẻ một quân sĩ
đến bảo họ:
- Hỡi các binh sĩ của ta, các bạn hãy đem
các tặng vật n ày đến một trăm lẻ một
kinh th ành dâng lên các vị vua ở đó để l àm
đẹp l òng các ngài. Hãy ở lại
đó hầu hạ các ng ài, vâng theo công việc
và kế hoạch của các ngài và nhắn tin về cho ta rõ. Ta sẽ ch ăm
sóc vợ con các bạn.
Ngài trao cho người này các hoa tai, người nọ
đôi h ài bằng vàng, vòng
đeo cổ bằng v àng có khắc chữ lên
đó m à ngài
định sẽ cho chúng lộ ra khi cần ph ù hợp với mục
đích của ng ài.
Đám quân sĩ ra đi mọi nơi, đem tặng vật dâng
các quốc vương, v à tâu rằng họ đến để
phụng sự các ng ài. Khi được hỏi họ từ
đâu đến, họ nói t ên của các kinh thành khác với nơi họ
đ ã thực sự ra
đi. Lễ vật được nhận xong xuôi, họ ở lại đó
phục dịch v à cố gây lòng tin cậy.
Lúc bấy giờ tại quốc độ Ekabala có vị vua
danh hiệu Samkhap àla đang chi êu
mộ binh khí và tập hợp binh chủng. Người đi sứ
đến yết kiến vua n ày liền gửi điệp về
cho bậc Trí giả, nói: Ở đây hiện có tin
loan như vậy, nhưng vị vua n ày dự mưu gì thì tiểu thần chưa rõ, xin
ngài phái người đến t ìm hiểu sự thật của
vấn đề n ày.
Bậc Đại Sĩ liền gọi một con két v à
bảo:
- Hiền hữu hãy đi t ìm xem vua
Samkhapàla đang l àm gì ở Ekabala, rồi
chu du qua khắp cõi Diêm phù- đề (Ấn độ) v à
đem tin về cho ta.
Ngài cho nó ăn mật ong v à hạt
đậu, uống nước ngọt, xoa dầu v ào các
khớp xương cánh bằng một loại dầu thơm đ ã
lọc cả tr ăm ng àn lần, rồi ngài
đứng b ên cửa sổ hướng
Đông thả nó đi. Con két đi đến người ấy v à
tìm ra sự thật. Khi nó bay về, nó ngang qua toàn cõi Diêm-phù- đề
đến kinh th ành Uttarapañcàla thuộc quốc
độ Kampilla.
Vị vua cai trị xứ này danh hiệu là Cùlani-Brahamadatta, có một quân sư về
thế sự và thánh sự là một Bà-la-môn tên Kaevatta, một bậc hiền trí thông
thái. Vị Bà-la-môn ấy, một buổi sáng kia, thức dậy nhìn quanh tư thất tráng
lệ của mình dưới ánh sáng ngọn hoa đăng v à
trong khi nhìn vẻ nguy nga của tư thất, ông nghĩ thầm: "Cảnh huy hoàng này
thuộc quyền ai? Chẳng ai hết ngoại trừ vua Cùlani. Một vị vua ban cảnh huy
hoàng như thế này phải làm đại ho àng
đế to àn cõi Diêm-phù- đề
v à ta sẽ là đại sư trưởng của ng ài".
Thế là ông đi chầu vua thật sớm, sau khi vấn
an vua có được ngon giấc chăng, ông thưa:
- Tâu Đại vương, tiểu thần có điều n ày
xin tâu trình Đại vương.
- Đại sư cứ nói đi.
- Tâu Đại vương, chuyện bí mật không n ên
tiết lộ giữa kinh thành, xin hãy vào ngự viên .
- Được rồi, Đại sư.
Vua đi đến ngự vi ên cùng ông,
để quân hầu ở ngo ài, vào hoa viên xong,
ngài ngồi xuống vương tọa. Con két trông thấy vậy, nghĩ chắc phải có
điều g ì dưới kia: "Hôm nay ta sẽ nghe
được câu chuyện, phải nhắn tin về bậc Trí giả,
chủ nhân của ta".
Thế là nó bay vào hoa viên, đậy giữa đám lá
S àla của hoàng cung. Vua vừa bảo:
- Nói đi, Đại sư.
Ông đáp:
- Tâu Đại vương, xin Đại vương cúi xuống
đây, kế n ày chỉ vừa cho bốn tai nghe thôi. Nếu
Đại vương chịu nghe lời tiểu thần khuy ên
nhủ, tiểu thần sẽ tôn Đại vương l ên làm
Đại ho àng
đế to àn cõi Diêm-phù- đề.
Vua nôn nóng nghe nên hoan hỷ đáp:
- Đại sư nói đi, trẫm sẽ l àm theo
ngay.
- Tâu Đại vương, ta h ãy khởi binh,
trước tiên tấn công một kinh thành ấy bằng cửa hậu và bảo vua ở
đó: "Tâu Đại vương, Đại vương có
chiến đấu cũng chẳng ích gì, hãy về phe tiểu thần, quốc
độ của Đại vương xin cứ giữ lấy, c òn nếu
Đại vương chống binh h ùng tướng mạnh của
tiểu thần thì Đại vương sẽ đại bại". Nếu vị vua
đó l àm theo lời khuyên của tiểu thần, ta sẽ thâu nhận vị ấy, nếu
không ta sẽ đánh v à giết
đi, rồi với hai đạo binh ta sẽ đi đánh chiếm
một kinh th ành khác, rồi một kinh thành khác nữa, cứ thế ta sẽ thâu
nhập giang sơn toàn cõi Diêm-phù- đề v à
nâng chén rượu khải hoàn. Rồi ta sẽ đem cả trăm
lẻ một vị vua về th ành của ta, xây tửu
điếm trong ngự vi ên, bắt các vua ấy vào
đó uống độc dược, thế l à giết toàn thể
và qu ăng thây xuống sông Hằng. Ta nắm được cả
trăm lẻ một kinh th ành trong tay và Đại
vương sẽ l à chúa tể toàn cõi Diêm-phù- đề.
- Này Sư trưởng, thật là diệu kế, ta sẽ làm như vậy. Vua
đáp.
- Tâu Đại vương, kế n ày chỉ cho bốn
tai nghe mà thôi, không ai được biết đến. Không
n ên trì hoãn, mà phải tiến hành ngay lập tức.
Vua rất đẹp ý về lời khuy ên này, nên
quyết định l à làm ngay. Nghe xong câu
chuyện này, con két làm rớt cục phân trên đầu
quân sư Kevatta như thể từ tr ên cành cây.
- Cái gì thế này?
Lão vừa kêu vừa nhìn lên, hoác há mồm, con két lại thả thêm một cục phân
vào mồm lão vừa bay vụt đi vừa k êu:
- Két két, này Kevatta, ông tưởng kế của ông chỉ có bốn tai nghe thôi ư,
nhưng bây giờ là sáu tai nghe rồi, dần dần sẽ
đến tám tai v à còn cả tr ăm tai nữa.
- Bắt lấy nó, bắt lấy nó!
Họ la lên, nhưng nhanh như gió, két đ ã
bay về kinh thành Mithilà và vào cung thất của bậc Trí giả. Lúc bấy giờ két
có thói quen như vầy: nếu là tin riêng từ bất cứ nơi nào chỉ dành cho bậc
Trí giả mà thôi thì nó sẽ đậu tr ên vai
ngài, nếu phu nhân Amarà cũng nghe được th ì
nó đậu tr ên lòng ngài, nếu cả hội chúng
nghe được th ì nó
đậu dưới đất. Lần n ày nó
đậu tr ên vai ngài, thấy dấu hiệu ấy, hội
chúng của ngài đều rút lui, biết l à
chuyện bí mật.
Bậc Trí giả đem nó l ên thượng lầu và
hỏi:
- Này, két yêu quý, bạn đ ã nghe thấy
gì?
Nó đáp:
- Thưa công công, tiểu thần không thấy hiểm họa từ vị vua nào trên toàn
cõi Diêm-phù- đề, nhưng chỉ có Kevatta, sư
trưởng của vua C ùlani tại kinh thành Uttarapañcàla,
đem vua v ào ngự viên bàn mưu tính kế
riêng giữa hai người. Tiểu thần đậu tr ên
cành cây thả cục phân vào mồm lão và bay về
đây!
Rồi nó kể cho bậc Trí giả mọi điều nó đ ã
nghe thấy. Ngài hỏi:
- Thế vua có chấp thuận ch ăng?
Con két đáp:
- Thưa có.
Sau đó bậc Trí giả chăm sóc con két thật chu
đáo, đặt nó v ào lồng vàng trải thảm thật êm. Ngài nghĩ thầm: "Chắc
Kevatta không hề biết ta là Trí giả Mahosadha, ta không thể cho lão hoàn tất
mưu kế được đâu". Ng ài liền di cư
đám người ngh èo khó ra khỏi kinh thành
và đem về từ khắp nơi trong nước, từ thôn qu ê,
ngoại thành đến kinh đô định cư cho những gia đ ình
giàu có thế lực và thu góp thật nhiều thóc lúa.
Còn vua Cùlani làm theo mưu kế của Kevatta,
đem binh đi tấn công một kinh th ành. Như lão
đ ã đưa ý
kiến, l ão vào thành giải thích sự việc cho vua tại
đó v à chinh phục vị vua ấy. Rồi nhập hai
đạo binh lại, vua C ùlani theo lời quân
sư Kevatta tiến vào một quốc độ khác, cho đến
khi thâu trọn các vua chúa tr ên toàn cõi Diêm-phù
đề dưới quyền m ình trừ vua Vedeha. Quân
hầu của Bồ-tát vẫn tiếp tục thông báo cho ngài rõ tin: "Vua Brahmadatta
đ ã chiếm các kinh thành kia, xin
Đại sư canh ph òng nghiêm mật". Ngài
đáp lại: "Ta vẫn canh ph òng ở
đây, các người h ãy cẩn thận, giữ mình
đừng vô tâm xao l ãng". Trong bảy n ăm
bảy tháng bảy ng ày vua Brahmadatta xâm chiếm toàn cõi Diêm-phù- đề,
trừ th ành Vedeha. Lúc ấy vua bảo Kevatta:
- Này Đại sư, chúng ta h ãy
đánh chiếm vương quốc Vedeha ở Mithil à.
- Tâu Đại vương-l ão
đáp-chúng ta sẽ chẳng bao giờ chiếm được kinh
th ành bậc Trí giả Mahosadha đang ở, vị
ấy đầy t ài trí và rất mưu lược.
Rồi lão kể dông dài về tài đức của bậc Đại
Sĩ như thể vẽ v òng trên mặt tr ăng. Lúc
bấy giờ chính l ão ta cũng đầy mưu trí, n ên
lão nói:
- Quốc độ Mithil à quá nhỏ bé, toàn
cõi Diêm-phù- đề cũng đủ cho ta lắm rồi.
Lão an ủi như vậy. Nhưng các vương hầu kia bảo:
- Không, ta sẽ đánh chiếm quốc độ Mithil à
rồi hãy nâng chén rượu khải hoàn.
Kevatta lại phải ng ăn cản họ, l ão
bảo:
- Chiếm quốc độ Vedaha n ào có ích gì?
Vua đó l à chư hầu của ta rồi, trở lui
đi.
Lão khuyến cáo họ như vậy. Họ đ ành
nghe theo và rút lui. Quân hầu của bậc Đại Sĩ
báo cho ng ài biết vua Brahmadatta cùng một tr ăm
lẻ một vị vua khác đang tiến tới Mithil à
đ ã rút lui về kinh thành của họ. Ngài trả lời, bảo họ phải quan sát
kỹ những việc mà vua này làm.
Lúc bấy giờ vua Brahmadatta bàn tính với Kevatta những việc làm kế tiếp.
Đầy hy vọng sẽ nâng chén rượu khải ho àn,
họ trang hoàng ngự viên, cho thị vệ đem rượu cả
ng àn bình, bày yến tiệc linh đ ình
đầy sơn h ào hải vị, quân của bậc Trí giả
cũng báo tin này cho ngài biết mưu kế đầu độc
các vua bại trận, nhưng bậc Đại Sĩ đ ã biết nhờ con két kể lại với
ngài. Ngài liền gửi lệnh bảo họ phải báo cho ngài biết ngày tổ chức
đại lễ. Họ tuân lệnh. Lúc ấy ng ài nghĩ
thầm: "Nhiều vị vua phải chết như vậy trong lúc một kẻ có trí như ta còn
sống là điều không hợp lý. Ta phải cứu giúp họ
mới được". Ng ài cho triệu mười ngàn binh sĩ cùng quê với ngài
đến v à bảo họ:
- Này các hiền hữu, có người cho ta biết vào ngày kia vua Cùlani muốn
trang hoàng ngự viên để đối ẩm c ùng một
tr ăm lẻ một v ì vua khác. Các hiền hữu
hãy đến đó v à trước khi có người nào
ngồi xuống bảo tọa dành cho các vị vua, các bạn hãy chiếm lấy chỗ danh dự kế
vua Cùlani, bảo: "Chỗ này dành cho Đại vương
chúng thần." Khi họ hỏi các bạn l à người của ai, xin cứ bảo họ là
người của vua Vedeha. Họ sẽ la lớn lên: "Sao, trong bảy n ăm
bảy tháng bảy ng ày chúng ta đ ã
chinh phục mọi quốc độ, m à chưa lần nào
chúng ta thấy Đại vương Vedeha của các người.
Vị vua ấy ra sao? H ãy đi t ìm chỗ
vua ấy ở cuối bàn tiệc". Các bạn phải la ầm ó lên và bảo:  " Trừ
vua Brahmadatta ra, không vị vua nào cao hơn
Đại vương của chúng ta cả. Nếu chúng ta không t ìm
được bảo tọa cho Đại vương của chúng ta th ì
chúng ta sẽ không để y ên cho quý
đại vương hưởng yến tiệc đâu"…Rồi cứ thế la hét
nhảy nhót khắp nơi, lấy gậy lớn đập các b ình rượu, làm vung vãi thức
ăn ra để không thể n ào
ăn được nữa, cứ chạy v ùn vụt qua
đám tiệc ấy gây náo loạn như thể các thần Asura
(A-tu-la) đánh chiếm kinh th ành của chư Thiên, và gọi to lên: " Chúng
ta là người của bậc Trí giả Mahosadha ở thành Mithilà, có giỏi thì cứ bắt
chúng ta đi"…Như thế cho họ biết các hiền hữu đ ã
đến đó, rồi trở về đâ y.
Họ tuân lệnh ra đi, đem đủ năm loại vũ khí v à
khởi hành. Họ vào ngự viên đ ã
được trang ho àng chẳng khác nào vườn
Nandana (Lạc Viên) trên thiên giới, ngắm mọi cảnh nguy nga lộng lẫy, các bảo
tọa dành cho một tr ăm lẻ một vị vua, các lọng
trắng được giương l ên cùng nhiều bảo vật khác. Họ làm theo lời dặn
của bậc Đại Sĩ, sau khi gây náo loạn giữa đám
tiệc xong, họ trở về Mithil à.
Thị vệ của nhà vua tâu trình mọi sự việc xảy ra, vua Brahmadatta nổi trận
lôi đ ình, vì mưu kế
đầu độc các quốc vương kia đ ã hỏng,
trong khi các quốc vương kia lại thịnh nộ vì mất uống chén rượu khải hoàn,
quân sĩ cũng thịnh nộ vì lỡ dịp chè chén thỏa thích. Vì vậy Brahmadatta bảo
các quốc vương kia:
- Này các hiền hữu, ta hãy cùng đến Mithil à
chém đầu vua Vedeha, đạp chân l ên
đầu nó, rồi h ãy trở về nâng chén khải
hoàn, bảo ba quân sẵn sàng.
Rồi vị vua này đi nói ri êng với
Kevatta:
- Này, ta sẽ bắt lấy kẻ thù đ ã phá
hoại diệu kế này với một tr ăm lẻ một quốc vương
v à mười tám đạo binh h ùng hậu, ta
sẽ đánh chiếm kinh th ành
đó. Mau l ên
Đại Sư.
Nhưng lão Bà-la-môn này đủ trí khôn để hiểu
rằng họ sẽ không bao giờ bắt được bậc Trí giả Mahosadha, m à chỉ chuốc
lấy nhục nhã thôi, phải can gián vua mới được.
V ì thế lão nói:
- Tâu Đại vương, vua xứ Vedaha n ày
không tài hùng trí dũng đâu, mọi việc trị dân
đều ở trong tay bậc Trí giả Mahosadha, vị n ày rất thế lực. Thành
Mithilà được vị n ày bảo vệ, chẳng khác
nào con sư tử bảo vệ hang động của nó, không ai
chiếm được đâu. Chúng t a sẽ chuốc lấy nhục nhã mà thôi.
Đại vương đừng suy nghĩ đến việc đi đánh nữa.
Nhưng vua đang đi ên cuồng vì tính
kiêu ngạo của chiến sĩ và say sưa đi chiếm nước
chư hầu, liền k êu lên:
- Gã ấy làm gì được?
Rồi vua tiến lên, cùng với một tr ăm lẻ một
vị quốc vương v à mười tám đạo binh h ùng
hậu. Kevatta không thể nào thuyết phục vua nghe theo mình và cho rằng cản
trở vua cũng hoài công, nên đ ành
đi theo.
Nhưng một đ êm kia các chiến sĩ về
đến Mithil à tường trình với bậc Trí giả
mọi việc đ ã xảy ra. Và các quân hầu mà
ngài đ ã gửi
đi phục dịch trước kia cũng nhắn tin rằng vua C ùlani
đang c ùng một tr ăm
lẻ một quốc vương tiến l ên đánh bắt vua
Vedeha, vậy ng ài phải đề ph òng
cẩn mật.
Các thông điệp gửi về tới tấp: "Hôm nay vua
đang ở chốn n ày, hôm nay họ đ ã
đến chỗ kia, hôm nay họ sẽ đến kinh th ành".
Nghe vậy bậc Đại Sĩ tăng cường ph òng vệ
gấp đôi. Vua Vedeha nghe tin đồn đ ãi
khắp nơi rằng vua Brahmadatta đang tiến quân
đến chiếm kinh th ành.
Bấy giờ trời mới sẩm tối, vua Brahmadatta bao vây kinh thành bằng ánh
sáng cả tr ăm ng àn ngọn
đuốc. Vua n ày lại xiết chặt vòng vây
bằng những hàng rào voi ngựa, chiến xa và sắp
đặt từng đám quân sĩ v ào những khoảng cách
đều nhau, họ đứng đó la hét, búng tay, reo h ò,
nhảy múa, kêu gào dưới ánh sáng của ngọn đuốc v à
ánh phản chiếu của vũ khí, toàn kinh thành Mithilà như một
đám lửa bừng sáng suốt bảy dặm, tiếng voi ngựa,
xe pháo v à người ta ầm ỉ làm mặt đất
cũng muốn nứt ra. Bốn vị hiền thần nghe những l àn âm thanh vang dội
như thế, không biết phải xử trí ra sao, liền yết kiến vua:
- Tâu Đại vương, có cảnh tượng đại náo loạn
m à chúng thần không biết chuyện gì, xin
Đại vương hỏi xem sao?
Nghe vậy, vua nghĩ: "Chắc chắn Brahmadatta đ ã
đến".
Ngài mở cửa sổ nhìn ra, khi ngài thấy vị vua kia
đ ã đến
thật, th ì hốt hoảng bảo họ:
- Chúng ta sắp chết rồi, ngày mai chắc chắn chúng sẽ giết sạch chúng ta.
Vua quan cứ ngồi bàn bạc như vậy. Còn bậc
Đại Sĩ khi thấy vua kia đ ã đến, ng ài
oai dũng như con sư tử, sắp đặt quân ph òng
vệ khắp kinh thành rồi đi l ên cung
điện trấn an vua. Vái ch ào vua xong,
ngài đứng sang một b ên. Vua phấn khởi
khi thấy ngài, nghĩ thầm: Không ai có thể cứu ta
được trừ bậc Trí giả Mahosadha".
Rồi vua nói với ngài như sau:
- Brahmadatta đ ã
đến c ùng với
đám chư hầu, đạo binh Pa ñcàla này thật
vô địch. N ày Mahosadha, quân hầu
đầu đội vai mang, bộ binh bao kẻ thiện chiến,
sẵn s àng đi t àn sát, một cảnh
đại náo loạn, tiếng trống chi êng vang
dậy ngập trời, đây l à nơi trổ tài sử
dụng binh khí, nào cờ xí, kỵ binh mặc áo giáp, chiến sĩ anh hùng thắng trận
vẻ vang. Cả mười bậc Trí giả lại đây, uy ên
thâm trí tuệ, mưu lược thần kỳ và vị thứ mười một chính là thái hậu
đang cổ v õ
đạo binh Pa ñcàla. Đây l à cả một
tr ăm lẻ một vị vương hầu thiện chiến l àm
tùy tướng, quốc độ của họ đ ã bị chiếm
đóng, họ đang kinh ho àng và chịu thần
phục trước đạo binh của Pa ñcàla. Họ thề
nguyện phụng sự vò vua này, dù muốn dù không, họ cũng nói thẳng họ phải làm
như vậy, nay họ bắt buộc phải theo phe vua Pañcàla, vì họ ở dưới quyền vua
này. Kinh thành Mithilà đang bị bao vây bởi đạo
binh d àn trận ở ba chặng đường, tấn công
v ào đủ mọi mặt, th ành bị bao vây
mọi phía như thể muôn sao trên trời. Này Mahosadha, làm cách nào giải vây
được chăng?
Khi bậc Đại Sĩ nghe vậy, ng ài nghĩ
thầm: "Vua này quá lo sợ cho mạng sống của mình. Lương y là nơi an trú của
bệnh nhân, thức ăn l à nơi an trú của
người đói, thức uống l à nơi an trú của
người khát, nhưng chỉ mình ta là nơi an trú của vua này, ta phải trấn an
ngài mới được". Rồi chẳng khác n ào con
sư tử gầm thét trên cao nguyên Hồng thổ ở Tuyết Sơn, ngài la to:
- Xin Đại vương chớ sợ, xin cứ an hưởng cảnh
cung đ ình. Như tiểu thần thường ném hòn
đất dọa con quạ, lấy cung dọa con khỉ, thần sẽ giải tán đạo quân ấy, cho
chúng không c òn một manh giáp nữa.
Rồi ngài ngâm kệ:
70. Đại vương h ãy duỗi thẳng
đôi chân,
Mở hội vui chơi, tiệc uống ăn,
Chốc lát Brah-ma, vua địch ấy,
Sẽ đ ào tẩu, bỏ mặc binh hùng.
Sau khi trấn an vua, bậc Trí giả ra ngoài ban lệnh
đánh trống hội khắp kinh th ành cùng với
lời huấn dụ:
- Nghe đây, to àn dân chớ kinh sợ. Hãy
sắm sửa tràng hoa, hương trầm, nước hoa, thức
ăn uống mở hội trong bảy ng ày. Dân chúng muốn ở
đâu t ùy ý, uống rượu thật say sưa, ca
múa vui chơi, gào thét, nô đ ùa, búng tay
tùy thích, mọi phí tổn ta sẽ chịu hết. Ta là bậc Trí giả Mahosadha, hãy xem
oai lực của ta đây.
Cứ thế ngài khích lệ toàn dân. Họ vâng lệnh ngài, người bên ngoài nghe
tiếng ca nhạc tưng bừng, người ta ra vào bằng cửa hậu. Lúc bấy giờ họ không
có tục lệ bắt kẻ lạ mặt trừ ra kẻ thù địch, cho
n ên lối ra vào mở ngỏ. Do đó, những kẻ n ày
thấy dân chúng đang mải m ê vui
đ ùa ca hát, còn vua Cùlani nghe tiếng ồn
ào trong kinh thành liền bảo các quần thần:
- Này các khanh, xem đây quân ta bao vây
kinh th ành này với mười tám đạo binh h ùng
hậu, thế mà dân chúng không tỏ vẻ lo âu sợ hãi, lại còn vui chơi thỏa thích,
ca hát, búng tay, nhảy nhót tưng bừng, thế là nghĩa lý gì?
Lúc ấy các quân hầu được ng ài gửi
đi phục dịch ở nước ngo ài trước
đây liền nói dối như sau:
- Tâu Đại vương,chúng thần có việc v ào
thành bằng cửa hậu, thấy dân chúng đang mải m ê
vui chơi đ ã hỏi: "Tại sao các người quá
vô tâm chểnh mảng trong khi mọi quân vương toàn cõi Diêm-phù- đề
đang bao vây kinh th ành của các ngươi?" Họ liền
đáp: "Khi quốc vương của chúng ta c òn
bé, ngài có ước nguyện tổ chức hội hè bao giờ tất cả quốc vương toàn cõi
Diêm-phù- đề đến bao vây kinh th ành. Bây
giờ ước nguyện đ ã thành nên ngài liền
ban lệnh khắp nơi và chính ngài cũng tổ chức hội hè trong cung".
Nghe vậy vị vua này nổi trận lôi đ ình,
gọi một đo àn quân ra ban lệnh:
- Hãy phân tán ra khắp kinh thành, lấp hào phá thành, san bằng tháp canh,
vào thành, chặt đầu vua Vedeha đem đến đây cho
ta.
Thế là các chiến sĩ dũng cảm trang bị đủ
loại vũ khí, rầm rộ tiến v ào cổng thành, lại
được quân của bậc Trí giả hỗ trợ với vũ khí
nóng đỏ rực, nhưng rồi họ bị ném b ùn, đá
như mưa r ào. Khi họ đứng dưới h ào
phá tường, quân lính trên tháp canh chống trả bằng cung tên, lao, giáo
bắn xuống, quân của bậc Trí giả vừa chế nhạo quân của vua Brahmadatta bằng
bộ điệu tay chân, vừa la lớn:
- Nếu các ngươi không bắt được ta, th ì
hãy ăn uống một tí n ào.
Họ giơ ra những chén rượu nồng và xiên cá thịt mà họ
đang ăn uống dạo chơi quanh tường. Quân địch
không l àm gì được, đ ành trở về
trình với vua Cùlani:
- Tâu Đại vương, chẳng ai v ào thành
được trừ khi kẻ có thần thông.
Vua kia đợi bốn năm ng ày không tìm
được kế g ì chiếm thành như ý muốn, lại
hỏi Kevatta:
- Này Đại Sư, ta không thể chiếm th ành
này, không ai có thể đến gần th ành
được cả, l àm sao bây giờ?
- Tâu Chúa thượng, đừng ngại g ì, kinh
thành này lấy nước từ bên ngoài, ta sẽ cắt nguồn nước và chiếm
được th ành. Chúng sẽ kiệt quệ vì thiếu
nước và sẽ mở cửa thành.
Vua đáp:
- Thật là diệu kế.
Sau đó họ cản trở dân chúng đến gần nguồn
nước. Quân do thám của bậc Trí giả viết tin tr ên một ngọn lá buộc vào
mũi tên bắn đi nhắn c ùng ngài rõ. Lúc
bấy giờ ngài đ ã ra lệnh hễ ai thấy ngọn
lá buộc vào mũi tên phải đem dâng ng ài.
Một người thấy vật này liền đem tr ình
bậc Trí giả. Ngài đọc tin xong, nghĩ thầm: "Vua
ấy không biết ta l à bậc Trí giả Mahosadha". Ngài cho lấy những thanh
tre dài chừng sáu mươi cubit (gần ba mươi mét) chẻ
đôi ra, bỏ hết các mắt, rồi cột lại, bọc da b ên
ngoài và trét bùn lên.
Ngài lại cho lấy đất v à hột sen do
các ẩn sĩ đem về từ Tuyết Sơn, trồng hột sen
trong b ùn bên cạnh hồ nước, đặt tre l ên
và đổ đầy nước v ào. Qua một
đ êm sen mọc và trổ hoa, cao hơn
đọt tre chừng hai thước. Ng ài nhổ lên
đưa cho quân hầu mang đến dâng vua Brahmadatta.
Họ cuộn tr òn cọng sen lại, ném qua thành, kêu to:
- Này quân hầu của vua Brahmadatta, đừng để
chết đói v ì thiếu lương thực, đây ta cho
các ngươi mang hoa l ên và ăn ngó sen v ào
cho đầy bụng.
Một người trong đám quân do thám của bậc Trí
giả lượm cọng sen mang v ào dâng vua:
- Tâu Đại vương, đây l à cọng sen,
chưa bao giờ có cọng sen dài như thế này cả.
Vua bảo:
- Đo thử xem.
Họ đo v à thấy chúng dài cả gần bốn
mươi mét chứ không phải ba mươi. Vua hỏi:
- Sen này mọc ở đâu?
Họ bịa chuyện đáp:
- Tâu Đại vương, một ng ày nọ, vì thèm
rượu, tiểu thần vào thành bằng cửa hậu và thấy các hồ nước lớn
được đ ào cho dân chúng vui chơi. Có một
đám người tr ên thuyền
đang hái sen. Cây sen n ày mọc cạnh bờ
hồ, chứ còn những cây mọc dưới nước sâu chắc phải cao cả tr ăm
cubit.
Nghe vậy, vua bảo Kevatta:
- Này Đại Sư, ta không thể chiếm th ành
bằng cách cắt nguồn nước đâu, thôi đừng cố đánh
chiếm th ành này nữa.
Lão đáp:
- Thôi được, ta sẽ chiếm th ành bằng
cách cắt nguồn lương thực vì kinh thành này lấy lương thực từ ngoài vào.
- Này Đại sư, thật l à diệu kế.
Bậc Trí giả đ ã biết trước việc này
nên nghĩ thầm: "Vua ấy không biết ta là bậc Trí giả Mahosadha".
Dọc theo trường thành ngài đổ đất b ùn
và trồng lúa. Lúc bấy giờ ước nguyện của Bồ-tát bao giờ cũng
đạt th ành, nên qua một
đ êm lúa mọc vượt lên cả ngọn thành. Vua
Brahmadatta thấy vậy liền hỏi:
- Này hiền hữu, cây gì mọc xanh um trên ngọn thành vậy?
Quân do thám của bậc Trí giả đáp lại ngay
như thể chụp lấy lời nói của vị vua n ày:
- Tâu Đại vương, bậc Trí giả Mahosadha l à
con nhà nông, đ ã thấy trước tai hoạ sắp
đến n ên đ ã
thu góp thóc khắp nơi về chứa đầy kho vựa, ném
đồ dư thừa tr ên trường thành, chắc chắn lúa này gặp
đủ nắng mưa sẽ mọc cây rất nhanh. Một bữa nọ,
chính tiểu thần có việc v ào thành bằng cửa hậu, lượm một nắm thóc
trong đống thóc tr ên thành vãi ra
đường, liền bị dân chúng chế nhạo, la l ên:
-"Chắc anh đói lắm, vậy h ãy lấy một ít
thóc buộc vào chéo vạt áo, mà đem về nh à
nấu ăn".
Nghe vậy vua bảo Kevatta:
- Này Đại sư, cắt nguồn lương thực ta cũng
không chiếm được th ành này đâu, việc đó
không đúng cách.
- Tâu Đại vương, thế th ì ta sẽ chiếm
thành bằng cách cắt nguồn cung ấp than củi từ bên ngoài.
- Được rồi, Đại sư.
Bồ-tát cũng đ ã biết trước chuyện này
nên ngài cho chặt củi thành đống, cao hơn cả
lúa nữa. Dân chúng lại chế nhạo quân lính của vua Brahmadatta, bảo:
- Nếu các anh đói th ì lấy củi này mà
nấu nướng thức ăn.
Vừa nói họ vừa ném những thanh củi lớn xuống.
Vua hỏi:
- Củi nào chất cao hơn cả trường thành vậy?
Các thám tử đáp:
- Vị này con nhà nông thấy được hiểm họa sắp
đến, n ên thu góp than củi chất đống
trước mọi nh à còn thừa ngài chất bên lề thành
đó.
Vua bảo Kevatta:
- Này Đại sư, ta cũng không thể chiếm th ành
bằng cắt nguồn than củi đâu, kế n ày
chẳng cần thiết nữa.
- Tâu Đại vương chớ ngại, tiểu thần đ ã
có cách khác.
- Kế gì vậy Đại sư? Trẫm thấy các mưu kế của
khanh đều không có kết quả g ì, ta không thể chiếm
được Vedeha đâu. Thôi ta h ãy rút quân
về.
- Tâu Đại vương, nếu có ai bảo vua C ùlani
cùng một tr ăm lẻ một quốc vương không chiếm nổi
th ành Vedeha thì chúng ta sẽ mang nhục mà thôi. Mahosadha không phải
là một bậc Trí giả duy nhất trên đời, v ì
tiểu thần cũng là bậc Trí giả, tiểu thần sẽ dùng mưu lược.
- Mưu gì vậy, Đại sư?
- Chúng ta sẽ bày trận Pháp chiến.
- Thế nghĩa là gì?
- Tâu Đại vương, l à không cần
đánh trận n ào cả, chỉ có hai bậc Trí giả
của hai vị vua đến một nơi n ào
đó v à kẻ nào cúi chào người kia, sẽ bại
trận.
Mahosadha không biết ý định n ày, tiểu
thần già hơn, gã ấy trẻ tuổi hơn, nên khi gã thấy tiểu thần, gã sẽ chào
trước. Thế là ta sẽ chiếm lấy Vedeha, xong việc này ta sẽ hồi hương và như
vậy ta mới khỏi bị nhục. Đó l à trận Pháp
chiến mà tiểu thần muốn tâu trình.
Nhưng Bồ-tát đ ã biết trước chuyện bí
mật này rồi: "Nếu ta để cho Kevatta thắng ta
như vậy th ì ta đâu phải l à người
có trí". Còn vua Brahmadatta bảo:
- Thật là đại diệu kế.
Rồi vua viết điệp g ửi cho vua Vedeha
bằng cửa hậu, báo tin: "Ngày mai sẽ có trận Pháp chiến giữa hai vị trí giả,
vị nào không chịu tham chiến được xem như bại
trận".
Nhận được điệp n ày, vua Vedeha cho
triệu bậc Trí giả đến kể chuyện, ng ài
đáp:
- Hay lắm, tâu Đại vương, xin Đại vương
truyền sứ giả đưa tin chuẩn bị nơi chốn d ành cho trận Pháp chiến; bên
cổng Tây, sẽ dàn binh ở đó.
Rồi ngài trao bức điệp cho sứ giả, v à
hôm sau chuẩn bị nơi dành cho trận Pháp chiến
để chứng kiến cảnh thảm bại của Kevatta. Nhưng cả trăm lẻ một vị quốc vương
không biết chuyện sẽ xảy ra, n ên vây quanh Kevatta
để bảo vệ l ão. Các vị vua này
đến nơi chiến địa, đứng nh ìn về phía
đông, nơi bậc trí giả Kevatta đ ã
đến. Tuy nhi ên, sáng hôm
đó, Bồ-tát đ ã tắm rửa nước thơm, mặc cẩm
bào Kàsi trị giá cả tr ăm ng àn
đồng tiền, trang sức lộng lẫy v à sau một
bữa điểm tâm thịnh soạn, ng ài cùng
đám t ùy tùng
đông đảo đi đến cửa cung. Khi được triệu v ào,
ngài vái chào vua xong, ngồi sang một bên.
- Sao đó, Trí giả Mahosadha? Vua hỏi.
Ngài đáp:
- Tâu Đại vương, tiểu thần sắp ra chỗ lâm
chiến.
- Thế còn trẫm phải làm gì đây?
- Tâu Đại vương, tiểu thần muốn thắng
Kevatta bằng vi ên bảo ngọc, vậy tiểu thần cần có viên bảo ngọc bát
giác ấy.
- Vương nhi cứ lấy đi.
Ngài nhận lấy bảo ngọc, tạ từ vua ra đi, có
cả ng àn chiến sĩ vây quanh, đó l à
các thân hữu từ thuở bé của ngài, ngài ngồi vào chiếc bảo xa do
đo àn bạch mã thuần giống kéo,
đáng giá cả chín mươi ng àn
đồng tiền . V ào giờ ngọ ngài
đến cổng th ành.
Kevatta đứng chờ ng ài
đến, vừa bảo:
- Kìa gã đến, k ìa gã
đến!
- Lão vừa nghểnh cổ dài ra, ướt mồ hôi dưới ánh nắng gay gắt. Bậc
Đại sĩ c ùng
đo àn tùy tùng như biển dậy sóng, như sư tử vươn mình, oai nghi trầm
tĩnh ban lệnh mở cửa thành, ra khỏi kinh thành xong, ngài xuống xe như con
sư tử vùng dậy, rảo bước. Cả tr ăm lẻ một vị
quốc vương chi êm ngưỡng vẻ uy nghi cao cả của ngài, liền reo hò tung
hô ngài vang dậy:
- Đây bậc Trí giả Mahosadha, nam tử của
Sirivaddha, người có trí tuệ tối thượng trong to àn cõi Diêm-phù- đề.
Chẳng khác nào Thiên chủ Sakka được chư thi ên
vây quanh, trong vẽ huy hoàng cao cả vô thượng, ngài cầm viên bảo ngọc trong
tay, đứng trước Kevatta. C òn Kevatta vừa
trông thấy ngài đ ã không thể nào
đứng y ên
được m à tiến lên đón ng ài bảo:
- Này bậc Trí giả Mahosadha, hai ta đều l à
bậc trí giả và dù xưa nay ta ở gần ngài, ngài chưa hề gửi tặng ta vật nào
cả, vì cớ gì vậy?
Bậc Đại Sĩ bảo:
- Thưa bậc Trí giả, tiểu đệ đ ã cố
công kiếm một tặng vật thật xứng đáng với ng ài
và hôm nay tiểu đệ t ìm ra viên ngọc bảo
châu này, xin bậc Trí giả nhận lấy, vì không có viên ngọc thứ hai như vậy
trên đời.
Vị kia thấy viên bảo ngọc sáng ngời trong tay ngài tưởng rằng ngài muốn
đưa ra tặng, liền bảo:
- Vậy thì xin trao ngọc cho ta.
Rồi lão đưa tay ra, xin nhận lấy. Bậc Đại Sĩ
vừa nói, vừa dang tay ném vi ên ngọc trên
đầu ngón tay của b àn tay lão dang ra. Nhưng lão Bà-la-môn không
đỡ được vi ên ngọc trong các ngón tay nên
nó tuột xuống và l ăn tới chân Bồ-tát. L ão
lại quá thèm viên ngọc nên cúi xuống chân ngài. Lúc ấy bậc
Đại sĩ không để cho l ão ngẩng lên, lấy
một tay ấn vai lão xuống và tay kia chộp bụng lão, kêu to:
- Này Đại sư, ngẩng l ên chứ, ngẩng
lên chứ, ta trẻ hơn ngài nhiều, chỉ đáng cháu
chắt ng ài, đừng cúi ch ào ta chứ!
Ngài vừa nói vậy mãi, vừa chà mặt mũi lão xuống
đất đến chảy máu, rồi lại bảo:
- Này tên ngu si mê muội kia, ngươi cứ tưởng sẽ
được ta cúi đầu ch ào ngươi hay sao?
Ngài chụp lấy cổ áo lão ném thật xa. Lão v ăng
đi xa cả bốn mươi thước mới b ò dậy chạy trốn mất. Lúc ấy quân hầu của
bậc Đại Sĩ lượm vi ên bảo ngọc lên, nhưng
âm thanh của lời Bồ-tát: "Ngẩng lên đi, đừng
cúi đầu ch ào ta như vậy!" vang dội át cả tiếng reo hò của
đám đông. Dân chúng reo h ò nhất loạt:
- Bà-la-môn Kevatta cúi chào chân bậc Trí giả!
Tất cả các vua, từ Brahmadatta đến các vị
vua kia, đều thấy Kevatta cúi đầu xuống chân bậc Đại sĩ. Họ đều nghĩ thầm:
"Bậc Trí giả của ta đ ã cúi đầu ch ào
bậc Đại Sĩ, chúng ta thua trận rồi. Ng ài
sẽ giết hết bọn ta bây giờ", ai nấy đều l ên
ngựa chạy trốn đến th ành Uttarapañcàla .
Quân của Bồ-tát thấy họ chạy trốn, lại la hét vang trời:
- Vua Cùlani đang tẩu thoát c ùng một
tr ăm lẻ một vị vương hầu.
Nghe vậy, các vương hầu càng hoảng hốt, chạy dài, tan rã cả
đại đạo binh trong khi quân của Bồ tát reo h ò
mỗi lúc càng vang dậy hơn. Bậc Đại Sĩ c ùng
đám t ùy tùng trở về kinh thành trong khi
đạo binh của vua Brahmada tta tháo chạy
tán loạn suốt ba dặm đường. Kevata lên ngựa gặp
đạo binh, liền ch ùi vết máu trên trán,
la lên:
- Này đừng chạy, ta có cúi đầu ch ào
thằng khốn kiếp đó đâu. Dừng lại, dừng lại!
Nhưng đạo binh không nghe, c òn chế
nhạo, phỉ báng lão:
- Này lão Bà-la-môn khốn nạn kia, lão là kẻ có tội, lão bày ra trận Pháp
chiến rồi lại cúi đầu ch ào thằng trẻ
ranh chỉ đáng cháu chắt l ão, chuyện ấy
chẳng đáng đời l ão hay sao?
Họ không còn nghe lão nữa và cứ tiếp tục đi
về. L ão chạy vụt vào đám quân k êu
lên:
- Này các người phải nghe ta, ta có cúi chào nó
đâu, nó lấy vi ên ngọc lừa ta mà.
Rồi lão dùng đủ mọi cách thuyết phục các vị
vương hầu tin lời l ão và thu nhập đám t àn
quân.
Lúc bấy giờ đám quân n ày quá
đông đảo, ví thử mỗi người trong đó lượm được
một h òn đá hay nắm đất ném v ào
hào cũng đủ lấp đầy h ào và còn chất
đống cao l ên bằng trường thành; nhưng ta
biết rằng ý nguyện của Bồ-tát đ ã
đạt th ành, nên không có ai ném
đất đó v ào kinh
đô cả. Họ rút lui về vị trí cũ, rồi vua hỏi
Kevatta:
- Này Đại sư, ta phải l àm gì bây giờ?
- Tâu Đại vương, ta đừng cho ai ra cửa hậu
nữa v à cắt mọi mối giao thông. Dân chúng không ra vào
được sẽ sinh chán nản v à mở cửa thành.
Lúc ấy ta sẽ bắt được quân th ù.
Bậc Trí giả cũng được báo tin về vấn đề n ày
như trước, nên ngài nghĩ thầm: "Nếu họ đóng
quân ở đây lâu, th ì chúng ta không sống yên ổn
được, vậy ta h ãy tìm cách tống họ
đi, ta sẽ đặt chiến lược đuổi họ về".
Thế là ngài đi t ìm một người thông
thạo các việc này và kiếm ra được một kẻ t ên
Anukevatta. Ngài bảo ông này:
- Này Đại sư, ta có một việc muốn nhờ ông
thi h ành.
- Thưa bậc Trí giả, tiểu thần phải làm gì? Xin cho biết.
- Ông hãy đứng tr ên trường thành,
thừa lúc quân ta vô ý, hãy lập tức ném kẹo bánh, cá thịt và các thức
ăn khác xuống cho quân của Brahmadatta, rồi
bảo: "N ày ăn đi đừng ng ã lòng,
gắng ở đây th êm ít hôm nữa, chẳng mấy
chốc dân chúng như gà mái trong rọ sẽ tự mở cổng thành rồi các người vào mà
bắt lấy vua Vedeha và gã con trai nông dân khốn kiếp kia". Quân ta nghe vậy
sẽ mắng nhiếc ông tàn tệ rồi trói tay chân ông lại trước quân của
Brahmadatta và giả bộ lấy gậy tre đập ông, kéo
ông xuống, buộc tóc ông th ành n ăm ch òm,
phết đất b ùn lên người ông,
đeo ch ùm hoa Kanavera dành cho tử tội
vào cổ ông, quất ông vun vút cho đến khi nổi
lằn roi tr ên lưng ông, rồi lại đem ông l ên
trường thành trói ông lại, thòng dây thừng thả ông xuống chỗ
đóng quân của Brahmadatta thét to: "Cút đi,
quân phản bội".
Lúc ấy ông sẽ được dẫn đến trước vua vua
Brahmadatta, vua n ày sẽ hỏi ông về việc sỉ nhục kia, ông phải trình
bày với vua ấy: "Tâu Đại vương, ng ày xưa
tiểu thần đ ã
được nhiều vinh hiển nhưng g ã con trai
nhà nông ấy đ ã vu cáo tiểu thần phản bội
đức vua, n ên tiểu thần bị tước
đoạt tất cả gi àu sang danh vọng. Tiểu
thần muốn lấy đầu kẻ đ ã phá hại mình và
vì thương tưởng quân của Đại vương đang thối
chí nản l òng, nên đem cho họ thức ăn
uống. Do vậy nhớ đến mối th ù cũ trong lòng, gã lại làm tiểu thần thân
tàn ma dại như thế này. Tâu Đại vương, quân của
Đại vương đều biết r õ chuyện này".Như vậy bằng mọi cách ông phải
chiếm được l òng tin của vua rồi tâu với
vua ấy: "Tâu Đại vương, bây giờ đ ã có
tiểu thần, xin Đại vương chớ lo âu nữa. Vua
Vedeha v à gã con trai nông dân kia phải chết thôi! Thần biết rõ mọi
yếu điểm c ùng nhược
điểm của bức trường th ành này. Tiểu thần
biết nơi nào dưới hào có cá sấu, nơi nào không. Chẳng mấy chốc tiểu thần xin
dâng trọn kinh thành này vào tay Đại vương".
Vua ấy sẽ tín dụng ông và quý trọng ông, giao cho ông thống lãnh
đạo binh. Sau đó ông phải đưa đạo binh xuống
nơi đầy đặc rắn rít, cá sấu, chúng sợ h ãi sẽ không chịu xuống. Lúc ấy
ông phải trình vua: "Tâu Đại vương, quân sĩ của
Đại vương đ ã bị gã con trai nhà nông ấy làm tan rã mất rồi, không còn
người nào, thậm chí cả Đại sư Kevatta v à
các vương hầu đều bị mua chuộc . Họ chỉ rảo
quanh quẩn r ình rập Đại vương thôi, chứ
họ th ành người tay chân của gã nông dân ấy cả rồi, chỉ còn một mình
tiểu thần là tôi trung của Đại vương, nếu Đại
vương không tin tiểu thần, xin Đại vương ban lệnh cho các vương hầu mặc
triều phục đến chầu Đại vương. Sau đó, Đại vương quan sát y phục của họ, đồ
trang sức, cung kiếm của họ xem, thảy đều do g ã con trai nhà nông dân
ấy tặng và khắc tên gã vào, rồi ngài biết chắc mọi việc".
Vua ấy sẽ y lời và tin chắc như vậy, nên lo sợ phải
đuổi các vương hầu về xứ. Rồi vua ấy sẽ hỏi:
"Kế đó phải l àm gì". Ông phải đáp: "Tâu
Đại vương, g ã nông dân ấy đầy mưu lược t ài
trí, nếu Đại vương c òn ở
đây v ài ngày nữa, gã sẽ chiếm cả
đạo quân v à bắt lấy
Đại vương. Vậy xin Đại vương chớ chậm trễ ngay
đ êm nay vào canh giữa ta hãy lấy ngựa lên
đường đừng để phải chết trong tay kẻ th ù". Vua
ấy sẽ nghe theo lời khuyên của ông và trong khi vua ấy
đ ào tẩu, ông hãy trở lui báo cho dân
chúng ta rõ.
Nghe vậy Anukevatta đáp:
- Thưa bậc Trí giả, được lắm, tiểu thần xin
nghe theo lời của ng ài.
- Vậy thì xin ông ráng chịu vài cái đấm đá.
- Thưa bậc Trí giả, ngài muốn làm gì tấm thân hèn này cũng
được, chỉ xin tha mạng v à toàn gia
được an l ành.
Thế là sau khi tỏ lòng ân cần quý trọng gia quyến Anukevatta, ngài ban
lệnh đem ông ấy ra h ành hạ tàn tệ như
trên rồi mang giao cho quân của vua Brahmadatta. Vua này thử lòng ông xong
lại tin dùng, quý trọng và giao cho ông việc
điều khiển đạo binh. Ông liền mang quân sĩ đến những nơi đầy rắn rít, cá
sấu, khiến họ kinh hoảng, rồi lại bị t ên giáo, lao trên pháo
đ ài bắn xuống bị thương nên sau
đó không c òn ai dám cả gan
đến gần nữa.
Lúc ấy, Anukevatta yết kiến vua và nói:
- Tâu Đại vương, không c òn ai chiến
đấu cho Đại vương nữa rồi, tất cả đều bị mua
chuộc. Nếu Đại vương không tin tiểu thần, xin Đại vương triệu các vương hầu
đến chầu rồi xem chữ khắc tr ên y phục và quân trang của họ.
Vua y lời và khi thấy những chữ khắc trên quân trang quân phục của họ,
ông tin chắc họ đều bị mua chuộc cả, n ên
ông hỏi:
- Đại sư, vậy phải l àm gì bây giờ?
- Tâu Đại vương, không c òn làm gì
được nữa cả.
Nếu Đại vương chậm trễ, g ã nông dân
ấy sẽ bắt lấy Đại vương mất thôi. Tâu Đại
vương, nếu Đại sư Kevatta phải ra đường với vết thương tr ên trán,
Đại sư cũng đ ã lấy của
đút lót, Đại sư đ ã nhận viên bảo ngọc
ấy, khiến Đại vương phải t ìm
đường tẩu thoát suốt cả ba dặm đường rồi lại
được Đại vương tin cậy v à rước Đại vương
trở về. Đó l à một phản thần! Tiểu thần không thể tuân lệnh lão ấy dù
chỉ một đ êm, vậy ngay
đ êm nay vào canh giữa
Đại vương phải tẩu thoát. Đại vương không c òn
ai là thân hữu trừ tiểu thần cả.
- Này Đại sư, vậy th ì khanh phải
đem ngựa v à xe của trẫm
đến đây sẵn s àng.
Thấy vua đ ã quyết tâm
đ ào tẩu, ông liền trấn an vua bảo
đừng lo sợ g ì, rồi
đi t ìm các thám tử bảo rằng vua sẽ
đ ào tẩu đ êm
nay, họ đừng tính chuyện ngủ nghỉ nữa. Kế đó
ông lại chuẩn bị vương m ã, sắp đặt đây
cương sẵn s àng để cho vua c àng
kéo dây thì ngựa càng chạy nhanh hơn. Vào nửa đ êm,
ông tâu:
- Tâu Đại vương, vương m ã
đ ã sẵn sàng,
đến giờ khởi h ành rồi.
Vua liền lên ngựa tẩu thoát, Anukevatta cũng lên ngựa như thể tháp tùng
vua, nhưng chỉ được một khoảng, ông trở lui v à
vương mã theo sự sắp xếp dây cương sẵn sàng, đ ã
phi thật nhanh khi vua kéo dây thúc ngựa. Sau
đó Anukevatta đến giữa ba quân thét vang:
- Vua Cùlani Brahmadatta đ ã tẩu
thoát!
Các thám tử và tùy tùng đều thét l ên
như vậy.Các vương hầu kia, nghe tiếng ồn ào, hoảng hốt nghĩ thầm: "Bậc Trí
giả Mahosadha ắt hẳn đ ã mở cổng thành,
ta sẽ chết mất thôi".
Họ chỉ còn nhìn thoáng các vật dụng cùng các món giải trí, rồi chạy trốn.
Đám người kia lại la to hơn:
- Các vương hầu đ ã tẩu thoát!
Nghe tiếng ồn ào các quân sĩ đang ở cổng th ành
và các tháp canh la hét vỗ tay ầm ĩ.
Rồi toàn thể nội thành cũng như ngoại thành
đều ra hô vang dậy như thể quả đất nứt nẻ ra hay đại dương tan t ành,
trong khi vô số quân sĩ trong đạo binh h ùng
mạnh kia kinh hoảng vì sợ chết, lại không nơi nương tựa hay ẩn náu, liền
thét vang:
- Vua Brahmadatta đ ã bị bậc Trí giả
Mahosadha bắt đi c ùng với một tr ăm
lẻ một vương hầu rồi!
Họ liền tháo chạy tán loạn, ném bỏ cả tấm khố quanh lưng. Chiến trường bị
bỏ hoang, vua Cùlani về kinh thành của mình cùng với một tr ăm
lẻ một tướng l ãnh vương hầu kia.
Sáng hôm sau, quân sĩ mở cửa thành đi v ào
thấy đủ các chiến lợi phẩm, liền tr ình
với bậc Đại Sĩ v à hỏi ý những việc phải
làm. Ngài bảo:
- Các vật dụng họ để lại đều l à của
ta. Các ngươi hãy dâng đức vua những vật dụng
của các vương hầu, đem cho ta những vật dụng của Kevatta v à của những
tướng lãnh khác, còn lại bao nhiêu để cho dân
chúng lấy đi.
Cả nửa tháng ròng mới lấy hết các châu báu và vật dụng quý giá, bốn tháng
sau mới thu dọn hết mọi đồ vật khác. Bậc Đại Sĩ
ban tặng đại vinh hiển cho Anukevatta. Từ đó dân chúng Mithil à có vô
số vàng ngọc.
29.
ĐƯỜNG HẦM VĨ ĐẠI.
Lúc bấy giờ vua Brahmadatta cùng các vương hầu ấy
đ ã sống một n ăm
ở kinh th ành Uttarapãncàla.
Một ngày kia, Kevatta nhìn bóng mình trong gương, thấy vết sẹo trên trán,
nghĩ thầm: "Cái này là do gã nông dân ấy gây ra, gã biến ta thành trò cười
trước các vương hầu ấy". Lão thấy uất hận tràn ngập trong lòng, lão nghĩ
thầm: "Làm sao trừ khử nó? Ồ mưu kế này đây.
Công chúa của ta l à Pãncàlacandì, có nhan sắc tuyệt thế, chẳng khác
nào tiên nữ trên trời. Ta sẽ cho vua Vedeha thấy nàng. Vua ấy sẽ say mê nàng
như thể cá mắc câu. Ta sẽ bắt lấy vua cùng gã Mahosadha và giết trọn cả hai
rồi nâng chén rượu mừng chiến thắng". Quyết
định như thế xong, l ão đến chầu vua:
- Tâu Đại vương, thần xin dâng ý kiến n ày.
- Này Đại sư, ý kiến của khanh đ ã làm
trẫm không còn mảnh vải che thân nữa. Bây giờ khanh còn muốn gì nữa
đây? H ãy bình tâm lại.
- Tâu Đại vương, chưa bao giờ có mưu kế n ào
sánh với kế này được.
- Vậy khanh hãy nói đi.
- Tâu Đại vương, xin chỉ nói ri êng
giữa Đại vương v à tiểu thần.
- Thì hẳn là vậy.
Lão Bà-la-môn liền đưa vua l ên thượng
lầu và nói:
- Tâu Đại vương, thần sẽ lôi cuốn vua Vedeha
bằng tham dục để đem cho được vua ấy về đây v à giết
đi.
- Này Đại sư, thật l à diệu kế, nhưng
phải làm sao để gợi tham dục của vua ấy được?
- Tâu Đại vương, công chúa P ãncàlacandì
có sắc đẹp vô song, ta sẽ bảo các thi sĩ ca
tụng nhan sắc v à đức hạnh của n àng
bằng thi ca rồi phổ biến các bài ca đó tại th ành
Mithilà. Khi nào ta thấy vua ấy tự nhủ thầm: "Nếu vị anh quân Vedeha không
chiếm được nữ báu n ày, thi ngai vàng
cùng quốc độ n ày còn nghĩa lý gì nữa
đối với ta!". Khi vua ấy đ ã bị lôi cuốn
vào tư tưởng kia, thần sẽ đi định ng ày
sính lễ, vào ngày đ ã
định, vua ấy sẽ đến. Như cá nuốt câu, g ã
nông dân kia cũng đến với vua, thế l à ta
sẽ nuốt trọn.
Vua nghe vậy đẹp ý v à chấp nhận ngay.
- Này Đại sư, thật l à diệu kế, ta sẽ
làm như vậy.
- Nhưng có một con chim mayneh đứng b ên
cạnh vương sàng, đ ã ghi nhận sự việc
trên.
Sau đó vua cho gọi các thi sĩ t ài
hoa, ban tiền bạc rất hậu hỷ, cho họ được chi êm
ngưỡng công chúa rồi bảo họ làm thơ ca tụng nhan sắc nàng, nên họ làm những
bài ca vô cùng du dương rồi ngâm thơ cho vua nghe. Vua lại ban thưởng họ rất
trọng hậu. Các nhạc sĩ học các bài ca này từ các thi sĩ kia,
đem ra hát giữa dân chúng, nhờ vậy chúng được
truyền bá rất nhanh ra ngoại th ành. Khi chúng
đ ã lan rộng khắp nơi, vua cho triệu các
ca sĩ vào và phán:
- Này các con, ban đ êm hãy trèo lên
cây cùng với chim chóc và ca hát, rồi sáng mai, buộc chuông lục lạc vào cổ
chúng, thả chúng bay đi xong, tr èo
xuống.
Vua cho thi hành việc này để thế nhân có thể bảo
chính chư Thi ên ca tụng sắc đẹp của công
chúa P ãncàla. Vua lại triệu các thi sĩ kia vào và phán:
- Này các con hãy làm thơ đưa tin n ày:
Công chúa diễm lệ kia không dành cho vua nào ở cõi Diêm-phù- đề
trừ vua Vedeha ở th ành Mithilà. Các con hãy ca tụng oai danh của vua
ấy cùng nhan sắc của công chúa.
Họ vâng theo, rồi tường trình công việc ấy, vua ban thưởng họ rất hậu,
rồi bảo họ đi Mithil à, ca hát trên
đường v à tán tụng như trên. Họ liền
đến Mithil à. Dân chúng tụ tập lại nghe
hát rất đông v à hoan hô nhiệt liệt. Ban
đ êm họ trèo lên cây ca hát, buổi sáng họ
lại buộc chuông lục lạc vào cổ chim rồi mới trèo xuống.
Dân chúng nghe tiếng lục lạc trên không, rồi khắp kinh thành vang dậy tin
đồn rằng chính các Thi ên thần
đang tán tụng nhan sắc diễm k iều của
công chúa. Vua hay tin cho triệu các thi sĩ vào và mở hội ngay trong cung
điện. Vua tưởng rằng họ muốn dâng công chúa
diễm lệ vô song của vua C ùlani cho ngài, nên ngài ban thưởng họ rất
hậu. Sau đó, về nước, họ tr ình vua
Brahmadatta, Kevatta liền thưa:
- Tâu Đại vương, đ ã
đến lúc thần đi định ng ày sính lễ.
- Này Đại sư, thật l à tuyệt diệu,
khanh muốn đem theo vật g ì?
- Xin cho thần một tặng vật nhỏ.
Vua liền ban nó ngay. Lão đem qu à
đi, c ùng với một
đo àn tùy tùng
đông đảo hộ tống đến kinh đô Vedeha. Khi l ão
cho báo tin lão đ ã
đến, cả th ành chấn
động l ên:
- Hai vua Cùlani và Vedeha sẽ kết tình thân hữu - họ bảo nhau như vậy - vua
Cùlani sẽ gả công chúa cho Đại vương của ta v à
Kevatta đến đấy định ng ày sính lễ.
Vua Vedeha nghe tin này và bậc Đại Sĩ cũng
nghe tin, liền nghĩ thầm: "Ta không thích l ão ấy
đến đây, ta phải t ìm hiểu xem sao cho
đúng". Thế l à ngài thông tin với các
thám tử đang ở tại nước vua C ùlani. Họ
trả lời:
- Chúng thần không hiểu rõ việc này. Vua cùng Kevatta ngồi
đ àm đạo ri êng
trong vương thất, nhưng có con chim Maynah đứng
cạnh b ên vương sàng hiểu rõ việc này.
Nghe vậy, bậc Đại S ĩ nghĩ thầm: "Muốn
cho kẻ thù ta không đắc thắng lợi, ta phải ngăn
chia kinh th ành từng phần và trang hoàng cho
đẹp, m à
đừng cho Kevatta thấy được
Thế là từ cổng thành đến cung điện v à
từ cung điện đến tư dinh ng ài, hai bên
đường ng ài cho dựng hàng rào lưới, phủ
thảm lên trên, treo đầy tranh ảnh, rải hoa khắp
mặt đường, đặt b ình nước khắp nơi, cờ xí rợp trời. Khi Kevatta vào
thành, lão không thể thấy mọi việc sắp đặt như
tr ên, lão tưởng vua trang hoàng kinh thành
để đón l ão, chứ không hiểu người ta làm
vậy để che mắt l ão. Khi lão yết kiến
vua, lão dâng tặng vật, cung kính chúc tụng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi được đón tiếp trọng thể, l ão
đọc hai vần kệ tuy ên bố lý do lão xin
yết kiến:
74. Một vì vua muốn kết thân bằng,
Tặng bảo vật này đến Đại vương,
Mong các sứ thần lời êm dịu,
Từ nơi chốn nọ chóng lên đường.
75. Ước mong lời lẽ họ ôn h òa,
Đem lại hân hoan cho chúng ta,
Mong ước thần dân Vi-đề quốc,
H òa đồng với tộc Pa ñ-cà-la.
Lão lại tiếp tục nói:
- Tâu Đại vương, đáng lẽ quốc vương của thần
sai kẻ khác đi thay thần nhưng ng ài đ ã
phái thần đi, v ì tin chắc rằng không ai
nói chuyện này dễ nghe cho bằng thần. Ngài bảo: "Này
Đại sư, Đại sư h ãy
đi thuyết phục đức vua ấy xem xét chuyện n ày
thật thuận lợi và rước đức vua ấy về đây". Vậy
tâu Đại vương, xin Đại vương ngự l ên xe
giá, Đại vương sẽ đón về một công chúa tuyệt
trần diễm lệ v à tình thân hữu sẽ được
tạo lập giữa Đại vương v à quốc vương của thần.
Vua rất đẹp ý khi nghe lời tâu tr ình
này, ông say sưa vì ý tưởng sắp đón về một công
chúa diễm lệ vô song, liền phán:
- Này Đại sư, trước kia có mối bất h òa
giữa Đại sư v à bậc Trí giả Mahosadha tại
trận Pháp chiến. Nay Đại sư h ãy
đi gặp vương tử của trẫm, hai bậc Trí giả h ãy
hòa giải và sau khi đ àm
đạo c ùng nhau, xin trở lại
đây.
Lão Kevatta hứa đi hội kiến bậc Trí giả, rồi
lui ra.
Ngày ấy, bậc Đại Sĩ quyết định tránh mọi
việc đ àm luận với con người độc ác kia,
n ên buổi sáng ngài uống một chút bơ tươi rồi bảo quân hầu bôi phân bò
ướt trên sàn nhà, bôi dầu vào cột nhà, dẹp hết mọi ghế ngồi, sàng tọa trừ
một sàng tọa nhỏ hẹp vừa cho ngài nằm. Ngài ra lệnh cho quân hầu:
- Khi lão Bà-la-môn ấy bắt đầu nói, các
ngươi h ãy bảo: "Thưa Tôn sư Bà-la-môn, xin ngài
đừng tr ò chuyện với bậc Trí giả, hôm nay
bậc Trí giả đ ã dùng một liều bơ tươi".
Và khi ta làm như thể muốn trò chuyện với lão thì phải ng ăn
lại v à bảo: "Tâu Chúa công, ngài đ ã
dùng một liều bơ tươi, xin đừng nói chuyện
nữa".
Sau khi c ăn dặn họ, bậc Đại Sĩ khoác hồng y
nằm tr ên sàng tọa, cùng sắp đặt quân hầu
ở bảy tháp canh xong xuôi. Khi Kevatta
đến cổng th ành thứ nhất, liền hỏi bậc
Đại Sĩ ở đâu, các quân hầu trả lời:
- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, xin đừng gây tiếng
ồn ào, nếu ngài muốn vào thành, xin giữ yên lặng. Hôm nay bậc Trí giả
dùng bơ tươi, nên cử tiếng ồn.
Khi đến các cổng th ành kia, họ cũng
bảo như vậy. Đến cổng thứ bảy, l ão hội
kiến bậc Đại Sĩ v à bậc
Đại Sĩ ra vẻ muốn nói chuyện, quân hầu liền
thưa:
- Thưa Chúa công, ngài vừa uống một liều bơ tươi thật mạnh, cớ sao ngài
lại trò chuyện với lão Bà-la-môn khốn nạn này?
Thế là họ ng ăn ng ài lại. Khi lão kia
bước vào, lão không tìm được chỗ ngồi cũng
không có chỗ n ào đứng b ên tọa
sàng của ngài được, l ão liền bước qua
lớp phân bò ẩm ướt rồi đứng lại. Lúc ấy một kẻ
nh ìn thấy lão, liền dụi mắt, một kẻ nhướng mày và một kẻ gãi cùi chỏ.
Lão thấy vậy, bực mình bảo:
- Thưa bậc Trí giả, ta đi đây.
Một kẻ khác đáp:
- Ô hay, tên Bà-la-môn khốn nạn kia, đừng l àm
ồn ào, nều không ta sẽ bẻ gãy xương ngươi ra.
Lão hoảng hốt nhìn lui, thì một kẻ lấy gậy
đánh lưng l ão, kẻ khác nắm cổ lão đẩy
ra, kẻ khác đấm v ào lưng lão cho đến lúc
l ão kinh hoàng bỏ chạy như con hươu trong miệng hổ báo và trở về
cung.
Lúc bấy giờ vua nghĩ thầm: "Hôm nay vương nhi sẽ hài lòng khi
được tin n ày. Hai bậc Trí giả sẽ
đ àm đạo
tương đắc biết bao về đạo pháp. Hôm nay họ sẽ giải h òa và ta sẽ là
người thắng cuộc", vì thế khi vua thấy Kevatta, ông liền ngâm kệ hỏi về cuộc
đ àm đạo ấy:
76. Việc ngài hội kiến Ma-sa-dha,
Diễn tiến ra sao, Ke-vat-ta,
Xin hãy nói ngay cho trẫm biết,
Ma-sa-dha có muốn cầu hòa?
Kevatta đáp lại:
- Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ đó l à
bậc Trí giả, nhưng thật chẳng có kẻ nào tồi tệ hơn nữa.
Và lão ngâm kệ:
77. Kẻ kia bản chất thật gian tà,
Tâu Đại vương, ngoan cố, xấu xa,
Khó ch ịu, tính tình đầy độc ác,
Như người câm điếc, chẳng lời ra.
Lời này không làm vừa lòng vua, nhưng vua cũng không bắt bẻ gì
được. Vua liền ban cho Kevatta v à
đám hầu cận mọi thứ cần d ùng và một ngôi
nhà để ở, rồi bảo l ão lui về an nghỉ.
Sau khi lão đi rồi, vua nghĩ thầm: "Vương nhi l à
bậc Trí, biết rõ cách cư xử nhã nhặn, tuy thế vương nhi lại không muốn nói
chuyện lịch sự với lão này, cũng không muốn thấy lão, chắc hẳn vương nhi
đ ã thấy nguyên cớ bất an sau này rồi".
Và ông ngâm kệ:
78. Quyết định n ày sao khó hiểu vầy,
Một nguyên nhân thật rõ ràng thay,
Được người dũng cảm n ày tiên
đoán,
V ì vậy thân ta rung động đây,
Ai sẽ l à người mất tính mạng,
Và rơi vào địch thủ cao tay?
Chắc chắn vương nhi đ ã thấy mối nguy
hại nào đó trong cuộc viếng thăm cũa l ão
Bà-la-môn này. Lão chẳng đến đây v ì mục
đích thân hữu đâu. Ắt hẳn l ão muốn lôi
kéo ta bằng sắc dục, khiến ta phải đến kinh th ành
của lão rồi bắt lấy ta. Bậc Trí giả chắc thấy trước nguy cơ nào đó sắp xảy ra?". Trong
lúc vua đang quay cuồng lo lắng với những ý nghĩ trong đầu, th ì bốn
hiền thần bước vào. Ông bảo Senaka:
- Này Senaka, khanh nghĩ trẫm có nên đến th ành
Uttarapãncàla và cầu hôn công chúa Cùlani ch ăng?
Lão đáp:
- Tâu Đại vương, sao Đại vương lại nói vậy?
Khi duy ên lành đến Đại vương, ai dám xua
đuổi nó được? Nếu Đại vương đến đó v à cầu hôn công chúa, thì chẳng có
vị vua nào sánh bằng Đại vương trong toàn cõi Diêm-phù đề trừ vua Cùlani
Brahmadatta, vì Đại vương đã kết duyên được với công chúa của vị Đại đế đệ
nhất. Đại đế kia biết các vương tử khác đều chỉ là chư hầu của ngài, còn vua
Vedeha duy nhất có thể sánh bằng ngài thôi, nên mới mong gả công chúa diễm
lệ vô song ấy. Xin Đại vương cứ l àm theo
lời ngài và chúng thần cũng sẽ được ban tặng y
phục c ùng vật trang hoàng.
Khi vua hỏi các vị kia, họ cũng đều trả lời
như vậy. Trong lúc họ đang đ àm đạo th ì
lão Bà-la-môn Kevatta từ tư dinh đến tạ từ vua
để ra về, l ão nói:
- Tâu Đại vương, thần không thể ở lại đây
được nữa, xin cho phép thần ra về, tâu Chúa thượng.
Vua trọng đ ãi lão rồi cho lão ra về.
Khi bậc Đại Sĩ hay tin l ão
đi rồi, ng ài tắm rửa, thay quần áo và
vào chầu vua, cung kính bái vua rồi ngồi qua một bên. Vua nghĩ thầm: "Vương nhi
Mahosadha là bậc Trí giả vĩ đại, đầy t ài
ứng biến, thông hiểu quá khứ hiện tại và vị lai, vậy sẽ biết
được ta n ên
đi hay không". Tuy thế, bị m ê mờ vì tham dục, vua không giữ
được quyết định đầu ti ên, và ngâm kệ
hỏi:
79. Sáu người một ý thật hòa đồng
L à các bậc hiền trí thượng nhân,
Đi, hoặc không đi v à ở lại,
Ma-ho-sad hãy nói ta cùng.
Lúc ấy bậc Trí giả nghĩ thầm: "Vua này ham
đắm sắc dục quá độ, n ên mù quáng đi ên
rồ nghe theo lời bốn lão kia. Ta sẽ bảo cho vua biết việc ra
đi tai hại dường n ào và can gián ngài".
Thế là ngài ngâm bốn vần kệ sau:
80. Ngài có biết ch ăng, tâu Đại vương,
C ù-la-ni thế lực hùng cường,
Vua kia muốn giết ngài như thể,
Lập hố bắt nai với lúa hương!
81. Như cá tham ăn, không nhận thấy,
Lưỡi câu giấu kín dưới mồi ngon,
Một người đời chẳng hề trông thấy,
Bóng dáng đâu đây của tử thần.
82. Cũng vậy, đầy tham dục, Đại vương,
Không sao nhận thấy vị công nương,
Con C ù-la đế l à thần chết,
Vì chính ngài là một thế nhân.
83. Đại vương cứ đến P ãn-cà-la,
Và tự diệt vong chốc lát mà,
Như chú nai kia lâm đại nạn,
Tr ên con đường nọ bị sa cơ.
Nghe lời quở trách nặng nề như thế, vua nổi cơn thịnh nộ: "Gã này tưởng
ta là nô lệ của gã". Ông nghĩ thầm: "Gã quên rằng ta là vị chúa tể,
gã biết rằng vị Đại đế kia nhắn gả công chúa
cho ta m à không nói ra được một lời chúc
tụng tốt l ành nào, lại dám tiên đoán ta
sẽ bị bắt, rồi bị giết như con nai ngu xuẩn hay con cá mắc câu hoặc
con hươu bị bắt trên đường". Lập tức vua ngâm
kệ:
84. Trẫm thật điếc ngấm câm, ngu dại thay,
Hỏi ngươi những việc tối cao vầy!
L àm sao ngươi hiểu như người khác
Khi đ ã lớn lên bám lưỡi cày?
Cùng với những lời thóa mạ này, vua phán:
- Gã nông dân này đang cản trở duy ên
may của trẫm, hãy cút đi!
Rồi ông ngâm kệ, để tống ng ài ra:
85. Bắt lấy gã này, tóm cổ mau,
Tống ra khỏi xứ sở ta nào,
Con người dám nói hòng ng ăn cản,
Việc trẫm sắp đi lấy bảo châu!
Nhưng ngài thấy vua thịnh nộ, liền nghĩ thầm: "Nếu có kẻ nào tuân lệnh
vua lôi cổ, nắm tay ta hay đụng v ào thân
ta, ta sẽ bị ô nhục đến ng ày tàn, vậy ta
muốn tự mình ra đi m à thôi". Thế là ngài
từ tạ vua về tư dinh.
Lúc bấy giờ vua chỉ nói thế trong cơn thịnh nộ, nhưng vì kính nể bậc
Đại Sĩ n ên ông không ra lệnh cho ai thi
hành điều ấy cả. Bậc Đại Sĩ lại nghĩ thầm: "Vua
n ày thật ngu muội, không biết chuyện lợi hại cho mình. Vua lại
đang si t ình, nên
định đi đón công chúa về, m à không thấy
hiểm họa đang kề gần, sẽ đi đến chỗ diệt vong.
Ta không n ên bận tâm đến lời lẽ của vua.
Đó l à Đại ân nhân của ta, đ ã hậu
đ ãi ta lâu nay. Ta phải tỏ lòng trung
thành với vua, nhưng trước hết ta phải cho gọi chim két vào và tìm hiểu sự
thật, rồi ta sẽ đích thân đi việc n ày".
Thế là ngài cho gọi chim két.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
86. Sau đó ng ài
đi khuất mắt vua,
Nói cùng chim két Mà-tha-ra:
" Đến đây, anh vũ m àu xanh lục,
Bạn hãy làm công việc giúp ta.
87. Pãn-cà Đại đế có May-nah,
Canh giữ vương s àng của đức vua,
Hỏi nó ngọn nguồn, v ì nó biết,
Điều cơ mật của Ko-si-ya".
88. M à-tha-ra, trí điểu nghe rồi,
Két lục bay đi đến tận nơi,
Trú ngụ chim May-nah quý tộc,
Ma-tha-ra trí điểu trao lời,
Với May-nah giọng du dương ấy,
Trong chiếc lồng son đẹp tuyệt vời:
89.- Bạn ơi, bạn có được khang an,
Trong chiếc lồng v àng của bạn ch ăng,
Hạnh phúc có tr àn đầy, Vệ-xá,
Họ cho bạn đủ mật, ngô rang?
90. Em đầy an lạc, hỡi Tôn ông,
Quả thật nơi đây hạnh phúc tr òn,
Họ tặng em ngô rang, mật ngọt;
Hỡi Anh vũ có trí tinh thông,
Sao ngài đến, vậy ai sai đến,
Em chẳng hề nghe thấy quý ông?
Khi nghe vậy, két nghĩ thầm: "Nếu ta bảo ta từ Mithilà
đến, chắc nó chẳng bao giờ tin cậy ta, v ì
lo bảo vệ sinh mạng mình. Trên đường đi ta có
thấy kinh th ành Aritthapura, trong quốc
độ Sivi, vậy ta sẽ bịa chuyện nói l à vua Sivi phái ta
đến đây". Két bảo:
91. Ta là thị giả Chúa Si-vi,
Ở chính trong cung điện xứ kia,
Từ đó vị minh quân giải thoát,
Các t ù nhân được tự do đi.
Chim Maynah liền cho két bắp rang tẩm mật cùng nước mật
để sẵn cho nó tr ên dĩa vàng, rồi bảo:
-Thưa Tôn ông, ngài từ phương xa đến, ng ài
mang theo những vật gì?
Két bịa chuyện, vì muốn biết điều bí mật v à
đáp:
92. Ta có vợ hiền một thuở xưa,
Du dương tiếng hót, một May-nah,
Rồi chim ưng nọ vồ nàng chết,
Mang xác nàng đi trước mắt ta.
Chim Maynah hỏi:
- Làm thế nào diều hâu giết hại hiền tỷ
được?
Két liền kể câu chuyện này:
- Cô nương hãy nghe đây. Một ng ày nọ
vua ta cho phép ta dự tiệc nước của ngài. Ta và hiền thê cùng
đến nô đ ùa. Buổi chiều tối chúng ta cùng
vua trở về cung, muốn cho lông khô ráo, ta cùng hiền thê bay ra
đậu tr ên nóc cung
điện. Lúc ấy một con diều hâu s à xuống
chụp lấy chúng ta khi chúng ta vừa rời nóc cung, ta kinh hoảng bay nhanh
để bảo vệ tính mạng, c òn hiền thê ta
đang thai nghén n ên không bay nhanh
được, thế l à nó giết hại nàng ngay trước
mắt ta và tha đi. Đức vua thấy ta thương khóc v ì
mất nàng nên hỏi nguyên do. Khi nghe sự việc xảy ra, ngài phán: "Thôi hiền
hữu, thế là đủ rồi, đừng khóc nữa, hiền hữu h ãy
đi t ìm vợ khác".Ta
đáp: "Tâu Chúa công, tiểu thần đâu cần cưới một
vợ khác độc ác xấu xa? Tiểu thần sống một m ình tốt hơn". Ngài bảo:
-"Này hiền hữu, trẫm biết một con chim đức hạnh
như vợ bạn, cận thần của vua C ùlani cũng là một chim Maynah như vợ
bạn vậy. Hãy đi cầu hôn n àng. Xin nàng
đáp lại. Nếu n àng ưng thuận, hãy
đến nói cho trẫm r õ, trẫm hoặc hoàng hậu
sẽ đi cưới n àng về thật trọng thể". Nói
xong, ngài phái ta đi, v ì thế ta
đến đây.
Két lại nói:
93. Yêu quý vợ hiền, ta đến đây,
Nếu nàng cho phép, tự hôm nay,
Chúng ta có thể cùng nhau hưởng,
Cuộc sống lứa đôi hạnh phúc thay.
Lời này khiến Maynah vô cùng đẹp ý nhưng
không muốn lộ ý ra, n àng đáp như thể
không ưng thuận:
94. Anh vũ phải yêu Anh vũ thôi,
May-nah kết hợp May-nah hoài,
Làm sao có thể đem h òa hợp,
Anh vũ, May-nah thật đẹp đôi?
Két nghe vậy nghĩ thầm: "Nàng đâu khước từ
ta, n àng chỉ làm ra vẻ quan trọng thế thôi, chắc chắn nàng yêu ta
thật tình rồi. Ta sẽ tìm lời ví von cho nàng tin tưởng ta". Vì thế két bảo:
95. Khi kẻ si tình yêu quý ai,
Dù Chiên- đ à hạ liệt mà thôi,
Họ đều đồng đẳng b ên nhau cả,
Trong ái tình không có khác sai.
Nói xong, két lại tiếp tục hỏi về mức độ
khác nhau trong d òng giống loài người:
96. Mẫu thân của Chúa thượng Si-vi,
Tên gọi là Jam-bà-va-tì,
Bà đ ã được
l ên ngôi chánh hậu,
Và Su Hắc đế vẫn y êu vì.
Lúc bấy giờ mẫu hậu của vua Sivi, bà Jambàvatì, thuộc dòng Chiên- đ à-la,
là ái hậu của vua Vàsudeva, một vị vua trong bộ tộc Kanhàgana, vị thái tử
trong số mười hoàng tử. Chuyện kể rằng, một ngày nọ ngài từ cung Dvàravatì
vào ngự viên, trên đường ng ài gặp một
kiều nữ đứng b ên vệ
đường, trong lúc n àng
đi l àm công chuyện từ làng Chiên- đ à-la
của nàng đến thị trấn, vua y êu nàng ngay
rồi hỏi gốc gác nàng, khi nghe là một kẻ Chiên- đ à-la,
vua rất buồn phiền, song khi biết nàng chưa chồng, ngài trở về cung ngay,
mang theo nàng về cung và trang điểm n àng
với đủ loại trân bảo rồi phong n àng làm
chánh hậu. Nàng sinh hạ được một ho àng
nam Sivi sau đó cai trị thần dân Dvàravatì
khi vua cha mất.
Sau khi nêu gương ấy xong, két lại tiếp tục:
- Như vậy, ngay một vương tử như vua kia còn sánh duyên với một thiếu nữ
Chiên- đ à-la, huống hồ chúng ta chỉ ở thế
giới loài vật? Nếu ta muốn sánh duyên với nhau thì chẳng có gì phải nói thêm
nữa.
Và két đưa ra một gương khác như sau:
97. Ra-tha-va nọ, một tiên nga,
Cũng đ ã từng yêu quý Vac-cha,
Người ấy đ ã yêu loài thú vật,
Trong tình yêu chẳng khác nhau mà.
Vaccha là một ẩn sĩ và cách chàng yêu nàng như sau: Ngày xưa, một
Bà-la-môn thấy rõ những tội lỗi của tham dục, nên từ bỏ cảnh phú quý xuất
gia tu hành, sống trong vùng Tuyết Sơn dưới túp lều lá tự xây. Không xa lều
này có một bầy tiên (nửa người nửa thú) sống trong hang
đá, c ùng nơi ấy lại có một con nhện. Con
nhện này thường gi ăng tơ đâm thủng đầu các ti ên
nữ này để hút máu. Lúc bấy giờ các ti ên
cô yếu đuối v à nhút nhát, con nhện thì
hung bạo độc ác, n ên họ không làm gì
chống lại nó được, liền đến gặp ẩn sĩ. Đảnh lễ
xong. họ kể cho ông nghe câu chuyện con nhện đang t àn phá họ như thế
nào và họ bơ vơ không ai giúp đỡ, n ên họ
xin ông giết con nhện để cứu họ. Nhưng vị ẩn sĩ
đuổi họ ra v à la lên:
- Người như ta không sát sinh.
Một tiên nữ trong đám n ày tên là
Rahavati chưa chồng và họ trang điểm cho n àng
thật diễm lệ rồi đem đến ẩn sĩ bảo:
- Xin cho nàng này làm thị nữ của ngài và xin ngài giết kẻ thù của chúng
tiện nữ.
Khi ẩn sĩ thấy nàng đem l òng yêu ngay
và giữ nàng lại với mình, rồi nằm đợi con nhện
ở miệng hang, khi nó b ò ra kiếm mồi, liền lấy gậy giết nó, sau
đó vị n ày sống với cô tiên, sinh con
đẻ cái với n àng rồi qua
đời, như vậy ti ên nữ
đ ã yêu vị này.
Con két kể gương này xong, liền bảo:
- Ẩn sĩ Vaccha, dù là người, vẫn sống với một tiên nữ thuộc nòi giống
vật. Thế thì sao ta lại không làm như vậy, khi ta
đều l à loài chim?
Nghe xong, nàng đáp lại:
- Thưa tôn ông, con tim không phải lúc nào cũng chung thủy, em rất sợ
cảnh chia ly với bạn tình.
Nhưng két ta là con vật khôn ngoan hiểu rõ mọi trò quyến rủ của nữ giới,
nên ngâm kệ này thử nàng thêm nữa:
98. Quả thật ta gần cất cánh xa,
Hỡi nàng thánh thót giọng May-nah,
Đây là lời chối từ ta đấy,
Chắc chắn nàng đang khinh bỉ ta.
Nghe vậy nàng thấy tim dường như muốn vỡ ra, nhưng trước mắt chàng, nàng
làm như thể đang bừng cháy l ên một tình
yêu mới mẻ đối với ch àng, liền ngâm một
vần kệ rưỡi như sau:
99-100. Không phước lành cho kẻ vội vàng
Mà-tha-ra, két lục khôn ngoan,
Ở đây cho đến khi triều kiến,
Chúa thượng v à nghe tiếng dậy vang,
Của các trống chiêng khua đủ loại,
V à nhìn Đại đế đẹp huy ho àng.
Thế rồi lúc hoàng hôn xuống, chúng vui chơi cùng nhau, hưởng trọn tình
bằng hữu hân hoan thích thú. Lúc ấy, két nghĩ thầm: "Nay nàng không giấu bí
mật với ta nữa, ta phải hỏi nàng rồi ra đi".
- Này nàng Maynah hỡi-Chàng bảo.
- Thưa chàng, có việc gì?
- Ta muốn hỏi nàng một vài chuyện. Có nên nói ch ăng?
- Xin chàng cứ nói.
- Thôi được, không hề g ì, hôm nay là
ngày hội, để ng ày kia sẽ xem lại sao.
- Nếu thuận tiện trong ngày hội xin chàng cứ nói, còn nếu không thì thôi
đừng nói nữa, thưa ch àng.
- Đúng ra chuyện n ày thuận tiện trong
ngày hội.
- Vậy xin chàng nói đi.
- Nếu nàng muốn nghe, ta mới nói.
Rồi két hỏi chuyện bí mật trong một vần kệ rưỡi như sau:
100-101. Tiếng đồn n ày thật lớn
truyền ra,
Khắp cả miền đất nước của ta:
Công chúa P ãn-cà-la Đại đế,
Như sao rực sáng, được vua cha,
Đem gả Vi-đề-ha quý tộc,
Lễ th ành hôn sắp đến đây m à!
Nghe vậy, nàng bảo:
- Này chàng ơi, trong ngày hội này mà chàng nói chuyện xui xẻo quá!
- Ta cho đó l à chuyện may mắn, sao
nàng lại bảo xui xẻo, thế là nghĩa gì?
- Thưa chàng em không nói được đâu.
- Cô nương ơi, từ giờ phút nàng từ chối cho ta rõ bí mật mà nàng biết,
thì mối lương duyên của đôi ta chắc phải đứt
đoạn.
Nghe chàng nài nỉ, nàng liền đáp:
- Vậy thì chàng hãy nghe đây:
102. Đừng để cho ai, dẫu kẻ thù,
Tác thành hôn lễ, Ma-tha-ra,
Giống như cách của hai vua ấy,
Pãn-cà-la và Vi- đế-ha.
Két hỏi:
- Cô nương ôi, tại sao nàng bảo như vậy?
Nàng đáp:
- Xin hãy nghe đây, em sẽ nói mọi tai hại
của việc n ày.
Rồi nàng ngâm kệ:
103. Vua hùng của xứ Pañ-cà-la,
Sẽ quyến rủ vua Vi- đế-ha,
V à sẽ giết vua kia lập tức,
Nàng đây chẳng phải bạn đâu m à.
Nàng kể mọi chuyện bí mật cho két khôn ngoan và con két khôn ngoan nghe
vậy cứ khen ngợi Kevatta hết lời:
- Vị Đại sư thật l à
đa mưu túc kế, giết vua kia như vậy thật l à
diệu kế. Nhưng việc rủi ro nào sẽ xảy ra cho ta
đây?
- Vậy giữ yên lặng là thượng sách.
- Thế là cuộc hành trình của két đ ã
đạt kết quả. Sau khi ở lại đó một đ êm
với nàng, két bảo:
- Cô nương ơi, ta phải về xứ vua Sivi và tâu trình vua là ta
đ ã tìm được
một ái th ê.
- Rồi két từ giã nàng qua câu kệ:
104. Nay xin từ giã bảy đ êm trường,
Ta sẽ tâu trình với Đại vương,
Của xứ Sivi, ta đ ã gặp,
May-nah và lập tổ uyên ương.
Lúc bấy giờ chim Maynah, dù không muốn xa két cũng không thể nào từ chối
được, liền ngâm kệ sau:
105. Em để ch àng
đi trong bảy đ êm,
Sau nếu chàng không trở lại em,
Em sẽ tự mình tìm nắm mộ,
Chàng về em cũng sẽ quy tiên!
Két đáp lại:
- Cô nương ơi, sao nàng lại nói thế, nếu sau bảy ngày ta không gặp nàng,
làm sao ta sống được?
Miệng nói thế, nhưng trong lòng két nghĩ thầm: "Nàng sống hay chết, ta
đâu có quan tâm đến l àm gì?". Két vươn
cao đôi cánh, sau khi bay một khoảng ngắn về
phía xứ Sivi, nó quay lại về hướng th ành Mithilà. Rồi
đứng tr ên vai bậc Trí giả, khi bậc
Đại Sĩ đem nó l ên thượng lầu và hỏi tin
tức, nó kể với ngài tất cả. Ngài ban thưởng nó trọng thể như trước kia.
*
Bậc Đạo Sư giải thích chuyện n ày như
sau:
106. Rồi Mà-tha, két khôn ngoan,
Trình Ma-ho-sad Trí nhân sự tình.
*
Nghe xong bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Nh à
vua sẽ đi, d ù ta muốn hay không cũng vậy
và nếu ngài đi, ng ài sẽ bị tiêu diệt
ngay. Còn nếu ta cứ oán hận một vị vua đ ã
ban cho ta nhiều phú quý vinh hoa như vậy mà không giúp ích ngài, thì thật
đáng hổ thẹn. Khi t ìm
được một người t ài trí như ta, làm sao
người bị tàn hại được? Ta sẽ khởi h ành
trước vua và sẽ gặp vua Cùlani, ta sẽ sắp đặt
mọi việc chu đáo. Ta sẽ xây một kinh th ành cho vua Vedeha ngự với một
lối đi nhỏ hơn d ài một dặm và một
đường hầm lớn d ài nửa dặm. Ta sẽ làm lễ
thụ phong công chúa của vua Cùlani làm vương hậu của vua ta, rồi ngay khi
kinh thành bị một tr ăm lẻ một vương hầu c ùng
đạo binh mười tám vạn quân sĩ bao vây, ta sẽ
cứu chúa như thể mặt trăng được cứu khỏi móng vuốt của thần R àhu
(La-hầu) rồi đưa ng ài về nước. Việc ngài
hồi cung chỉ ở trong tay ta".
Khi ngài nghĩ như vậy, nỗi hân hoan tràn ngập khắp châu thân, rồi do niềm
hân hoan thúc đẩy, ng ài thốt lên ước
nguyện này:
107. Con người luôn phải thực hành,
Vì quyền lợi của người mình thọ ân.
Sau đó ng ài tắm rửa xoa dầu thơm
xong, phục sức cực kỳ sang trọng đi v ào
cung, kính lễ vua, rồi liền đứng sang một b ên.
- Tâu chúa thượng-ngài tâu-Chúa thượng sắp ngự xa giá
đến kinh th ành Uttarapãncàla ch ăng?
- Phải đấy vương nhi, nếu trẫm không chiếm
được công chúa Pa ñcàlacandì, thì vương quốc này có nghĩa gì
đối với trẫm? Vương nhi đừng rời trẫm nữa, h ãy
cùng đi với trẫm. Đến đó, trẫm sẽ được hai mối
lợi lớn: "Trẫm sẽ được đệ nhất nữ báu v à kết thân với vị vua kia ".
Bậc Đại Trí liền đáp:
- Tâu Chúa thượng, tiểu thần sẽ đi trước,
xây cung điện cho Chúa thượng ngự, Chúa thượng sẽ đến khi tiểu thần tâu tr ình
về.
Nói xong ngài ngâm hai vần kệ:
108. Thần sẽ ra đi trước Đại vương,
Đến kinh th ành tráng lệ huy hoàng,
Pãn-cà-la để xây cung điện,
Dâng chúa Vi-đề- ha vẻ vang.
109. Khi n ào thần đ ã dựng xây
xong
Dâng chúa Vi- đề m ỹ lệ cung,
Thần sẽ tâu trình ngài đến ngự,
Hỡi vị chúa tể đại anh h ùng!
Vua nghe vậy rất đẹp l òng, vì thấy
ngài không bỏ mặc ông, nên bảo:
- Này vương nhi, nếu con đi trước, con có
cần g ì ch ăng?
- Tâu Đại vương, tiểu thần cần một đạo binh.
- Vương nhi muốn cứ đem bao nhi êu tùy
ý.
Bậc Trí giả nói tiếp:
- Tâu Chúa thượng, xin cho mở bốn ngục thất, phá xiềng xích các kẻ cướp
bóc và cho họ cùng đi với tiểu thần.
- Vương nhi cứ làm như ý muốn- Vua bảo.
Bậc Đại Sĩ cho mở các cửa ngục, đem ra những
kẻ anh h ùng, dũng mãnh, có thể làm phận sự khi
được giao v à bảo họ phụng sự ngài. Ngài
trọng đ ãi các kẻ này và
đem theo ng ài mười tám
đo àn thợ hồ, thợ rèn, thợ mộc, thợ sơn,
những người có tài thủ xảo, mỹ thuật trang bị
đầy đủ lưỡi dao, xẻng cuốc v à nhiều dụng cụ khác. Với
đo àn tùy tùng rầm rộ như vậy, ngài từ
giã kinh thành.
*
Bậc Đạo Sư diễn tả việc n ày qua vần
kệ sau:
110. Bậc Đại trí liền cất buớc ra,
Đến th ành hoa lệ Pañ-cà-la,
Để xây dựng thật nhiều cung điện,
Dâng chúa vinh quang Vi-đế-ha.
*
Trên đường đi, bậc Đại Sĩ xây l àng ở
mỗi dặm đường, giao cho một vi ên quan ở
lại đảm trách mỗi ngôi l àng, với lời c ăn
dặn:
- Để dự ph òng việc vua hồi cung cùng
công chúa Pañcàlacandì, các ông phải chuẩn bị voi ngựa, chiến xa
để đánh đuổi quân th ù, rồi tức tốc
đưa đức vua về th ành Mithilà.
Khi đến bờ sông Hằng, ng ài gọi
Ànandakumara đến v à bảo:
- Này Ànanda, hãy đem ba trăm thợ mộc đến
thương lưu sông Hằng, t ìm loại gỗ thật tốt,
đóng ba trăm chiếc thuyền, bảo họ chặt thật
nhiều gỗ tích trữ cho kinh th ành, chở gỗ nhẹ cho
đầy thuyền v à mang về
đây.
Ngài cũng đích thân đi thuyền vượt qua sông
Hằng v à từ chỗ ngài cập bến, ngài tính khoảng cách và nghĩ thầm:
"Khoảng cách này chừng nửa dặm, phải có một
đường hầm lớn, ch ỗ này phải xây thành cho vua ngự, từ chỗ này về
cung, xa chừng một dặm phải có lối đi nhỏ". Ng ài
đánh dấu chỗ đó xong rồi v ào thành.
Khi vua Cùlani nghe tin Bồ-tát đến, ông rất
h ài lòng, vì ông nghĩ: "Bây giờ tâm nguyện của ta
đ ã thỏa mãn, gã ấy
đ ã đến,
chẳng bao lâu vua Vedeha cũng đến, thế l à ta giết trọn cả hai và biến
toàn cõi Diêm-phù- đề th ành một quốc
độ".
Cả kinh thành sôi động l ên. Họ
đồn đại:
- Đấy l à bậc Trí giả Mahosadha, người
đ ã đánh
đuổi một trăm lẻ một vương tử như thể con quạ bị ném h òn
đá cho hoảng sợ.
Bậc Đại Sĩ tiến v ào cổng thành trong
lúc dân chúng chiêm ngưỡng dung mạo tuyệt đẹp
của ng ài, rồi ngài xuống xe, nhờ người trình vua. Vua bảo:
- Đưa vị ấy v ào.
Và ngài vào cung, triều bái vua rồi ngài ngồi xuống một bên. Vua nhã nhặn
nói chuyện với ngài, rồi hỏi :
- Này vương tử, khi nào đại vương đến?
- Tâu Chúa thượng, khi nào tiểu thần thỉnh cầu ngài.
- Nhưng cớ sao vương tử đến đây?
- Thần đến để xây cung điện cho Đại vương
của thần ngự, tâu Chúa thượng.
- Này vương tử, thế thì tốt lắm.
Vua liền cho phép ngài được một đám cận vệ
theo hầu, trọng đ ãi ngài rất hậu hỷ, ban cho ngài một tư thất rồi
phán:
- Này vương tử, cứ ở đây cho đến khi Đại
vương ngự đến, nhưng đừng ăn không ngồi rồi, m à phải làm những việc
đáng l àm.
Ngay khi ngài vào cung, đứng ở bậc thang
gác, ng ài nghĩ thầm: "Ở đây phải l àm
cửa hầm nhỏ ấy", ngài lại nghĩ đến điều n ày:
"Nhà vua này bảo ta phải làm những việc cần làm, vậy ta phải cẩn thận
để thang gác n ày khỏi sập trong khi ta
đang đ ào hầm". Rồi ngài tâu vua:
- Tâu Chúa thượng, khi tiểu thần bước vào
đứng b ên chân cầu thang, nhìn vào công trình mới xây này, tiểu thần
thấy một khuyết điểm trong cầu thang lớn n ày.
Nếu Chúa thượng ưng thuận, xin phán bảo cho phép tiểu thần sửa sang lại.
- Này vương tử, tốt lắm, cứ làm đi.
Ngài quan sát chỗ ấy cẩn thận, định nơi l àm
lối ra của đường hầm rồi ng ài dời cầu
thang đi nơi khác v à
để cho đất chỗ ấy khỏi sụp, ng ài
đặt một s àn gỗ giữ cầu thang thật chắc
chắn cho nó khỏi sụp. Nhà vua vô tình tưởng ngài làm việc này vì thiện ý cho
mình. Bậc Đại Sĩ ở đó một ng ày xem xét
việc sửa chữa, rồi hôm sau trình vua:
-Tâu Chúa thượng, nếu tiểu thần được biết
Đại vương của tiểu thần sẽ phải ngự ở đâu, tiểu thần sẽ xin thu xếp chu đáo
việc đó.
- Này bậc Trí giả, tốt lắm, ngài cứ chọn nơi nào ngài muốn trong kinh
thành này, trừ cung điện trẫm ra thôi.
- Tâu Đại vương, chúng thần l à ngoại
nhân, Đại vương có nhiều bậc trọng thần, nếu
chúng thần chiếm tư dinh của họ, binh sĩ của Đại vương sẽ gây chiến với
chúng thần. Vậy chúng thần phải l àm sao
đây?
- Này bậc Trí giả, đừng nghe họ, cứ chọn nơi
n ào vừa ý ngài là được.
- Tâu Đại vương, họ sẽ đến k êu nài
với Đại vương m ãi, việc ấy sẽ không làm
Đại vương h ài lòng
đâu. Song nếu Đại vương ban phép, chúng thần sẽ
đến canh giữ cho đến khi chiếm xong các tư thất ấy, họ sẽ không đi ra cửa
được, m à rồi phải bỏ đi thôi. Như vậy cả
Đại vương lẫn chúng thần đều được toại ý.
Vua chấp thuận.
Bậc Đại Sĩ liền cho quân hầu canh ở chân v à
đầu cầu thang, ở đại ho àng môn và khắp
nơi, rồi ra lệnh không cho ai đi qua cả. Ng ài
lại ra lệnh cho quân hầu đến cung thái hậu, l àm
như thể sắp phá cung. Khi họ bắt đầu gỡ ngói,
gạch, đất sét khỏi cổng v à tường, thái hậu nghe tin vội nói hỏi:
- Này các ngươi sao lại phá sập cung của ta?
- Bậc Trí giả Mahosadha muốn phá cung này để
xây cung khác cho đức vua của ng ài ngự.
- Nếu vậy thì các ngươi cứ ở cung này cũng
được.
- Đo àn tùy tùng của
Đại vương chúng thần rất đông đảo, cung n ày
không đủ, chúng thần phải xây cung rộng hơn cho
ng ài.
- Các ngươi không biết ta ư, ta là thái hậu, ta sẽ
đi gặp vương nhi xem lại việc n ày.
- Chúng thần đang thi h ành lệnh vua,
nếu lệnh bà ng ăn cản được th ì cứ làm.
Thái hậu nổi giận bảo:
- Để ta xem cách g ì trị các ngươi
đây. Rồi b à
đến cung môn, nhưng họ không để b à đi v ào.
- Này các khanh, ta là thái hậu mà.
- Chúng thần biết lệnh bà, nhưng đức vua ra
lệnh không cho ai v ào cả. Xin lệnh bà lui ra.
Bà không vào cung được đ ành
đứng nh ìn. Một tên quân hầu bảo:
- Lệnh bà làm gì đây, xin lui ra.
Gã nắm lấy cổ bà ném xuống đất. B à
nghĩ thầm: "Chắc chắn phải có lệnh vua, nếu không chúng không dám làm vậy
đâu. Ta t ìm gặp bậc Trí giả mới
được". B à hỏi ngài:
- Này Vương tử Mahosadha, tại sao Vương tử phá sập cung của ta?
Song ngài không muốn nói chuyện với bà. Một người
đứng cạnh đó hỏi:
- Tâu lệnh bà nói gì?
- Này nam tử, tại sao bậc Trí giả phá sập cung của ta?
- Để xây cung cho vua Vedeha ngự.
- Cớ sao vậy
n ày nam tử, trong kinh thành rộng lớn này ngài không tìm
được một cung thất n ào
để vua ngự sao? H ãy nhận lễ vật mọn này,
một tr ăm ng àn
đồng tiền v à thưa với ngài
đi xây dựng nơi khác.
- Tâu lệnh bà, thế thì tốt lắm, chúng thần sẽ
để y ên cung của lệnh bà, nhưng xin lệnh
bà chớ cho ai biết việc nhận lễ vật này để họ
khỏi lo lót cho chúng thần để y ên nhà của họ.
- Này nam tử, nếu họ kháo nhau rằng thái hậu phải cần lo lót thì nhục nhã
cho ta biết bao! Ta không cho ai hay đâu.
Người kia bằng lòng nhận một tr ăm ng àn
đồng tiền rồi rời cung. Sau đó g ã
đến cung Kevatta, l ão này vừa
đến cửa cung, đ ã bị cây tre quất vào
lưng tét cả da thịt mà cũng không vào cung
được, n ên cũng lo lót một tr ăm ng àn
đồng tiền . Cứ bằng cách n ày họ chiếm
nhà khắp kinh thành, để đ òi của
đút lót, họ thu được chín mươi triệu đồng tiền
v àng.
Sau đó bậc Đại Sĩ đi khắp kinh th ành,
rồi trở về cung. Vua hỏi ngài đ ã tìm ra
chỗ chưa. Ngài bảo:
- Tâu Đại vương, dân chúng đều muốn dâng nh à
cửa, nhưng khi chúng thần đến nhận gia sản, họ
hết sức âu sầu, chúng thần không muốn gây n ên sự bất mãn. Ngoài kinh
thành, khoảng một dặm, giữa kinh thành và sông Hằng có một nơi chúng thần có
thể xây cung điện cho Đại vương của chúng thần.
Vua nghe vậy liền đẹp ý, rồi ông nghĩ thầm:
"Đánh nhau trong kinh th ành thật nguy hiểm, vì khó phân biệt bạn thù,
chứ ngoại thành thì dễ đánh, vậy ta sẽ đánh
giết chúng ở ngoại th ành".
Thế là vua bảo:
- Được lắm, n ày Vương tử, cứ xây cung
ở chốn đ ã tìm
được.
- Tâu Đại vương, xin vâng lệnh. Nhưng dân
chúng không được đến nơi chúng thần xây cất để kiếm củi hay cây thuốc, nếu
không, chắc chắn sẽ có tranh chấp c ãi cọ không hay gì cho
Đại vương lẫn chúng thần.
- Tốt lắm, này Vương tử, cứ cấm hết lối ra vào phía ấy.
- Tâu Đại vương, bầy voi của chúng thần
thích vui đ ùa dưới nước, nếu nước sông bị khuấy
đục bẩn b ùn và dân chúng than phiền vì
Trí giả Mahosadha đến đây m à họ không có
nước sạch để uống, th ì xin
Đại vương lượng thứ việc ấy.
Vua đáp:
- Được, cứ cho voi xuống vui chơi.
Rồi vua truyền đánh trống ra lệnh:
- Kẻ nào đến chỗ bậc Trí giả Mahosadha đang
xây cung sẽ bị phạt một ng àn đồng tiền.
Sau đó, bậc Đại Sĩ tạ từ vua, c ùng
đám t ùy tùng ra ngoài thành bắt
đầu xây một th ành trì ở nơi
đ ã được d ành
riêng ra. Bên kia sông Hằng ngài đ ã xây
một ngôi làng đặt t ên là Gaggali. Nơi
đó ng ài dự trữ voi ngựa, xe pháo, trâu,
bò.
Chính ngài đích thân xây th ành ấy và
giao cho mỗi người một phận sự. Khi đ ã
phân chia nhiệm vụ xong, ngài bắt đầu xây đường
hầm lớn, miệng hầm ở tr ên bờ sông Hằng, có sáu mươi ngàn quân sĩ
đ ào hầm. Họ bỏ
đất mới đ ào vào các bao da vứt xuống
sông, hễ nơi nào đất được thả xuống th ì
bầy voi đến dẫm l ên, khiến sông Hằng vẩn
đục cả b ùn. Dân chúng than phiền rằng từ
khi ngài Mahosadha đến đây, họ không có nước
sạch để uống, nước sông vấy b ùn, phải làm sao
đây? Quân thám tử của bậc Đại Sĩ bảo họ rằng
bầy voi của ng ài đang chơi đ ùa
dưới nước làm khuấy bùn lên, cho nên nước mới
đục.
Lúc bấy giờ mọi dự định của Bồ-tát đều được
th ành tựu, vì thế trong hầm mới, các rễ cây, sỏi
đá đều ch ìm xuống
đất. Lối v ào
đường hầm nhỏ ở b ên trong kinh thành, có
bảy tr ăm quân đang đ ào hầm nhỏ ấy. Họ
mang đất trong bao da đổ v ào thành, mỗi
lần mang đến một đố ng, họ lại trộn với
nước xây một bức thành để d ùng vào việc
khác.
Còn lối vào hầm lớn nằm trong kinh thành có cửa vào, cao mười tám gang
tay, có máy móc để khi bấm một nút th ì
tất cả đều đóng chặt. Phía b ên kia hầm
được xây bằng gạch v à hồ vữa, mái lợp
ván, trét hồ vữa và sơn trắng. Bên trong có tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn
cửa nhỏ, tất cả đều được đóng lại hoặc mở ra
bằng một nút bấm. Tr ên mỗi phía đều có h àng
tr ăm ổ đ èn trang bị máy móc,
để khi một đ èn
được bật sáng th ì tất cả
đều bật, khi một đ èn
được tắt th ì tất cả
đều tắt.
Mỗi phía có một tr ăm lẻ một gian ph òng
cho một tr ăm lẻ một chiến vương. Trong mỗi ph òng
đặt một tọa s àng
đủ m àu, trong
đó lại có một trường kỷ lớn được che bằng lọng
trắng, mỗi ph òng lại có một chiếc ngai
đặt gần trường kỷ lớn ấy, một tượng mỹ nhân, nếu không sờ tay v ào thì
không ai bảo các tượng đó không phải người
thật.
Ngoài ra, trong mọi phía hầm, các họa sĩ tinh xảo
đ ã vẽ đủ
loại tranh: Cảnh huy ho àng của Thiên chủ
Đế Thích, các miền núi Sineru (Tu-di), các biển cả c ùng
đại dương bốn châu, d ãy Himavat (Tuyết
Sơn), hồ Anotatta, núi Hồng Thổ, mặt tr ăng, mặt
trời, c õi Tứ Thiên vương với sáu tầng trời cõi Dục và các thành phần
trong đó.
Tất cả đều hiện ra trong địa đạo n ày,
nền đất rải cát trắng như một phiến bạc, tr ên
các mái đầy hoa sen nở. Hai b ên có lều
quán đủ loại, rải rác các r èm hoa lơ
lững tỏa mùi thơm ngát. Như vậy họ trang hoàng
địa đạo rực rỡ chẳng khác n ào thiên đ ình
Sudhamma (Thiện Pháp đường ở c õi trời ba
mươi ba).
Lúc bấy giờ sau khi ba tr ăm thợ đóng ba trăm
chiếc thuyền xong, họ liền chất đầy thuyền mọi dụng cụ sẵn s àng lúc
cần đến, rồi đem xuống tr ình bậc Trí
giả. Ngài dùng họ ở kinh thành, bảo họ giấu chúng ở một nơi bí mật
để đưa chúng ra khi có lệnh ng ài.
Trong kinh thành các hào nước, trường thành, hoàng môn, tháp canh, cung
thất cho vương tử và nhà dân chúng, chuồng voi, hồ nước
đều đ ã xong xuôi. Như vậy
đại địa đạo v à tiểu
địa đạo c ùng toàn kinh thành
được xây xong trong bốn tháng .
Sau đó, bậc Đại Sĩ gởi sớ tr ình xin
vua đến ngự.
Khi vua được sớ, ông rất đẹp l òng,
liền cùng đo àn xa giá rầm rộ lên
đường.
*
Bậc Đạo Sư bảo:
111. Vị Đại vương c ùng bốn
đạo binh,
Bấy giờ liền ngự giá du h ành,
Cùng vô số cỗ xe hầu cận,
Đến viếng Kam-pil-la hiển vinh.
Vào giờ đ ã
định, vua đến sông Hằng, bậc Đại Sĩ ra lệnh đón
vua v ào kinh thành ngài vừa xây xong. Vua vào cung hưởng một bữa tiệc
cao lương mỹ vị và sau khi nghỉ ngơi một lát xong, về buổi chiều ông gửi
thông điệp báo cho vua C ùlani biết ông
đ ã đến.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
112. Khi đến nơi, vua nhắn gửi lời,
Với Brah-ma: "Kính lễ chân ng ài,
Xin ban công chúa làm vương hậu,
Nữ báu dung nhan thật tuyệt vời,
Đầy vẻ y êu kiều và khả ái,
Được đo àn thị nữ hộ lên ngôi".
Vua Cùlani hoan hỷ nhận được thông điệp,
nghĩ thầm: "Các quốc th ù của ta sẽ đến
đâu đây? Ta sẽ chặt đầu chúng ra v à nâng chén khải hoàn". Nhưng ông
chỉ làm ra vẻ hân hoan đón sứ giả rất trọng thể
rồi ngâm kệ sau:
113. Cung nghênh Đại chúa Vi-đề-ha,
Hạnh ngộ ng ày nay quả thật là!
Hãy chọn giờ lành mang hạnh phúc,
Trẫm đem công chúa tặng vương gia,
N àng đầy vẻ đẹp y êu kiều ấy,
Được đám cung tần hộ tống ra.
Sứ giả liền đi về tr ình vua Vedeha:
- Tâu Chúa công, Đại vương truyền: "H ãy
chọn giờ lành cho mối lương duyên này và trẫm sẽ kết duyên công chúa cho
ngài."
Vua gửi sứ giả trở lại tâu:
-Hôm nay chính là giờ lành!
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
114. Vi- đề chúa chọn giờ l ành xong,
Trình với Brah-ma-at Đại vương:
Xin gả công nưông l àm ái hậu,
Nữ nhân diễm lệ tuyệt trần gian,
Tròn đầy mọi vẻ y êu kiều ấy,
Được các cung phi hộ tống n àng.
115. Đại đế C ù-la-ni
đáp lại:
Ta ban ng ài nữ báu siêu phàm,
Tròn đầy mọi vẻ y êu kiều ấy,
Được các cung phi hộ tống n àng.
Nhưng khi vua bảo:
- Trẫm sẽ đưa công chúa vu quy ngay bây giờ.
Vua đ ã nói dối và ông ra lệnh cho một
tr ăm lẻ một vương hầu kia:
- Hãy chuẩn bị sẵn sàng ra trận với mười tám
đạo binh của các vị v à tiến lên, ta sẽ chặt
đầu hai kẻ th ù của ta và nâng chén khải
hoàn.
Vua để mẫu hậu ở lại trong cung cùng
hoàng hậu Nandà, hoàng tử Pañcàlacanda, công chúa Pañcàlacandì, cùng các
cung nga thị nữ khác rồi ra đi.
Bồ-tát tiếp đ ãi rất nồng hậu
đo àn đại
binh c ùng đến với vua Vedeha, kẻ uống
rượu, người ăn thịt, có kẻ nằm nghỉ mệt v ì
đường xa. C òn vua Vedeha, cùng với
Senaka và các vị kia ngồi trên bảo tọa cùng đám
cận thần.
Nhưng vua Cùlani đ ã bao vây thành bốn
vòng trong ba khoảng cách, thắp hàng tr ăm ng àn
ngọn đuốc rực trời, đứng sẵn s àng chiếm
lấy kinh thành ấy khi mặt trời mọc. Hay tin này, bậc
Đại Sĩ ra lệnh cho ba trăm chiến sĩ của ng ài:
- Các ngươi hãy đi theo đường hầm nhỏ, đưa
thái hậu, ho àng hậu, hoàng tử và công chúa về
đây qua đường hầm lớn nhưng đừng để cho các vị
ấy ra ngo ài bằng cửa hầm lớn, mà phải bảo vệ các vị ấy an toàn trong
đường hầm cho đến khi ta tới, rồi h ãy
đem họ ra khỏi hầm v à dẫn các vị vào
Đại sảnh.
Khi họ nhận chỉ thị xong, họ đi dọc đường
hầm nhỏ, đẩy tấm s àng dưới cầu thang, bắt lấy quân canh ở
đầu v à chân cầu thang, trên thượng lầu,
những tên gù cùng nhiều người khác, trói tay chân lại, nhét giẻ vào mồm họ
rồi giấu họ rải rác đây đó, xong lấy một số
thức ăn dâng l ên vua, phá hủy số thức ăn
c òn lại rồi lên thượng lầu.
Lúc ấy thái hậu Talatà không biết việc gì sẽ xảy ra, nên
đ ã bảo hoàng hậu Nandà cùng hoàng tử,
công chúa đến nằm chung với b à trên
giường. Ba chiến sĩ đứng ở cửa ph òng gọi
họ. Bà bước ra bảo:
- Việc gì thế các con?
Họ đáp:
- Tâu lệnh bà, Đại vương đ ã giết vua
Vedeha và Mahosadha, rồi biến toàn cõi Diêm-phù- đề
th ành một đế quốc. Ng ài
đang được một trăm lẻ một vị vương hầu vây
quanh nâng chén đại khải ho àn.Vì thế ngài phái chúng thần
đến đây rước lệnh b à cùng các vị kia
đến c ùng ngài.
Các vị ấy đi xuống tới chân cầu thang. Khi
quân sĩ đem họ v ào hầm, họ bảo:
- Suốt đời ta sống ở đây, chưa từng đi đường
n ày bao giờ.
Quân sĩ đáp:
- Người ta thường ít đi đường n ày hầm
này, đây l à con
đường hưởng lạc, v ì hôm nay là ngày hội
vui chơi nên thánh thượng bảo chúng thần đưa
các ng ài về lối này.
Họ tin lời ngay. Sau đó v ài quân sĩ
dẫn họ đi, c òn các người khác trở lại
cung vua, phá cửa kho tàng mang đi hết mọi báu
vật họ muốn lấy. Bốn vị kia đi v ào đường
hầm lớn, thấy chẳng khác n ào sảnh đường
huy ho àng của chư Thiên, nên cứ tưởng nơi này dành cho vua. Rồi họ
được đưa đến một nơi không d òng sông,
vào một cung thất đẹp trong đường hầm. V ài
quân sĩ canh chừng họ, còn các kẻ khác đi tâu
tr ình với Bồ-tát rằng họ đ ã
đến.
Bồ tát nghĩ thầm: "Nay tâm nguyện của ta sẽ tự viên mãn". Lòng
đầy hoan h ỷ, ngài bước vào yết kiến vua
rồi đứng qua một b ên. Vua
đang nôn nao khát vọng, nghĩ thầm: "Ng ài
đang đưa công chúa đến bây giờ, chính bây giờ
đây!". Rồi vua đứng dậy nh ìn qua cửa sổ. Lúc bấy giờ cả kinh thành
đang rực sáng trong h àng ngàn bó
đuốc v à bị bao vây trong
đạo binh rầm rộ gh ê hồn.
Đầy kinh h ãi và nghi hoặc, vua kêu lên:
- Cái gì thế?
Và ông ngâm kệ với các bậc Trí giả:
116. Voi, ngựa, cỗ xe, các đạo quân.
Mang b ào giáp đứng cả đo àn
đông
Rực trời ánh đuốc đang bừng cháy.
Ý nghĩ ý g ì ch ăng, các Trí nhân?
Senaka đáp:
- Xin Đại vương chớ sợ. Đám đuốc cháy rực,
thần đoán l à đức vua đang đem công chúa
đến cho Đại vương.
Pukkasa lại nói:
- Chắc chắn vua ấy muốn đón Đại vương thật
trọng thể n ên đ ã
đến đây với đo àn hộ tống.
Họ mặc tình tâu vua những điều họ thích.
Nhưng vua nghe các hiệu lệnh:
- Để một chi đội ở đây, một đội ph òng
vệ đằng kia, h ãy cẩn mật.
Vua lại thấy quân sĩ cầm khí giới, nên ông sợ mất hồn mong nghe
được một lời g ì của bậc
Đại Sĩ, liền ngâm kệ nữa :
117. Voi, ngựa, cỗ xe, các đạo quân,
Mang b ào giáp đứng cả đo àn
đông,
Rực trời ánh đuốc đang bừng cháy,
Ý nghĩa g ì ch ăng, hỡi Trí nhân.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Trước hết ta
phải l àm cho hôn quân si ám này khiếp
đảm một hồi đ ã, rồi ta sẽ tỏ oai lực của ta và trấn an sau". Ngài
liền nói:
118. Hoàng đế C ù-la-ni
đại cường,
Đang vây ng ài chặt, tấu minh quân,
Brah-ma-dat chính người gian trá,
Vua ấy sẽ tàn sát đại vương!
Nghĩ thế mọi người đều kinh hoảng đến mất
vía, cổ họng của vua khô cứng lại, không c òn nước bọt nữa, cơ thể ông
như đang bị thi êu
đốt, hoảng hồn như sắp chết, ông r ên rỉ
ngâm hai vần kệ sau:
119. Tim ta hồi hộp miệng khô rang,
Lòng dạ ta nay thật bất an,
Ta giống một người được đốt lửa,
Rồi đem phơi dưới nắng chang chang.
120. Như cháy b ên trong, lửa thợ rèn,
Bên ngoài chẳng có thể nào xem,
Lòng ta cũng vậy, đang bừng cháy,
Nhưng chẳng một ai có thể nh ìn.
Khi bậc Đại Sĩ nghe lời than thở ấy, ng ài
nghĩ thầm: "Hôn quân ngu muội này thường chẳng nghe lời ta lúc trước, nay ta
phải trừng phạt thêm nữa mới được". Ng ài
liền nói:
- Hỡi chiến vương, ngài thật bất cẩn, không quan tâm
đến lời khuyến cáo v à thiếu tài trí, giờ
đây xin để các quân sư của ng ài giải cứu
ngài. Một vị vua không làm theo lời khuyên của quân sư trung tín và tài trí,
chỉ tham đắm dục lạc ri êng của mình, thì
có khác gì con nai bị bắt trong lưới? Như con cá ham mồi không
để ý tới lưỡi câu giấu trong miếng thịt bao
quanh, không nhận biết chỗ chết của m ình. Tâu
Đại vương, ng ài cũng vậy, tham
đắm sắc dục, như con cá kia, không nhận thấy
công chúa con vua C ùlani chính là tử thần của mình. Thần
đ ã nói rằng nếu
Đại vương đi Pa ñcàla, ngài sẽ mất ngay
phúc lạc như con nai bị bắt trên đường sẽ gặp
đại nạn. Tâu Chúa thượng. một ác nhân sẽ cắn v ào bụng ngài như con
rắn độc. Không một hiền nhân n ào nên kết
bạn với kẻ ác, kết bạn với kẻ ác sẽ gặp bất hạnh. Tâu Chúa thượng, bất cứ
người nào mà ta nhận ra là có đức hạnh v à
thông thái thì đó chính l à người mà bậc
trí kết bạn. Kết bạn với thiện nhân chính là hạnh phúc.
Rồi để nhấn mạnh sự khiển trách một người
không n ên đối xử với kẻ khác như thế, ng ài
nhắc lại những lời lẽ mà vua đ ã nói
trước kia và nói tiếp:
121. Ngài điếc câm, ngu muội, Đại vương,
Khinh lời khuy ên tối thượng từ thần,
Hỏi: "Sao thần hiểu như người khác,
Khi lớn lên cày cấy ruộng đồng?
122. "Bắt lấy g ã kia, tóm cổ mau,
Tống ra khỏi xứ sở ta nào,
Con người dám nói hòng ng ăn cản,
Việc trẫm sắp đi lấy bảo châu!"
Sau khi ngâm hai vần kệ xong, ngài bảo:
- Tâu Đại vương, l àm sao một kẻ nông
dân như thần lại biết được chuyện g ì là
tốt là hay như Senaka và các trí giả kia được?
Chuyện đó không phải l à tài nghệ của thần, thần chỉ biết nghề cày sâu
cuốc bẫm, còn chuyện này thì Senaka và phe nhóm của lão biết rõ lắm, họ là
những trí giả. Vậy hôm nay xin để họ giải thoát
ng ài khỏi trùng vây của mười tám đạo
quân h ùng mạnh kia đang bao quanh ng ài
và xin ra lệnh cho họ tóm cổ thần vứt đi, tại
cớ sao Đại vương lại hỏi han đến thần?
Ngài trách móc vua không tiếc lời như vậy. Vua nghe xong nghĩ thầm: "Bậc
hiền trí đang kể lại những việc sai trái m à
ta đ ã làm. Trước kia ngài
đ ã biết trước tai họa sắp
đến, n ên nay ngài mới trách cứ ta gay
gắt như vậy. Nhưng chắc ngài không bỏ phí mọi thì giờ một cách phù phiếm
đâu, chắc hẳn ng ài
đ ã sắp xếp cho ta
được an to àn". Vì thế vua ngâm kệ khiển
trách ngài:
123. Bậc Trí không nhai chuyện đ ã
qua,
Giữa hàm r ăng, hỡi Ma-sa-dha,
Cớ sao khanh cứ rầy r à trẫm,
Như ngựa bị dây trói chặt à?
124. Nếu thấy được đường lối giải vây,
Cách an toàn thoát nạn giờ này,
Hãy mau làm trẫm yên lòng nhé,
Sao trút chuyện xưa xuống trẫm đây?
Lúc ấy bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Vua n ày
rất mê muội mù quáng, chẳng phân biệt được các
hạng người tr ên đời. Vậy ta phải h ành
hạ một lát đ ã rồi sẽ giải cứu vua". Và
ngài đáp:
125. Hành động giờ đây quá muộn m àng,
Vô cùng nguy hiểm, lại gian nan,
Thần không giải cứu quân vương được,
Ng ài phải tự lo liệu số phần.
126. Có giống voi bay giữa cõi không,
Lực thần đầy đủ, thật vinh quang,
Người n ào có được lo ài voi ấy,
Có thể bay cùng chúng thoát thân.
127. Có giống ngựa bay giữa cõi không,
Lực thần đầy đủ,thật vinh quang,
Người n ào có được lo ài phi mã,
Có thể bay cùng chúng thoát nàn.
128. Có các loài chim hoặc quỷ thần,
Đủ t ài bay bổng giữa không gian,
Còn nay quá muộn nên người tục,
Không thể làm vì quá khó kh ăn,
Thần chẳng thế n ào cứu Chúa thượng,
Ngài cần quyết định việc ri êng phần.
Nghe vậy, vua ngồi yên lặng không thốt một lời, nhưng Senaka nghĩ thầm:
"Không ai cứu giúp được vua v à bọn ta
trừ bậc Trí giả. Tuy thế vua lại quá kinh sợ nên không
đáp lời ng ài
được. Vậy ta sẽ hỏi ng ài xem". Rồi lão
cầu xin ngài qua hai vần kệ:
129. Một người không thể thấy bờ xa,
Ở giữa đại dương rộng lớn m à,
Khi nó tìm ra nơi trú ngụ,
Đủ đầy hạnh phúc với hoan ca.
130. Cũng vậy với quân sĩ, Đại vương,
Ng ài là đất trú ngụ an to àn,
Ngài là tối thượng quân sư báu,
Xin giải cứu toàn thể thoát nàn.
Bậc Đại Sĩ quở trách l ão qua vần kệ:
131. Hành động giờ đây quá muộn m àng,
Vô cùng nguy hiểm, lại gian nan,
Ta không giải cứu cho ngài được,
Ng ài phải tự lo liệu số phần.
Vua không tìm được lối thoát v à quá
khiếp sợ cho mạng sống của mình, nên không thể nói
được lời g ì với bậc
Đại Sĩ cả, m à chỉ nghĩ rằng chắc lão
Senaka có mưu kế, liền ngâm kệ này:
Senaka nghĩ thầm: "Nhà vua hỏi mưu kế, thôi dù hay dù dở, ta cũng phải
nói ra một kế cho ngài". Lão liền ngâm kệ:
133. Ta hãy đốt l ên ngọn lửa cao,
Ở bên cửa lớn lấy gươm dao,
Chúng ta cùng đả thưông nhau chết,
Chốc lát ta không sống nữa n ào.
Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,
Giết ta bằng cái chết dài lâu!
Vua nghe vậy nổi cơn thịnh nộ nghĩ thầm: "Cái
đó thật xứng l àm giàn hoả cho ngươi cùng
con cháu ngươi". Ông lại hỏi Pukkusa và các người kia, kẻ nào cũng
đều thưa tr ình ngu ngốc theo kiểu của
mình, và đây l à câu chuyện của họ. Vua
hỏi:
134. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:
Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,
Puk-ku-sa, trẫm hỏi khanh nhé,
Khanh nghĩ làm gì được ở đây?
Pukkusa đáp:
135. Chúng ta uống thuốc độc từ trần,
Chốc lát ta không phải sống c òn,
Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,
Giết ta bằng cái chết dần m òn!
Vua hỏi:
136. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:
Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,
Kà-vin-da, trẫm hỏi khanh nhé,
Khanh nghĩ làm gì được ở đây?
Kàvinda đáp:
137. Chúng ta thắt cổ họng lìa đời,
Chốc lát ta không sống nữa rồi,
Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,
Giết ta bằng các chết lần hồi!
Vua hỏi:
138. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:
Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,
De-vin-da, trẫm hỏi khanh nhé,
Khanh nghĩ làm gì được ở đây?
Devinda đáp:
139. Ta hãy đốt l ên ngọn lửa cao,
Ở bên cửa lớn lấy gươm dao,
Chúng ta cùng đả thương nhau chết,
Chốc lát ta không sống nữa nào.
Thần không thể cứu nguy chư vị,
Chỉ Đại Trí nhân có phép mầu!
Devinda nghĩ thầm: "Nhà vua đang l àm
gì thế? Ngọn lửa đây m à ngài lại
đi thổi con đom đóm! Trừ Mahosadha ra, không ai
giải cứu được ta. Thế m à nhà vua lại bỏ ngài và hỏi kế chúng ta, làm
sao chúng ta biết được?"
Nghĩ thế xong, lão không thấy ai có mưu kế gì, lão liền lập lại mưu kế
Senaka đ ã
đưa ra, rồi ca ngợi bậc Đại Sĩ qua hai vần kệ:
140-141. Tâu Đại vương, thần muốn nói đây:
Chúng ta c ùng hỏi Trí nhân này,
Nếu như việc hỏi han đầy đủ,
Bậc Trí nhân không thể giải vây,
Thì chúng ta cùng theo cách nọ,
Se-na-ka đ ã khuyến ta vầy.
Nghe vậy, vua nhớ lại mình đ ã bạc
đ ãi Bồ-tát trước kia, nên không thể nói
gì thêm với ngài nữa, chỉ than thở khi lão nói vậy thôi:
142. Giống kẻ đi t ìm chất nhựa thông,
Ở trong cây chuối hoặc cây bông,
Nên không thấy nhựa, như ta vậy,
Không thể tìm lời giải khó kh ăn.
143. Chỗ trú ta đây thật h ãi hùng,
Như bầy voi ở chốn khô cằn,
Với người vô dụng và ngu xuẩn,
Chẳng biết làm gì để thoát thân.
144. Tim ta hồi hộp, miệng khô ran,
L òng dạ ta nay thật bất an,
Ta giống một người được đốt lửa,
Rồi đem phơi dưới nắng chang chang.
145. Như cháy b ên trong, lửa thợ rèn,
Bên ngoài chẳng có thể nào xem,
Lòng ta cũng vậy, đang bừng cháy,
Nhưng chẳng một ai có thể nh ìn!
Nghe vậy bậc Trí giả nghĩ thầm: "Nhà vua đ ã
vô cùng lo sợ, nếu ta không trấn an ngài, chắc ngài sẽ vỡ tim ra mà chết!".
Thế là ngài trấn an vua.
*
Bậc Đạo Sư diễn tả cảnh n ày qua các
vần kệ:
146. Thế rồi Trí giả Ma-sa-ha,
Nhận thức điều hiền thiện tối đa,
Khi ng ài thấy mặt vua sầu thảm,
Ngài nói như vầy với đức vua:
147. - Xin đừng sợ h ãi, tấu Anh quân,
Chúa tể đo àn xa mã
đại h ùng,
Thần sẽ giải vây phò Chúa thượng,
Như tr ăng bị nuốt bởi La Thần,
148. - Như vầng dương bị La Thần nuốt,
Như thể voi ch ìm xuống dưới bùn,
Như rắn bị giam trong giỏ kín,
Như con cá lọt lưới quay cuồng.
149. - Thần sẽ giải vây cứu Đại vương,
C ùng đo àn xa mã, với
đo àn quân,
Sẽ làm kinh hãi Pãn-cà- đế,
Như quạ bị quăng đá hoảng hồn!
150. - Có ích lợi g ì là trí tuệ,
Hoặc quân sư thuộc hạng tầm thường,
Không tài giải cứu phò Minh chúa,
Ra khỏi gian nguy, bước cuối đường?
Vua nghe vậy an lòng ngay: "Thế là ta được b ình
an rồi". Ông nghĩ thầm. Mọi người đều hoan hỷ
khi Bồ-tát nói lớn như sư tử rống. Lúc ấy Senaka hỏi:
- Thưa bậc Trí giả, làm thế nào ngài thoát ra cùng chúng thần cả
đây?
- Bằng một đường hầm được trang ho àng
thật đẹp, Ng ài bảo. Hãy chuẩn bị sẵn
sàng.
Nói xong, ngài ra lệnh cho quân hầu mở địa
đạo n ày.
- Này các người hãy đến mở cửa miệng hầm ra,
vua Vedeha c ùng quần thần sẽ đi qua địa
đạo n ày.
Họ đứng l ên mở cửa hầm, toàn
địa đạo sáng ngời như cung đ ình
được trang ho àng của chư Thiên.
*
Bậc Đạo Sư giải thích chuyện n ày như
sau:
Nghe lệnh bậc Trí giả, quân hầu của ngài mở cửa hầm và các then tự
động.
Họ trình bậc Đại Sĩ rằng cửa đ ã mở và
ngài bảo vua:
- Tâu Chúa thượng, đ ã
đến thời, xin bước xuống khỏi thượng lầu.
Vua liền bước xuống và Senaka cởi kh ăn tr ùm
đầu, buông áo ra. Bậc Đại Sĩ hỏi l ão làm
gì, lão đáp:
- Thưa bậc Trí giả, khi đi qua đường hầm, ta
phải cởi khăn tr ùm đầu v à buộc áo
quần quanh mình cho chặt.
Ngài đáp:
- Này Senaka, đừng tưởng l à ông phải
bò lết suốt đường hầm, nếu ông muốn cỡi voi cứ
cỡi, hầm của ta cao ngất mười tám gang tay, cửa rộng r ãi, cứ mặc xiêm
y tốt đẹp v ào như ông muốn, rồi
đi trước đức vua.
Nói xong, Bồ-tát bảo Senaka đi trước, ng ài
đi cuối c ùng, vua
đi giữa v à
đây l à lý do : Trong hầm là cả một thế giới
đồ ẩm thực, người ta vừa ăn uống vừa ngắm đường
hầm, bảo nhau:
- Đừng đi vội, cứ ngắm đường hầm trang ho àng
tuyệt đẹp n ày
đ ã.
Nhưng bậc Đại Sĩ đi sau vua, thúc giục ông
bước nhanh, trong lúc ông chi êm ngưỡng
đường hầm được trang ho àng đẹp như cung
đ ình chư Thiên.
*
Bậc Đạo sư giải thích việc n ày như
sau:
Senaka đi trước, Mahosadha đi sau, vua ở
giữa c ùng đám quân thần.
Bấy giờ khi được biết vua đến nơi, quân hầu
đem ra khỏi đường hầm b à thái hậu, hoàng tử, công chúa của vua kia,
để họ ở trước sân chầu rộng lớn. Vừa lúc ấy vua cùng Bồ-tát bước ra khỏi
hầm. Khi bốn vị kia trông thấy vua và bậc Trí giả, họ kinh hoàng đến chết
cứng, hoảng sợ thét lên:
- Chắc chắn ta đ ã ở trong tay
địch rồi, chắc chắn quân sĩ của bậc Trí giả đến
bắt ta đấy.
Còn vua Cùlani sợ vua Vedeha trốn thoát. Lúc bấy giờ vua ấy ở cách sông
Hằng khoảng một dặm, nghe tiếng họ thét to trong
đ êm vắng, ông muốn bảo: "Hình như giọng
của hoàng hậu Nandà". Nhưng ông sợ bị cười nhạo vì nghĩ quẩn như thế, nên
không nói gì.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ đặt công chúa Pa ñcàlacandì
trên một đám trân bảo v à ra lệnh vẩy
nước thánh lễ trong khi ngài nói:
- Tâu Đại vương, v ì nữ nhân này,
Đại vuơng đến đây, vậy xin sắc phong n àng
làm vương hậu.
Họ mang đến ba trăm chiếc thuyền, vua bước
ra khỏi sân chầu rộng lớn, ngự l ên một chiếc thuyền
được trang ho àng lộng lẫy và bốn vị kia
cùng bước lên cùng vua .
*
Bậc Đạo sư giải thích việc n ày như
sau:
Vua Vedeha bước ra khỏi đường hầm ngự l ên
thuyền và khi ông đ ã an vị, Mahosadha
khuyên nhủ ông:
- Đây l à quốc trượng,
đây l à quốc mẫu, tâu Chúa thượng, ngài
thường phụng dưỡng mẫu hậu ra sao thì xin phụng dưỡng quốc mẫu như vậy.
Đây l à hoàng tử cùng cha cùng mẹ với
vương hậu, xin Đại vương h ãy bảo hộ
Pañcàlacandì, tâu Chúa tể đo àn chiến xa.
Còn Pañcàlacandì là công chúa rất được nuông ch ìu,
xin Đại vương h ãy yêu quý nàng, nàng là
vương hậu của Đại vương.
Vua chấp thuận ngay, nhưng tại sao bậc Đại
sĩ không nói g ì đến ho àng thái
hậu? Chỉ vì đó l à một bà già. Bồ-tát nãy
giờ đứng tr ên bờ nói
đủ mọi việc như thế. Vua vừa thoát khỏi đại nạn
chỉ muốn ra khỏi ngay, liền nói:
- Vương nhi nói chuyện mà vẫn đứng tr ên
bờ thế?
Rồi vua ngâm kệ:
151. Nào, hãy nhanh chân bước xuống đ ò,
Sao vương nhi mãi đứng tr ên bờ,
Ta vừa thoát được nơi nguy hiểm.
Ta h ãy đi mau, Ma-sa-dha.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Tâu Chúa thượng, thần đi c ùng Chúa
thượng thì chẳng thuận tiện.
Rồi ngài ngâm kệ:
152. Việc này không đúng, tâu Quân vương,
Thần thủ l ãnh toàn thể đạo quân,
Nếu bỏ đo àn quân và tẩu thoát.
Vậy toàn quân lính ở trong làng,
Rồi đây thần sẽ đem về cả,
Theo lệnh Brah-ma-dat Thượng ho àng.
Trong đám quân sĩ n ày, có kẻ ngủ mệt
vì đường xa, có kẻ ăn uống, không biết ta khởi
h ành và kẻ bệnh hoạn vì đ ã làm
việc cùng thần bốn tháng nay, họ lại có kẻ hầu cận của thần. Thần không thể
bỏ lại một tên lính nào mà đi cả, n ên
thần sẽ trở lui. Thần sẽ mang đi to àn
quân sĩ ấy theo lệnh của vua Brahmadatta mà không cần một trận
đánh n ào, xin
Đại vương h ãy lên
đường thật nhanh, không tr ì hoãn ở nơi
nào, thần đ ã sắp
đặt những trạm voi v à xe ngựa trên lộ
trình, nên Đại vương có thể để lại những con
vật n ào mỏi mệt, còn những voi ngựa mạnh khỏe sẽ trở về Mithìlà nhanh
chóng.
Lúc ấy vua ngâm kệ:
153. Một đo àn quân quá nhỏ nhoi,
Làm sao thắng nổi đo àn người
đông hơn?
Đo àn quân yếu bị diệt vong,
Bởi đo àn quân mạnh, Trí nhân hỡi ngài!
Bồ-tát ngâm kệ tiếp:
154. Một đo àn quân quá ít oi,
Có minh sư sẽ thắng người đông hơn,
Nhưng không có vị dẫn đường,
Một vua thắng lắm quốc vương lẽ thường,
Khác g ì với ánh chiêu dương,
Đánh tan bóng tối, vinh quang mọi nh à.
Nói lời này xong, bậc Đại Sĩ vái ch ào
vua và tiễn ngài lên đường. Vua nhớ lại m ình
đ ã được
giải cứu khỏi b àn tay kẻ thù như thế nào và chiếm
được công chúa l à
đ ã đạt được
tâm nguyện, suy xét kỹ đến công đức của Bồ-tát, vua hân hoan diễn tả cho
Senaka nghe những công đức ấy của bậc Trí giả qua vần kệ sau:
155. Quốc sư hỡi, Se-na-ka,
Sống cùng người trí thật là lạc hoan !
Như Chim thoát khỏi lồng giam,
Như con cá thoát lưới càng vui thay,
Ma-sa-dha cứu ta đây
Khi ta c òn ở trong tay quân thù.
Senaka ngâm kệ khác đáp lời vua, vừa tán dư ơng
bậc trí giả:
156. Muôn tâu Chúa thượng, chúng ta,
Sống cùng người trí thật lạc hoan!
Như chim thoát khỏi lồng giam,
Như con cá thoát lưới càng vui thay.
Ma-sa-dha cứu ta đây,
Khi ta c òn ở trong tay quân thù.
Lúc ấy vua Vedeha đ ã qua sông cách
chừng một dặm. Ông thấy ngôi làng mà Bồ-tát đ ã
dựng sẵn, quân hầu do Bồ-tát giao nhiệm vụ tại
đó cung cấp voi ngựa v à các phương tiện chuyên chở khác, rồi dâng
thức ăn uống. Vua giao lại những voi ngựa chuy ên
chở nào đ ã mệt mỏi rồi nhận thứ khác và
đi đến l àng kế cận, cứ thế ông vượt qua
cuộc hành trình dài tr ăm dặm đường v à
sáng hôm sau ông đến Mithil à.
Còn Bồ-tát khi đi đến cổng địa đạo, rút kiếm
đeo tr ên vai ra đem giấu trong cát, rồi
ng ài trở vào địa đạo đi đến kinh th ành,
tắm gội nước thơm, ăn uống cao lương mỹ vị
xong, nghỉ ngơi tr ên bảo tọa, sung sướng nghĩ rằng tâm nguyện của
ngài đ ã thành
đạt. Khi đ êm tàn, vua Cùlani ra lệnh
quân sĩ vào kinh thành.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
157. Hoàng đế C ù-la-ni
đại cường,
Đ ã canh giữ kỹ suốt đ êm trường,
Rạng đông vừa đến th ành U-pak,
Đang ngự tr ên lưng của tượng vương.
158. Mãnh tượng sáu mươi tuổi đ ã già,
Đại vương h ùng dũng Pañ-cà-la,
Quân trang vũ khí toàn châu báu,
Cung nắm trong tay cất tiếng ra:
Sau đó vua mi êu tả chúng
đủ loại:
159. - Truyền lệnh đại quân tề tựu ngay,
L ên voi vệ sĩ chiến xa này,
Các người thiện xạ và cung thủ,
Tất cả cùng nhau tụ họp đây.
Bấy giờ vua ra lệnh họ bắt sống vua Vedeha:
160. Đưa hết các voi chiến có ng à,
Sáu mươi tuổi thọ, dẫm tan ra,
Kinh thành mới dựng cao sang ấy,
Do chính Đại vương Vi-đế-ha.
161. H ãy bắn tên ra mọi phía này,
Từ bao cung nọ, đám t ên bay,
Như r ăng b ò nghé,
đầu t ên nhọn,
Đâm thủng tận xương bọn chúng ngay.
162. Anh h ùng tiến tới, giáp bào mang,
Vũ khí cầm tay khéo điểm trang,
Dũng m ãnh can trường và tự nguyện,
Sẵn sàng đối diện với voi đ àn.
163. Các gươm giáo được tẩm dầu trong,
Đầu nhọn lung linh tựa lửa hồng,
Lấp lánh như ch ùm sao hội tụ,
Cả tr ăm tinh tú giữa hư không.
164. Khi các anh h ùng ấy tấn công,
Mang bào giáp, vũ khí hiên ngang,
Không hề tháo chạy bao giờ cả,
Như vậy làm sao Vi- đế vương,
Có thể t ìm đường n ào tẩu thoát,
Cho dù bay lượn tựa chim muông?
165. Ba vạn chín ngàn chiến sĩ ta,
Ta chưa từng thấy thế bao giờ,
Toàn quân được chọn rất tinh nhuệ,
Tất cả h ùng quân của nước nhà.
166-167. Hãy nhìn voi mạnh đủ đôi ng à,
Tô điểm cân đai đẹp mắt ta,
Tuổi thọ sáu mươi, lưng ngất ngưỡng,
Các vương tử rực rỡ, xa hoa,
Trang ho àng lộng lẫy bao xiêm áo,
Như các Thiên thần Nan-da-na.
168. Gươm màu cá bạc tẩm dầu trơn,
Lấp lánh anh hùng, nắm vững vàng,
Bén nhọn, sáng ngời, hoàn hảo quá,
Được l àm bằng thép luyện nhiều lần.
169-170. Gươm mạnh, do bao dũng sĩ cầm,
Những người chiến đấu m ãi không ngừng,
Kim hoàn vàng ánh, đai m àu
đỏ,
Gươm sáng lung linh lúc vẫy v ùng,
Như chớp lòe trong mây xám ngắt.
Anh hùng mang giáp vẫy cờ tung,
Có tài dùng kiếm và khiên mộc,
Nắm chặt chuôi gươm, thiện chiến quân.
171. Bị vây bởi chiến sĩ anh hùng,
Như vậy trên lưng voi tấn công,
Ngươi chẳng có nơi nào tẩu thoát,
Ta không thấy một lực oai thần,
Giúp ngươi trở lại kinh thành cũ,
Ở tại Mi-thi-là, biết ch ăng?
Vua này h ăm dọa vua Vedeha như vậy, nghĩ
rằng sẽ bắt được vua kia lúc ấy ngay tại chỗ, n ên thúc voi
đi nhanh hơn, ban lệnh quân sĩ bắt được l à
đánh v à giết
đi. Vua C ùlani tiến vào thành Upakàri
như dòng thác lũ.
Lúc ấy các thám tử của bậc Đại Sĩ nghĩ thầm:
"Ai biết được chuyện g ì sẽ xảy ra?". Và
đám hầu cận xúm xít quanh ng ài. Ngay lúc này Bồ-tát
đứng dậy khỏi tọa s àng, quân hầu giúp
ngài tắm rửa xong, ngài dùng điểm tâm rồi mặc
xi êm y kàsi trị giá cả tr ăm đồng tiền v àng,
hồng y khoác lên, bên vai, mang gậy biểu thị tước vị của ngài có gắn bảy bảo
vật, đôi h ài vàng mang ở chân, phe phẩy
quạt sơn ngưu như một vị Thiên thần được trang
ho àng rực rỡ, bước lên thượng lầu mở cửa sổ, xuất hiện trước vua
Cùlani, đi đi lại lại với dáng điệu uy nghi của
một vị Thi ên chủ.
Còn vua Cùlani trông thấy dung sắc của ngài, không thể nào giữ
được l òng bình thản, mà vội lao lên mình
voi, tưởng rằng có thể bắt được ng ài
ngay lúc đó. Bậc Trí giả nghĩ thầm: "Vua ấy vội
đến chỗ kia v ì tưởng vua Vedeha sẽ bị bắt, mà không biết rằng chính
các hoàng tử, công chúa đ ã bị bắt, còn
Đại vương ta đ ã
đi rồi. Ta sẽ xuất đầu lộ diện như một tấm
gương v àng chói và nói chuyện với vua này". Thế là
đứng ở cửa sổ, ng ài thốt lên những lời
này với giọng ngọt ngào như mật:
172-173. Sao ngài thúc giục mãi con voi,
Ngài đến với khuôn mặt thật tươi,
Ng ài nghĩ là ngài tròn ước muốn,
Ném cung ấy xuống, ném tên thôi.
Cởi ngay bào giáp kia ngời sáng,
Cùng với san hô, các ngọc trai.
Khi vua nghe lời ấy của ngài, ông nghĩ thầm: "Tên nông dân kia
đang chế nhạo ta, hôm nay ta sẽ chứng kiến điều
cần l àm cho gã ấy". Rồi ông nói giọng h ăm
dọa:
174. Trông ngươi có dáng điệu vui tươi,
Ngươi nói lời ra với nụ cười,
Giờ chết của ngươi nay sắp đến,
Cho n ên vẻ đẹp hiện ra ngo ài!
Khi hai vị đang nói chuyện như tr ên,
đám quâm sĩ chú ý đến hảo tướng của bậc Đại Sĩ,
liền bảo nhau:
- Đại vương đang đ àm
đạo với bậc Trí giả Mahosadha. Các ng ài
đang b àn luận gì
đây? Ta thử nghe xem sao.
Rồi họ đến gần vua, nhưng bậc Trí giả khi
nghe vua nói xong, liền đáp lại:
- Đại vương không biết ta l à bậc Trí
giả Mahosadha, ta không để Đại vương giết ta
đâu. Mưu kế Đại vương đ ã hỏng, những
điều Đại vương c ùng Kevatta đ ã
nghĩ trong tâm không xảy ra đâu, m à vừa
xảy ra những việc Đại vương chỉ nói đầu môi
chót lưỡi.
Rồi ngài giải thích sự việc như sau:
175. Sấm sét của ngài thật uổng công,
Âm mưu đ ã hỏng, hỡi Quân vương!
Vua ta khó bắt cho ngài quá,
Như tuấn mã so với ngựa thường!
176. Vua ta đ ã vượt quá sông Hằng,
Vào tối qua cùng các cận thần,
Ngài sẽ giống như con quạ nọ,
Cố công s ăn bắt thi ên nga vương!
Một lần nữa, như con sư tử giương bờm dũng mãnh, ngài phát họa một ảnh dụ
qua các lời sau:
177. Chó rừng đang ở giữa đ êm trường,
Nhìn thấy hoa cây phượng đỏ hồng,
Cứ tưởng hoa kia l à miếng thịt,
Súc sinh hạ liệt họp từng đ àn.
178. Khi các canh khuya ấy đ ã qua,
Mặt trời đ ã xuất hiện dần ra,.
Chó nhìn cây phượng đầy hoa nở,
Thất vọng, súc sinh thật xấu xa!
179. Hỡi Đại vương, cũng giống các vua,
Đ ã bao vây chúa Vi- đề-ha,
Sẽ tan hy vọng v à đi mất,
Như lũ chó rừng tránh phượng hoa!
Khi vua nghe những lời lẽ can trường như vậy, nghĩ thầm: "Tên nông dân
này nói n ăng thật bạo dạn, chắc chắn vua Vedeha
đ ã trốn thoát".
Vua liền nổi cơn thịnh nộ, nghĩ thầm: "Xưa kia vì tên nông dân này mà ta
chẳng còn mảnh vải che thân, nay cũng vì gã mà kẻ thù
đ ã làm hại ta quá nhiều, ta phải trả thù
gã cả hai chuyện mới được".Vua liền ban lệnh
như sau:
180. Cắt hết tay chân, tai mũi ra,
Vì tên kia thả Vi- đề-ha,
Kẻ th ù đ ã thoát tay ta
đó,
Xẻo thịt, đem chi ên nấu chín mà,
Vì tên kia thả Vi- đề chúa,
Kẻ th ù đ ã thoát khỏi tay ta !
181. Như tấm da trâu trải đất bằng,
Hoặc da sư, hổ được đem căng,
Bằng cây cọc, vậy ta mong muốn,
Căng nọc nó v à lấy giáo đâm,
V ì nó thả Vi- đề chúa tể,
Kẻ th ù ta thoát khỏi giam cầm!
Nghe vậy bậc Đại Sĩ mỉm cười nghĩ thầm: "Vua
n ày không biết là hoàng hậu và hoàng gia
đ ã được ta chở về Mithil à rồi,
nên mới ra lệnh bắt ta như vậy. Nhưng trong cơn thịnh nộ, vua ấy có thể lấy
cung tên đâm xuy ên thân ta, hay làm một
chuyện gì đó cho hả dạ, vậy ta phải l àm
cho vua ấy hoảng hốt đau buồn, rồi ngất xỉu tr ên
lưng voi khi ta kể chuyện cho vua nghe mới
được". Ng ài liền nói:
182. Nếu chặt tay chân, tai mũi ta,
Vi- đề chúa sẽ chặt Can-da,
Can-d ì, hoàng hậu Nan-dà nữa,
Công chúa cùng hoàng tử cả nhà!
183. Nếu xẻo ta rồi xiên thịt ta,
Vi- đề chúa sẽ xẻo Canda
Can-d ì, hoàng hậu Nandà nữa,
Công chúa và hoàng tử cả nhà!
184. Nếu đóng cọc ta, đâm giáo ta,
Vi-đề sẽ đóng cọc Can-da,
Can-d ì, hoàng hậu Nan-dà nữa,
Công chúa và hoàng tử cả nhà!
185. Vậy việc kia đ ã
được mật b àn,
Giữa ta và chính Vi- đề vương,
Giống như tấm chắn bằng da thuộc,
Dầy một trăm tầng được khéo l àm,
Bởi các thợ da, là vật dụng,
Đề ph òng tên nọ bắn xuyên ngang.
186. Ta mang hạnh phúc, tránh đau buồn,
Cho chúa Vi-đề-ha vẻ vang,
Ta thoát âm mưu ng ài dự tính,
Như khiên tránh khỏi mũi tên đâm.
Nghe thế, vua nghĩ thầm: "Tên nông dân này nói gì thế, nếu ta làm gì gã
thì vua Vedeha cũng sẽ làm thế cho gia quyến ta ư? Gã chẳng biết ta
đ ã cho canh phòng thê tử ta rất cẩn mật,
nên cứ dọa ta như thế vì sợ chết ngay đây, ta
không tin lời g ã nói đâu".
Bậc Đại Sĩ đoán biết rằng vua tưởng ng ài
nói thế vì sợ chết, nên ngài quyết định giải
thích r õ. Ngài nói:
187. Đại vương xin h ãy bước vào
trong,
Các nội cung đều đ ã trống không:
Hoàng hậu, hoàng nhi, hoàng thái hậu,
Thảy đều được dẫn xuống đường hầm.
Chiến vương hỡi! họ được giao phó,
Vi-đề vương giám sát hộ ph òng.
Lúc ấy vua nghĩ thầm: "Bậc Trí giả này nói có vẻ chắc chắn, ta
đ ã nghe đ êm
qua bên sông Hằng có giọng của hoàng hậu Nandà, bậc Trí giả này thật là tài
tình, chắc đang nói sự thật đây". Vua thốt nhi ên
đau khổ gh ê gớm, nhưng cố thu hết can
đảm giấu nỗi buồn phiền, phán bảo thị vệ đi
điều tra tin tức v à ngâm bài kệ này:
188. Mau bước vào trong các nội cung,
Xem lời tên nọ đúng hay không?
Tên thị giả cùng quân hầu đi ra mở cửa cung
bước v ào, ở đó to àn kẻ tay chân
bị trói, nhét giẻ vào mồm, treo trên cọc, gã thấy quân canh hậu cung, những
tên lùn, gù lưng đều thế, cả chén bát đổ vỡ
vung v ãi khắp nơi, cùng với thức ăn
uống, cửa kho t àng đều bị mở tung, kho đ ã
bị cướp phá sạch, các phòng ngủ mở toang cửa, bầy quạ bay qua cửa sổ mở vào
trong, chẳng khác nào một làng bỏ hoang hay bãi tha ma.
Gã thấy cung điện trong cảnh ti êu
điều ấy, liền báo tin cho vua:
189. Ma-ho-sad nói đúng, Minh quân,
Nội điện ho àng cung đ ã trống
không,
Như một làng bên bờ bến nước,
Được bầy quạ trú ẩn nương thân.
Vua run rẩy buồn rầu sợ mất các người thân yêu, liền nói:
- Ta gặp nỗi đau buồn n ày cũng do gã
nông dân kia.
Rồi giống như con rắn bị đánh một gậy, ông
hết sức phẫn nộ với Bồ-tát. Khi bậc Đại Sĩ thấy dáng điệu của vua như vậy,
ng ài nghĩ thầm: "Nhà vua này đang được
đại vinh hiển, nếu trong cơn thịnh nộ liền nói: Ta phải l àm gì trước
những việc như thế? Vì lòng kiêu mạn của chiến sĩ, vua ấy có thể làm hại ta.
Giả sử ta tả sắc đẹp của ho àng hậu Nandà
cho vua nghe, làm như thể ông chưa từng gặp
được ho àng hậu, ông sẽ thương nhớ bà và hiểu rằng ông sẽ không bao
giờ thấy lại được nữ báu ấy nếu giết ta đi. Như
vậy v ì thương yêu hoàng hậu, vua sẽ không làm hại ta nữa".
Thế là đứng an to àn trên thượng lầu,
ngài khoát cánh tay sắc vàng óng từ dưới vạt hồng y của ngài lên và chỉ về
hướng hoàng hậu đ ã ra
đi, ng ài tả dung sắc của hoàng hậu như
vầy:
190. Giai nhân có sắc đẹp to àn thân,
Đ ã bước lối này, hỡi
Đại vương,
Giọng nói b à: thiên nga trổi nhạc,
Môi bà như các phiến vàng ròng,
191. Giai nhân có sắc đẹp to àn thân,
Được dẫn lối n ày, hỡi
Đại vương,
Đ ã khoác xiêm y màu lụa sẩm,
Đai lưng sáng rực kết v àng ròng.
192. Đôi chân hồng đỏ trông kiều diễm,
Đai kết v àng ròng với bảo trân,
Đôi mắt bồ câu, h ình yểu
điệu,
Đôi môi như trái bim-ba rừng.
193. Lưng eo thon dịu, dáng cao sang,
Như một cây leo, giống cát đằng,
Hoặc chỗ tế đ àn cao, giữa hẹp,
Tóc dài đen nhánh, dưới cong cong,
Như nai tơ, thuộc d òng cao quý,
Như ngọn lửa hồng giữa tiết đông!
194. Như d òng sông ẩn dưới sườn non,
Trong đám cây leo bé cỏn con,
Tuyệt sắc giai nhân ho àn hảo quá,
Ngực đầy như trái tin-dook tr òn,
Cũng không ngắn quá, không dài quá,
Cũng chẳng nhiều lông, chẳng trụi lông!
Trong lúc bậc Đại Sĩ ca tụng dung sắc diễm
kiều của b à như vậy, vua cảm thấy như thể mình chưa gặp bà bao giờ
cả, một nỗi khát khao ghê gớm khởi lên trong lòng ông. Bậc
Đại Sĩ nhận thấy thế, lại ngâm kệ sau:
195. Vậy ngài, Đại đế vinh quang,
Thấy Nan-d à chết, hân hoan trong lòng,
Thì Nan-dà sẽ cùng thần,
Đến tr ình diện trước Diêm vương bây giờ!
Bậc Đại Sĩ ca tụng ho àng hậu Nandà
như vậy, chứ không ca tụng ai khác, lý do là: Người ta không thương yêu ai
bằng ái thê của mình. Ngài chỉ ca tụng bà, vì ngài nghĩ nếu vua nhớ
đến b à, ông cũng sẽ nhớ
đến các con. Trong lúc bậc Đại Sĩ ca tụng b à
bằng giọng ngọt như mật, hoàng hậu Nandà như thể hiển diện toàn thân ra
trước mắt vua. Lúc ấy ông nghĩ thầm: "Không ai ngoài Mahosadha có thể
đem ái hậu về cho ta". Nhớ đến b à, nỗi
đau buồn lại dâng l ên trong lòng ông.
Bậc Đại Sĩ nói:
- Tâu Đại vương, xin đừng sầu khổ, ho àng
hậu, hoàng tử và hoàng thái hậu sẽ trở về đây,
với điều kiện duy nhất l à thần được trở
về trước, xin Đại vương h ãy an lòng.
Ngài trấn an vua và vua lại nói:
- Ta canh phòng kinh thành của ta thật cẩn mật, ta
đ ã bao vây thành Upakàri này với
đo àn quân sĩ thật
đông đảo, thế m à kẻ tài trí này vẫn
đem ra khỏi th ành
được canh k ỹ kia toàn thể hoàng hậu,
hoàng tử, hoàng thái hậu và đưa họ đến th ành
Vedeha. Trong lúc ta đang vây h ãm thành
này, mà không một ai hay biết, kẻ này lại đưa
vua Vedeha thoát đi c ùng quân sĩ và voi ngựa chuyên chở, có thể rằng
kẻ này có thần thông hay là có cách làm mờ mắt ta ch ăng?
Và ông hỏi ngài như sau:
196. Nhà ngươi có pháp thuật ư?
Hay là ngươi đ ã làm mờ mắt ta?
Nên ngươi cứu chúa Đề-ha,
Kẻ th ù ta thoát tay ta giam cầm?
Nghe thế, bậc Đại Sĩ đáp:
-Tâu Đại vương, tiểu thần có thần thông biến
hóa, v ì các Trí giả học được phép thần
thông, sẽ giải cứu luôn bản thân c ùng các người khác, khi tai họa
đến.
197. Tâu Đại vương, các trí nhân,
Vẫn thường học phép thần thông ở đời;
Trí nhân đầy đủ kế t ài,
Bản thân giải thoát ra ngoài gian lao.
198. Tiểu thần có các quân hầu,
Khéo tài phá vỡ các hào lũy ra,
Họ làm cách ấy giúp vua,
Vi- đề đ ã
đến Mi-la kinh th ành.
Câu này ám chỉ vua kia đ ã ra
đi bằng địa đạo được trang ho àng như
trên, vì thế vua hỏi:
- Địa đạo ấy ra sao?
Và vua muốn xem nó. Bậc Đại Sĩ thấy vẻ mặt
vua, biết rằng đây l à vua muốn biết, nên ngài sẵn sàng chỉ nó cho vua
xem:
199. Đường hầm xây thật t ài tình,
Ngự du, xin hãy thân hành, Đại vương!
Hầm to đủ chứa voi đ àn,
Đo àn xe, bầy ngựa, hàng hàng lục quân,
Bên trong đ èn thắp sáng trưng,
Một đường hầm quả kỳ công thực l à!
Rồi ngài tiếp tục nói:
- Tâu Đại vương, xin ngự l ãm
địa đạo do trí tuệ thần xây dựng n ên,
sáng ngời như thể đôi vầng nhật nguyệt mọc l ên
trong đó, được trang ho àng thật lộng lẫy
với tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn cửa nhỏ, một tr ăm
lẻ một loan ph òng, hằng tr ăm ổ đ èn,
xin Đại vương hoan hỷ ngự giá c ùng tiểu
thần và quân cận vệ vào kinh thành Upakàri.
Nói xong, ngài bảo cổng thành mở toang và vua cùng một tr ăm
lẻ một vị vương hầu ngự v ào. Bậc Đại Sĩ
bước xuống khỏi thượng lầu triều bái vua v à
đưa ng ài cùng
đo àn tùy tùng vào trong
địa đạo. Khi vua thấy địa đạo đẹp như kinh th ành
được trang ho àng của chư Thiên, vua liền
ca tụng Bồ-tát:
200. Lợi thay chúa tể Đề-ha,
Có nhiều người trí trong nh à như khanh,
Hoặc trong đất nước của m ình,
Ma-ho-sad hỡi, thông minh tuyệt trần!
Sau đó bậc Đại Sĩ dẫn vua đến một trăm lẻ
một loan ph òng, hễ mở một cửa thì tất cả
đều mở v à một cửa đóng th ì tất cả
đều đóng lại. Vua bước v ào trước, chiêm
ngưỡng địa đạo, bậc Đại Sĩ theo sau, rồi tất cả
quân sĩ đều v ào trong hầm. Nhưng khi bậc Trí giả biết vua
đ ã ra khỏi
địa đạo, ng ài liền ng ăn đám người kia
bước ra bằng cách đi đến một nút bấm v à
đóng cửa hầm lại. Thế l à tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn cửa nhỏ,
các cửa của cả tr ăm lẻ một loan ph òng và
cửa của hàng tr ăm ổ đ èn
đều đóng chặt lại, to àn thể
địa đạo tối đen như địa ngục.
Tất cả đám người đông đảo ấy đều kinh ho àng.
Bấy giờ bậc Đại Sĩ tuốt kiếm ra, cây kiếm m à
ngài đ ã giấu hôm qua khi ngài vào
địa đạo. Từ dưới đất, ng ài phóng mình
lên không chừng tám thước rồi hạ xuống chụp lấy cánh tay vua, vung kiếm ra
và thét lên h ăm dọa:
- Này Đại vương, tất cả vương quốc ở c õi
Diêm -phù- đề thuộc về ai?
- Thưa bậc Trí giả, của khanh tất cả, xin tha mạng trẫm.
Ngài đáp:
- Xin Đại vương chớ sợ, thần không có ý g ì
lấy kiếm ra sát hại Đại vương đâu, m à
chỉ để b ày tỏ trí khôn của thần
đó thôi.
Rồi ngài trao kiếm cho vua, khi vua đ ã
cầm kiếm xong, ngài lại nói:
- Tâu Đại vương, nếu ng ài muốn giết
thần xin hãy lấy kiếm này giết đi, c òn
nếu muốn tha cho thần, xin hãy tha cho.
Vua đáp:
- Này bậc Trí giả đừng sợ, trẫm hứa bảo to àn
tánh mạng của khanh.
Thế là khi vua giơ kiếm lên, cả hai đều kết
t ình bằng hữu rất chân thật. Rồi vua bảo Bồ-tát:
- Này bậc Trí giả, hiền khanh thật nhiều tài trí, tại sao khanh không
chiếm lấy vương quốc này?
- Tâu Đại vương, nếu thần muốn, chỉ nội hôm
nay thần có thể thu trọn mọi vương quốc ở c õi Diêm-phù- đề
n ày và giết hại mọi vị vua, nhưng một hiền nhân không
đạt vinh quang bằng cách giết hại kẻ khác.
- Này bậc Trí giả, đám đông đang khổ sở v ì
không đi ra được, vậy khanh h ãy mở cửa
địa đạo v à tha mạng cho hết thảy.
Ngài mở cửa, cả địa đạo sáng l òa, mọi
người đều b ình tâm trở lại, vua chúa
cùng các đo àn tùy tùng bước ra,
đến gần bậc Trí giả đan g
đứng giữa sân chầu rộng lớn với vua, rồi
các vua này bảo:
- Thưa bậc Trí giả, ngài đ ã tha mạng
cho tất cả chúng ta, nếu cửa địa đạo đóng lâu
hơn ch ốc nữa, chắc cả đám chết hết rồi.
- Tâu các vị Chúa công, đây không phải lần
đầu ti ên các ngài được thần cứu giá đâu.
- Thế thì khi nào nữa, thưa bậc Trí giả?
- Các ngài còn nhớ khi tất cả vương quốc ở cõi Diêm-phù- đề
đều bị chinh phục trừ kinh th ành của tiểu thần và khi các vị
đến vườn Thượng uyển Uttarapa ñcàla sẵn
sàng nâng chén khải hoàn ch ăng?
- Thưa bậc Trí giả, còn nhớ.
- Lúc ấy chính vua này cùng lão Kevatta đ ã
dùng độc kế, đầu độc thức ăn thức uống v à
mưu toan sát hại các vị, nhưng tiểu thần lại không muốn
để các vị chịu một cái chết ngu si như vậy
trước mắt thần, n ên thần cho người vào
đánh vỡ hết chén bát nồi ni êu, phá hỏng kế hoạch của họ, cứu mạng các
vị đấy!
Các vua đều kinh h ãi hỏi lại vua
Cùlani:
- Tâu Đại vương, có thật vậy chăng?
- Thật vậy, các việc ta làm đều do lời b àn
của Kevatta. Bậc Trí giả nói đúng thật đấy.
Thế là các vua đều ôm lấy bậc Đại Sĩ v à
bảo:
- Thưa bậc Trí giả, ngài là vị cứu tinh của chúng ta, ngài
đ ã giải cứu chúng ta.
Các vua ấy ban tặng vật trang sức cho ngài
để tỏ l òng quý trọng.
Bậc Đại Sĩ nói với vua C ùlani:
- Xin Đại vương chớ sợ, lỗi lầm n ày
do kết giao với một bạn ác, xin Đại vương y êu
cầu các vua kia lượng thứ cho.
Vua bảo:
- Ta đ ã làm như vậy vì một kẻ ác,
đó l à lỗi lầm của ta, xin các vị hãy
khoan dung, ta không bao giờ tái phạm điều ấy
nữa.
Vua này liền được các vua kia tha thứ, tất
cả đều thú tội cho nhau nghe v à trở thành thân hữu, sau
đó vua truyền đem đến đủ thứ sơn h ào hải
vị, hương thơm tràng hoa và suốt bảy ngày liền họ liên hoan trong
địa đạo, rồi v ào kinh thành ban
đại vinh hiển cho bậc Đại Sĩ. Vua ngự tr ên
ngai vàng, có cả tr ăm lẻ một vương hầu vây
quanh. V à ước mong giữ bậc Trí giả ở lại triều
đ ình này, vua liền bảo:
201. Trẫm ban thế lực, vinh quang,
Gấp đôi thực phẩm, tiền lương công thần,
V à thêm nhiều thứ đặc ân,
Mong khanh hưởng thụ to àn phần tự do,
Đừng về với Chúa Đề-ha,
Vua kia l àm được g ì cho khanh à?
Nhưng bậc Trí giả tìm lời lẽ chối từ:
202-203. Đại vương, rời bỏ chủ ta,
Chỉ v ì lợi lộc thật là nhục thay,
Cho người kia lẫn ta đây;
Trong đời Vi-đế vương n ày trị dân,
Thần không hầu hạ tha nhân,
Thần không thể sống giang sơn người ngoài.
Lúc ấy vua bảo ngài:
- Này bậc Trí giả, được rồi, khi n ào
Đại vương của khanh l ên chầu trời, xin
hiền khanh hãy hứa đến đây với trẫm.
- Tâu Đại vương, nếu thần c òn sống,
thần xin đến đây.
Thế là vua tiếp đ ãi ngài trọng thể
trong bảy ngày. Sau đó, khi ng ài tạ từ,
vua ngâm kệ hứa hẹn ban tặng ngài thứ nọ kia:
204. Ban khanh ngàn nén vàng thoi,
Ở Kà-si đủ tám mươi ngôi l àng,
Bốn tr ăm tỳ nữ gia nhân,
Một trăm th ê thiếp, trẫm ban trọn phần.
Rồi đem tất cả đo àn quân,
Ma-ho-sad, hãy lên đường b ình an.
- Khi đức vua của thần về bổn quốc, thần có
tâu ng ài phải tiếp đ ãi mẫu hậu
Nandà như mẹ ngài, hoàng tử Pañcàlacanda như vương
đệ của ng ài và thần
đ ã kết duyên công chúa cho ngài bằng
nghi lễ vẩy nước thánh. Chẳng bao lâu nữa thần xin
đưa thái hậu c ùng hoàng hậu, hoàng tử
trở về.
- Tốt lắm.
Vua phán, truyền ban hồi môn cho công chúa, cùng thị vệ nữ tỳ, xiêm y, nữ
trang ngọc vàng trân bảo, voi ngựa, vương xa trang hoàng rực rỡ. Rồi vua ra
lệnh cho quân sĩ thi hành:
205. Hãy cho bầy ngựa, voi đ àn,
Gấp đôi số thực phẩm ban ng ày,
Toàn quân mở tiệc liên hoan,
Quản xa, lính bộ uống ăn thỏa l òng!
Nói vậy xong, vua truyền bậc Trí giả ra về với những lời này:
206. Lên đường, hỡi bậc Trí nhân,
Đo àn xe, voi ngựa, lục quân ra về,
Để cho chúa tể Vi-đề
Thấy khanh trở lại Mi-thi-la th ành.
Vua tiễn đưa bậc Trí giả vô c ùng
trọng thể như thế. Cả tr ăm lẻ một vương hầu c ùng
đưa tiễn ng ài linh
đ ình và trao quà tặng vô số.
Các thám tử theo phụng sự các vương hầu kia cũng
đến vây quanh bậc Trí giả. Ng ài rầm rộ
lên đường. Tr ên lộ trình, ngài gửi người
hầu đi thu lợi tức ở các ngôi l àng mà
vua Cùlani đ ã ban ngài. Rồi ngài trở về
vương quốc Vedeha.
Bấy giờ Senaka đ ã phái một người hầu
lên đường để r ình xem vua Cùlani có
đến hay không v à phi báo cho lão biết
bất kỳ ai đến. G ã kia trông thấy bậc
Đại S ĩ cách ba dặm
đường, liền trở về báo cho l ão biết bậc
Trí giả đang c ùng
đám t ùy tùng
đông đảo rầm rộ trở về. Được tin ấy l ão
liền đến ho àng cung. Vua cũng nhìn ra
cửa sổ trên thượng lầu thấy một đám đông rầm rộ
th ì đâm hoảng sợ. "Đám t ùy tùng
của bậc Đại Sĩ c òn ít lắm, còn
đám n ày lại quá
đông, phải chăng đích thân vua C ùlani
đến đây?". Ng ài liền hỏi như sau:
207. Ngựa voi, xe pháo, bộ binh,
Đạo quân rầm rộ hiện h ình trước ta,
Bốn đo àn khủng khiếp lộ ra,
Việc này có ý nghĩa là sao đây?
Senaka đáp:
208. Hân hoan lớn nhất đời n ày,
Đại vương c òn thấy vui vầy nào hơn?
Ma-ho-sad được b ình an,
Trở về cùng cả đo àn quân của ngài.
Vua bảo:
- Này Senaka, quân sĩ của bậc Trí giả ít lắm, mà
đám n ày lại quá
đông?
- Tâu Đại vương, ắt hẳn vua C ùlani
đẹp ý v ì ngài lắm nên
đ ã ban cho ngài
đám tùy t ùng
đông như vậy.
Vua liền cho lệnh truyền đi khắp nơi kinh th ành
bằng tiếng trống:
- Cả kinh thành hãy trang hoàng để ngh ênh
đón bậc Trí giả về.
Dân chúng tuân lệnh, bậc Trí giả về thành, liền vào cung vua. Lúc ấy vua
đứng dậy ôm hôn ng ài, rồi lui về ngai và
hoan hỷ bảo ngài:
209-210. Giống như có bốn người trai,
Để thi thể nọ ra ngo ài nghĩa trang,
Chúng ta để bậc Trí nhân.
Tại Kam-pil quốc, nhanh chân trở về.
Nhưng khanh có đặc tính g ì,
Lập mưu, phương tiện, cứu nguy an toàn?
Bậc Đại Sĩ đáp:
211. Vi- đề-ha, tấu Đại vương,
Thần nhờ một đích phá tan địch th ù,
Dùng quân cơ thắng quân cơ,
Và thần vây hãm vị vua đại cường,
Như l à biển lớn, Chiến vương,
Bao vây khắp cả giang sơn Diêm-Phù.
Nghe thế vua rất đẹp l òng. Rồi bậc
Đại Sĩ kể cho vua nghe những tặng vật m à
vua Cùlani đ ã ban :
212. Được ban ng àn nén vàng thoi,
Ở Kà-sì đủ tám mươi ngôi l àng
Bốn tr ăm tỳ nữ gia nhân,
Một trăm th ê thiếp được ban cho thần.
Rồi c ùng tất cả đo àn quân,
Tiểu thần trở lại quê hương an toàn.
Lúc ấy vua hết sức vui mừng, hoan hỷ thốt lời ca ngợi tán thán
đầy cung kính trước t ài
đức của bậc Đại Sĩ:
213. Thật là hạnh phúc muôn vàn,
Khi ta được sống c ùng hàng trí nhân.
Như chim thoát khỏi lồng giam,
Như con cá thoát lưới càng vui thay,
Ma-ho-sad cứu ta đây,
Khi ta c òn ở trong tay quân thù.
Senaka đáp lại như sau:
214. Muôn tâu chúa thượng, chúng ta,
Sống cùng bậc Trí thật là lạc quan,
Như chim thoát khỏi lồng giam,
Như con cá thoát lưới càng vui thay,
Ma-ho-sad cứu ta đây,
Khi ta c òn ở trong tay quân thù.
Sau đó vua cho trống hội đánh khắp kinh th ành:
Hãy làm hội hè trong bảy ngày, những kẻ nào có thiện ý với trẫm thì hãy
phụng sự cung kính bậc Trí giả.
*
Bậc Đại Sư giải thích việc n ày như
sau:
Dân chúng hãy trổi vang mọi loại đ àn
sáo trống chiêng, tù và trong xứ Ma-kiệt- đ à
hãy khua vội lên, thanh la rung thật nhộn nhịp.
Dân chúng từ thành thị đến thôn qu ê
đều ước ao tỏ l òng tôn kính bậc
Đại Sĩ, khi nghe công bố như vậy, liền mở hội
li ên hoan cho thỏa thích. Bậc Đạo Sư
giải thích việc n ày như sau:
215. Đ àn bà, con gái mọi nhà,,
Thương gia cùng vợ, các Bà-la-môn
Đem đầy đủ thức uống ăn,
Đến dâng bậc Trí nhân l àm quà.
216. Luyện voi, vệ sĩ, quản xa,
Bộ binh, tất cả đem qu à
đến, dâng.
To àn dân làng xã hợp quần
Người người vui thấy Trí nhân khải hoàn.
Trong khi tiếp đón ch ào mừng,
Trên không phất phới kh ăn qu àng vẫy
tung.
Khi tan hội hè, bậc Đại Sĩ v ào cung
và thưa:
- Tâu Đại vương, mẫu hậu v à hoàng
hậu, hoàng nam của vua Cùlani phải được đưa về
nước ngay lập tức.
- Vương nhi, tốt lắm. con hãy đưa họ trở về.
Ngài liền cư xử rất cung kính đến với ba
người kia v à tiếp đ ãi ân cần
đám t ùy tùng
đ ã đi theo
ng ài, rồi ngài đưa ba vị ấy về nước với
đầy đủ đo àn hầu cận của ngài cùng một tr ăm
th ê thiếp và bốn tr ăm nữ tỳ m à
vua kia đ ã ban cho ngài, ngài
đều đưa về theo ho àng hậu Nandà và
đo àn quân sĩ
đ ã đến đây
với ng ài, ngài cũng cho về luôn.
Khi đo àn
đại binh n ày đến th ành
Uttarapañcàla, vua hỏi mẫu hậu:
- Tâu mẫu hậu, vua Vedeha có tiếp đ ãi
mẫu hậu nồng nhiệt ch ăng?
- Này hoàng nhi, con hỏi sao vậy? Ngài đ ã
tiếp đ ãi ta vinh dự chẳng khác nào
đón ti ên nữ trên trời.
Rồi bà lại kể hoàng hậu Nandà được tiếp đ ãi
như bà mẹ ra sao và Pañcàlacandà như một vương
đệ thế n ào. Việc này khiến vua rất hài lòng và truyền gửi nhiều tặng
vật rất hậu hỷ. Từ đó hai nước sống trong t ình
thân hữu mật thiết.
Lúc bấy giờ công chúa Pancàlacandì rất được
vua y êu quý, n ăm sau n àng hạ sinh
được một vương tử. Mười năm sau, vua Vedeha từ
trần. Bồ-tát giương chiếc lọng ho àng gia lên cho vương tử, rồi xin
giã từ về để đi đến với tổ phụ của ng ài
là vua Cùlani. Vương tử bảo:
- Thưa bậc Trí giả, xin đừng bỏ trẫm lúc c òn
thơ ấu, trẫm sẽ tôn trọng ngài như cha trẫm vậy.
Công chúa Pañcàlacandì lại bảo:
- Thưa bậc Trí giả, xin đừng đi, không có ai
bảo vệ mẹ con ta nếu ng ài ra đi.
Nhưng ngài đáp:
- Thần đ ã hứa lời, vậy thần phải ra
đi.
Thế là giữa đám đông k êu than thảm
thiết, ngài ra đi c ùng
đám hầu cận đến th ành Uttarapañcàla. Vua
này hay tin ngài đến, liền ra đón tiếp, đưa ng ài
vào thành rất trọng thể, ban cho ngài dinh cơ rộng lớn ngoài tám mươi làng
đ ã ban trước kia, lại ban thêm tặng vật
khác và từ đó ng ài phụng sự vua này.
30. VẤN
ĐỀ THỦY QUÁI.
Thời ấy có một nữ tu sĩ tên là Bheri, vẫn thường dùng cơm trong cung. Bà
này thông thái tài trí và chưa hề tiếp kiến bậc
Đại Sĩ, nay nghe báo tin bậc Trí giả Mahosadha đang phụng sự vua. Ng ài
cũng chưa hề thấy bà này bao giờ, nhưng ngài nghe rằng một nữ tu sĩ tên là
Bheri thường ăn cơm c ùng vua.
Lúc bấy giờ hoàng hậu Nandà không hài lòng Bồ-tát vì ngài
đ ã làm bà mất tình yêu của vua khiến bà
sinh lòng phiền muộn, nên bà cho gọi n ăm tỳ nữ
thân tín đến v à dặn:
- Các ngươi rình tìm cho được lỗi lầm của
bậc Trí giả, rồi ta cố l àm cho gã bị thất sủng.
Thế là họ đi t ìm cơ hội chống phá
ngài. Một hôm vị nữ ẩn sĩ ấy sau buổi ăn,
đang đi ra ngoài thì gặp Bồ-tát trên sân chầu đến yết kiến vua. Ngài vái
chào bà rồi đứng yên. Bà nghĩ thầm: "Họ bảo đây là một trí giả, vậy ta thử
xem ngài có thật là một trí giả hay không". Bà liền hỏi ngài bằng cách ra dấu
tay, bà mở bàn tay ra trong khi nhìn về phía Bồ-tát. Ý bà muốn hỏi vua có ân
cần chu đáo với bậc Trí giả m à vua
đ ã đưa về
từ ngoại quốc chăng. Khi Bồ-tát thấy b à hỏi ngài bằng cách ra dấu,
ngài đáp bằng cách nắm tay lại, ý ng ài
muốn nói: "Thưa hiền tỷ, nhà vua đem ta về đây
để l àm tròn một lời hứa, nay ngài nắm chặt tay lại, chẳng cho ta gì
cả". Bà hiểu ý, giơ tay ra xoa đầu như muốn
nói: "Hiền giả, nếu ng ài không toại ý, cớ sao ngài không
đi l àm ẩn sĩ như ta". Thấy thế, bậc
Đại Sĩ vỗ bụng như muốn bảo: "Hiền tỷ ta c òn
phải cấp dưỡng nhiều người nên ta chưa làm ẩn sĩ
được". Sau lần chất vấn không lời ấy, b à
trở về nơi ẩn cư.
Bậc Đại Sĩ ch ào bà và
đến yết kiến vua. Lúc bấy giờ các kẻ tâm phúc
của ho àng hậu thấy rõ cảnh trên từ cửa sổ nên
đến tr ình vua:
- Tâu hoàng thượng, Ngài Mahosadha đang âm
mưu với nữ ẩn sĩ Bheri để chiếm vương quốc n ày,
đó chính l à kẻ thù của ngài.
Rồi họ vu khống cho ngài. Vua hỏi:
- Các ngươi đ ã nghe thấy gì?
Họ đáp:
- Tâu hoàng thượng, khi nữ ẫn sĩ ra về sau buổi
ăn, thấy bậc Đại Sĩ, b à mở bàn tay ra
như muốn bảo: "Ngài không thể đ è bẹp nhà
vua như lòng bàn tay này hay cái sàn đập lúa
rồi chiếm lấy vương quốc n ày cho ngài sao?". Và ngài Mahosadha nắm
tay lại như thể cầm thanh kiếm và bảo: "Vài ngày nữa ta sẽ chém
đầu vua v à cầm quyền". Bà ra dấu: "Hãy
chém đầu vua", bằng cách lấy tay xoa đầu. Bậc
Đại Sĩ lại ra dấu: "Ta sẽ chặt vua l àm
đôi" bằng cách xoa bụng. Xin ho àng thượng hãy
đề ph òng, phải giết Mahosadha ngay mới
được.
Vua nghe vậy, nghĩ thầm: "Ta không thể làm hại bậc Trí giả
được, ta phải hỏi lại nữ tu sĩ kia". V ì
thế ngày hôm sau, lúc bà đang d ùng cơm,
vua liền đến hỏi:
- Này hiền tỷ có gặp Trí giả Mahosadha ch ăng?
- Tâu Đại vương, hôm qua sau khi d ùng
cơm xong thần có gặp.
- Thế các vị có đ àm luận gì với nhau
ch ăng?
- Đ àm luận ư? Thưa không, nhưng vì
thần nghe nói về tài trí của ngài, nên để thử t ài
ngài, thần đ ã ra dấu hỏi ngài bằng cách
nắm tay lại, xem thử đức vua có rộng r ãi
hay hẹp hòi đối với ng ài,
đức vua có ân cần đối với ng ài ch ăng?
Ng ài nắm tay lại, ám chỉ rằng đức vua đ ã
bảo ngài đến đây để l àm tròn một lời
hứa, nay chẳng ban cho ngài gì cả. Sau đó thần
xoa đầu để hỏi tại sao ng ài không xuất gia tu hành nếu ngài không
toại ý, ngài vỗ bụng muốn bảo là ngài còn phải cấp dưỡng nhiều người và nuôi
họ ăn uống đầy đủ, n ên chưa xuất gia
được.
- Thế Mahosadha có phải là bậc Trí giả ch ăng?
- Quả thật vậy, tâu Đại vương, khắp thế gian
n ày chẳng có ai tài trí như ngài cả.
Sau khi nghe bà tường thuật, vua cho bà lui ra. Sau khi bà
đi về, bậc Trí giả v ào chầu. Vua hỏi:
- Này bậc Trí giả, khanh đ ã gặp nữ ẩn
sĩ Bheri chưa?
- Tâu Đại vương, thần gặp b à ấy hôm
qua trên đường về, b à hỏi thần bằng cách
ra dấu, thần trả lời bà ấy ngay.
Rồi ngài kể lại câu chuyện như bà ấy đ ã
kể trước đây. Vua đẹp l òng, ngay hôm sau
phong cho ngài chức đại tướng quân v à
giao một mình ngài đảm chức vụ ấy. Vinh quang
của ng ài thật lừng lẫy, chỉ đứng sau vua
m à thôi.
Ngài nghĩ thầm: "Nhà vua bỗng dưng ban cho ta vinh quang tột bực lẫy
lừng; đây l à chuyện vua chúa thường làm
ngay cả khi họ muốn sát hại ai. Để ta thử xem
nh à vua có thiện ý với ta hay không. Không ai có thể làm việc này trừ
ẩn sĩ Bheri đầy t ài trí ấy và bà ấy sẽ
có cách".
Thế là ngài đem hương hoa đến thăm nữ ẩn sĩ,
sau khi vái ch ào bà, liền bảo:
- Thưa hiền tỷ, từ khi hiền tỷ khen ngợi tài n ăng
của ta với đức vua, ng ài liền ban tặng ta nhiều bảo vật, nhưng ngài
có thực tâm không thì ta chưa rõ. Vậy nếu hiền tỷ chịu khó tìm hiểu dùm cho
ta về tâm ý đức vua th ì hay quá.
Bà hứa sẽ làm thế và hôm sau bà vào cung, bà chợt nghĩ
đến câu chuyện Thủy quái Dakarakkhasa. Lúc ấy b à
suy nghĩ: "Ta không nên làm như một thám tử, ta phải tìm cơ hội hỏi chuyện
này xem đức vua có thiện ý với bậc Trí giả
chăng?. Rồi b à đi v ào, sau buổi
ăn b à ngồi yên. Vua vái chào bà và ngồi
sang một bên, bà nghĩ thầm: "Nếu đức vua có ác
ý với bậc Trí giả v à khi ngài được hỏi
vấn đề kia, ng ài bày tỏ ác ý của ngài trước mặt nhiều người,
điều ấy không có lợi g ì, vậy ta phải hỏi
riêng mới được". B à liền bảo:
- Tâu hoàng thượng, thần ao ước được đ àm
luận riêng với ngài.
Vua liền bảo cận thần lui ra, bà nói:
- Thần mong muốn hỏi hoàng thượng một điều.
- Hiền tỷ cứ nói, nếu ta biết, ta sẽ đáp
ngay.
Bà liền đọc vần kệ thứ nhất về chuyện Thủy
quái Dakarakkhasa:
217. Bảy người thân của hoàng cung,
Ngự du trên chốn ngàn trùng đại dương,
Quỷ thần đ òi hỏi tế đ àn,
Khi vừa chụp lấy thuyền vàng của vua,
Những ai ngài sẽ đưa ra,
Dần theo thứ tự để m à cứu nguy?
Vua liền đáp kệ hết sức chân th ành:
218. Trước tiên mẫu hậu tức thì,
Kế là hoàng hậu chánh phi Nandà,
Tiếp theo tiểu đệ ho àng gia,
Thứ tư thân hữu, n ăm b à-la-môn,
Chính ta thứ sáu bản thân,
Nhưng ta không hiến Trí nhân của mình!
Như thế ẩn sĩ đ ã thấy rõ thiện tâm
của vua đối với bậc Đại Sĩ, nhưng t ài
trí của ngài chưa được công bố cho mọi người r õ
nên bà liền nghĩ đến một chuyện khác nữa:
"Trước công chúng, ta sẽ ca ngợi t ài đức
của nhiều người khác, v à để đức vua tán
dương t ài trí của bậc Trí giả, như vậy tài trí ngài sẽ sáng tỏ như
mặt tr ăng tr ên trời". Bà liền tập hợp
tất cả mọi người ở trong hậu cung; trước mặt họ, bà cũng hỏi câu trên và
được đáp lại như thế, rồi b à nói:
- Tâu Hoàng thượng, ngài bảo sẽ đem thái hậu
ra tế lễ trước ti ên, nhưng một bà mẹ thật nhiều công
đức. Hơn nữa thái hậu lại chẳng giống các b à
mẹ khác, mẫu hậu thật đắc dụng.
Rồi bà kể công đức của mẫu hậu trong hai vần
kệ sau:
219. Lệnh bà dưỡng dục sinh thành,
Bao n ăm tận tụy nhiệt t ình với con,
Khi Cham-bhì hại hoàng nam,
Khôn ngoan bà thấy việc làm lợi vua,
Đem người thế chỗ vương gia,
N ên ngài đ ã
được chính b à cứu nguy.
220. Mẹ cho đời sống từ bi,
Chính b à mang nặng hoàng nhi trong lòng.
Vì đâu l à các lỗi lầm,
Ngày đem hiền mẫu hiến dâng thủy thần?
Nghe vậy vua liền đáp:
- Mẫu hậu rất nhiều tài đức, trẫm thừa nhận
mẫu hậu có nhiều công đức với trẫm, nhưng lỗi lầm của b à còn nhiều
hơn nữa.
Rồi vua tả các lỗi lầm của mẹ trong hai vần kệ:
221-222. Giống như thiếu nữ còn xuân
Bà đeo các món bội ho àn nữ trang
Mà bà già chẳng nên mang.
Phi thời bà chế nhạo quân canh phòng.
Lại thường gửi điệp địch vương,
M à không được lệnh của ho àng gia
đây.
Chính v ì các lỗi lầm này,
Nên ta đem hiến b à ngay thủy thần!
- Tâu Hoàng thượng, đ ã
đ ành vậy, nhưng hoàng hậu cũng có nhiều
tài đức.
Và bà kể tài đức của ho àng hậu:
223-224. Lệnh bà đệ nhất hồng quần,
Cực kỳ diễm lệ, nói năng ân cần,
Tr àn đầy đức hạnh, nhiệt tâm,
Kề b ên hoàng hậu uyên ương bóng hình,
Chẳng hề giận dỗi bất bình,
Khôn ngoan, thận trọng, chân thành lợi vua.
Vậy vì lầm lỗi đâu m à
Ngài đem ho àng hậu hiến dâng thủy thần?
Vua liền kể các lỗi lầm của bà:
225-226. Nhờ bao vẻ đẹp m ê hồn,
Bà hoàng đ ã khiến vương quân phục tòng,
Chịu nhiều ảnh hưởng bất nhân,
Và đ òi những thứ bà không nên
đ òi
Dành cho con của bà thôi.
Vì ta say đắm ban ho ài
đặc ân.
Ta ban những vật khó ban,
Về sau hối hận muôn v àn đắng cay,
Chính v ì các lỗi lầm này.
Ta đem ho àng hậu tế ngay thủy thần!
Nữ ẩn sĩ đáp:
- Đ ã đ ành
vậy, nhưng còn hoàng đệ Tikhinamat ì rất
lợi ích cho Hoàng thượng. Vì lỗi gì ngài đem ch àng
cho thủy quái?
Và bà ngâm kệ:
227. Chàng đem phồn thịnh cho dân,
Khi ng ài đang ở tha phương xứ người,
Ch àng đưa Ho àng thượng tái hồi,
Chàng không hề bị cuốn lôi bạc vàng.
228. Anh hùng thiện xạ vô song,
Ti-khi-na thật tinh thông muôn phần,
Vậy đâu l à các lỗi lầm,
Ngài đem ho àng
đệ tế dâng thủy thần?
Vua kể lỗi lầm của chàng:
229. "Ta đem phồn thịnh cho dân,
Khi ng ài đang ở tha phương xứ người,
Ta đưa Ho àng thượng tái hồi,
Ta không hề bị cuốn lôi bạc vàng.
Ta là thiện xạ vô song,
Anh hùng vô địch tinh thông trí t ài.
Ta tôn Hoàng thượng lên ngôi".
Chàng suy nghĩ vậy, thế rồi về sau.
230. Chàng không đi đến cung chầu,
Như thường thuở trước ch àng hầu bên ta.
Chính vì lầm lỗi kia mà,
Ta đem ho àng
đệ tế dâng thủy tề.
Ẩn sĩ bảo:
- Hoàng đệ nhiều lỗi lầm như thế, nhưng c òn
hoàng tử Dhanusekha thương yêu ngài rất tận tụy lại rất hữu ích.
Bà tả tài đức của ch àng:
231. Ngài và Dha-nu-sek-ha,
Cùng mang tên tộc Pañ-cà-la-mà.
Một đ êm hai vị sinh ra,
Vừa là thân hữu vừa là đồng môn,
Suốt đời hầu cận minh quân,
Đồng cam cộng khổ vui buồn b ên nhau.
232. Nhiệt tình thận trọng bấy lâu,
Hết lòng phục vụ kể đâu đ êm ngày.
Vậy thì lầm lỗi nào đây,
Ng ài đem thân hữu tế ngay thủy thần?
Vua liền tả lỗi lầm của chàng:
233. Suốt đời, thưa nữ đạo nhân,
Ch àng thường vui thú chung cùng bên ta.
Chính vì duyên cớ ấy mà,
Nay chàng hành động quá l à tự do.
234. Nếu ta nói chuyện riêng tư,
Cùng hoàng hậu, cứ xông vô phi thời,
Mà không có lệnh ta đ òi,
Cũng không thông báo cho người nào hay.
235. Nếu cho chàng một dịp may,
Làm điều bất kính, nhục đầy xấu xa,
Chính v ì lầm lỗi ấy mà
Ta đem thân hữu hiến cho thủy thần.
Nữ ẩn sĩ đáp:
- Lỗi lầm của chàng thật nhiều đấy, song c òn
vị quân sư rất hữu dụng cho Hoàng thượng.
Bà liền tả tài đức của vị n ày:
236. Tế sư quả thật tinh khôn,
Biết nhiều điềm triệu, thanh âm ở đời,
Chuy ên môn đoán rộng, v ãng lai,
Am tường dấu hiệu đất trời, trăng sao,
Vậy th ì do lỗi lầm nào,
Đại vương đem đạo sĩ trao thủy thần?
Vua giải thích lỗi lầm của vị ấy:
237. Dù ngay ở giữa quần thần,
Lão thường mở mắt trừng trừng nhìn ta,
Nên ta muốn hiến lão già,
Nh ăn m ày quỷ quái ấy cho thủy thần!
Lúc ấy vị ẩn sĩ nói:
- Tâu Hoàng thượng, ngài phán rằng ngài sẽ
đem năm người n ày cho thủy quái và sẽ hy sinh thân mình cho bậc Trí
giả Mahosadha mà không nghĩ gì đến ngai v àng
vinh hiển của mình. Vậy Hoàng thượng thấy vị ấy có tài
đức g ì?
Và bà ngâm các vần kệ này:
238. Đại vương ở giữa triều thần,
Trong châu lục lớn, ng àn trùng biển xanh,
Thay vì thành lũy bao quanh,
Ngự trên đế quốc h ùng anh
đại cường,
Độc tôn ho àng đế trần gian,
Thật l à vĩ đại vinh quang vô v àn.
239. Nữ nhi một vạn sáu ngàn,
Điểm tô châu ngọc, nữ trang sáng ngời,
Giai nhân từ khắp mọi nơi,
Khác n ào tiên nữ cao vời thiên cung.
240. Được dâng mọi thứ cần dùng,
Mọi điều ước nguyện cầu mong vẹn to àn,
Đại vương đ ã sống trường tồn,
Trong niềm hạnh phúc hân hoan tột cùng.
Đâu l à duyên cớ nguyên nhân,
Hy sinh ngọc thể hộ phòng Trí nhân?
Nghe vậy, vua ngâm các vần kệ này ca tụng
đức hạnh của bậc Trí giả:
241. Thưa bà, Trí giả Đại thần,
Từ khi đến ở kế gần b ên ta,
Ta không hề thấy bao giờ,
Con người khí phách tạo ra lỗi lầm,
Dù là một mảy cỏn con.
242. Nếu ta chết trước Trí nhân lúc nào,
Người đem hạnh phúc biết bao,
Cho đ àn con cháu mai sau lâu dài.
243. Người thông minh mọi việc trên đời,
D ù là quá khứ, tương lai xa gần.
Người này không có lỗi lầm,
Ta không muốn tế thủy thần quỷ ma.
Như vậy chuyện Tiền thân này đ ã
đến hồi kết thúc tốt đẹp. Lúc ấy vị ẩn sĩ suy
nghĩ: "Chuyện n ày vẫn chưa đủ để b ày
tỏ đức độ của bậc Trí giả, ta sẽ cho dân chúng
khắp kinh th ành biết rõ công đức của ng ài
như người ta rãi dầu thơm trên mặt biển".
Thế là bà mời vua cùng bà đi xuống khỏi
cung, soạn bảo toạ tr ên sân chầu, mời vua ngự lên, rồi triệu tập dân
chúng lại, bà hỏi vua một lần nữa về chuyện Thủy quái từ khởi
đầu, v à khi vua trả lời như trên
đây, b à liền bảo dân chúng:
244. Thần dân của xứ Pañ-cà,
Nghe lời này của vua Cù-la-ni,
Bảo toàn bậc Trí giả kia,
Đức vua n ào có kể chi mình vàng.
245. Cuộc đời của chính mẫu ho àng,
Em trai, hoàng hậu, thân bằng, bản thân,
Vua Pãn-cà thảy sẵn lòng,
Hy sinh tất cả hiến dâng thủy thần.
246. Diệu kỳ thay trí lực hùng,
Thông minh tài giỏi vô song như vầy,
Chỉ vì ích lợi đời n ày,
Cùng là hạnh phúc lâu dài đời sau.
Như vậy bà đ ã
đạt đỉnh cao trong sự chứng minh t ài
đức của bậc Đại Sĩ, chẳng khác n ào người
ta đặt ngọn tháp cao chót vót l ên một
đống bảo vật.
Đến đây chấm dứt Vấn đề Thủy quái và cũng chấm dứt luôn toàn chuyện Đường
hầm vĩ đại.
*
Và sau đây l à sự nhận diện Tiền thân:
- Uppalavannì (Liên Hoa Sắc) là nữ ẩn sĩ Bheri, Suddhodana (Vua Tịnh
phạn) là cha của bậc Trí giả, Mahàmàyà (hoàng hậu Ma-gia) là mẹ ngài, giai
nhân Bimbà (tức Yasodhàrà) là Amarà, Ànanda là con két, Sàriputta là vua
Cùlani, Mahosadha là đức Thế tôn.
Tiền thân này được hiểu như vậy.
Devadatta là Kevatta, Cullanandikà là Talatà, Sundarì là Pañcàlacandì,
Yasassika là hoàng hậu, Ambattha là Kàvinda, Potthapàda là Pukkusa, Pilotika
là Devinda, Saccala là Senaka, Ditthamangalikà là Hoàng hậu Udumbarà (Cây
sung), Kundali là chim Maynah và Làludàyì là Vedeha.