Chương XXII#
Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-
544. CHUYỆN BẬC#
ĐẠI TRÍ MAH ÀNÀRADA-KASSAPA
(Tiền thân Mahanàrada-Kassapa)
Một vì vua xứ Vi- đề-ha… ,
Câu chuyện này do bậc Đạo Sư kể, khi Ng ài
trú ngụ tại Lạc Viên Latthivanna (Rừng Mía), về việc quy y của Tôn giả
Ưu-lâu-tần-loa-Ca-diếp (Uruvela-Kassapa).
Lúc bấy giờ uy danh của bậc Đạo Sư về việc
hoằng dương Chánh pháp đ ã bắt đầu lừng
lẫy. Sau khi Ng ài giáo hóa các vị tu khổ hạnh khác cùng Tôn giả
Ưu-lâu-tần-loa, Ngài liền đi đến Lạc Vi ên
Latthivana, với cả ngàn Tỷ kheo vây quanh, các vị này trước
đây l à những
đạo sĩ khổ hạnh. Ng ài muốn thuyết phục
vua Magadha (Ma-kiệt- đ à) giữ lời hứa
cúng dường Tinh xá Veluvana (Trúc Lâm) và lúc ấy vua Ma-kiệt- đ à
cùng đến với đám triều thần đông cả mười hai
vạn người.
Sau khi đảnh lễ đức Phật xong, vua ngồi
xuống, rồi một vấn đề được đưa ra tranh luận giữa các B à-la-môn và
các gia chủ trong đám t ùy tùng của vua:
Phải ch ăng Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp phục
t ùng sự giáo hóa của bậc Đại Sa Môn, hay
l à bậc Đại Sa Môn phục t ùng sự
hướng đạo tu h ành của Ưu-lâu-tần-loa Ca-
diếp?
Lúc ấy đức Thế Tôn nghĩ thầm: "Ta sẽ cho hội
chúng thấy rằng Ca-diếp đ ã phục tùng sự giáo hóa của Ta".
Rồi Ngài ngâm kệ này:
Thấy gì Hiền giả Kas-sa-pa,
Người ở rừng U-ru-ve-la,
Lừng lẫy tiếng tăm về khổ hạnh,
Sao ông từ bỏ lửa thiêng xưa,
Này Ca-diếp hỡi, nghe ta hỏi:
Sao bỏ tế đ àn với lửa kia?
Lúc ấy vị trưởng lão đ ã hiểu rõ ý
nghĩa câu hỏi của đức Phật, liền đáp kệ n ày:
Tế lễ nói lên ngũ dục trần:
Sắc, thanh, hương, vị với giai nhân,
Và khi biết những điều như thế,
Chỉ thấy trong đời sống thế gian,
Đều bất tịnh, con không thích thú,
Tế đ àn dâng lễ cúng Thiên thần.
Rồi để tỏ ra m ình là
đệ tử Phật, vị Tỷ-kheo n ày
đặt đầu l ên chân
đức Phật v à nói:
- Đức Thế Tôn l à
Đạo Sư của con, con l à
đệ tử của Ng ài.
Nói xong ông bay lên không bảy lần đến ngọn
một cây cọ dừa (tala), hai cây tala cho đến bảy cây tala, rồi trở xuống đảnh
lễ đức Thế Tôn v à ngồi qua một bên. Hội chúng trông thấy việc hy hữu
như thế, liền tán thán uy danh củc bậc Đạo Sư,
đồng nói to:
- Cao cả thay thần lực của đức Phật, n ên
mặc dù đ ã tin tưởng vững chắc vào uy lực
mình, mặc dù tự cho mình là Thánh nhân, Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa cũng
đ ã phá bỏ mọi vọng chấp sai lầm và xin
quy y với đức Như Lai.
Bậc Đạo Sư đáp:
- Việc ấy cũng không kỳ diệu gì, khi ngày nay Ta
đ ã đạt
Thắng trí vi ên mãn và giáo hóa vị này; vì ngày xưa khi ta còn là một
Bà-la-môn tên gọi Narada và còn tham đắm dục
lạc, ta cũng phá tan mọi vọng chấp sai lạc của ông v à khiến ông phải
quy phục.
Rồi theo lời thỉnh cầu của thính chúng. Ngài kể câu chuyện sau
đây:
*
Ngày xưa ở thành Mithilà trong quốc độ
Videha có một vị minh quân trị v ì rất
đúng pháp, t ên là Angàti. Lúc bấy giờ chánh hậu của ngài
đang mang thai một công chúa xinh đẹp đầy ân
phúc, t ên gọi Rujà, có công hạnh rất lớn và là người
đ ã phát đại
nguyện suốt một trăm ng àn kiếp. Mười sáu ngàn phi tần kia của ngài
đều không có con. V ì thế công chúa này
rất được y êu quý nâng niu.
Hằng ngày ngài thường ra lệnh ban cho nàng hai mươi l ăm
giỏ hoa muôn m àu và xiêm y lộng lẫy để n àng
trang sức, lại ban cho nàng một ngàn đồng tiền
để n àng bố thí các thức ăn uống tr àn
trề mỗi tháng hai lần.
Lúc bấy giờ ngài có ba vị cận thần tên gọi Vijaya, Sunàma và Alàta. Vào
một ngày rằm tháng tư kia, cả kinh thành và cả cung
điện được trang ho àng lộng lẫy như cảnh
thiên giới, sau khi đức vua đ ã tắm gội,
xức dầu thơm và trang sức đủ ngọc ng à
trân bảo, ngài cùng các cận thần ngự lên thượng lầu mở cửa sổ nhìn mặt tr ăng
tr òn đang l ên cao dần trên bầu
trời quang đ ãng, ngài bảo các cận thần:
- Đ êm tr ăng
n ày thật thú vị quá, các khanh muốn cùng ta hưởng lạc thú gì ch ăng?
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
1. Một vì vua xứ Vi- đề-ha,
T ên gọi An-ga-ti, thuở xưa,
Có lắm cỗ xe, tài sản quý,
Binh hùng tướng mạnh kể sao vừa.
2. Một đ êm tr ăng
sáng ng ày mười l ăm,
Canh một sắp qua, ánh nguyệt rằm,
V ào tháng tư mùa mưa mới đến,
Vua liền tụ họp đám quần thần.
3. Vi-ja-ya, Đại tướng A-l à,
Cùng với Đại thần Su-ma-na,
L à các trí nhân, tươi nét mặt,
Đông con kinh nghiệm đủ ph ò vua.
4. Vua Vi- đề hỏi chúng triều đ ình:
Hãy nói ý mình muốn, mỗi khanh,
Nay đúng tháng tư, đ êm mãn nguyệt,
Mây mờ không phủ ánh tr ăng thanh,
Đ êm nay ta có gì vui thú,
Tiêu khiển thời giờ ấy thật nhanh?
Cứ thế khi được vua hỏi đến, mỗi vị cận thần
nói l ên nguyện ước lòng của mình.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
Lúc ấy Đại tướng Al àtaka tâu với vua:
- Tâu Đại vương, ta h ãy tập hợp binh
hùng tướng mạnh lại, rồi đi chinh chiến c ùng
với muôn vạn dân chúng, cho phép chúng thần đem
đặt dưới quyền Đại vương những vị vua trước đây đ ã tự trị,
đó l à thiển ý của thần, xin
Đại vương cho phép chúng thần đi chinh phục
những v ùng đất chưa từng bị chinh phục.
Khi nghe lời của Alàta tâu, Sumàna liền nói:
- Tâu Đại vương, các quốc th ù của
ngài đều đ ã
được tập hợp về đây, họ đ ã buông khí giới qua một bên và quy hàng
Đại vương rồi. Hôm nay l à ngày
đại lễ hội, thần không thích việc chiến chinh,
xin Đại vương ra lệnh mang rượu thịt c ùng các loại sơn hào hải vị lên
đây ta c ùng vui hưởng
đờn ca xướng hát.
Nghe lời Sunàma tâu như vậy, Vijaya liền nói:
- Tâu Đại vương, tất cả thú vui dục lạc lúc
n ào cũng sẵn sàng dâng lên Đại vương,
không phải l à khó kiếm để l àm
thỏa lòng Đại vương, n ên dù có
được những lạc thú ấy, thần cũng không tán
đồng. Xin Đại vương ngự xa giá đến hầu thăm một vị Sa-môn hay B à-la-môn
tinh thông Thánh điển am tường kinh nghĩa, có
thể phá tan mọi ho ài nghi của chúng thần hôm nay về tâm nguyện của
chúng thần.
Khi nghe lời của Vijàya, vua Angati bảo:
- Lời tâu của Vijàya rất hợp ý trẫm, ta hãy cùng
đi hầu thăm một vị Sa-môn hay B à-la-môn
nào tinh thông Thánh điển, am tường mọi kinh
nghĩa để có thể phá tan mối ho ài nghi của ta về tâm nguyện hôm nay.
Các khanh hãy mau mau thi hành quyết định n ày,
vậy ta hãy đi hầu thăm vị Sư trưởng n ào
đây?Hôm nay vị n ào tinh thông kinh kệ
cùng thâm nghĩa của Thánh điển có thể phá tan
lưới nghi của ta về các điều tâm nguyện.
Khi nghe vua nói vậy, Alàta liền tâu:
- Có một vị khổ hạnh lõa thể trú trong vườn Lộc Uyển
đằng kia, được mọi người tán thán l à bậc
hiền nhân, tên gọi Guna dòng Ca-diếp, một bậc thuyết giáo
đ ã lừng danh, có rất
đông đệ tử theo học. Vậy ta h ãy
đến hầu thăm ng ài, ngài sẽ phá tan lưới
nghi của ta.
Nghe lời tâu của Alàta, vua ra lệnh cho quan thủ xa:
- Trẫm muốn du hành đến vườn Lộc Uyển, h ãy
mang xa giá đầy đủ y ên cương lại
đây.
Khi xa giá đ ã
được chuẩn bị y ên cương, trang hoàng
đầy đủ ngọc ng à, vàng bạc, cỗ xe vương
mã sáng ngời màu bạch ngọc, vẻ tinh khiết như bầu trời
đ êm quang đ ãng.
Bốn tuấn mã giống Sindh trắng như hoa súng đ ã
chầu sẵn, có sức phi nhanh như gió, lại rất thuần thục, mang vòng vàng lục
lạc cùng lộng trắng, xe trắng, ngựa trắng và quạt trắng.
Đức vua khởi h ành cùng
đám cận thần, rực rỡ như mặt trăng bạc. Nhiều
bậc trí giả v à dũng sĩ nai nịt cung kiếm lên ngựa theo hầu
đức vua anh h ùng. Sau một
đoạn đường d ài, trong chốc lát, vua
Videha cùng đám cận thần xuống xe, đi bộ đến
gần ch òi ẩn sĩ Guna; ngay lúc ấy các Bà-la-môn và các phú gia
đ ã tề tựu
đông đúc tại đó. Nh à vua cũng không ra lệnh bảo họ lui ra, mặc dù
chẳng có chỗ nào dành cho ngài. Ngài ngồi qua một bên,
được vây quanh bởi thính chúng gồm đủ hạng
người như vậy, rồi ng ài làm lễ yết kiến vị ẩn sĩ kia.
*
Bậc Đạo Sư giải thích vấn đề n ày như
sau:
Lúc ấy vua ngồi qua một bên trên một tấm nệm êm ái, bọc bằng da lông sóc
mượt mà đủ loại c ùng với một chiếc gối
dựa mềm mại đặt ngang. Khi vừa an tọa, vua ch ào
hỏi vị ẩn sĩ bằng những lời tán thán đầy t ình
thân hữu và cung kính:
- Thưa Tôn giả, các nhu cầu về vật thực, y phục của ngài có
được đầy đủ chăng? Sinh lực của ng ài
không bị tiêu hao nhiều chứ? Nếp sống của ngài có dễ chịu ch ăng?
Ng ài có được cúng dường đúng thời chăng?
Việc đi lại của ng ài có gì cản trở ch ăng?
Nh ãn quang của ngài vẫn được tinh tường
chứ?
Ẩn sĩ Gunà từ tốn đáp lại vua Videha đang
hết sức quan tâm đến phận sự của ng ài:
- Tâu Đại vương, mọi nhu cầu vật dụng của
bần đạo đều được đầy đủ, hai vấn đề ng ài nêu sau cùng cũng
được như ý. C òn phần
Đại vương, các vị quốc vương lân cận không quá
h ùng mạnh đối với Đại vương chứ? Đại
vương có được ngọc thể khang an chăng? Vương xa của Đại vương thượng lộ b ình
an chứ? Đại vương không bị bệnh tật g ì
não hại chứ?
Vua mong cầu pháp lành nên sau khi được vấn
an xong, ng ài liền hỏi vị ẩn sĩ ý nghĩa và giáo pháp cùng giới luật
công hạnh:
- Thưa Tôn giả Ca-diếp, một thế nhân phải cư xử như thế nào gọi là
đúng pháp đối với cha mẹ, đối với sư trưởng,
đối với vợ con? C òn phải cư xử ra sao
đối với các bậc trưởng l ão, các Sa-môn, Bà-la-môn, với binh sĩ cùng
dân chúng trong quốc độ m ình? Làm thế
nào để h ành trì
đúng pháp rồi chung cuộc được l ên Thiên
giới? Và một số thế nhân vì theo tà pháp đ ã
đọa địa ngục như thế n ào?
Vì lúc ấy không có một vị Phật Chánh đẳng
Giác xuất hiện, cũng không có một vị Độc Giác Phật, một vị Thánh đệ tử của
chư Phật hay một bậc trí nhân n ào, nên vua hỏi liên tiếp các vấn
đề đáng được n êu ra của một vị quốc
vương cho một khất sĩ lõa thể không hiểu biết gì và lại mù quáng tựa trẻ
thơ. Vừa khi được hỏi như vậy, ông đ ã
không trả lời phù hợp câu hỏi, mà nhân cơ hội tâu ngay:
- Tâu Đại vương, xin Đại vương nghe đây.
Rồi ông tuyên thuyết tà pháp của mình như kẻ
đánh con b ò trong khi nó đang đi hay l àm
rớt phân vào máng ăn của con b ò khác.
*
Bậc Đạo Sư giải thích vấn đề như sau:
Khi nghe vua Videha hỏi, Kassapa trả lời:
- Tâu Đại vương, đây l à chân lý không
sai lạc: Không có quả báo thiện hay ác nào khi ta tuân giới luật, không có
đời sau, tâu Đại vương c òn ai trở lại
đời n ày sau khi mạng chung nữa? Không có
tổ tiên cha mẹ, làm sao có cha hay mẹ được?
Không có sư trưởng, v ì ai có khả n ăng
giáo hóa những pháp không thể được giáo hóa? Mọi thế nhân đều b ình
đẳng v à giống nhau, không có kẻ nào
đáng được kính lễ cũng không có kẻ n ào
phải kính lễ người khác, không có các đức tính
như dũng m ãnh hoặc can trường vì ở đời l àm
sao có được tinh tấn lực hay tính anh h ùng?
Số phận các thế nhân đ ã
được tiền định, cũng như đuôi con t àu
phải đi theo dấu con t àu vậy. Mỗi thế
nhân được thọ hưởng phần m ình phải thọ
hưởng, thế thì bố thí để l àm gì? Tâu
Đại vương, việc bố thí không ích lợi g ì
cả. Người bố thí là kẻ yếu hèn, chẳng ai giúp
đỡ, lễ vật bố thí được kẻ ngu ngốc đưa ra v à
được kẻ không nhận lấy. Những kẻ vô trí, yếu h èn
lại tưởng mình khôn ngoan khi bố thí cho kẻ có trí.
Sau khi diễn giảng sự vô ích của bố thí, ông lại tiếp tục diễn tả tội
chướng không có công n ăng tạo nghiệp quả đời
sau:
- Có bảy uẩn không bị hủy diệt cũng không não hại,
đó l à hỏa,
địa, thủy, không, lạc, khổ v à tâm. Trong bảy uẩn này chẳng có uẩn nào
đủ công năng ti êu hủy hay phân tán.
Chúng cũng không hề bị phân hủy, gươm giáo đều
vô hại đối với các uẩn n ày. Kẻ nào cắt
đầu kẻ khác bằng thanh kiếm sắc bén cũng không thể phân tán các uẩn n ày,
thế thì làm sao lại có thể hưởng được nghiệp
quả v ì làm ác nghiệp? Mọi chúng sanh đều
được sạch tội lỗi khi đ ã sống qua tám mươi bốn
đại kiếp, trước thời kỳ đó chẳng có một người
Phạm hạnh n ào được rửa sạch tội lỗi cả.
Trước khi thời kỳ đó đến, d ù họ thực hành giới hạnh bao nhiêu
đi nữa, họ cũng không thể rửa sạch tội lỗi, v à
dù họ phạm bao nhiêu tội chướng đi nữa, họ cũng
không thể vượt quá giới hạn đó. Lần lượt con người sẽ được rửa sạch tội qua
tám mươi b ốn kiếp; ta không thể vượt quá số phận ta, cũng như biển
không thể vượt bờ.
- Cứ thế kẻ biện luận cho thuyết hư vô ấy đ ã
củng cố lý lẽ mình bằng giọng h ăng say không
cần đến một thuyết n ào trước đây cả.
Khi nghe Kassapa nói vậy, Alàta đáp lời:
- Những điều Tôn giả nói rất hợp ý ta, ta
cũng nhớ lại đ ã trải qua một tiền kiếp: Ta là một thợ s ăn
b ò tên là Pingala ở một tỉnh thành kia. Ta
đ ã phạm bao nhiêu tội lỗi ở thành
Ba-la-nại giàu có ấy. Ta đ ã giết biết
bao nhiêu sinh mạng bò, heo, trâu, dê. Hết kiếp
đó, ta lại sinh v ào gia đ ình phồn
thịnh của một viên đại tướng; như thế không hề
có quả ác v ì hành nghiệp ác nên ta đ ã
không đọa v ào
địa ngục.
Lúc ấy có một tên nô lệ ăn mặc rách rưới t ên
là Bìjaka đang h ành trì trai giới cũng
đến đây nghe Guna thuyết pháp. Khi nghe Kassapa
v à Alàta đối đáp như vậy, g ã thở
dài não nuột và bật khóc. Vua hỏi:
- Tại sao người khóc? Ngươi đ ã nghe
thấy gì ch ăng? Tại sao ngươi lộ vẻ đau khổ với
ta như vậy?
Bìjaka trả lời:
- Tâu Đại vương, tiểu nô chẳng có g ì
làm khổ đâu, xin Đại vương h ãy nghe tiểu
nô giải bày. Tiểu nô cũng nhớ lại tiền kiếp rất
được sung sướng, tiểu nô l à một Bhavasetthi (phú thương) trong thành
Sàketa, chuyên trì công đức, giữ thân trong
sạch hay bố thí, được các B à-la-môn và các phú gia rất quý trọng.
Tiểu nô nhớ lại mình chẳng hề phạm tội ác bao giờ. Nhưng khi hết kiếp ấy,
tiểu nô lại đầu thai v ào bụng một gái
giang hồ nghèo khó và ra đời chịu rất nhiều cực
khổ. Tuy nhi ên dù khổ cực như hiện nay, tiểu nô vẫn giữ tâm trí thanh
tịnh, tiểu nô nhường phân nửa thức ăn cho kẻ n ào
cần thực phẩm. Tiểu nô giữ trai giới các ngày mười bốn và rằm, chẳng hề sát
sanh trộm cắp. Nhưng tất cả những điều l ành
đó không đem lại quả tốt n ào như Alàta
vừa nói, tiểu nô cho rằng công đức thật chẳng
ích g ì. Tiểu nô thua cuộc trong đời như
kẻ chơi súc sắc bất t ài, còn Alàta thắng cuộc như một kẻ
đánh súc sắc khéo tay. Tiểu nô không có cách n ào
lên thiên giới cả, vì thế tiểu nô rơi lệ khi nghe ngài Ca-diếp nói pháp.
Sau khi nghe Bìjaka nói vậy, vua Angati đáp:
- Không có lối lên thiên đ àng, chỉ
đợi chờ số phận. Số người sướng hay khổ l à
do số phận định đoạt. Chung cuộc mọi chúng sinh
sẽ được giải thoát khỏi luân hồi, vậy đừng nóng l òng vì tương lai.
Trong các đời trước của ta, ta cũng đ ã
được nhiều phước phần v à chuyên tâm
phụng sự các Bà-la-môn cùng các phú gia, nhưng lúc ta bận chấp chánh trị
dân, ta lại không được hưởng lạc g ì cả.
Nói xong, vua tạ từ ẩn sĩ:
- Thưa Tôn giả Kassapa, từ lâu nay trẫm thật là vô tâm xao lãng, nhưng
cuối cùng bây giờ trẫm đ ã tìm ra
được một vị sư trưởng, vậy từ nay trẫm sẽ tuân
theo lời dạy của Tôn giả, trẫm sẽ an hưởng thú dục lạc m à thôi, dù có
nghe thuyết giảng về công đức cũng không ngăn
cản được trẫm đâu. Xin Tôn giả ở lại, trẫm xin từ tạ Tôn giả, ta sẽ c òn
dịp hội ngộ ngày sau.
Nói xong vua Videha trở về cung. Thoạt tiên khi vua
đến viếng Guna, ng ài chào vị này rất
cung kính rồi nêu câu hỏi ra, nhưng khi ngài giả từ, ngài chẳng chào hỏi gì
nữa. Vì Guna không đúng như danh truyền, v ì
bất xứng nên chẳng được đảnh lễ, vả lại c àng
ít được cúng dường. Qua đ êm
đó, rạng ng ày hôm sau, vua triệu tập
quần thần lại và bảo:
- Các khanh hãy chuẩn bị đủ mọi thứ dục lạc,
từ nay trẫm sẽ chỉ theo đuổi dục lạc, các khanh đừng nói việc g ì khác
trước mặt trẫm, hãy để những vị n ày vị
kia ra chấp chánh trị dân.
Và từ đó vua ch ìm
đắm trong việc hưởng lạc.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
Qua đ êm
đó, rạng ng ày mai, vua Angàti triệu tập các vị
đại thần lại v à phán:
- Các khanh cho bày đủ mọi thứ dục lạc trong
điện Candaka để trẫm an hưởng, không ai được dâng sớ về việc công tư g ì
nữa. Các khanhVijaya, Sunàma và đại tướng Al àtaka
đều tinh thông luật pháp, h ãy ngồi xét
xử mọi vấn đề thay trẫm.
Vua nói thế xong, chẳng còn bận tâm điều g ì
nữa ngoài dục lạc và ngài cũng chẳng còn thân cận với các Bà-la-môn cùng các
phú gia nữa.
Thế rồi vào đ êm mười bốn, ái nữ của
vua, công chúa Rujà, nói với bà nhũ mẫu:
- Xin nhũ mẫu trang sức ngọc vàng cho con thật nhanh, bảo các thị nữ
đến hầu con ng ày mai là ngày lễ rằm, con
sẽ đi yết kiến phụ vương.
Họ liền đem cho n àng một tràng hoa
cùng gỗ đ àn hương, ngọc ngà châu báu
đủ loại v à xiêm y lộng lẫy muôn màu,
nhiều thị nữ vây quanh nàng lúc nàng ngồi trên chiếc kim
đôn, trang sức cho n àng cực kỳ rực rỡ
tôn vẻ kiều diễm của nàng.
Sau đó được đo àn thị nữ tháp tùng
chung quanh, sáng ngời trong các món trang sức trân bảo, công chúa Rujà bước
vào cung Candaka như tia chớp lóe giữa vầng mây. Sau khi
đến gần phụ vương đảnh lễ hết sức cung kính
xong, n àng ngồi xuồng một bên trên chiếc bảo tọa chạm vàng.
Khi vua thấy nàng được đám cung nữ theo hầu
như một bầy ti ên nữ, liền phán bảo:
- Này công chúa, con có vui chơi thỏa thích trong hồ nước nội cung ch ăng?
Chúng có thường dâng con đủ loại cao lương mỹ vị chăng? Con c ùng các
thị nữ có thường kết đủ loại tr àng hoa
và xây nhà mát để chúng con nghỉ ngơi, vui đ ùa
giải trí ch ăng? Bảo chúng đem lại đây ngay, con
h ãy thỉnh cầu phụ vương mọi điều con ưa
thích, những điều gay go nhất, d ù có khó như tìm mặt tr ăng
đi nữa.
Nghe vua cha nói như vậy, công chúa thưa:
- Tâu phụ vương, trước long nhan, mọi nguyện vọng của tiện nữ
đều được thỏa m ãn. Ngày mai là ngày lễ
rằm, xin phụ vương ban cho con một ngàn đồng
tiền để con bố thí cho các kẻ h ành khất.
Nghe Rujà nói, vua liền đáp:
- Con đ ã phung phí nhiều của cải mà
chẳng có kết quả gì, con giữ gìn trai giới, kiêng cử
ăn uống, nhưng quan niệm về phận sự giữ g ìn
trai giới này đều do tiền định, cho n ên
con có giữ gìn trai giới cũng không đạt công
hạnh g ì. Trong lúc con còn sống đây với
phụ vương, con đừng bố thí vật thực nữa, không hề có đời sau n ào
ngoài đời n ày nữa, tại sao con phải bận
tâm vì việc không đâu?
Lúc ấy Rujà với nhan sắc cực kỳ lộng lẫy, nghe vua cha nói vậy liền
đáp như sau, v ì biết rằng nàng hiểu Pháp
lành ở đời quá khứ c ùng vị lai:
- Tâu phụ vương, tiện nữ đ ã
được nghe trong thuở quá khứ cũng như chính mắt
tiện nữ được thấy rằng kẻ n ào bầu bạn với trẻ thơ rồi cũng trở thành
trẻ thơ mà thôi. Kẻ ngu thân cận với kẻ ngu lại càng chìm
đắm trong sự ngu muội. Al àtaka và Bìjaka
bị lừa phỉnh là phải lắm, chứ còn phụ vương là một vị vua hiền trí, rất có
tài trong việc trị dân; làm sao phụ vương lại rơi vào một lý thuyết thấp hèn
như vậy, chỉ xứng hợp với trẻ thơ. Nếu con người
được rửa sạch mọi tội chướng chỉ do d òng
sinh tử thì việc tu khổ hạnh của Guna thật là hoài công, như con thiêu thân
lao vào đ èn sáng, kẻ ngu ngốc kia
đ ã chịu
đựng đời h ành khất lõa thể. Sau khi đ ã
chấp nhận lý thuyết cho rằng kết cuộc mọi chúng sinh sẽ
được rửa sạch mọi tội lỗi qua luân hồi sinh tử,
nhiều kẻ đ ã hành động sai lầm v ì
vô minh chồng chất, nên lại càng bị vây chặt hơn trong các nghiệp quả
đời trước, khó thoát ra được, như con cá mắc
lưỡi câu.
Tiện nữ xin kể hầu phụ vương một chuyện ngụ ngôn cho trường hợp này của
phụ vương, vì bậc trí giả đôi khi t ìm
được chân lý qua câu chuyện ngụ ngôn. Như một
con t àu của thương nhân, chở quá nhiều hành lý nặng nề, phải chìm
trong biển cả, một con người chồng chất dần tội lỗi mãi cũng sẽ
đọa v ào địa
ngục. Tâu phụ vương, h ành lý hiện tại của Alàta không phải là những
thứ lão ta đang hưởng đâu, chính v ì
những thứ lão ta đang mang đi chất l ên
tàu mà lão sẽ đọa v ào
địa ngục kiếp sau. Đời trước Al àtaka
thành chánh nghiệp, nên kết quả là ngày nay lão ta hưởng thụ phú quý vinh
hoa. Công đức ấy của l ão
đang bị ti êu tan vì lão chỉ chuyên tâm
làm ác nghiệp, sau khi bỏ chánh đạo, l ão
ta lại đang theo đuổi t à
đạo, như chiếc cân được treo đúng đắn trong kho
h àng sẽ làm cán cân nhấc lên cao khi có trọng lượng của một vật
đặt l ên nó. Con người chung cuộc cũng
làm cho số phận mình th ăng hoa nếu biết tu tập
công đức dần dần, như g ã nô lệ Bìjaka kia
đang chuy ên tâm làm công hạnh và
đang mơ tưởng thiết tha tới đến thi ên
giới. Nỗi khổ đau m à nô lệ Bìjaka phải
chịu đựng l à do nghiệp quả tội chướng gã
đ ã phạm đời
trước. Tội chướng ấy sẽ ti êu trừ vì hiện gã
đang chuy ên tâm làm công
đức, tuy nhi ên
đừng để g ã lọt vào tà
đạo của l ão Ca-diếp kia.
Rồi nàng lại tiếp tục phô bày tội chướng của việc gây ác nghiệp cùng
thiện quả của việc thân cận bạn lành:
5. Khi vua quý trọng một thân bằng,
Dù đức hạnh hay kẻ ác gian,
Chuy ên tạo ác hành hay thiện nghiệp,
Vua đều chịu ảnh hưởng quyền năng.
6-7. Bạn n ào, vua muốn chọn cho mình,
Như bạn ấy, vua sẽ trở thành,
Uy lực này do tình mật thiết;
Kẻ luôn thân cận, bạn đồng h ành,
Thường gây ảnh hưởng lên bằng hữu,
Như mũi tên đầu độc đáng kinh,
L àm bẩn vỏ bao trong sạch ấy,
Trí nhân, ác hữu chớ giao tình.
8. Nếu người buộc xác cá hôi ươn,
Với dãi Ku-sa, cỏ cát tường,
Cỏ sẽ có mùi hôi thúi ấy,
Cũng vậy, kết giao kẻ dại cuồng.
9. Nhưng nếu người ta buộc cỏ hương,
Vào trong một ngọn lá thông thường,
Lá thơm mùi nhẹ nhàng êm dịu,
Cũng vậy, kết giao bậc trí nhân.
10. Do biết nghiệp ta sẽ thực thành,
Như là giỏ trái chín muồi nhanh,
Trí nhân chẳng bước theo người ác,
Nhưng chỉ bước theo bậc thiện hành.
Kẻ ác đưa ta v ào
địa ngục,
Người hiền đem bạn đến thi ên đ ình.
Sau khi thuyết pháp trong sáu bài kệ ấy xong, công chúa bày tỏ nỗi khổ
đau m à nàng phải chịu
đựng trong các tiền thân xa xưa:
- Tiện nữ cũng nhớ lại bảy đời trước m à
tiện nữ đ ã trải qua và khi hết
đời n ày tiện nữ lại sẽ trải qua bảy
đời khác nữa. Trong đời thứ bảy, trước kia, tâu
phụ vương, tiện nữ l à con trai của một thợ rèn trong thành Ràjagaha
(Vương Xá) ở xứ Magadha (Ma-kiệt- đ à).
Tiện nữ đ ã kết giao với bạn ác và
đ ã gây nhiều ác nghiệp. Chúng con cứ mải
mê rong chơi, lôi cuốn vợ người khác vào đường
tội lỗi như thể chúng con được trường sanh bất tử vậy.
Những hành nghiệp ấy cứ âm ỉ như lửa được v ùi
tro. Nhờ những nghiệp quả tốt khác, con đầu
thai v ào xứ Vamsa trong gia đ ình
một phú thương ở Kosambi, rất thế lực và giàu có, phát
đạt: Con lại l à con trai duy nhất của
gia đ ình,
được cưng chiều quý trọng vô c ùng.
Lúc ấy con kết bạn với một người chuyên làm thiện pháp. Con hành trì trai
giới suốt các ngày mười bốn và rằm và các hành nghiệp ấy
được tồn trữ lại như một kho t àng dưới
nước. Nhưng những nghiệp quả ác mà con đ ã
tạo ở xứ Ma-kiệt- đ à rốt cuộc lại
đến với con như một thứ thuốc độc khốc liệt.
Tâu phụ vương, từ đó con phải trải qua một thời gian d ài ở
địa ngục Roruva, con phải chịu đựng các nghiệp
quả ác ấy, ng ày nay nhớ lại con còn thấy thật
đau khổ. Sau khi chịu khổ sở tại đó không biết
bao nhi êu n ăm trường, con đ ã hóa
sinh thành con dê bị thiến ở thành Bhennàkata. Con phải chuyên chở các thanh
niên nhà giàu trên lưng hoặc kéo xe, đó l à
nghiệp quả của việc con đ ã quyến rủ vợ
người.
Sau đó con đầu thai v ào bụng một con
khỉ rừng, ngày con sinh ra đời, họ đem con đến
cho người chăn thú, người n ày bảo: Mang con trai ta
đến đây. Rồi g ã cắn mạnh hạ c ăn
của con cho đứt l ìa dù con kêu thét lên.
Nàng diễn tả sự việc này qua vần kệ sau:
11. Khi hết đời kia con được sinh,
Đầu thai l àm khỉ chốn rừng xanh,
Hạ c ăn đứt bởi người gian ác,
Hậu quả do săn đuổi bạn t ình.
Kế đó n àng thuật tiếp các tiền thân
khác:
- Tâu phụ vương, sau đó con đ ã
đầu thai l àm con bò
đực ở xứ dân Dasannas, lại bị hoạn nhưng cũng
nhanh nhẹn v à xinh đẹp, con kéo xe một
thời gian thật lâu, đó l à nghiệp quả của việc s ăn
đuổi theo vợ người của con trước kia. Khi mạng chung, con đầu thai v ào
một gia đ ình xứ Vajji (Bạt-kỳ, ở phía
bắc sông Hằng, đối diện xứ Ma-kiệt-đ à),
song con lại bán nam bán nữ vì thật khó đầu
thai l àm nam nhân, đó l à nghiệp
quả của việc con theo đu ổi vợ người. Tâu
phụ vương, sau đó con đ ã sinh vào rừng
Nandana làm một tiên nữ rất xinh đẹp ở c õi
Tam thập tam thiên (trời ba mươi ba) xiêm y rực rỡ muôn màu, mang nữ trang
ngọc vàng, vòng hoa tay bằng châu báu đủ loại
thiện xảo múa ca n ên được l àm thị
nữ ở cung Đế-Thích. Khi con ở đó, con đ ã
nhớ lại các đời trước v à luôn cả bảy
đời tương lai m à con sẽ trải qua, sau
khi từ giã thiên giới.
Các thiện pháp mà con tạo được ở Kosamb ì
đ ã đến hồi
kết quả, n ên khi con hết đời n ày
con sẽ được sinh c ùng với chư Thiên hoặc
loài người. Tâu phụ vương, trong bảy đời liền,
con sẽ được cung kính phụng thờ, nhưng con sẽ không được thoát thân nữ nhân
cho đến hết đời thứ sáu. Tâu phụ vương, như vậy trong đời thứ bảy, con sẽ l à
một Đại nam tử của chư thi ên, sau cùng
con sẽ được sinh l àm một thiên tử với
thân tướng nam nhi. Hiện nay, chư Thiên đang
kết tr àng hoa hái từ cây hoa trời ở vườn Thiên lạc Nandana và có một
vị Thiên tử tên gọi Java, hiện đang kết tr àng
hoa cho con. Mười sáu n ăm con sống ở đời thế
gian n ày chỉ là một khoảnh khắc của thiên giới. Một tr ăm
m ùa thu ở hạ giới chỉ bằng một ngày một
đ êm ở trên trời. Như vậy các hành nghiệp của ta cứ theo ta hoài qua
vô số đời sống v à mang theo thiện quả
hay ác quả, không sót một nghiệp nào.
Rồi kế đó n àng tuyên Pháp tối thượng:
- Kẻ nào muốn th ăng hoa đời đời kiếp kiếp,
xin h ãy tránh xa vợ người như người có
đôi b àn chân rửa sạch phải tránh xa vũng bùn. Kẻ nào muốn lên cõi
trên đời đời kiếp kiếp, xin h ãy tôn thờ
đức Thế Tôn như chư Thi ên phụng thờ
Thiên chủ Indra. Kẻ nào muốn hưởng thiên lạc, hưởng cuộc sống nơi thiên giới
với đầy đủ vinh quang hạnh phúc, xin h ãy
tránh xa tội ác và hành trì Tam Pháp:
- Phải hộ phòng và minh triết trong thân, khẩu, ý, tu tập thiện pháp tối
cao, dù là nam nhân hay nữ nhân cũng vậy.
- Kẻ nào được vinh quang trong đời n ày
và được hưởng đủ mọi dục lạc, chắc chắn kẻ ấy đ ã
sống cuộc đời đạo hạnh ở kiếp trước; mọi chúng
sanh đều phải đi theo nghiệp thiện ác của m ình. Tâu phụ vương, phụ
vương có bao giờ suy nghĩ hạnh nghiệp gì đ ã
khiến phụ vương thọ hưởng đám cung phi đẹp như
ti ên trên trời lại trang sức xiêm y ngọc vàng rực rỡ thế kia ch ăng?
Nàng khuyên bảo vua cha như vậy.
*
Bậc Đạo Sư giải thích sự việc như sau:
Công chúa Rujà đ ã làm
đẹp l òng vua cha như thế, nàng tuyên
thuyết chánh đạo cho kẻ m ê mờ ấy và
thành tâm giảng pháp lành cho vua cha.
Sau khi đ ã giảng Pháp cho vua cha
nghe suốt đ êm
đến rạng ng ày hôm sau, nàng bảo:
- Tâu phụ vương, xin đừng nghe lời kẻ t à
thuyết lõa thể kia, mà hãy theo lời bạn lành như con
đây đang tâu với phụ vương rằng có đời n ày
và đời sau, có nghiệp quả thiện, ác. Xin phụ
vương đừng lạc v ào tà đạo.
Tuy nhiên nàng vẫn chưa đủ khả năng giải
thoát vua cha khỏi t à thuyết của ngài: Ngài chỉ
đẹp ý khi nghe những lời lẽ êm dịu của
con, vì các bậc cha mẹ tự nhiên yêu thích lời lẽ con cái họ, nhưng họ lại
không chịu từ bỏ những ý kiến riêng của mình.
Thế là trong kinh thành vang lên lời đồn đ ãi:
Công chúa Rujà đang cố đánh tan các t à
kiến bằng cách giảng Chánh pháp. Và dân chúng rất hoan hỷ: Công chúa hiền
đức sẽ giải thoát vua cha khỏi t à thuyết
và sẽ đem lại phồn vinh cho dân chúng.
Tuy nhiên dù công chúa chưa đủ khả năng l àm
vua cha tỉnh ngộ, nàng vẫn không ngã lòng thoái chí, mà nàng vẫn quyết tâm
tìm phương tiện đem lại chân hạnh phúc cho vua
cha. N àng chắp tay lên đỉnh đầu lễ bái
khắp mười phương, n àng nguyện cầu:
- Trong thế gian này có vị Sa-môn và Bà-la-môn chân chính phủ hộ người
đời, có chư thi ên ngự trị khắp nơi, lại
có các vị Đại Phạm Thi ên, kính xin các
vị đến giúp cho vua cha của tiện nữ từ bỏ t à
kiến hoặc nếu quý vị không có đủ tự lực, xin
quý vị đến đây theo uy lực v à công đức
của tiện nữ để xua tan t à thuyết này và
đem lại hạnh phúc cho to àn thể thế gian.
- Lúc bấy giờ vị Đại Phạm Thi ên của
thuở đó l à Bồ-tát tên gọi Nàrada và các
vị Bồ tát vì từ bi, lân mẫn và vì quyền uy tối thượng của các ngài, thỉnh
thoảng vẫn phóng nhãn quang nhìn các kẻ thiện người ác trên thế gian. Ngày
hôm ấy ngài nhìn xuống thế gian thấy công chúa
đang cầu nguyện chư Thi ên ngự trị khắp nơi
đến giải thoát vua cha khỏi t à thuyết,
ngài nghĩ thầm: "Trừ ta ra không ai có thể xua tan tà thuyết
được, ta phải đến ngay hôm nay tỏ l òng
từ ái với công chúa và mang lại hạnh phúc cho vua cha cùng dân chúng. Ta sẽ
khoác bộ áo nào đây? Các ẩn sĩ tu h ành
thường được người đời y êu kính, lời lẽ
của các vị ấy thường được xem l à
đáng tín thọ, vậy ta sẽ khoác áo ẩn sĩ".
Thế là ngài hóa ra hình tướng thế nhân rất khả ái, với làn da như vàng
ròng, mái tóc bện lại được ghim bằng cây kim v àng,
sau khi mặc chiếc áo được kết bằng nhiều tấm, m àu
vỏ dà, từ bên ngoài vào trong, ngài lại khoác lên vai tấm da nai
đen l àm bằng bạc lấm tấm
điểm sao v àng ánh, tay cầm bình bát khất
thực bằng vàng đeo lủng lẳng bằng một chuỗi
ngọc, tr ên vai ngài đặt chiếc đ òn
gánh bằng vàng có ba mấu, cầm bình nước bằng san hô buộc bằng chuỗi ngọc
trai. Với bộ trang phục ấy, ngài liền phi thân qua bầu trời chẳng khác nào
vầng tr ăng sáng rực giữa không gian, rồi bước v ào
thượng lầu của cung Canda, đứng sừng sững trước
mặt vua.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
Lúc ấy Nàrada từ cõi Phạm thiên xuống hạ giới, khi quan sát cõi Jambudìpa
(Diêm-phù- đề: Ấn Độ), ng ài nhìn thấy vua
Angati. Rồi ngài đến trước cung vua, n àng
Rujà vừa trông thấy ngài, vội đảnh lễ bậc hiền
trí từ thi ên giới giáng trần.
Vua choáng váng trước vẻ huy hoàng của vị Phạm thiên, nên không thể ngồi
yên trên ngai vàng mà vội bước xuống đất, hỏi
lý do ng ài giáng lâm cùng danh hiệu gia tộc của ngài.
*
Bậc Đạo Sư giải thích sự việc như sau:
Lúc ấy vua hoang mang trong trí, vội bước xuống ngai vàng, nói với Tôn
giả Narada những lời hỏi th ăm:
12. Ngài đến từ đâu, dáng thánh thần,
Như vầng trăng chiếu sáng đ êm trường,
Nói cho ta biết tên, gia tộc,
Người gọi là gì giữa thế nhân?
Nàrada nghĩ thầm: "Vị vua này không tin tưởng có
đời sau, vậy ta phải nói cho vua biết về đời
sau".
Rồi ngài ngâm kệ:
13. Ta đến đây từ hội chúng Thi ên,
Như vầng tr ăng chiếu sáng đ êm
đen,
Ta n êu danh tánh cùng gia tộc:
Ca-diếp, Nà-ra-da, họ tên.
Vua nghĩ thầm: "Lát nữa ta sẽ hỏi ngài về
đời sau, bây giờ ta h ãy hỏi ngài về mục
đích việc giáng trần vi diệu n ày".
14. Cách ngài đi đứng diệu kỳ thay,
Ta hỏi ng ài: Đâu ý nghĩa đây,
Vì lý do gì ngài thị hiện,
Nà-ra-da hỡi, thần thông này?
Bậc trí Nàrada đáp:
15. Chân thật, công bằng, chế ngự mình,
Rộng lòng bố thí đ ã lừng danh,
Nhờ công đức thực h ành tinh tấn,
Như ý nguyện mình, ta lướt nhanh.
Ngay cả lúc ngài nói như vậy, vua cũng không thể tin vào
đời sau bởi v ì tà thuyết
đ ã đâm sâu
cội rễ vào trí ngài, ngài liền hỏi:
- Có phần thưởng nào dành cho các thiện pháp ch ăng?
Rồi vua ngâm kệ:
16. Ngài đ ã nói
điều kỳ diệu thay,
Khi n êu công lực thiện hành vầy;
Nếu điều n ày
đúng như ng ài nói,
Xin trả lời cho trẫm thẳng ngay.
Nàrada đáp:
17. Đây việc của ngài, hỡi Đại vương,
Hỏi ta điều cảm thấy nghi nan,
Hiển nhiên ta đáp cho ng ài rõ,
Nhờ lý luận, bằng chứng rõ ràng.
Vua liền hỏi:
18. Nà-ra-da, trẫm hỏi điều n ày,
Đừng trả lời sai câu hỏi đây:
Thật có chư Thi ên hay tổ phụ,
Đời sau như bọn chúng đồn vầy?
Nàrada đáp:
19. Thật có Thiên thần với tổ tiên,
Đời sau, như chúng vẫn n êu lên,
Nhưng người tham dục và mê đắm,
Không biết đời sau bởi đảo đi ên.
Khi nghe điều n ày, vua cười to và
ngâm kệ:
20. Nà-ra-da, nếu đ ã tin rằng:
Có cõi cho người chết trú thân ,
Đưa trẫm năm trăm đồng bạc gấp,
Đời sau trẫm sẽ trả ng àn đồng !
Thế rồi bậc Đại Sĩ đáp lời, khiển trách vua
ngay giữa hội chúng:
21. Ta đưa ng ài
đủ số năm trăm,
Nếu biết ngài hiền đức, rộng l òng,
Nhưng nếu ngài là người độc ác,
Đọa v ào trong địa ngục đ ày thân,
Còn ai đ òi
được ng ài đem trả,
Đời kế, ng àn đồng ấy được không?
22. Khi một người th ù ghét thiện lương,
Chỉ yêu tội lỗi lại hung tàn,
Trí nhân chẳng muốn cho vay mượn,
Kẻ nợ ấy không thể đáo ho àn.
23. Khi người ta biết kẻ tài n ăng,
Đức hạnh, tinh chuy ên, lại rộng lòng,
Họ sẽ mời người kia mượn của,
Bằng nhiều lợi lạc họ đem dâng;
Khi người kia đ ã làm xong việc,
Người sẽ bồi hoàn nợ đ ã mang.
Vua bị quở trách như vậy vẫn chưa chuẩn bị sẵn câu trả lời nào cả.
Hội chúng rất hoan hỷ reo to:
- Tâu công chúa, công chúa có thần lực vi diệu thay, công chúa sẽ giải
thoát Đại vương khỏi t à thuyết ngay hôm
nay.
Và cả kinh thành chấn động l ên. Rồi
nhờ thần lực của bậc Đại Sĩ, không một ai ở
trong phạm vi bảy dặm đường quanh th ành Mithilà không
được nghe ng ài thuyết Pháp. Lúc ấy bậc
Đại Sĩ suy nghĩ: "Nh à vua
đ ã quá chấp thủ tà thuyết, ta sẽ làm cho
vua hiểu nỗi kinh hoàng của địa ngục m à
bỏ tà thuyết đi, sau đó ta sẽ trấn an vua bằng
c õi chư Thiên". Rồi ngài bảo vua:
- Tâu Đại vương, nếu Đại vương không bỏ t à
thuyết ấy đi, Đại vương sẽ bị đọa v ào
địa ngục chịu thống khổ không ngừng.
Và ngài bắt đầu kể đến các loại địa ngục
khác nhau:
24. Đại vương, khi gi ã biệt
đời n ày,
Ngài sẽ thấy diều quạ cả bầy,
Vồ xé xác ngài trong địa ngục,
V à kên kên nữa máu me đầy,
C òn ai bắt được ng ài
đời kế,
Đem trả ng àn đồng ấy đ ã vay?
Sau khi tả địa ngục diều quạ xong, ng ài
nói tiếp:
Nếu Đại vương không đọa v ào
đó, Đại vương phải ở trong địa ngục nằm giữa ba
c õi (Àvici: vô gián địa ngục).
Rồi ngài ngâm kệ miêu tả địa ngục ấy:
25. Ở đó tối tăm thật mịt m ùng,
Và không vầng nhật hoặc vầng tr ăng,
Ngục n ày hỗn độn v à kinh khủng,
Chẳng biết ngày đ êm, chẳng tháng n ăm,
C òn kẻ nào mong đ òi món nợ,
Ở nơi như vậy nữa hay ch ăng?
Sau khi tả địa ngục ở giữa ba cõi ấy thật đầy
đủ chi tiết, ng ài bảo:
- Tâu Đại vương, nếu Đại vương không chịu bỏ
t à thuyết ấy, không những Đại ương chịu
khổ h ình này mà còn nhiều khổ hình khác nữa.
Rồi ngài ngâm kệ:
26. Con chó Sa-ba dáng khổng lồ,
Cùng Sà-ma lực lưỡng nhào vô,
Dùng r ăng cắn xé người tan xác,
Kẻ đọa từ đây đến ngục t ù.
Các địa ngục kể tiếp cũng có c ùng một
quy luật như vậy; vì thế các địa ngục n ày
và các cai ngục được ng ài mô tả qua các
bài kệ thật súc tích những ngôn từ tượng hình như trong các
đoạn tr ên:
27. Vậy khi ở ngục bị tan thân,
Vì thú dữ hành hạ bạo hung,
Thân xác tả tơi, dòng máu chảy,
Còn ai đ òi trả nợ ngàn
đồng?
28. Với cung t ên, nhọn hoắc giáo gươm,
Quỷ sứ Kà-lù tựa địch nhân,
Đâm chém trọng thương người phải đọa,
Trước kia phạm tội ở nhân gian.
29. Trong khi kẻ ấy chạy lang thang,
Trong ngục, bị đâm ở bụng, sườn,
Gan ruột nát tan d òng máu chảy,
Ai mong đ òi nó một ngàn
đồng?
30. Trời mưa xuống các loại t ên, đao,
Các khí cụ h ành tội: cọc, lao,
Đám lửa rơi như than cháy bỏng,
Trời mưa đá tảng trút ào ào.
31. Luồng gió nóng ran thật hãi hùng,
Thổi vào trong ngục tối không cùng.
Không vì vui thú dù giây lát,
Nó chạy quanh, không chốn trú thân.
Còn ai muốn bắt người kia trả,
Đời kế ng àn
đồng ấy được không?
32. Bị buộc v ào xe, vội chạy nhanh,
Trên nền đất rực lửa ho ành hành,
Biết bao gậy ngắn, dài kiềm thúc,
Ai muốn đ òi ngàn bạc cho
đ ành?
33. Khi trèo leo lên ngọn núi kinh hoàng,
Lởm chởm lưỡi dao, xé nát thân,
Máu chảy đầm đ ìa, ai sẽ muốn,
Đời sau đ òi nó một ngàn ch ăng?
34. Khi nó tr èo lên một đống than,
Đỏ hừng như núi lửa kinh ho àng,
Toàn thân cháy, thét gào, đau khổ,
Ai muốn đòi ngàn bạc ấy chăng?
35. Lớp gai dày đặc tựa tầng mây,
Có cọc nhọn đâm hút máu ngay,
Những bọn đuổi săn vợ kẻ khác,
Phải trèo lên đó, bị từng bầy,
Quỷ Diêm- la chúa luôn xua đuổi
Mang các giáo dài ở dưới tay.
36. Khi nó trèo lên cây vải bông,
Toàn thân đầy máu chảy r òng ròng,
Tả tơi thống khổ luôn xâu xé,
Hổn hển thở than thật nực nồng,
Để đền tội ác xưa như vậy;
Ai muốn đ òi tiền nợ cũ không?
37. Có những rừng cao tựa đám mây,
Lá rừng l à kiếm sắt tràn đầy,
Thiết đao uống máu người đ ày đọa;
Khi nó tr èo lên đám lá cây,
Thân nó bị cưa bằng kiếm sắt,
Nát tan, máu chảy h ãi hùng thay!
Ai mong đ òi nó trong
đời kế,
Trả nợ ng àn đồng nó đ ã vay?
38. Khi nó thoát ra khỏi ngục này,
Phủ đầy lá sắt giữa rừng cây,
Liền rơi v ào giữa dòng sông nọ,
Ai muốn đ òi tiền nợ cũ
đây?
39. D òng sông chảy xiết Ve-ta-ran,
Khốc liệt, nước sôi sục ngập tràn,
Bao phủ lá, hoa sen bén nhọn,
Trong khi nó bị đuổi tr ên sông,
Máu me bao phủ, tay chân đứt,
D òng nước Ve-ta-ran hãi hùng,
Chẳng có một nơi nào trú ẩn,
Ai mong đ òi nợ nó hay không?
Vua muốn tìm nơi an trú, liền nói với ngài:
- Thưa bậc Trí giả, trẫm run sợ như cây đang
bị đốn ng ã, tâm trí hoang mang bối rối, trẫm không biết hướng về
đâu, trẫm đang bị d ày vò khủng khiếp,
nỗi kinh hoàng của trẫm thật gớm ghê khi trẫm nghe ngài ngâm các bài kệ trên
đây. Như một vật đang cháy được ném v ào
nước, như một hòn đảo giữa đại dương đầy b ão
tố, như một ngọn đ èn trong
đ êm tối, ngài chính là nơi an trú của
trẫm vậy. Xin bậc trí giả hãy dạy cho trẫm thánh kinh, cùng thâm nghĩa của
nó. Quá khứ của trẫm thật là đầy tội lỗi, xin
bậc Đại Trí giả N àrada chỉ dạy cho trẫm con
đường rửa sạch tội lỗi để cho trẫm khỏi đọa v ào
địa ngục.
Sau đó bậc Đại Sĩ dạy vua con đường rửa sạch
tội lỗi bằng cách n êu gương các bậc tiên vương
đ ã hành trì chánh
đạo:
- Các vị vua Dhatarattha, Vessàmitta, Atthaka, Yàmataggi và Usinnara cùng
vua Sivi và nhiều vị khác, nhờ chuyên tâm cúng dường các Sa-môn và Bà-la-môn
nên đ ã được
l ên thiên giới của Sakka thiên chủ. Vậy
Đại vương cũng phải tránh t à hạnh và theo chánh hạnh. Hãy cho người
mang thực phẩm trên tay rao lên trong cung Đại
vương: "Ai đang đói khát đây? Ai đang cần v òng hoa và dầu thơm? Kẻ
nào lõa thể mong muốn mặc xiêm y trang hoàng
đầy châu báu? Kẻ n ào có muốn lọng che để
đi đường v à giầy thanh lịch êm chân? Đại
vương h ãy cho người rao như vậy khắp kinh thành từ sáng
đến tối. Đừng bắt người gi à hay trâu
già, ngựa già phải làm việc nặng nhọc. Đối với
các hạng ấy, phải quý trọng đúng mức v ì khi họ còn khỏe mạnh, họ
đ ã hoàn thành sứ mạng
được giao phó.
Như vậy bậc Đại Sĩ, sau khi thuyết giảng cho
vua về bố thí rộng lượng v à đức hạnh,
thấy rằng vua sẽ hoan hỷ khi được ví với một cỗ xe, n ên ngài tiếp tục
thuyết Pháp cho vua qua hình ảnh một cỗ xe như ý (ban mọi
điều ước):
- Thân của Đại vương được ví như một cỗ xe,
đoạn trừ mọi ác tâm chính l à trục xe, có lòng bố thí
đại lượng l à cái trần xe, bước
đi thận trọng l à sườn xe, hộ trì dục tâm
là chính danh bánh xe, hộ trì khẩu c ăn chính l à
giữ cho bánh xe khỏi kêu cọc cạch.
Mọi bộ phận đều được giữ g ìn hoàn hảo
nhờ khẩu hành chân thật, gắn liền tốt đẹp với
sự từ bỏ nói hai lưỡi, cái sườn xe êm ái với lời nói thân hữu kết hợp
hài hòa với ngôn ngữ cân nhắc thật kỹ lưỡng; xây dựng vững chắc bằng lòng
tịnh tín và đoạn trừ tâm tham, với l òng
cung kính đảnh lễ đầy khi êm tốn chính là
gọng xe, với càng xe nhẹ nhàng, nhu thuận, với dây cương tự
điều phục thân tâm theo Ngũ giới, c ùng
với chìa khóa đoạn trừ sân tâm, chiếc gọng xe
trắng của l òng công chính, xe được lái
đi nhờ sự thông suốt bốn m ùa khác nhau, với ba chiếc gậy bảo vệ lòng
tịnh tín bất động, lời nói khi êm tốn
chính là chiếc roi da, đoạn trừ hư danh chính l à
sợi dây cương, với sự hỗ trợ của tâm niệm xả ly (không chấp thủ)
đi theo chánh trí v à giải thoát mọi trần
cấu.
Hãy dùng trí giác làm động cơ thúc đẩy ng ài,
hành trì nhất tâm để chế ngự mọi luyến ái; tâm
tư theo đúng đạo lộ tự điều phục c ùng với mọi tuấn mã
đ ã được
huấn luyện thuần phục.Dục vọng v à tham
đắm đều l à tà đạo, tự điều phục l à
chánh đạo. Khi con ngựa chạy theo sắc, thanh,
hương, vị, th ì trí tuệ phải dùng roi trừng phạt và tâm chính là người
lái xe. Nếu ta đồng h ành với cỗ xe, nếu
trí thanh tịnh và nhất tâm bền vững mãi như thế, ta sẽ
đạt mọi nguyện ước, tâu Đại vương, ta không thể
n ào đọa địa ngục.
Như vậy, tâu Đại vương, ta đ ã dùng
nhiều cách trình bày cùng Đại vương nhiều đạo
lộ đưa đến hạnh phúc, an lạc m à ngài đ ã
yêu cầu Nàrada nói rõ để khỏi đọa địa ngục ở
đời sau.
Sau khi thuyết giảng Chánh Pháp cho vua và phá tan mọi tà kiến cùng an
trú vua vào giới hạnh, ngài lại khuyên vua từ nay xa lánh bạn ác, thân cận
với bạn lành và cẩn trọng trong mọi bước tiến. Rồi ngài tán thán mọi
đức hạnh của công chúa, nói lời khích lệ cả
triều đ ình cùng các cung phi xong, ngài liền bay về Phạm Thiên giới
với thần lực vĩ đại si êu phàm.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không những ngày nay, mà từ xưa, Ta
đ ã giáo hóa Uruvela Kassapa và phá tan
lưới tà kiến vây chặt vị ấy.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân qua các vần kệ cuối cùng:
40. Đề-b à- đạt
chính A-l à-ta,
Bhad-da-ji chính Su-na-ma,
Vi-ja-ya là Xá-lợi-phất,
Su-na-kha, ẩn sĩ Gu-na,
Ru-jà giáo hóa quân vương ấy,
Chính là thị giả A-nan-dà.
41. Bì-ja-ka chính Mục-kiền-liên,
Ca-diếp, vua theo thuyết hão huyền,
Các ông hiểu Bổn sinh như vậy,
Bồ-tát chính là Đại Phạm thi ên.