Chương XXII#
Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-
543. CHUYỆN BẬC#
ĐẠI TRÍ BH ÙRIDATTA
(Tiền thân Bhùridatta)
Bất kỳ mọi bảo ngọc kim ngân…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi Ng ài
trú tại thành Xá Vệ, về việc các cư sĩ hành trì trai giới.
Vào ngày trai giới, họ thức dậy thật sớm, phát nguyện hành trì giới luật,
bố thí và sau khi thọ trai, hộ đem hương hoa
đến tinh xá Kỳ-Vi ên, gặp thời thuyết Pháp họ
đều ngồi xuống một b ên nghe giảng.
Bậc Đạo Sư đến tại Chánh Pháp đường ngồi
xuống s àng tọa được trang ho àng
dành cho đức Phật xong, liền nh ìn xuống
hội chúng Tỷ-kheo.
Lúc bấy giờ đức Như Lai thường muốn đ àm
đạo với một v ài vị này hay vị kia trong
hội chúng, khi bài thuyết giảng có liên quan
đến họ, v ì thế vào dịp này, Ngài biết rằng bài Pháp thoại liên quan
đến các bậc Đạo Sư ng ày xưa sắp
được thuyết giảng cho các cư sĩ, n ên
trong khi đ àm
đạo với họ, Ng ài hỏi:
- Này các cư sĩ, các ông có hành trì trai giới ch ăng?
Khi các cư sĩ đồng thanh đáp có, Ng ài
bảo:
- Tốt lành thay! Tốt lành thay! Này các cư sĩ, tuy nhiên ngày nay các ông
có một vị Phật làm Đạo Sư như Ta v à hành
trì trai giới thì không phải là chuyện lạ gì, vì các bậc hiền trí ngày xưa,
chưa có bậc Đạo Sư n ào, cũng
đ ã từ bỏ mọi vinh quang thế tục và giữ
ngày trai giới.
Nói xong, theo lời thỉnh cầu của các cư sĩ, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
I .- THÁI TỬ BRAHMADATTA VÀ LONG NỮ
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì thành Ba-la-nại, ngài phong cho con
làm phó vương. Nhưng khi ngài thấy thái tử đạt
vinh quang lừng lẫy, ng ài lại đâm ra ho ài
nghi một ngày kia thái tử sẽ chiếm trọn giang sơn. Vì thế ngài bảo con:
- Vương nhi hãy ra đi t ìm chỗ cư trú
nào mà vương nhi thấy hợp ý trong lúc này, khi ta b ăng
h à hãy về đây kế thừa vương nghiệp.
Thái tử vâng lệnh, giã từ vương phụ ra đi
đến v ùng núi Yamunà dựng một túp chòi lá nằm giữa dòng sông giáp bờ
biển và sống bằng rau quả qua ngày.
Lúc bấy giờ có một long nữ dòng giống Nàga ở dưới biển, mới mất chồng,
lòng khao khát dục tình khi nhìn thấy các long nữ khác an vui cảnh chồng
con, nên bỏ nơi địa giới, đi lang thang tr ên
bờ biển, chợt thấy dấu chân của thái tử liền theo lối mòn
đi đến ch òi lá. Lúc ấy thái tử
đ ã đi ra
ngo ài kiếm trái cây. Long nữ bước vào chòi, thấy chiếc giường gỗ và
đồ đạc trong ch òi, nhủ thầm: " Đây
l à nơi cư trú của một ẩn sĩ, để ta thử
xem vị n ày có thật là một vị chân tu không. Nếu vị
đó l à bậc chân tu, sống khắc kỷ, vị ấy
sẽ không chịu nhận chiếc giường trang hoàng lộng lẫy của ta; còn nếu
đó l à người với tâm tư mê
đắm dục lạc, không phải l à bậc chân tu
tịnh tín thì vị đó sẽ nằm tr ên chiếc
giường của ta, rồi ta sẽ lấy vị đó l àm
chồng và ở lại đây".
Vì thế long nữ vội trở về cõi mình góp nhặt hương hoa thần tiên trang
hoàng một sàng tọa toàn bằng hoa và sau khi làm lễ cúng hương hoa, rắc phấn
hương khắp chòi và trang hoàng cái chòi thật
đẹp, n àng đi về c õi mình trú ngụ.
Buổi chiều khi thái tử trở về, chàng vào chòi thấy mọi vật như thế liền nói:
- Ai đ ã sắm sửa tọa sàng này?
Khi chàng ăn đủ loại trái cây xong, ch àng
lại kêu lên:
- Ôi, hoa thơm ngạt ngào, toạ sang này êm ái quá!
Lòng chàng đầy hân hoan, v ì thật tâm
chàng không phải là bậc chân tu khổ hạnh, chàng liền nằm xuống giường hoa và
ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau chàng thức dậy và cũng đi kiếm
trái cây, chẳng nhớ quét dọn ch òi lá. Vào lúc ấy long nữ Nàga xuất
hiện thấy hoa héo úa cả liền hiểu ngay: "Kẻ này còn tham dục lạc, không phải
là bậc chân tu, ta có thể bắt lấy được rồi".
Thế l à nàng lượm hết hoa cũ, đem hoa
khác đến trải l ên tọa sàng thật đẹp,
trang ho àng túp chòi lá, rải hương hoa như trước trên thềm nhà, rồi
trở về cõi mình cư ngụ. Thái tử lại ngủ một đ êm
nữa trên giường hoa và sáng hôm sau chàng tự nghĩ: "Ai
đ ã trang hoàng chiếc chòi này?"
Vì thế chàng không đi hái trái nữa, ch àng
đứng ẩn m ình không xa túp liều. Long nữ
Nàga thu lượm hoa xong đi đến lều của ch àng.
Vương tử chiêm ngưỡng dung nhan cực kỳ lộng lẫy của long nữ Nàga, liền say
mê nàng ngay và chàng lẳng lặng đi v ào
chòi trong khi nàng đang trang ho àng tọa
sàng và hỏi nàng là ai.
- Tâu đức ông, tiện thiếp l à long nữ
Nàga.
- Chẳng hay nàng đ ã có gia thất chưa?
- Tiện thiếp là sương phụ không có chồng, chẳng hay chàng ở
đâu?
- Ta là thái tử Brahmadatta, con vua tại thành Ba-la-nại; nhưng còn nàng,
tại sao lại đi phi êu bạt rời bỏ xứ sở
của dòng giống Nàga?
- Tâu đức ông, chỉ v ì tiện thiếp
trông thấy hạnh phúc của các nàng Nàga yên bề gia thất nên lòng chưa thỏa
mãn về đường t ình duyên
đứt gánh, phải lang bạt đó đây t ìm bóng
tùng quân để nương tựa tấm thân bồ liễu.
- Ta cũng không phải là vị chân tu, mà ta
đến trú ngụ nơi đây chỉ v ì cha ta đuổi
ta đi; vậy nếu n àng không chê ta, ta xin nguyện cùng nàng làm
đôi vợ chồng sống h òa hợp nơi
đâ y.
Tức thì long nữ bằng lòng và từ đó họ chung
sống rất ho à hợp trong rừng ấy. Nhờ thần lực của long nữ, nàng biến
hóa ra một ngôi nhà sang trọng có sàng tọa quý giá trong khuê phòng lộng
lẫy. Từ đó ch àng không còn phải
ăn hoa quả nữa, nhưng được hưởng to àn
cao lương mỹ vị của thần tiên. Sau một thời gian nàng thụ thai và sinh
được một con trai, họ đặt t ên là
Sàgara-Brahmadatta. Khi ấu nhi đ ã chập
chững biết đi, n àng lại hạ sinh
được một gái tr ên bờ biển nên
được đặt t ên là Samuddajà.
Lúc bấy giờ một sơn nhân trú tại thành Ba-la-nại tình cờ
đến nơi đây gặp vương tử, ch ào hỏi xong
thì nhận ra chàng, nên sau khi ở lại đó v ài
ngày, gã nói:
- Tâu vương tử, tiểu thần xin về thông báo với vương tộc biết ngài
đang cư trú nơi đây.
Thế rồi gã ra về kinh thành. Lúc ấy vua vừa b ăng
h à, các đại thần l àm lễ tang vua
xong, liền hội họp nhau lại sau đó bảy ng ày,
rồi họ quyết định:
- Đất nước không thể một ng ày không
có vua, nay ta chẳng biết vương tử trú ngụ phương nào: còn sống hay ch ăng,
để chúng ta bảo vương xa đến đón ng ài về làm vua.
Vừa khi ấy gã sơn nhân về thành, hay tin đó
vội đến t ìm các đại thần báo cho họ
biết: trước khi đến đây, g ã đ ã ở
gần vương tử mấy ngày. Các đại thần rất trọng đ ãi
gã, rồi cùng đi theo lời g ã chỉ dẫn
đến gặp vương tử. Sau khi ch ào hỏi thân
tình xong, họ báo cho vương tử biết vua vừa b ăng
h à và mời chàng về kế vị, chàng nghĩ thầm: "Ta muốn biết long nữ Nàga
tính sao đây?".Ch àng liền bảo vợ:
- Này hiền thê, vua cha ta vừa b ăng h à,
các đại thần đ ã
đến giương chiếc lộng ho àng gia lên cho
ta, vậy đôi ta c ùng
đi về trị v ì Ba-la-nại, rộng muời hai
đặm, n àng sẽ thành chánh hậu trong
đám mười sáu ng àn cung phi ấy.
- Phu quân ôi, thiếp không thể nào đi theo
ch àng được.
- Tại sao vậy? Dòng giống thiếp có thứ độc
dược giết người v à tánh khí lại dễ nóng giận vì chuyện không
đâu, huống chi l à việc hờn ghen trong
cung cấm là chuyện hệ trọng, nếu thiếp gặp việc gì bất bình và chỉ cần
đưa mắt giận dữ nh ìn, tức thì tia mắt
bắn ra như nắm trấu, vì thế thiếp không thể nào ra
đi theo ch àng
được.
Ngày hôm sau vương tử lại bảo nàng cùng đi,
n àng đáp:
- Thiếp không thể nào đi được, nhưng các con
của thiếp lại không phải thuộc n òi giống rồng Nàga, chúng là con của
chàng, thuộc giống người; nếu chàng còn thương thiếp xin hãy ch ăm
sóc lấy chúng. Nhưng v ì chúng quen thói ở nước, rất yếu
đuối, chúng sẽ chết nếu đi đường chịu d ãi
dầu nắng gió, vì vậy thiếp xin làm một con thuyền
đổ nước v ào
để chúng chơi đ ùa trong nước và khi đến
kinh th ành, xin chàng cho lệnh đ ào
một hồ nước cạnh hoàng cung cho chúng, như thế chúng mới khỏi khổ
được.
Nói xong, nàng cung kính chào giã từ vương tử, đi vòng quanh chàng
một cách kính cẩn, ôm các con vào lòng hôn đầu chúng và giao con cho chàng,
khóc lóc một hồi và biến đi về cảnh giới của rồng Nàga. Vương tử cũng nặng
trĩu u sầu, ràn rụa nước mắt, liền đến gặp các đại thần. Tức thì họ rảy nước
thánh lên đầu ch àng làm lễ phong vương
và thưa:
- Tâu Đại vương, xin Đại vương trở về th ành.
Chàng ra lệnh cho họ đóng thuyền xong đặt l ên
xe và đổ nước v ào.
- Hãy rảy hương hoa đủ m àu sắc trên
mặt nước vì các con ta tính ưa nước, thích vui
đ ùa trong nước.
Các đại thần tuân lệnh. Khi tân vương đến th ành
Ba-la-nại, ngài vào thấy thành trang hoàng rực rỡ, liền bước lên lầu an
nghỉ, có mười sáu ngàn mỹ nữ ca múa vây quanh cùng các cận thần. Ngài cho mở
đại yến trong bảy ng ày xong, ra lệnh
đ ào hồ nước cho các vương tử
để các vương tử chơi đ ùa suốt ngày.
Nhưng một ngày kia, khi nước được dẫn v ào
hồ, một con rùa trôi vào theo, rồi không tìm thấy lối ra, nó lội trên mặt
nước. Trong khi các vương tử nô đ ùa, rùa
hiện ra, thò đầu nh ìn
đám trẻ rồi lại lặn xuống nước. Đám trẻ thấy r ùa,
sợ hãi chạy đi báo với vua cha:
- Phụ vương ôi, một con rùa trong hồ làm chúng con sợ quá.
Vua ra lệnh bắt con rùa và một người thả lưới xuống bắt
được r ùa
đem lại tr ình vua. Khi các vương tử trông thấy rùa liền la to:
- Phụ vương ôi, nó là con quỷ.
Vì vua thương yêu con nên nổi giận với con rùa, ra lệnh cho quân hầu
trừng trị nó. Một người bảo:
- Nó là quân thù của Đại vương, vậy phải bảo
nó v ào cối mà giã nát ra thành cám.
Kẻ khác nói:
- Đem nấu nhừ ra m à
ăn.
Kẻ khác nữa lại bảo:
- Đem nó nướng than đi.
Hoặc:
- Bỏ nó vào nồi và đốt l ò.
Nhưng có một đại thần rất sợ nước bảo:
- Ném nó xuống vực xoáy của sông Yamunà, nó sẽ bị tiêu hủy hoàn toàn,
không còn hình phạt nào nặng hơn nữa.
Rùa nghe thế liền rụt cổ lại bảo:
- Này hiền hữu, ta đ ã phạm tội gì
khiến ông nói đến một h ình phạt nặng nề
như vậy dành cho ta? Các hình phạt kia ta còn chịu
được, chứ h ình phạt này thật vô cùng tàn
bạo, xin ông đừng nhắc đến nữa.
Khi vua nghe được, ng ài bảo:
- Phải hành hình nó như thế.
Và ngài ra lệnh ném nó vào vực xoáy của sông Yamunà, nơi
đây nó t ìm ra dòng nước
đưa nó đến động rồng N àga. Lúc bấy giờ
có vài tiểu long Nàga thuộc dòng vua rồng Dhatarattha
đang nô đ ùa trên dòng nước, thấy rùa
liền bảo nhau:
- Bắt lấy tên tiểu nô kia.
Rùa nghĩ thầm: "Ta vừa thoát khỏi tay vua Ba-la-nại, lại rơi vào tay bọn
quỉ Nàga hung ác này, làm sao thoát được đây?"
Nó liền nghĩ ra một kế, bịa ra một chuyện v à bảo chúng:
- Tai sao các long tử thuộc dòng dõi triều đ ình
vua Dhatarattha lại nói n ăng như vậy? Ta l à
linh quy tên Cittacùla, sứ giả của vua Ba-la-nại
đến yết kiến vua Dhatarattha, đức vua của ta
muốn gả công chúa của ng ài cho long vương Dhatarattha, vậy hãy cho ta
được bái yết ng ài.
Chúng bằng lòng dẫn rùa đến, nhưng khi thấy
r ùa, vua không đẹp ý, bảo:
- Những kẻ có hình thù tồi tàn như vậy không thể nào làm sứ giả
được.
Rùa nghe vậy liền đáp lại, n êu rõ các
đức tính của nó cho vua hay:
- Tại sao Đại vương lại cần sứ giả cao như
cây dừa l àm gì? Hình dạng nhỏ bé hay cao lớn
đâu có g ì quan trọng?
Điều tối quan trọng l à tài
đức để thi h ành sứ mạng
được giao phó. Tâu Đại vương,vua của chúng thần
có rất nhiều sứ giả. Con người th ì làm việc trên
đất liền, chim chóc th ì làm việc trên
không, tiểu thần thì ở dưới nước, vì tiểu thần là kẻ
được đức vua sủng ái t ên gọi là
Cittacùla, tiểu thần giữ một chức vụ đặc biệt,
xin đừng nhạo báng tiểu thần.
Sau đó vua Dhatarattha hỏi r ùa tại
sao được vua bảo đến đây, nó liền đáp:
- Đức vua của tiểu thần muốn b ày tỏ
tình thân hữu với mọi đức vua tr ên cõi
Diêm-phù- đề v à nay ngài muốn gả công
chúa Samuddajà để tỏ t ình thân hữu với
long vương Nàga, vậy xin Đại vương chớ chậm
trễ, h ãy lập tức gửi sứ giả đi c ùng
tiểu thần định ng ày hôn lễ và
đón công chúa về.
Vua rồng vô cùng đẹp ý, tán tụng r ùa
hết lời và ra lệnh cho bốn long tử Nagà cùng đi
với r ùa định ng ày hôn lễ sau khi
gặp vua kia rồi trở về xứ. Bốn chàng tiểu long cùng rùa từ giã
động chúa rồng N àga. Rùa trông thấy một
hồ sen giữa sông Yamunà và kinh thành Ba-la-nại, muốn trốn
đi, liền b ày kế nói:
- Này các long tử, đức vua c ùng vương
hậu, vương tử của ta đ ã thấy ta xuất
hiện trên mặt nước khi ta đến cung vua, n ên
các ngài bảo ta dâng lên vài hoa sen và củ sen, vậy ta phải
đi hái đ ã, các long tử
để ta đi một lát, hễ không thấy ta về th ì
cứ đi thẳng v ào xin yết kiến
đức vua, ta sẽ đến đó để gặp các ch àng
sau.
Họ tin lời để r ùa ra
đi, nó liền trốn biệt. Các ch àng tiểu
long không thấy rùa trở lại tưởng rằng nó đ ã
đến chầu vua, liền đi đến ho àng cung giả
dạng các thanh niên. Đức vua tiếp đ ãi ân
cần và hỏi họ từ đâu đến. Họ bảo:
- Tâu chúa thượng, từ Dhatarattha.
- Các công tử có việc gì ch ăng?
- Tâu chúa thượng chúng thần là sứ giả của Long vương Dhatarattha, xin
kính chúc chúa thượng ngọc thể an khang và đức
vua của chúng thần xin kính tặng chúa thượng bất cứ bảo vật n ào chúa
thượng đẹp ý. Đức vua của chúng thần cũng cầu
xin Chúa thượng gả công chúa Samuddaj à
để l àm vương hậu của ngài.
Rồi họ ngâm vần kệ thứ nhất để giải thích
việc n ày:
1. Bất kỳ mọi bảo ngọc kim ngân,
Tích trữ trong cung điện chúng thần,
Đều của Đại vương t ùy thánh ý,
Xin trao công chúa đến long quân.
Vua nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ hai:
2. Từ trước chẳng hề có thế nhân,
Kết duyên con gái với long quân,
Sánh đôi vậy thật không tương xứng,
Sao trẫm nghĩ ra chuyện lạ l ùng?
Các chàng tiểu long bảo:
- Ví như việc thông gia với Đại vương không
l àm đẹp ý thánh thượng,vậy tại sao thánh
thượng lại sai sứ thần linh qui Cittac ùla
đến yết kiến Đại vương của chúng thần v à
ngõ lời muốn gả công chúa Samuddajà? Sau khi đ ã
gửi sứ giả đi như vậy, Thánh thượng lại tỏ ra
khinh mạn Đại vương của chúng thần. Nay chúng thần sẽ biết cách đối phó xứng
đáng với thái độ khinh mạn ấy.
Nói xong họ ngâm hai vần kệ để hăm dọa:
3. Ngài sẽ bỏ thân, hỡi Đại vương,
Ng ài và đất nước nghĩa g ì ch ăng?
Trước cơn thịnh nộ từ long chúa,
Vinh hiển thế nhân sẽ úa t àn.
4. Ngài kẻ yếu hèn, một thế nhân,
Phải suy tàn bởi tính kiêu c ăng,
Dám khinh thái tử Ya-mu ấy,
Con của Va-ru-na Đại vương.
Vua liền đáp hai vần kệ:
5. Ta chẳng hề khinh bỉ Đại vương,
Dha-ta-ra hiển hách danh lừng,
Là vua bộ tộc Nà-ga ấy,
Thừa hưởng vương quyền đúng lẽ chân.
6. Song dù ngài vĩ đại cao sang,
Sát- đế- ly dòng dõi xuất thân,
Chính thống Vi-đề-ha quý tộc,
Ngài đừng mơ tưởng đến công nương.
Mặc dầu các chàng tiểu long Nàga muốn giết vua ngay lập tức bằng một
luồng khí độc, họ kịp suy nghĩ lại rằng họ được
phái đi đến đây định ng ày hôn lễ, cho nên giết vua rồi bỏ
đi th ì thật không phải lẽ, vì thế họ
bảo:
- Chúng thần xin từ tạ để về tâu lại Đại
vương của chúng thần r õ.
Rồi họ biến mất. Khi về, vua hỏi xem họ đ ã
rước công chúa được chưa, họ giận dữ đáp:
- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương lại phái
chúng thần đến đó m à chẳng có duyên cớ gì cả.Ví dụ
Đại vương muốn giết chúng thần, xin giết ngay
tại đây cho thỏa dạ. Vua nước ấy mạ lỵ, phỉ b àng
Đại vương, tôn con gái m ình lên tột
đỉnh v à kiêu mạn về dòng dõi vương gia.
Cứ thế họ thêu dệt thêm câu chuyện khiến vua nổi giận, ban lệnh họp quần
thần binh lính lại, bảo:
7. Này As-sa với Kam-ba-la,
Triệu tập mọi dân chúng mãng xà,
Tiến đến Ba-la th ành tụ họp,
Song đừng l àm hại trẻ hay già.
Các chúa Nàga hỏi:
- Nếu không cần phải hại ai cả thì chúng thần
đến đó để l àm gì?
Vua liền ngâm kệ bảo họ phải làm như sau:
8. Ở trên hồ nước, các hoàng thành,
Đường xá v à trên các ngọn ngành,
Trên các cung môn, cần kết dải,
Đong đưa theo gió nhẹ, treo m ình.
9. Mào trắng và thân trắng mãng xà,
Bao quanh thành thị của nhà vua,
Vòng vây ta xiết dần dần chặt,
Dân xứ Kà-si sẽ sợ ta.
Binh lính Nàga tuân lệnh.
*
Bậc Đạo Sư tả quang cảnh xảy ra:
10. Nhìn đám m ãng xà ở khắp nơi,
Đ àn bà run rẩy,
đám đông người,
Trong khi quái vật giương m ào dậy,
Dân chúng thảy la hét rụng rời.
11. Dân xứ Ba-la-nại vội nằm,
Trước đo àn dã thú
đến xâm lăng,
Giơ tay khẩn thiết đồng cầu nguyện:
- Xin gả công nươn g với chúa rồng!
*
Trong lúc vua đang ngự tr ên long
sàng, ngài nghe tiếng kêu khóc của các vương phi cùng nhiều thần dân khác và
chính ngài cũng sợ chết vì những lời h ăm dọa
của bốn tiểu long kia, n ên ngài kêu to ba lần:
- Ta sẽ gả công chúa Samuddajà cho vua Dhatarattha.
Khi các chúa rồng Nàga nghe được lời ấy liền
rút quân l ùi lại cách một dặm đường, v à
cắm trại tại đó, xây dựng l ên một kinh
thành giống cảnh của chư Thiên, rồi cho người mang lễ vật cầu hôn
đến nh à vua:
- Xin hoàng thượng gả công chúa như đ ã
hứa.
Vua nhận lễ vật xong, ra lệnh cho các người
đem lễ vật ấy lui về v à ngài bảo:
- Các ngươi hãy ra về, trẫm sẽ cho các đại
thần đem công chúa đến.
Rồi ngài triệu công chúa lại, đem n àng
lên thượng lầu,mở cửa sổ ra bảo nàng:
- Này công chúa, con hãy ngắm kinh thành tráng lệ kia, vua nọ cầu hôn con
về làm chánh hậu tại đó; kinh th ành
đó ấy không xa mấy, bao giờ con thấy nhớ nh à
cứ về th ăm cha, nhưng bây giờ con phải vu qui.
Sau đó vua ra lệnh các cung nữ gội đầu,
trang điểm cho công chúa đủ ngọc ng à trân bảo rồi
đưa n àng lên loan xa che kín, có các
đại thần hộ tống. Các vua chúa N àga ngự
ra đón n àng theo lễ nghi rất trọng thể.
Các đại thần v ào thành, tiễn biệt công
chúa và ra về được tặng vô số ngọc v àng.
Công chúa được đưa v ào hoàng cung
đặt nằm tr ên tọa sàng tráng lệ như cảnh
tiên, và các thiếu nữ Nàga có lưng gù cùng những dị tật khác hầu hạ quanh
nàng như thể thị nữ ở cõi nhân gian vậy. Khi công chúa vừa
đặt lưng xuống tọa s àng thần tiên này,
nàng cảm thấy êm dịu lạ lùng và ngủ thiếp đi.
Vua Dhatarattha sau khi đ ã tiếp đón n àng
xong, liền biến đi c ùng với hội chúng
của mình về cảnh giới của loài rồng Nàga.
Khi công chúa thức dậy và thấy tọa sàng thần tiên trong cung
điện xây bằng ngọc v àng châu báu cùng
các hoa viên và hồ nước trong cảnh giới Nàga chẳng khác nào kinh thành tráng
lệ của thiên giới, nàng hỏi các thị nữ gù lưng quanh nàng:
- Kinh thành này thật tuyệt diệu, chẳng giống kinh thành của ta, vậy nó
là của ai thế?
- Tâu lệnh bà, đó l à kinh thành thuộc
quyền Chúa thượng của lệnh bà, những kẻ thiếu
đức không thể n ào hưởng được cảnh vinh
quang như thế n ày. Lệnh bà đ ã
được vinh quang như vậy l à nhờ công
đức cao trọng của lệnh b à.
- Sau đó vua Dhatarattha ra lệnh đánh chi êng
trống khắp hoàng thành rộng n ăm trăm dặm bố cáo
với thần dân rằng kẻ n ào để lộ tướng
rồng tinh cho công chúa Samuddaj à thấy sẽ bị trừng trị ngay; Vì thế
không ai dám xuất hiện nguyên hình trước mặt nàng. Cho nên nàng hưởng cuộc
sống rất êm ấm hòa hợp với nhà vua vì tưởng rằng
đấy l à cảnh giới nhân gian.
II.- BẬC ĐẠI TRÍ
DATTA
Theo thời gian vương hậu Dhatarattha thụ thai và sinh hạ một vương tử có
dung mạo khôi ngô nên được đặt t ên là
Sudassana, sau đó b à lại sinh hạ vương
tử thứ hai đặt t ên là Datta;
đó chính l à Bồ-tát. Rồi bà lại sinh
vương tử thứ ba đặt t ên là Subhaga và
vương tử thứ tư tên Arittha. Dù đ ã sinh
hạ bốn vương tử, bà vẫn chưa hề biết đây l à
cảnh giới của rồng Nàga. Nhưng một ngày kia, có người bảo Arittha:
- Vương hậu là giống người chứ không phải giống Nàga.
Arittha tự nhủ: " Để ta thử mẹ xem sao". Một
ng ày kia trong lúc đang bú sữa mẹ, vương
tử xuất lộ nguy ên hình rắn rồng, lấy
đuôi ve lưng b àn chân mẹ. Khi hoàng hậu thấy rồng, kinh hãi thét lên
ném con xuống đất, lấy móng tay c ào vào
mắt con đến chảy máu ra. Vua nghe tiếng thét
hỏi lý do v à khi vua nghe chuyện Arittha làm ra, ngài bước
đến hăm dọa:
- Đem t ên tiểu nô này giết
đi.
Công chúa biết bản tính nóng nảy của vua, liền lên tiếng bênh vực con:
- Tâu chúa thượng, thần thiếp đ ã
đánh v ào mắt vương nhi rồi, xin Chúa
thượng tha tội cho nó.
Vua nghe vương hậu nói vậy liền tha:
- Thôi trẫm còn làm sao được nữa?
Rồi vua tha thứ cho con. Từ ngày đó ho àng
hậu mới biết đây l à xứ rồng Nàga và cũng
từ đó Arittha được gọi l à
Độc nh ãn Arittha (Kànàrittha) .
Bấy giờ các vương tử đ ã
đến tuổi trưởng th ành. Vua cha giao cho
mỗi vị một vương quốc rộng chừng một tr ăm dặm
vuông, vinh quang lừng lẫy v à mỗi vị có mười sáu ngàn long nữ Nàga
hầu hạ trong cung đ ình. Vương quốc của
vua cha cũng chỉ một tr ăm dặm vuông. Các vương
tử hằng tháng đều đến vấn an đức vua c ùng hoàng hậu. Nhưng Bồ-tát cứ
nửa tháng lại yết kiến cha mẹ một lần, ngài vẫn thường
đưa ra một số vấn đề xảy ra cảnh giới N àga
và vẫn thường cùng vua cha đến yết kiến Đại Thi ên
vương Virùpakkha (Quảng Mục) đ àm
đạo các vấn đề ấy.
Một ngày kia, Đại vương Vir ùpakkha
cùng với hội chúng Nàga lên cảnh giới chư Thiên
để chầu Thi ên chủ Sakka, một vấn đề được
đưa ra đ àm dạo nhưng không có ai trong chư Thiên giải
đáp được trừ bậc Đại Sĩ lúc ấy đang ngồi tr ên
bảo tọa. Thế rồi Thiên Đế tỏ l òng hâm mộ
ngài, đem tặng hoa quả của c õi trời và
bảo ngài:
- Này Hiền giả Datta, ngài có đại trí lớn
như quả địa cầu, từ nay ta xin gọi ng ài là Bhùridatta (bậc
Đại trí Datta) .
Và Thiên chủ ban ngài danh hiệu ấy. Sau đó
bậc Đại Sĩ bái yết Thi ên chủ Sakka để tỏ
l òng sùng kính và khi ngài ngắm vẻ huy hoàng tột
đỉnh của thi ên triều cùng các tiên nữ,
ngài mơ ước được l ên thiên giới: "Ta còn
làm gì được với tướng rồng rắn chuy ên
ăn ếch nhái n ày nữa? Thôi ta nguyện trở
về thế giới rồng rắn hành trì trai giới, tu tập công hạnh
để được sinh l ên cõi chư Thiên".
Suy nghĩ như vậy xong, ngài liền xin cha mẹ khi trở về xứ rồng Nàga:
- Tâu phụ vương cùng mẫu hậu, con nguyện hành trì trai giới.
- Này vương nhi, con cứ hành trì cho thỏa nguyện, nhưng trong lúc trì
giới con chớ ra ngoài, chỉ ở nội trong cung
điện trống vắng của lo ài Nàga vì người trần thế rất kinh sợ rồng
Nàga.
Nói xong ngài cuộn mình trên tổ kiến và nói to:
- Kẻ nào muốn cứ đến lấy máu thịt xương da
ta đi.
Rồi ngài trì giới gồm bốn phép, nằm đó với
thân tướng chỉ gồm có đầu đuôi m à thôi.
Đến rạng ng ày hôm sau, các long nữ Nàga
đến v à làm theo lệnh ngài đ ã ban,
đưa ng ài về lại cảnh giới Nàga như cũ và
cứ thế ngài trì giới trong suốt một thời gian dài.
III.- HAI CHA CON BÀ-LA-MÔN S ĂN
THÚ
Lúc bấy giờ có một người Bà-la-môn sống ở một làng gần cổng thành
Ba-la-nại thường cùng con trai tên gọi Somadatta vào rừng
đặt bẫy chông bắt thú rừng rồi gánh thịt đi bán
để sinh nhai. Một ng ày kia, gã chẳng bắt
được con thú n ào dù chỉ một tắc kè nhỏ, gã bảo con:
- Nếu ta về nhà tay không, mẹ con sẽ giận dữ, vậy ta cứ bắt lấy con gì
cũng được.
Thế là gã đi về phía tổ kiến nơi Bồ-tát đang
tĩnh tọa v à quan sát dấu chân nai thường xuống dòng sông Yamunà
để uống nước, g ã bảo :
- Này con, đây l à hang nai, con hãy
về đợi trong lúc cha bắt nai đến uống nước.
Và gã giương cung đứng dưới gốc cây chờ nai
đến. V ào buổi chiều, một con nai đến
uống nước liền bị bắn trọng thương, tuy nhi ên nó chưa ngã xuống ngay
mà vì mũi tên làm tuôn máu xối xả, nó liền chạy trốn. Hai cha con
đuổi theo tận nơi nó ng ã xuống, bắt lấy
rồi ra khỏi rừng đến gốc cây đa th ì mặt
trời vừa lặn.
- Lúc này đi xa th ì bất tiện lắm,
thôi ta ở lại đây.
Nói xong họ đặt con nai qua một b ên
rồi trèo lên cây nằm trên cành. Gã Bà-la-môn thức giấc lúc rạng
đông, cố nghe ngóng tiếng động của nai, vừa lúc
đó các thị nữ N àga đến dâng tọa sáng
hương hoa cho Bồ-tát. Ng ài đ ã bỏ
xác rồng và hiện hình Thiên thần mang đủ bảo
vật trang nghi êm ngồi trên tọa sàng sực nức hương hoa trong dáng
điệu uy nghi của một Thi ên
đế Sakka.
Các thị nữ Nàga thành kính cúng dường ngài vô số hương hoa rồi trỗi khúc
nhạc thiên đường, đồng thanh ca múa. Khi g ã
Bà-la-môn nghe tiếng nhạc gã tự hỏi: "Ai đây,
ta phải xem sao mới được". G ã liền gọi con trai nhưng cậu bé vẫn cứ
ngủ say. Gã tự nhủ: "Thôi để nó ngủ. Nó c òn
mệt thì ta đi một m ình vậy". Gã leo
xuống đất tiến đến gần ng ài . Các thị nữ
Nàga thấy gã liền độn thổ ngay c ùng các
nhạc khí, trở về cảnh giới Nàga, chỉ còn Bồ-tát ngồi lại một mình. Gã
Bà-la-môn đứng gần ng ài ngâm hai vần kệ
hỏi ngài:
12. Hồng nhãn thiếu sinh được thấy đây,
L à ai, tỏa rộng đôi bờ vai,
Mười n àng xuân nữ vây quanh nọ,
Đeo xuyến v àng, xiêm áo
đẹp thay.
13. Chàng là ai ở giữa rừng xanh,
Như lửa thêm dầu mỡ mới tinh,
Có phải Sak-ka, thần đại lực,
Hay l à rồng chúa đại oai danh?
Bậc Đại Sĩ nghe vậy thầm nghĩ: "Nếu ta bảo l à
một vị Sakka ( Đế Thích), g ã sẽ tin ngay
vì gã là một Bà-la-môn, nhưng ta phải nói sự thật: Thế là ngài nói về nòi
giống Nàga của ngài:
14. Ta chúa Nàga, lực đại h ùng,
Với luồng khí độc mạnh vô song,
Đất nước phồn vinh, dân lớn bé,
Ta đây nổi giận giết ti êu vong.
15. Mẫu thân ta chính Sa-mud-da,
Chúa tể Dha-ta, thân phụ ta,
Em của Su-das-san thái tử,
Tên ta là Đại trí Dat-ta.
Nhưng khi bậc Đại Sĩ nói xong, ng ài
liền nghĩ: "Bà-la-môn này hung ác, gã có thể phản ta, và tiết lộ ta với
người bắt rắn và thế là cản trở việc trì giới của ta.Vậy ta
đưa g ã về vương quốc Nàga, tiếp
đ ãi gã trọng thể tại
đó, như thế ta vẫn không gián đoạn việc h ành
trì giới luật". Thế là ngài bảo gã:
- Này Hiền hữu Bà-la-môn, ta muốn tiếp đ ãi
ông thật trọng thể, vậy hãy theo ta đến xứ sở N àga
đầy lạc thú bây giờ. Tâu chúa thượng, hạ thần c òn
một con trai, nếu hạ thần có đi, xin cho con
trẻ đi c ùng.
Bồ-tát đáp:
- Hiền hữu cứ đi t ìm hiền
điệt lại đây.
Rồi ngài tả nơi cư ngụ của ngài cho gã biết:
16. Hồ kia u tối thật kinh hoàng,
Sóng nước không ngừng bão tố dâng,
Nhà của ta thần dân trú ngụ,
Còn ai dám trái lệnh ta ban.
17. Hãy lặng chìm trong làn sóng xanh,
Đ àn công, đ àn
hạc gọi đồng thanh:
- Xuống đây tận hưởng niềm hoan lạc
D ành sẵn cho ai giữ giới hành.
Gã Bà-la-môn đi t ìm con kể chuyện cho
con nghe rồi đem con trở lại v à bậc
Đại Sĩ liền đưa họ đến b ên bờ sông
Yamunà. Khi đứng đó, ng ài bảo:
18. Hiền hữu cùng con chớ ngại ngùng,
Theo lời ta bảo, sống ung dung,
Vinh quang hạnh phúc trong cung điện,
Lạc thú ta ban đủ mọi phần.
Nói xong, bậc Đại Sĩ d ùng thần lực
đưa hai cha con đến cảnh giới N àga, nơi
đây họ hưởng cuộc sống thần ti ên. Ngài
ban cho họ phúc lạc của tiên giới, mỗi người có
đến bốn trăm thiếu nữ N àga hầu hạ, vinh hoa phú quý thật không sao kể
xiết. Bồ-tát vẫn tinh tấn hành trì giới luật, cứ nửa tháng ngài
đi bái yết phụ vương, mẫu hậu v à thuyết
Pháp; còn khi đến thăm g ã Bà-la-môn,
ngài thường vấn an gã và bảo:
- Hiền hữu cần gì cứ nói cho ta biết, xin cứ hưởng lạc thú,
đừng để bất toại điều g ì.
Rồi sau khi chào hỏi Somadatta ân cần, ngài trở về tu thất của ngài.
Gã Bà-la-môn, sau khi sống trong cảnh giới Nàga
được một năm, do thiếu tu tập công đức trước
đây, dần dần cảm thấy không toại ý, chỉ muốn trở về nhân gian. Cảnh giới N àga
đối với g ã chẳng khác nào
địa ngục. Cung điện được trang ho àng
lộng lẫy chỉ giống như nhà tù, các cung nữ Nàga
được điểm trang v àng ngọc cũng tựa bầy quỉ cái. Gã nghĩ thầm: "Ta
chán lắm rồi, để ta hỏi thử xem Somadatta nghĩ
sao?".G ã tìm con trai và hỏi:
- Con có được toại nguyện chăng?
- Làm sao con lại bất mãn được? Cha con ta
không n ên nghĩ như vậy.Còn thân phụ không toại nguyện ch ăng?
- Đúng vậy.
- Tại sao thế?
- Vì ta không gặp được mẹ con c ùng
anh em con, thôi ta cùng đi về xứ.
Người con bảo không muốn đi về, nhưng v ì
bị cha nài mãi, nên cuối cùng cũng thuận. Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Con ta
đ ã ưng thuận ra
đi, nhưng nếu ta bảo với ho àng tử
Bhùridatta rằng ta không toại nguyện, hoàng tử sẽ ban cho ta thật nhiều ân
huệ khác nữa và thế là ta không thể đi về. Mục
đích của ta chỉ đạt được bằng một cách n ày thôi: Ta sẽ tả cảnh huy
hoàng của ngài rồi hỏi ngài: "Tại sao ngài rời bỏ mọi vinh quang
để l ên nhân thế hành trì trai giới?".
Khi ngài đáp: "Để được l ên thiên giới",
ta sẽ bảo ngài: "Chúng thần lại càng phải nên tu tập như thế hơn nữa, vì
chúng thần đ ã sống bằng nghề sát sinh
hại mạng. Thần cũng muốn trở lại trần thế để
thăm quyến thuộc xong rồi sẽ xuất gia sống đời khổ hạnh.Thế l à ngài
sẽ phải để ta đi".
Sau khi quyết định xong, một ng ày kia
Bồ-tát đến hỏi thăm g ã xem có gì chưa
toại ý ch ăng, g ã liền vội trấn an ngài
rằng không có điều g ì gã mơ ước mà ngài
không ban cho gã, rồi không hề nói gì đến ý
định ra đi, trước ti ên gã chỉ ngâm kệ tả cảnh phồn vinh thịnh vượng
của xứ ngài:
19. Đất bằng trải rộng khắp nơi nơi,
Hoa trắng Ta-ga nở rợp trời,
Tổ bọ y ên chi màu đỏ thắm,
Rừng xanh rực rỡ phủ nền tươi.
20. Đền đ ài linh hiển khắp trong
rừng,
Hồ lắm thiên nga đắm mắt trần,
Tô điểm lá sen t àn rải rác,
Khác nào các tấm thảm đang nằm.
21. Cung đ ình ngàn cột trụ nguy nga,
Tiên nữ bao nàng rộn múa ca,
Cột trụ dát toàn châu ngọc quý,
Tứ bề phản chiếu ánh trời xa.
22. Ngài có cung đ ình thật hiển vinh,
Chính nhờ công đức đ ã hoàn thành,
Mọi niềm ước nguyện đều vi ên mãn,
Ngay khi nguyện ước mới thành hình.
23. Ngài chẳng ước mơ điện Ngọc ho àng,
Thiên triều tráng lệ sánh sao ngang?
Cung ngài vinh hiển còn hơn thế,
Với cảnh huy hoàng chiếu ánh quang.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, đừng nói thế, cảnh
vinh quang của ta so với Thi ên chủ Sakka chỉ như hạt cải bên cạnh núi
Tu-di (Meru). Chúng ta không bằng được quần
thần của ng ài nữa.
Rồi ngài ngâm kệ:
24. Ý dẫu tối cao chẳng dám mơ.
Vinh quang ngôi vị của Sakka,
Bốn Thiên vương ở trong triều đại,
Mỗi vị một miền được định ra.
Khi ngài nghe gã lập lại: "Cung điện của ng ài
chẳng khác nào cung Sakka Thiên chủ, ngài đáp:
- Ta đ ã nghĩ
đến chuyện n ày từ lâu, chính vì ta muốn
lên điện Vejayanta (Tối thắng ở c õi
thiên) mà ta thực hành sự tu tập trai giới.
Rồi ngài ngâm kệ tả rõ tâm nguyện mình:
25. Ta mong tha thiết cảnh cao đường,
Của các bậc ti ên thánh vĩnh hằng,
Vì thế ta ngồi trên tổ kiến,
Hành trì giới hạnh mãi không ngừng.
Gã Bà-la-môn nghe vậy thầm nghĩ: "Nay ta đ ã
có cơ hội rồi đây", v à với lòng hân
hoan, gã ngâm kệ xin phép ngài ra đi:
26. Thần đ ã cùng con trẻ bắt hươu,
Ngày xưa bôn tẩu chốn rừng sâu,
Bạn bè để lại nh à không biết,
Sống chết thần nay hiện ở đâu.
27. Đại-trí Dạt-ta, thần muốn đi,
Hỡi ng ài Minh chúa tộc Kà-si,
Chúng thần cất bước th ăm lần nữa,
Quyến thuộc thân bằng ở chốn quê.
Bồ-tát đáp:
28. Ta muốn các ngài ở chốn đây,
Cùng ta hưởng hạnh phúc bao ngày,
Nơi nào trên chốn nhân gian ấy,
Ngài thấy bình an giống cảnh này?
29. Nhưng nếu ngài mong ở chốn kia,
Thì ngài hãy hưởng lạc tràn trề,
Rồi sau sẽ giã từ đi nhé,
Hạnh phúc ng ài mong gặp bạn bè.
Rồi ngài suy nghĩ: "Nếu gã nhờ ta mà có được
hạnh phúc chắc g ã sẽ không tiếc lộ ta với ai
đâu, ta sẽ cho g ã viên ngọc như ý (ban
mọi điều ước). Ng ài liền tặng gã viên
ngọc rồi bảo:
30. Kẻ được mang vi ên bảo ngọc thần,
Ngắm đ àn con cháu với gia trang,
La- môn, lấy ngọc và đi nhé,
Chẳng có bao giờ gặp bất an.
Gã Bà-la-môn đáp:
31. Hạ thần hiểu rõ những lời ngài,
Ngài thấy thần nay đ ã lão lai,
Thần sẽ đi theo đời khổ hạnh,
Nghĩa g ì lạc thú ở trên đời?
Bồ-tát nói:
32. Nếu ngài chẳng giữ trọn lời thề,
Tìm thú thế nhân lần nữa kia,
Thì hãy đến t ìm ta lại nhé,
Ta ban ngài lạc thú tràn trề.
Gã Bà-la-môn đáp:
33. Dat-ta Đại-trí, tạ muôn vàn,
Ân huệ mà ngài đ ã phát ban,
Ví thử thần tìm cơ hội tốt,
Sẽ về mong được h ưởng hồng ân.
Bậc Đại Sĩ thấy rằng g ã không còn
muốn ở lại đây nữa, n ên ngài ra lệnh bốn
đồng tử N àga dẫn gã trở lại cõi trần.
*
Bậc Đạo Sư tả mọi việc như sau:
34. Dat-ta Đại trí lệnh truyền ban,
Bốn tiểu long thần: -H ãy bước chân,
Đem vị La-môn ta uỷ thác,
Dẫn người trở lại chốn người mong.
35. Nghe lời xong, các vị long thần,
Lập tức lệnh ngài được phục tuân,
Họ dẫn Bà-la-môn đến chốn,
Rồi đi để lại g ã đơn thân.
Trên đường về l ão Bà-la-môn bảo con:
- Này Soma, ta sẽ giết được con nai chỗ n ày
và con lợn chỗ kia.
Rồi thấy một hồ nước, gã kêu lên:
- Này Soma, xuống tắm đi.
Thế là cả hai cha con cởi hết áo quần thần tiên ra cuộn thành một bó
đặt tr ên bờ, xuống hồ tắm. Lập tức áo
quần biến mất về cảnh giới Nàga chỉ còn bộ áo quần nghèo khổ màu vàng xưa
kia của họ mang lên người cùng với cung tên giáo hiện ra như ngày xưa ấy.
- Cha ơi, cơ nghiệp tiêu tan hết rồi. Somadatta kêu gào lên thế.
Nhưng cha cậu vội an ủi:
- Đừng lo g ì, hễ còn hươu nai trong
rừng là ta còn có kế sinh nhai.
Mẹ Somadatta nghe họ về, vội chạy ra đón v ào
nhà, thiết đ ãi cơm rượu thỏa thuê. Khi
gã Bà-la-môn đ ã
ăn xong v à
đi ngủ, người mẹ hỏi con:
- Lâu nay hai cha con đi đâu thế?
- Thưa mẹ, cha con và con được vua N àga
là Bhuridatta mang đến xứ N àga thần
tiên, nhưng vẫn không toại nguyện nên nay lại trở về.
- Thế con có mang về được món châu báu n ào
không?
- Thưa mẹ không.
- Thế vị vua đó không cho con món châu báu n ào
sao?
- Thưa mẹ, vua Bhùridatta đ ã tặng cho
cha con một viên ngọc ban mọi điều ước, nhưng
cha con từ chối.
- Vì cớ sao?
- Cha con bảo là muốn làm ẩn sĩ tu hành.
- Sao lâu nay đ ã vứt lại cho ta cả
một gánh nặng con cái và đi ở xứ N àga,
bây giờ lão đ òi làm ẩn sĩ à?
Thế là bà nổi cơn thịnh nộ, đập v ào
lưng gã bằng chiếc thìa lâu nay vẫn dùng nó chiên cơm rồi mắng gã xối xả:
- Ông thật là thứ Bà-la-môn ác độc, tại sao
ông bảo l à sắp đi tu l àm ẩn sĩ và
từ chối báu vật? Rồi tại sao ông còn vát mặt về nhà mà không thực hiện
nguyện ước tu hành? Hãy cút ra khỏi nhà ta ngay.
Nhưng gã bảo vợ:
- Này hiền thê, xin nàng chớ vội thịnh nộ, hễ còn hươu nai trong rừng là
ta còn cấp dưỡng mẹ con nàng.
Thế là ngày hôm sau, gã cùng con trai vào rừng tiếp tục sinh nhai bằng
nghề cũ.
IV.- VIÊN NGỌC THẦN VÀ GÃ BẮT RẮN
Lúc bấy giờ có một con chim Kim sí điểu
(chim thần cánh v àng) Garula sống trong cây bông vải trong vùng núi
Himavat (Tuyết Sơn) gần đại dương miền Nam, bay
lượn tr ên mặt nước rồi sà xuống vùng núi Himavat chụp lấy
đầu của một chúa rồng N àga.
Đây l à thời kỳ chim Garula chưa biết
cách bắt rồng Nàga (chúng đ ã biết cách
bắt rồng này trong chuyện Tiền thân Pandara, số 518). Vì thế, dù
đ ã chụp
được đầu rồng m à không làm bắn nước tung tóe, nó lại mang rồng tòn
teng đến đỉnh núi Himavat.
Một Bà-la-môn trước đây l à dân xứ
Kà-si, sống ẩn dật trên núi này trong một chòi lá, và cuối lối
đi có mái che l à một cây
đa lớn n ên ban ngày ông vẫn cư ngụ dưới
gốc cây. Chim Garula mang rồng Nàga đến ngọn
cây đa, v à rồng Nàga cố thoát ra, nên cuộn
đuôi quanh một c ành.Chim Garula không
biết việc này, lấy toàn lực bay vụt lên trời mang theo luôn cây
đa bật khỏi gốc. Chim thần mang rồng N àga
đến cây bông vải, d ùng mỏ phanh bụng
rồng ra, ăn hết mỡ, rồi ném xác xuống biển.
Cây đa rớt xuống đánh ầm, chim thần không
biết g ì vì sao có tiếng động lớn như
vậy, liền nh ìn xuống, thấy cây đa, nó tự
hỏi: "Cây n ày ta mang từ đâu lại?" Rồi
nhận ra đó l à cây đa ở cuối lối đi có
mái che của ẩn sĩ kia, nó suy nghĩ: "Cây đa rất ích lợi cho vị ấy, không
biết có tai họa giáng xuống cho ta chăng? Ta thử đi hỏi ông xem sao".
Rồi nó giả dạng làm một tiểu sinh đến gặp ẩn
sĩ trong lúc ông đang đập đất cho bằng phẳng lại. Thế l à vương
điểu đảnh lễ ẩn sĩ xong, ngồi qua một b ên,
hỏi th ăm sự t ình như thể nó không biết
gì những việc đ ã xảy ra:
- Cây gì đ ã mọc chỗ ấy?
Vị ẩn sĩ đáp:
- Một con chim Garula mang một con rồng Nàga
đi ăn thịt, con rồng quấn đuôi quanh một c ành cây
để cố trốn thoát, nhưng con chim mạnh quá bay
vút l ên không làm cây bật gốc theo và
đây l à nơi cây đ ã bật ra.
- Thế con chim mắc phải tội gì?
-`Nếu nó không biết việc nó làm, thì đó chỉ
l à vô ý thức, không phải tội lỗi.
- Thế còn trường hợp của rồng Nàga thì sao?
- Nó không cuộn vào cây với ý định l àm
hư hại cây, cho nên nó cũng không có tội.
Chim chúa Garula hài lòng với lời giải thích của ẩn sĩ liền nói:
- Này hiền hữu, ta chính là vương điểu
Garula, ta rất h ài lòng với lời giải thích vấn
đề của ông. Nay ông sống trong rừng n ày
và ta lại biết thần chú Àlambàyana quý vô giá. Ta sẽ tặng nó cho ông
để đền đáp công ơn ông đ ã giải thích cho
ta, mong ông nhận nó.
- Ta cũng đ ã biết nhiều thần chú lắm,
hiền hữu cứ an tâm ra đi.
Nhưng chim chúa cứ nài ép mãi cuối cùng cũng n ăn
nỉ được vị ẩn sĩ nhận lời, n ên nó trao bùa và chỉ những dược thảo cần
thiết rồi tạ từ.
Lúc bấy giờ ở Ba-la-nại có một Bà-la-môn nghèo khổ nợ nần tứ tung và bị
các chủ nợ giày vò mãi, gã tự nhủ: "Sao ta lại cứ sống mãi như thế này? Ta
thà vào rừng mà chết còn hơn". Thế là gã bỏ nhà
đi nhiều chuyến phi êu bạt vào rừng cho
đến khi g ã thấy lều ẩn sĩ. Gã vào xin ở lại và
được ẩn sĩ vui l òng nhận vì gã siêng n ăng
l àm mọi phận sự. Vị ẩn sĩ tự nhủ: "Gã Bà-la-môn này giúp
đỡ ta rất nhiều, vậy ta sẽ cho g ã chú
thiêng mà chim chúa đ ã cho ta".
Vì thế ông bảo gã:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, ta biết thần chú Àlambàyana, ta sẽ cho ông,
mong ông nhận lấy.
Gã đáp:
- Hiền hữu hãy an tâm, ta chẳng cần bùa chú gì cả.
Nhưng vị ẩn sĩ nài ép mãi, cuối cùng cũng thuyết phục gã kia lấy bùa, rồi
chỉ bảo cho gã những loại cây thuốc cần thiết và mọi cách sử dụng bùa.
Gã Bà-la-môn tự nhủ: "Ta đ ã có kế
sinh nhai rồi". Thế là sau khi ở lại thêm vài ngày, gã lấy cớ bị chứng phong
thấp và sau khi xin vị ẩn sĩ thứ lỗi, gã kính cẩn từ giã và
đi khỏi khu rừng, qua nhiều chặn đường, g ã
đến bờ sông Yamun à,
đi dọc theo đường cái, miệng lầm thầm câu thần
chú.
Ngay lúc bấy giờ cả ngàn tiểu đồng N àga,
vốn là thị giả của Bhruridatta đang mang vi ên
bảo châu như ý ấy. Họ đ ã ra khỏi cảnh
giới Nàga, ngồi nghỉ chân và đặt bảo ngọc tr ên
một đụn cát, rồi sau khi nô đ ùa suốt
đ êm dưới làn nước nhờ ánh sáng tỏa ra từ
viên bảo châu ấy, họ mang hết mọi món trang sức lên mình lúc trời mới tảng
sáng, thâu hào quang của bảo châu lại và ngồi canh chừng.
Gã Bà-la-môn đến đó ngay lúc g ã
đang lầm thầm câu thần chú, đám tiểu đồng nghe
thần chú hoảng sợ v ì tưởng đó l à
vương điểu Garula, liền độn thổ về cảnh giới N àga
mà quên lấy viên bảo ngọc. Gã Bà-la-môn thấy bảo ngọc liền kêu to:
- Thần chú của ta đ ã linh nghiệm tức
thì.
Gã vui mừng lượm bảo ngọc ra đi. Ngay lúc ấy
g ã Bà-la-môn hạ đẳng đang c ùng
con s ăn nai, chợt thấy vi ên bảo ngọc
trong tay gã kia, liền bảo con:
- Đó phải chăng chính l à viên bảo
ngọc mà Bhùridatta cho ta?
Người con đáp:
- Vâng, chính phải.
- Được thế th ì ta sẽ nói cho gã kia
biết những tính tai hại của viên ngọc rồi đánh
lừa g ã để d ành viên ngọc cho ta.
- Thưa cha, trước kia cha đ ã không
lấy viên bảo ngọc khi vua Bhùridatta tặng cha, nay vị Bà-la-môn này chắc
chắn sẽ dối gạt được cha cho m à xem. Cha
nên yên lặng thì hơn.
- Cứ thế, con sẽ thấy ai dối gạt được ai hay
nhất, g ã ấy hay cha.
Rồi gã tiến đến gần Àlambàyana và bảo
gã kia:
36. Từ đâu ông có bảo châu n ày,
Mang hạnh phúc nhiều, đẹp mắt thay,
Song có bức tường chi triệu đấy,
Là điều ta đ ã nhận ra ngay.
Àlambàyana đáp vần kệ sau:
37. Sáng nay ta rảo bước trên đưởng,
Ta thấy ngọc ngay chỗ nó nằm,
Vệ sĩ mắt hồng ng àn đứa chạy,
Để cho ta được miếng mồi ngon.
Gã Bà-la-môn hạ đẳng muốn đánh lừa g ã
kia, liền nói thêm ba vần kệ kể những tai hại của viên bảo ngọc, vì muốn
dành phần cho mình:
38. Nếu được nâng niu, quý trọng
nhiều,
Để d ành cẩn thận, hoặc thường
đeo,
Ngọc l àm toại nguyện cho người chủ,
Dù lớn bao nhiêu đủ mọi điều.
39. Nhưng nếu tỏ bất kính ngọc thần,
Người đeo hoặc giữ chẳng quan tâm,
Th ì người sẽ phải ăn năn m ãi,
Ngọc chỉ mang cho nỗi khốn cùng.
40. Nay ông chẳng có việc cần dùng,
Cũng chẳng có tài giữ bảo châu,
Vậy hãy đưa ta v à
đổi lấy,
V àng ròng đây ch ẵn một tr ăm
cân.
Àlambàyana liền đáp kệ:
41. Ta sẽ không đem bán bảo châu,
D ù bò hay ngọc quý ông trao,
Các điềm của nó ta tường tận,
Nó chẳng bao giờ bán được đâu.
Gã Bà-la-môn nói:
42. Nếu ngọc hay bò chẳng thể mua,
Ngọc kia ông có được bây giờ,
Giá n ào ông bán ra viên ngọc,
Hãy nói ta nghe rõ thật thà.
Àlambàyana đáp:
43. Ai bảo cho ta biết chốn nào,
Tìm ra rồng chúa đại anh h ào,
Ta cho người ấy ngay viên ngọc,
Tỏa sáng bốn bề rực rỡ sao!
Gã Bà-la-môn hỏi :
44. Có lẽ nào đây chính Điểu vương,
Hôm n ày giả dạng Bà-la-môn,
Đi t ìm dấu vết s ăn
mồi thịt,
Để bắt L ong vương lấy món ngon?
Àlambàyana đáp:
45. Ta quả thật không phải Điểu vương,
Mắt ta chẳng thấy bóng chim thần,
Danh y, Đạo Sĩ l à ta đấy,
Nọc rắn rồng l à việc sở trường.
Gã Bà-la-môn nói:
46. Phải ch ăng ô ng có lực thần nào,
Hay đ ã học hành kỹ thuật cao,
Việc ấy khiến ông không nhiễm độc,
Khi cầm nọc rắn giết người sao?
Gã đáp, mi êu tả n ăng
lực của m ình như sau:
47. Ko-sy ẩn sĩ chốn rừng hoang,
Khổ hạnh dài lâu giữ vững vàng,
Chim chúa sau cùng đem tiết lộ,
Cho ng ài bùa chú bắt Long thần.
48. Bậc Thánh tối cao sống ẩn thân,
Trên sườn núi nọ thật cô đơn,
Nhiệt t ình hầu hạ ngài, ta đ ã,
Phụng sự ngày đ êm chẳng nhọc nhằn.
49. Vì vậy, cuối cùng để thưởng công,
Cho ta hầu hạ những năm r òng,
Đạo Sư khả kính ta tôn quý,
Tiết lộ cho ta mật chú thần.
50. Tin v ào chú thuật vạn quyền n ăng,
Ta chẳng sợ rồng rắn cực hung,
Những nọc giết người, ta giải hết,
Ta l à bậc trí giả À-lam.
Trong khi nghe gã này nói, gã Bà-la-môn hạ
đẳng kia nghĩ thầm: "G ã Àlambàyana này sẵn sàng trao bảo ngọc cho kẻ
nào chỉ chỗ chúa rồng Nàga, vậy ta chỉ chỗ của Long vương Bhùridatta cho gã
rồi lấy bảo ngọc". Thế là gã ngâm kệ hỏi ý kiến con trai:
51. Con hỡi, ta tranh lấy bảo châu,
So-ma, ta hãy vội đi mau,
Đừng làm lỡ vận như người dại,
Đập dĩa cơm bằng gậy bấy lâu.
Somadatta đáp:
52. Mọi hiển vinh ngài đ ã phát ban,
Khi cha đi đến ở tha phương,
Nay cha trở mặt v à ăn cướp,
Như vậy l à đền nghĩa đáp ân?
53. V ì dù cha muốn được gi àu
sang,
Đi t ìm như trước ở Long vương,
Xin ngài, ngài sẽ vui lòng tặng,
Mọi thứ cha mong ước thỏa lòng.
Gã Bà-la-môn đáp:
54. Những thứ được do bởi vận may,
Chén cơm nằm sẵn ở trong tay,
Ăn ngay đừng hỏi g ì thêm nữa,
Con sẽ mất phần tặng thưởng này.
Somadatta nói:
55. Đất n ày
đang há miệng chờ trông,
Lửa địa ngục nung nấu cực nồng,
Chờ đợi sau c ùng người phản bội,
Hay cơn đói l ã xé tan lòng,
Sống tàn, chết dở, con người ấy,
Kẻ dối lừa ngay bạn chí thân.
56. Hãy cầu bậc Đại trí Dat-ta,
Nếu muốn gi àu sang, ngài sẽ cho,
Điều nguyện ước hằng mo ng thỏa mãn,
Song cha gây tội lỗi này ra,
Con e tội ấy không lâu sẽ,
Phát lộ cha ngay, thật đấy m à.
Gã Bà-la-môn đáp:
57. Song nhờ tế lễ thật cao sang.
Tội ác La-môn có thể mang,
Tuy thế, về sau đều rửa sạch,
Chúng ta dâng đại lễ đăng đ àn,
Như vầy sẽ được l àm thanh tịnh,
Giải thoát tội kia thật dễ dàng!
Somadatta nói:
58. Cha hãy ngưng lời nói xấu xa,
Con không ở lại nữa bây giờ,
Lúc này chính lúc con từ biệt,
Con chẳng cùng cha bước nữa mà,
Vì sự đ ê hèn này cấu xé,
Đang l àm thối nát trái tim cha.
Nói xong chàng trai hiền đức kia bác bỏ lời
cha dụ dỗ, thét vang l ên bằng giọng sang sảng làm chấn
động cả chư thần quanh v ùng ấy:
- Ta không thể đồng h ành với một kẻ
tội lỗi như thế được.
Rồi chàng bỏ đi ngay trong khi người cha
đứng lặng nh ìn theo, sau đó ch àng
đi sâu v ào rừng núi Himavat, trở thành
một ẩn sĩ, tu tập rồi chứng đắc các Thắng trí c ùng
các Thiền chứng, sau được sinh l ên Phạm
thiên giới.
*
Gã hạ đẳng B à-la-môn nghĩ thầm: "Soma
đi đâu nếu không phải l à về nhà?". Rồi
khi thấy Àlambàyana hơi phật ý, gã vội bảo:
- Này Àlambàyana đừng ngại g ì, ta sẽ
đưa ông đến chỗ Bh ùridatta Long vương.
Thế là gã đem Àlambàyana
đến nơi chúa rồng đang tr ì giới và khi
gã thấy ngài đang nằm cuộn tr òn trên tổ
kiến đầu thu lại, g ã
đứng tránh sang một b ên,
đưa tay chỉ ng ài và
đọc kệ sau:
60. Bắt chúa rồng nơi chốn nó nằm,
Chụp ngay viên ngọc quý muôn vàn,
Hào quang đỏ rực m àu tươi sáng,
Như mão miệng trên chóp phượng hoàng.
61. Hãy nhìn tổ kiến ở đằng xa,
Rồng chúa nằm kia, trải rộng ra,
Không có ý g ì lo sợ cả,
Gi ăng m ình như một
đống bông tơ;
Nơi kia bắt lấy ngay rồng ấy,
Trước lúc nó hay bạn đến m à.
Bậc Đại Sĩ mở mắt ra nh ìn gã hạ
đẳng kia, ng ài suy nghĩ: "Ta
đ ã đem g ã
ấy đến cung thất N àga rồi cho gã hưởng
vinh hoa tột bực, nhưng gã không nhận viên bảo ngọc ta ban cho, thế mà giờ
đây g ã trở lại với người bắt rắn. Tuy
nhiên nếu ta phẫn nộ gã vì việc làm phản trắc này thì công
đức của ta bị suy giảm. Giờ
đây bổn phận tối cao của ta l à giữ ngày
trai giới đủ bốn phép, không được vi phạm cho n ên
ví dù gã Àlambàyana kia có phân thân ta ra từng mảnh hay
đem ta nấu chín hoặc lấy xi êng
đâm ta v à nướng
đi ta cũng không được căm hận g ã về mọi
việc ấy".
Thế rồi ngài nhắm mắt lại, quyết giữ nhất tâm cao
độ, ng ài
đặt đầu giữa đám m ào rồi nằm hoàn toàn bất
động.
V.- BẬC ĐẠI TRÍ DATTA
BỊ BẮT
Lúc ấy gã Bà-la-môn hạ đẳng kia k êu
lên:
- Này Àlambàyana, ông hãy bắt rồng Nàga này ngay rồi trao viên ngọc cho
ta.
Gã Àlambàyana quá sung sướng khi nhìn thấy rồng chúa Nàga, nên không chút
lưu tâm đến vi ên bảo ngọc nữa, gã ném
ngọc vào tay gã kia bảo:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, lấy ngọc đi.
Nhưng viên ngọc tuột ra khỏi tay gã và khi vừa rớt xuống
đất liền biến mất v ào cảnh giới Nàga. Gã
Bà-la-môn thấy mình mất hết cả ba thứ: viên bảo châu, tình thân hữu của
Bhùridatta và cả con trai nữa và gã vừa đi về
nh à vừa lớn tiếng khóc than:
- Ta mất hết cả rồi, ta đ ã không nghe
lời con ta.
Còn gã Àlambàyana trước hết bôi khắp thân mình gã các loại thuốc thần,
ăn uống lấy sức rồi đọc thần chú v à
đến cạnh Bồ-tát, nắm lấy đuôi thật chặt, mở
miệng ng ài ra, phun vào một viên thuốc mà gã
đ ã ngậm sẵn.
Rồng chúa Nàga bản tính thuần tịnh không để
cho m ình nổi sân hận vì sợ vi phạm giới luật công hạnh, nên mặc dù
ngài mở mắt, ngài không giương to mắt ra.
Sau khi gã nhét đầy thuốc thần v ào
miệng chúa trồng, gã nắm đuôi rồng, đầu dốc
ngược, lắt mạnh cho rồng phun những thức ăn đ ã nuốt vào, gã c ăng
rồng nằm d ài trên mặt đất, rồi lấy tay đ è
mạnh thân rồng như thể đ è chiếc gối, gã
chà sát cả bộ xương ngài, nắm đuôi, nện ng ài
như thể đập tấm vải. Bậc Đại Sĩ không phẫn nộ
mặc d ù ngài đang chịu đau đớn như vậy.
*
Bậc Đạo Sư tả việc n ày qua kệ sau:
62. Nhờ các thuốc men đủ lực thần,
Đọc thần chú có ác công năng,
G ã cầm rồng chúa không kinh hãi,
Và bắt buộc ngài phải phục tuân.
*
Sau khi làm bậc Đại Sĩ tơi tả như vậy, g ã
sửa soạn một cái giỏ đựng cây leo bỏ ng ài
vào, lúc đầu thân m ình
đồ sộ của ng ài không vào lọt trong giỏ,
nhưng sau khi đá v ài cái, gã cố nhét
ngài vào. Rồi đến một l àng kia, gã
đặt giỏ giữa l àng rao to:
- Ai muốn xem rồng chúa thì ra mà xem.
Cả làng đổ xô ra vây quanh. G ã liền
gọi chúa Nàga ra. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Tốt hơn
hết l à ta nên múa để làm hài lòng dân chúng hôm nay, có lẽ gã kiếm
được nhiều tiền sẽ thả ta ra; thôi g ã
bảo ta làm gì ta cũng làm cả". Thế là khi gã Àlambàyana
đem ng ài ra khỏi giỏ, bảo ngài phình ra,
ngài liền phình lớn thân, khi gã bảo ngài thu nhỏ hay cuộn tròn thành một
đống như mô đất, hoặc hiện ra một m ào,
hai mào, hay ba, bốn, n ăm, mười, hai mươi hoặc
cả trăm m ào, hoặc hiện mình cao thấp, hữu hình, vô hình, hoặc biến
thành xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, hoặc phun
nước hay phun khói c ùng nước, ngài điều
hiện đủ mọi h ình dáng như gã ra lệnh và biểu diễn
đủ t ài nhảy múa.
Người đứng xem không ai cầm được nước mắt v à
dân chúng đem tiền, v àng bạc, áo quần,
đồ trang sức đủ loại như thế, n ên chỉ
trong làng ấy gã đ ã kiếm
được cả trăm ng àn
đồng tiền.
Lúc bấy giờ, thoạt đầu mới bắt được bậc Đại
Sĩ, g ã có ý định thả ng ài ra sau
khi đ ã kiếm
được một ng àn đồng tiền, nhưng khi đ ã
kiếm được nhiều như thế, g ã lại nói:
- Chỉ trong một ngôi làng nhỏ mà ta đ ã
kiếm được chừng n ày huống hồ
đến một kinh th ành ta còn kiếm
được bao nhi êu nữa.
Thế là sau khi để gia quyến ở lại đó, g ã
trang hoàng một cái giỏ bằng ngọc vàng thật
đẹp, ném bậc Đại Sĩ v ào trong, gã lên một chiếc xe ngựa sang trọng
cùng một đo àn tuy tùng rầm rộ. Cứ
đến mỗi l àng mạc, thị trấn, gã
đều bắt ng ài nhảy múa, sau cùng họ
đến th ành Ba-la-nại. Gã cho rồng chúa
ăn mật v à hạt ngũ cốc rang, lại giết ếch
nhái cho ngài ăn, nhưng ng ài không
ăn, v ì sợ gã không chịu thả ngài ra.
Nhưng dù ngài không ăn g ì, gã vẫn bắt
ngài diễn trò, bắt đầu tại bốn l àng gần
cổng thành, họ ở lại cả tháng ròng.
Rồi vào ngày rằm trai giới, gã tâu trình vua rằng gã sẽ cho biểu diễn tài
múa rồng hầu vua ngự lãm. Vì thế vua ban lệnh bằng một hồi trống cho dân
chúng tụ tập lại đông đủ v à những tầng
ghế sân khấu được dựng l ên trước sân
chầu.
VI.- BẬC ĐẠI TRÍ
DATTA ĐƯỢC GIẢI CỨU
Nhưng vào ngày Bồ-tát bị Àlambàyana bắt, mẹ của Bồ-tát nằm mơ thấy một
người da đen mắt đỏ vung kiếm cắt tay b à
mang đi, máu chảy r òng ròng. Bà kinh
hoàng tỉnh giấc, sờ tay phải mới biết mình nằm mơ. Rồi bà suy nghĩ: "Ta
đ ã thấy một giấc mơ hãi hùng, nó báo
trước một tai họa nào đó sắp xảy ra hoặc cho
bốn con ta, hoặc Đại vương Dhur ì-datta, hoặc cho chính ta".
Nhưng lập tức bà liên tưởng ngay đến Bồ-tát:
"Hiện nay tất cả các con đều ở cảnh giới N àga trừ Bhùridatta lên cõi
nhân gian quyết tâm hành trì giới luật với lời nguyện giữ ngày trai giới,
nên ta lo lắng không biết có kẻ bắt rắn hay chim Garula nào bắt con ta ch ăng".
Bà cứ b ăn khoăn m ãi về ngài như thế,
cuối cùng sau nửa tháng bà hết sức u sầu, tự nhủ: "Con ta không thể nào sống
xa ta trong nửa tháng được, chắc có tai nạn g ì
xảy ra cho con ta rồi". Một tháng trôi qua không biết bao nhiêu lệ sầu
đ ã tuôn ra từ mắt bà trong cơn
đau buồn ấy, b à cứ ngồi nhìn con
đường ng ài thường trở về nhà, nói không
ngớt:
- Chắc chắn bây giờ con ta phải về nhà, chắc chắn bây giờ con ta phải về
nhà. Lúc ấy thái tử Sudassana cùng một đám t ùy
tùng đông đảo đến yết kiến phụ vương v à
mẫu hậu sau một tháng xa cách. Sau khi để đám t ùy
tùng đứng ngo ài
điện, ch àng bước lên nội cung
đảnh lễ mẹ xong, đứng sang một b ên nhưng
vì đang lo buồn chuyện Bh ùridatta, bà
không nói với chàng một lời nào cả. Chàng nghĩ thầm: "Bất cứ khi nào ta về
th ăm mẹ trước kia, mẹ ta đều vui mừng tiếp đón
ân cần niềm nở, thế sao hôm nay mẹ ta lại buồn thảm quá như vậy, v ì
cớ gì?"
Thế là chàng hỏi mẹ:
63. Mẹ thấy con về, đủ chiến công,
Mọi đều ước nguyện đ ã vuông tròn,
Tuy nhiên chẳng tỏ bày vui vẻ,
Khuôn mặt mẹ đầy vẻ tối sầm.
64. Như hoa sen được hái thô sơ,
Rũ xuống trong tay, chóng héo khô,
Có phải đây l à cách mẹ đón,
Khi con trở lại tự phương xa?
Chàng ngâm kệ khác hỏi mẹ thêm:
65. Có kẻ nào la mắng mẹ không,
Hay là mẹ khổ não trong lòng,
Khiến cho mẹ mặt mày u ám,
Khi mẹ thấy con trở lại ch ăng?
Bà mẹ đáp như sau:
66. Mẹ đ ã thấy cơn ác mộng vầy:
Cách đây một tháng đúng hôm nay,
Một người đến cắt l ìa tay phải,
Khi mẹ nằm sàng tọa ngủ say,
Rồi nó kéo đi tay vấy máu,
Lệ ta chẳng cản được người n ày.
67. Tràn ngập lòng ta nỗi hãi hùng,
Từ khi thấy cảnh tượng hung tàn,
Đ êm ngày ta chẳng hề hay biết,
Một phút mừng vui hoặc lạc an.
Nói xong bà lớn tiếng khóc than:
- Ta không biết con yêu quý của ta giờ đây ở
đâu, chắc lại có tai họa g ì xảy ra cho em con rồi.
Và bà nói to lên:
68. Vương nhi, bao mỹ nữ thanh xuân,
Ngày trước thường kiêu hãnh kế gần,
Trang điểm lưới v àng, tóc óng ả,
Dat-ta con hỡi, vắng Long quân!
69. Quanh chàng bao chiến sĩ oai hùng,
Lẫm liệt tuốt gươm, đám hạ thần,
Như khóm Ka-ni hoa chói sáng,
Ôi! Ta t ìm kiếm đ ã hoài công!
70. Ta phải đi theo dấu vết chân,
T ìm nơi chàng đ ã
định nương thân,
Ho àn thành nguyện ước đời tu sĩ,
V à tự biết chàng có vạn an.
Nói xong bà cùng đám thị vệ của ch àng
và các cung nữ của bà đi ra ngo ài.
Lúc bấy giờ các vương phi của Bồ-tát chưa biết lo âu khi họ không thấy
ngài trên tổ kiến, vì họ bảo là ngài chắc chắn
đ ã đi về cung thăm mẹ, nhưng khi được
tin b à đang khóc lóc v ì không
thấy con đâu, họ đều chạy ra đón b à và
quỳ xuống chân bà đồng lớn tiếng k êu
than:
- Ôi mẫu hậu, cả tháng này chúng thần thiếp chưa gặp
đức phu quân.
*
Bậc Đạo Sư tả lại cảnh ấy như sau:
71. Các vương phi của vị Long vương,
Nhìn mẫu hậu đang bước đến gần,
Họ khóc than vô c ùng thảm thiết,
Và dang tay trước mặt bà hoàng:
72. "Long quân, bậc Đại trí Dat-ta,
Đi vắng nơi đâu một tháng qua,
Sống thác, chúng thần không thể biết,
Trong l òng tuyệt vọng, nói sao giờ?"
*
Mẫu hậu cùng các vương phi than khóc ở giữa
đường, rồi c ùng nhau bước vào cung; nỗi sầu khổ của bà tuôn ra không
nguôi được khi b à nhìn thấy tọa sàng của
con.
73. Giống như chim mẹ quá đơn côi,
Nh ìn tổ vắng, con bị giết rồi,
Cũng vậy, sầu dâng tràn dạ mẹ,
Khi tìm con trẻ đ ã hoài hơi.
74. Thẳm sâu trong dạ, nỗi sầu bi,
Thiêu đốt bừng l ên ngọn lửa kia,
Như thể lò rèn mà chú thợ,
Mang theo nơi gã được mời đi.
Trong lúc bà than khóc như vậy,cung thất của Bhùridatta như vang dội một
âm hưởng dài lê thê khác nào tiếng sóng gầm vi vu của biển cả. Không một ai
khỏi xúc động v à cả cung thất như rừng
cây Sàla bị rung chuyển trong cơn bão táp của ngày tận thế.
*
Bậc Đạo Sư tả quang cảnh như sau:
75. Như Sà-la ngã dưới cơn dông,
Cành lá gãy lìa, rễ bật tung,
Cũng vậy, vợ con và mẹ nữa,
Nằm trong nhà vắng vẻ tang hoang.
*
Các hoàng huynh Aritha và Subhaga đến yết
kiến mẹ, nghe tiếng ồn ào vội chạy vào cung hết sức trấn an mẫu thân:
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
76. A-rit-tha với Su-bha-ga,
Nôn nóng đến an ủi mẹ gi à,
Nghe tiếng khóc than rền thảm thiết,
Trong nhà bậc Đại trí Dat-ta:
77. - Xin mẹ an lòng, dứt khóc than,
Đây l à số phận của trần gian,
Mọi loài đều phải qua sinh tử,
Quy luật vô thường vạn vật mang.
Samuddajà, mẫu hậu đáp:
78. Con ơi, mẹ biết luật rành rành,
Đây số phận muôn loại chúng sinh,
Nhưng mẹ mất con không hợp lý,
Bơ vơ, mẹ chỉ biết buồn t ênh.
79. Quả thật, nếu không thấy được con,
Bảo châu đem hỷ lạc tâm hồn,
Dat-ta Đại trí, th ì ta sẽ,
Kết liễu đ êm nay cuộc sống buồn!
Các vương tử vội bảo:
80. Đừng quá sầu bi, hỡi mẹ hiền,
H ãy làm dịu bớt nỗi u phiền,
Chúng con sẽ đón về vương đệ;
Xuy ên suốt qua toàn cõi đất liền,
Ở khắp mọi nơi v à mọi hướng,
Chúng con theo dõi vết chân em.
81. B ăng qua đồi núi hoặc đồng bằng,
Thị trấn, v à khắp các xóm làng,
Cho đến khi t ìm ra tiểu
đệ,
Chỉ trong độ khoảng mươi ng ày đ àng,
Chúng con xin hứa cùng hiền mẫu,
Đem tiểu đệ về được vạn an.
Lúc đó Sudassana suy nghĩ: "Nếu cả ba anh em
ta c ùng đi về một hướng e rằng chậm trễ
mấ t, vậy chúng ta phải đi về ba xứ
khác nhau: Một em lên cõi Thiên thần, một em đến
núi Himavat, một em nữa l ên cõi nhân gian, em ta sẽ
đốt hết l àng xóm, thị trấn nào mà em ta
tìm ra được Bh ùridatta vì em ta là bản
tính độc ác, không n ên
để em ta l ên
đó".
Thế là chàng bảo em:
- Vương đệ, h ãy lên cõi Thiên thần,
xem có phải ch ăng Thi ên chủ triệu vương
đệ Bh ùridatta
để thuyết Pháp cho các ng ài, thì hãy
đưa vương đệ trở về .
Chàng lại bảo Subhaga:
- Hãy lên núi Himavat tìm Bhùridatta trong cả n ăm
con sông v à đem về đây.
Còn chàng quyết định phần m ình lên
cõi nhân gian. Chàng suy nghĩ: "Nếu ta giả dạng kim
đồng, dân chúng sẽ phỉ báng ta, thôi ta phải
giả dạng một ẩn sĩ, v ì các vị khổ hạnh thường
được người đời quý trọng niềm nở ch ào
đón". Thế l à chàng cải trang làm một vị
ẩn sĩ khổ hạnh, từ giã mẹ ra đi.
Lúc bấy giờ Bồ-tát có một cô em gái khác mẹ, tên gọi Accimukhì, rất yêu
thương Bồ-tát. Khi nàng thấy Sudassana ra đi, n àng
bảo:
- Vương huynh ôi, em rất lo ngại, cho em đi
với.
Chàng đáp:
- Hiền muội, hiền muội không thể đi với ta
được v ì ta đ ã cải trang làm ẩn sĩ
rồi.
- Thế thì tiểu muội xin biến thành con ếch nhỏ
đậu tr ên
đám tóc bện lại của vương huynh.
Chàng ưng thuận, thế là nàng biến thành nhái con nằm trong
đám tóc bện lại của ch àng. Sudassana
quyết đi t ìm em ngay từ lúc bước khởi
đầu, cho n ên chàng hỏi vương phi xem
vương đệ h ành trì trai giới ở
đâu để đi ngay đến đó. Khi ch àng thấy
vết máu ở nơi Bồ-tát bị Àlambàna bắt và nơi Àlambàna
đ ã làm giỏ cây leo
để đựng ng ài, chàng chắc chắn rằng
Bồ-tát đ ã bị người bắt rắn mang
đi, n ên lòng chàng nặng trĩu u sầu, mắt
đẫm lệ đi theo dấu chân Àlambàna.
Khi chàng đến ngôi l àng
đầu ti ên Bồ-tát biểu diễn tài múa,
chàng hỏi dân chúng xem có phải một người bắt rắn
đ ã diễn trò với một con rồng như vầy ch ăng.
- Đúng vậy, cách đây một tháng,
Àlambàna đ ã diễn trò như vậy.
- Thế gã có kiếm được g ì lợi ch ăng?
- Gã kiếm được một trăm ng àn
đồng tiền chỉ nội nơi n ày.
- Thế bây giờ gã đi đâu?
- Gã đ ã
đi đến l àng nọ rồi.
Chàng lại ra đi, vừa đi vừa hỏi đường, cuối
c ùng chàng đến cung môn. Ngay lúc ấy
Àlambàna đ ã
đến nơi, tắm rửa, xức dầu thơm xong, mặc áo d ài
sang trọng, rồi bảo tên hầu mang giỏ đựng rồng
được trang ho àng vàng ngọc ấy ra, dân chúng tụ tập rất
đông, một chiếc cẩm đôn đặt sẵn d ành cho
vua và trong khi còn ở trong cung, vua đ ã
truyền lệnh:
- Trẫm sắp ngự triều, hãy bảo Long vương diễn trò
đi.
Lúc ấy gã Àlambàna đặt cái giỏ đính châu
ngọc ấy tr ên một tấm thảm sặc sỡ đủ m àu,
ra dấu hiệu bảo:
- Rồng chúa, ra đây.
Sudassana đang đứng ở cạnh đám đông trong
lúc bậc Đại Sĩ ngẩng đầu l ên nhìn quanh dân chúng. Thời bấy giờ loài
rồng Nàga nhìn đám người vây quanh v ì
hai lý do: Một là để xem có chim Garula n ào,
hay là có người diễn trò nào không. Nếu thấy chim Garula thì chúng sẽ không
múa vì sợ hãi, còn nếu có người diễn trò nào thì chúng lại không múa vì hổ
thẹn.
Trong lúc nhìn quanh như thế, bậc Đại Sĩ
thấy anh m ình trong đám đông, liền cố
ngăn d òng lệ đang tr àn ra mắt và
bò ra khỏi giỏ, tiến đến anh m ình.
Đám đông thấy ng ài
đến gần, hoảng sợ bỏ chạy, chỉ c òn lại
một mình Sudassana, vì thế ngài đến gần anh,
đặt đầu l ên chân anh và khóc, Sudassana cũng khóc theo. Sau cùng bậc
Đại Sĩ nín khóc v à bò vào giỏ như cũ.
Àlambàna nhủ thầm: "Chắc rồng Nàga này đ ã
cắn ẩn sĩ kia, vậy ta phải an ủi vị đó mới
được". G ã đến gần ch àng và bảo:
82. Rồng vừa tuột khỏi bàn tay,
Chụp lấy chân ngài thật mạnh thay,
Nó cắn ngài chưa?Xin chớ sợ,
Không gì độc hại nọc rồng n ày.
Sudassana muốn nói chuyện với gã, vì vậy chàng
đáp:
83. Rồng của ngài không thể hại ta,
Ta đây xứng hợp với rồng m à,
Hãy tìm khắp chốn, ngài không thấy,
Một kẻ nhử rồng rắn giống ta.
Àlambàna không biết chàng là ai, vì vậy gã nổi giận nói:
84. Gã này giả dạng Bà-la-môn,
Thử thách lão đ òi chuyện thiệt hơn,
Tất cả đám đông nghe l ão nói,
Xử cho hai phía thật công bằng.
Sudassana liền đáp kệ:
85. Vô địch của ta chính nhái con,
Rồng kia vô địch của tôn ông,
H ãy đem đánh cuộc năm ng àn chẵn,
Để bọn chúng ta trợ lực h ùng.
Àlambàna bắt bẻ:
86. Ta giàu phương tiện thật cao sang,
Mạt vận ông quê kệch xó làng,
Ai người làm chứng phe ông đó,
V à số tiền đâu đặt xuống b àn?
87. Có phần bảo đảm của ta đây,
Tiền cuộc, nếu ta mất vận may,
Năm ng àn đồng sẽ n êu uy lực,
Việc thử thách kia, đáp ứng ngay.
Sudassana nghe vậy liền bảo:
- Nào ta thử trổ tài để được năm ng àn
đồng tiền.
Và chàng không nao núng bước vào cung vua, yết kiến
đức vua, tức l à cửu phụ của chàng, và
ngâm kệ:
88. Muôn tâu chúa thương, nghe lời thần,
Đừng bỏ dịp may, hưởng phước phần,
Mong Chúa thượng v ì thần bảo chứng,
Đem ra đánh cuộc giá năm ng àn!
Vua nghĩ thầm: "Ẩn sĩ này đ òi một số
tiền quá lớn, thế là nghĩa gì?".Vì thế ngài liền
đáp:
89. Thân phụ ngài trao lại nợ đời,
Hay l à món nợ của riêng ngài,
Khiến ngài phải đến đây đ òi trẫm,
Một món nợ nghe thật lạ tai!
Sudassana ngâm hai vần kệ:
90. À-lam muốn cuộc với Long vương,
Đánh bại hạ thần lập chiến công,
Thần chỉ có đây con nhái bén,
Phá tan ki êu mạn Bà-la-môn.
91. Chúa thượng, xin ngài hãy giáng lâm,
Ngự du cùng với đám t ùy tùng,
Và nhìn chiến cuộc nơi này nhé,
Đang đợi g ã kia
đấu với thần.
Vua ưng thuận ra đi c ùng với ẩn sĩ.
Khi Àlambàna thấy vua, gã liền nghĩ: "Ẩn sĩ này kéo
được nh à vua vào phe mình, chắc phải là
thân hữu của vương gia rồi". Gã bỗng sinh ra sợ hãi, vội chạy theo chàng và
nói:
92. Ta chẳng muốn đâu hạ nhục ng ài,
Ta không một chút muốn khoe tài,
Nhưng ngài khinh thị rồng này quá,
Kiêu mạn sẽ làm thất bại thôi.
Sudassana đáp hai vần kệ:
93. Ta chẳng cầu mong hạ nhục ngươi,
Cũng không khinh kẻ muốn khoe tài,
Nhưng sao ngươi phỉnh phờ dân chúng,
Bằng loại rắn không giết hại ai?
94. Ví thử người ta biết tướng chân,
Như ta thấy nó rõ ràng ràng,
Nói gì đến chuyện v àng hay bạc,
Ngươi chỉ được ăn một bữa xo àng!
Àlambàna nổi giận đáp:
95. Nhà ngươi khất thực khoác da lừa,
Dơ bẩn và trông vẻ xác xơ,
Ngươi dám khinh khi rồng của lão,
Nói rồng không biết cắn bao giờ!
96. Đến đây v à thử việc rồng làm,
Học hỏi bằng kinh nghiệm nếu cần,
Ta bảo đảm d ù không
độc hại,
Nọc rồng sẽ biến bạn th ành than!
Sudassana liền ngâm kệ chế nhạo gã:
97. Chuột hay rắn nước cắn người nào,
Chọc giận nó phun nọc độc sao,
Rồng đỏ đầu n ày không có hại,
Nó không cắn, dẫu biết phun cao!
Àlambàna đáp hai vần kệ:
98. Ta đ ã
được bao vị Thánh nhân,
Thực h ành pháp khổ hạnh không ngừng,
Bảo người bố thí trong đời sống,
Sẽ đến c õi thiên lúc mạng chung.
99. Ta khuyên ngươi bố thí ngay liền,
Nếu thực ngươi còn chút của tiền,
Rồng sẽ biến ngươi thành cát bụi,
Ngươi không có thể sống lâu bền!
Sudassana lại nói:
100. Ta cũng nghe từ các Thánh nhân,
Người bố thí đến thi ên cung,
Vậy mau bố thí khi còn sống,
Nếu có vật gì để phát phân.
101. Nhái của ta không phải loại thường,
Sẽ l àm ngươi hạ giọng kiêu c ăng,
L à công chúa của Long vương đó,
N àng ấy là bào muội chính tông,
Mồm của Ac-ci phun ngọn lửa,
Hơi nàng cực độc, tiếng vang lừng.
Rồi chàng đứng giữa đám đông gọi to:
- Này hiền muội Accimukhì, em hãy ra khỏi tóc ta và
đứng tr ên tay ta.
Chàng đưa tay ra, v à khi nàng nghe
chàng bảo, liền thốt lên tiếng kêu ba lần như loài ếch nhái lúc còn nằm trên
tóc chàng, rồi nàng nhảy ra vai chàng, phun ra ba giọt nọc
độc tr ên lòng bàn tay chàng rồi trở lại
mái tóc chàng như cũ. Sudassana đứng cầm nọc
rắn ấy thốt l ên ba lần:
- Xứ này sẽ bị thiêu rụi.
Âm vang rền khắp Ba-la-nại đến mười hai dặm
đường. Vua hỏi vật g ì có thể hủy được
nọc n ày.
- Tâu Đại vương, thần chẳng thấy chỗ n ào
có thể thả nọc này xuống được.
- Đất n ày rộng lắm, cứ thả xuống
đi.
- Không thể được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
102. Nếu thần thả nó xuống đồng bằng,
Tâu Đại vương, nghe kỹ hạ thần,
Đám cỏ, cây leo v à dược thảo,
Thảy đều ti êu diệt cháy khô cằn.
- Vậy thì hãy ném lên trời.
- Cũng không được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
103. Nếu hạ thần nghe lệnh Đại vương,
Ném tung độc ấy giữa không gian,
Sẽ không mưa, tuyết trời rơi xuống,
Cho đến bảy năm phải lụi t àn.
- Vậy thì hãy ném xuống nước.
- Cũng không được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
104. Nếu vào trong nước, nọc này rơi,
Tâu Đại vương, nghe kỹ mấy lời:
Tất cả cá, r ùa đều phải chết,
Muôn lo ài thủy tộc sống ngoài khơi.
Vua kêu lên:
- Trẫm cũng chẳng biết làm sao nữa. Ngài hãy chỉ cho trẫm cách nào
để đất nước khỏi bị ti êu diệt.
- Tâu Đại vương, xin cho đ ào ba hố
liền nhau.
Vua ra lệnh làm ngay. Sudassana đổ đầy thuốc
độc v ào hố giữa, phân bò vào hố thứ hai, và thần dược vào hố thứ ba,
rồi chàng thả nọc độc v ào hố giữa, một
ngọn lửa đầy khói b ùng lên, lan qua hố
phân bò, bùng lên lần nữa, rồi lan qua hố thuốc thần, thiêu rụi hết thuốc
rồi mới tắt. Àlambàna đứng gần hố ấy, bị hơi
nóng của nọc độc bắt phải, m àu da liền biến dạng và gã thành tên hủi
trắng.
Gã kinh hoàng la lên ba lần:
- Ta sẽ thả rồng chúa ra.
Nghe thế, Bồ-tát liền bước ra khỏi giỏ dát ngọc vàng ấy, hiện hình sáng
lòa mang đầy châu ngọc, sừng sững uy nghi trong
dáng điệu của Thi ên chủ Indra (tức Sakka). Sudassana và Accmukhì
đứng hai b ên.
Lúc đó Sudassana hỏi vua:
- Đại vương có biết đây l à dòng dõi
nào ch ăng?
- Trẫm không được biết.
- Đại vương không biết chúng thần, nhưng Đại
vương biết chuyện vua K àsi gả công chúa Samuddàja cho rồng chúa
Dhàtarattha chứ?
- Trẫm biết rõ lắm, đó l à tiểu vương
muội của trẫm.
- Chúng thần là con trai của công chúa ấy,
Đại vương l à cửu phụ (cậu) của chúng thần.
Thế rồi vua ôm lấy các cháu, hôn lên đầu v à
khóc, xong lại mang các cháu vào cung tiếp đãi
rất trọng thể. Trong khi vua ân cần đón tiếp Bh ùridatta, vua hỏi
Bồ-tát bằng cách nào Àlambàna đ ã bắt
ngài trong khi ngài có nọc thần vô địch như
vậy. Sudassana liền kể hết đầu đuôi câu chuyện rồi bảo:
- Tâu Đại vương, một vị vua phải trị v ì
quốc độ như thế n ày.
Chàng liền thuyết Pháp cho vua, rồi chàng bảo:
- Tâu Cửu phụ, mẫu hậu đang héo m òn
vì vắng bóng Bhùridatta, chúng tiểu điệt không
dám ở lâu hơn nữa.
- Phải lắm, các hiền điệt cứ ra về, nhưng
trẫm cũng muốn gặp vương muội, vậy l àm cách nào?
- Tâu Cửu phụ, thế tổ phụ, Đại vương K àsi,
đâu rồi?
- Ngài không thể sống thiếu vương muội, nên ngài
đ ã rời ngôi báu,
đi l àm ẩn sĩ, hiện
đang sống trong rừng kia.
- Tâu cửu phụ, mẫu hậu
cũng đang ao ước được gặp tổ phụ c ùng cửu phụ, chúng tiểu
điệt xin rước mẫu hậu đến lều ẩn sĩ của tổ phụ,
lúc ấy cửu phụ sẽ gặp luôn mẫu hậu tại đó.
Thế là họ định ng ày xong, và rời
cung. Sau khi từ giã các cháu trai, vua khóc lóc trở vào; còn họ liền
độn thổ ra đi về cảnh giới N àga.
VII .- GÃ THỢ S ĂN BỊ
TRỪNG PHẠT
Khi bậc Đại Sĩ trở về với dân chúng như vậy,
cả kinh th ành đang rền vang những lời
than khóc khắp nơi . Chính ng ài cũng mệt mỏi vì cả tháng trời ở trong
giỏ, nên đi nằm dưỡng bệnh, v à thần dân
Nàga tấp nập đến viếng thăm ng ài
đông vô số, khiến ng ài lại mệt thêm vì
phải chuyện trò cùng họ. Trong lúc ấy Kànàrittha lên thiên giới tìm không
gặp bậc Đại Sĩ, l à kẻ trở về
đầu ti ên, nên chàng
được phân công l àm thần canh cửa của bậc
Đại Sĩ v ì chàng
được xem l à kẻ tính tình nóng nảy có thể
xua tan hết đám đông N àga ấy.
Phần Subhàga, sau khi tìm khắp vùng núi Himavat (Tuyết Sơn), cả
đại dương c ùng các sông ngòi không gặp,
liền phiêu bạt đến v ùng sông Yamunà
để t ìm kiếm.
Lúc bấy giờ gã Bà-la-môn hạ đẳng thấy
Àlambàna đ ã hóa thành người hủi, gã nghĩ
thầm: "Gã ấy hóa hủi, chỉ vì quấy phá Bhùridatta; nay ta cũng vậy, chỉ vì
ham ngọc báu mà phản bội ngài dù ngài là ân nhân của ta, tội này ta sẽ phải
mang. Vậy trước khi họa đến, ta phải xuống d òng
sông Yamunà rửa sạch tội trong chỗ tẩy uế linh thiêng này".
Thế rồi gã xuống sông, tự cho là gã sẽ rửa sạch tội phản bội kia. Vừa lúc
ấy Subhàga đến nơi, nghe g ã nói, liền
nghĩ thầm: "Gã khốn nạn tồi tệ này chỉ vì tham bảo ngọc mà phản bội anh ta,
ngài đ ã ban cho gã mọi phú quý vinh hoa,
ta không thể nào tha mạng gã được". V ì
vậy chàng cuộn đuôi quanh chân g ã, kéo
gã dìm xuống nước, đến khi g ã ngạt thở,
chàng để y ên gã một lát; gã ngẩng
đầu l ên, chàng lại dìm xuống, nhiều lần
như thế cho đến cuối c ùng gã Bà-la-môn
hạ đẳng kia ngẩng đầu l ên bảo:
105. Ta đang tắm ở chốn thi êng này,
Dòng thánh Pa- yà linh hiển thay,
Chân cẳng ta trên đầy nước thánh,
Quỷ n ào hút máu của ta đây?
Subhàga đáp lời g ã qua vần kệ sau:
106. Chuyện kể ngày xưa có vị thần,#
Đến K à-si
đất nước ki êu c ăng,
Long vương thật hiển vinh danh vọng,
H ùng dũng cuộn tròn khắp núi sông,
Ta chính con ngài đang chụp l ão,
Tên Su-bha, hỡi Bà-la-môn.
Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Anh của rồng chúa Bhùridatta không muốn tha chết
cho ta, nhưng ta thử làm động từ tâm của vị n ày
bằng cách tán tụng phụ mẫu của họ, rồi xin tha mạng xem sao". Thế là gã ngâm
kệ sau:
107. Kà-si vương tử thật oai linh,
Mẫu hậu sinh dòng giống hiển linh,
Ngài chớ để nô t ài hạ
đẳng,
Chết ch ìm trong sóng nước vô tình.
Subhaga nghĩ thầm: "Gã Bà-la-môn độc ác n ày
cố đánh lừa ta để ta xi êu lòng mà tha
nó, nhưng ta chẳng tha nó đâu". Thế l à
chàng đáp, nhắc lại các h ành
động của g ã:
108. Một nai khát nước đến d òng sông,
Từ bụi cây, ngươi núp bắn cung,
Kinh hãi, đau thương nai chạy trốn,
Bỗng dưng tai họa giáng v ào thân.
109. Người thấy trong rừng nai ngã ra,
Ngươi đem đ òn gánh vác nai qua,
Đến cây đa mọc đầy c ành lá,
Chằng chịt bao quanh gốc rễ cha.
110. Sơn ca trỗi khúc nhạc du dương,
Anh vũ trên cây nhảy rộn ràng,
Đất trải cỏ xanh như thảm lót,
Ho àng hôn mời nghỉ bước an nhàn.
111. Mắt ngươi độc ác thấy anh ta,
Đang ẩn m ình trong đám lá đa,
Mang sắc áo h è tươi rực rỡ,
Vui đ ùa cùng với
đám cung nga.
112. Hoan hỷ, anh ta chẳng hại ai,
Sao ngươi độc ác giết oan ng ài,
Nạn nhân vô tội, nhìn đây nhé!
Tội ấy tr ên đầu ngươi tái lai.
Ta chẳng tha ngươi d ù phút chốc,
Ngươi đ ành trả hận tối cao này.
Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Vị này quyết không tha mạng ta, song ta phải tìm
mọi cách thoát đi mới được". Rồi g ã ngâm
kệ sau:
113. Học hành, cầu nguyện để cúng dâng,
L àm tế lễ trong ngọn lửa thần,
Ba việc khiến La-môn được sống,
Không ai xúc phạm dẫu hờn căm.
Subhaga nghe gã nói đâm ra do dự, ch àng
nghĩ thầm: "Ta sẽ mang nó về cảnh giới Nàga hỏi các vương huynh ra sao". Và
chàng ngâm hai vần kệ:
114. Dưới dòng sông thánh Ya-mu-nà,
Trải tận chân đ èo núi Tuyết xa,
Thủ phủ Nà-ga chìm đáy nước,
L à nơi ngự trị chúa Dha-ta.
115. Cũng là cung thất các vương huynh,
Ta sẽ đưa lời ngươi biện minh,
T ùy các vương huynh quyền định đoạt,
Xử ngươi tối hậu thật công b ình.
Chàng liền lôi cổ gã đi xềnh xệch c ùng
lớn tiếng l ăng mạ phỉ báng g ã cho
đến cung môn của bậc Đại Sĩ.
VIII.- BẬC ĐẠI TRÍ
BÁC BỎ VỆ Đ À
Kànàrittha đ ã trở thành thần giữ cửa
đang ngồi đó, thấy g ã kia bị kéo lôi
đi một cách thô bạo như thế, liền ra gặp họ v à
bảo:
- Này Subhàga, đừng l àm gã bị thương,
tất cả Bà-la-môn đều l à con của
đấng Đại Phạm thi ên; nếu ngài biết ta
đang l àm con ngài bị thương, ngài sẽ nổi
giận và tiêu diệt thế giới Nàga của ta. Trên thế gian này các Bà-la-môn có
địa vị cao nhất v à thụ hưởng
đại vinh danh, vương huynh chưa biết uy danh
của họ, nhưng tiểu đệ đ ã biết rõ lắm.
Vì chuyện kể rằng Kànàrittha trong tiền kiếp ngay trước
đời n ày đ ã
sinh ra làm một Bà-la-môn tế tự, cho nên chàng mới nói quả quyết như vậy.
Hơn nữa, nhờ kinh nghiệm của đời trước, ch àng
rất thông thạo việc tế tự cho nên chàng bảo Subhaga cùng hội chúng Nàga:
- Đến đây ta sẽ tả cho các bạn biết đặc tính
B à-la-môn tế lễ ra sao.
Rồi chàng tiếp tục nói như sau:
116. Vệ- đ à và các lễ tế
đ àn,
Những điều trọng vọng thật cao sang,
Thuộc quyền các vị La-môn ấy,
Cho dẫu họ h èn hạ tận cùng.
117. Đặc quyền họ hưởng đại quang vinh,
Nếu kẻ n ào cười nhạo miệt khinh,
Sẽ mất của tiền và phạm luật,
Sống trong tội lỗi thật đi êu linh.
Rồi Kànàrittha hỏi Subhaga có biết ai tạo ra thế giới này không, khi
Subhaga bảo không biết, chàng liền ngâm kệ bảo rằng thế giới
được tạo dựng bởi đấng Phạm thi ên, là vị
tổ của các Bà-la-môn:
118. Ngài tạo La-môn để học h ành,
Tạo dòng Sát- đế-lị điều binh,
C ày bừa, Vệ-xá, và ngài tạo,
Nô lệ Thủ- đ à phụng mệnh trên.
Như vậy chúa trời ban thượng lệnh,
Từ thời nguyên thủy đ ã hình thành.
Kế đó ch àng bảo:
- Các Bà-la-môn này có rất nhiều uy lực, ai thân cận với họ và cúng dường
họ nhiều lễ vật thì sẽ được ng ài
định số phận cho khỏi tái sinh m à
được ngay thi ên giới.
Rồi chàng đọc kệ sau:
119. Ku-ve-ra, So-ma, các thần,
Dhà-tà, Vi-dha, cùng trời, tr ăng,
Bao phen đ ã cử hành đ àn tế,
Ban các La-môn mọi phước ân.
120. Aj-jun vĩ đại giáng tai ương,
Chi chít ng àn tay mọc khắp thân;
Mỗi cặp tay cầm cung dọa nạt,
Dâng thần lửa lễ vật đầy tr àn !
Rồi chàng tiếp tục tả cảnh huy hoàng của các Bà-la-môn cùng các lễ vật
tối cao sang phải được đem cúng dường cho họ
như thế n ào:
121. Cổ tích kể vua nọ cúng dâng,
Thật nhiều, sau hỏa một thiên thần;
Vua Mu-ja mãi thờ thần lửa,
Giải khát lửa bằng bơ tưới tràn,
Thần lửa cuối cùng đem tưởng thưởng,
Ng ài tìm ra lối đến thi ên cung.
Rồi chàng ngâm các vần kệ này để chứng minh
b ài thuyết giáo của chàng:
122. Du-ji đ ã sống trọn ngàn n ăm,
Xe ngựa, quân hầu, thảy phục tuân,
Ng ài chọn cuối cùng đời ẩn sĩ,
Từ am tranh đ ã đến thi ên cung.
123. Sà-ga chiến thắng khắp trần gian,
Dựng trụ vàng dâng lễ tế đ àn,
Không ai thờ lửa hơn ngài cả,
Ngài cũng th ăng thi ên hóa vị thần.
124. Sữa, lạc, An-ga chúa Kà-si,
Cúng dâng liên tục tưới tràn trề,
Làm ngập sông Hằng thành biển cả,
Cuối cùng triều Đế-Thích ng ài về.
125. Đại Đế Sak-ka có tướng quân,
Dâng So-ma tửu, được vinh thăng,
Nay ng ài nắm giữ bao thần lực,
Từ số phận như mọi thế nhân.
126. Phạm thiên, đại tạo hóa, th ành
hình,
Ranh giới núi non tại tế đ ình,
Tuân lệnh ngài, sông Hằng chảy xuống,
Vinh quang ngài đạt bởi hy sinh.
Rồi chàng hỏi anh:
- Này vương huynh, anh có biết tại sao biển cả thành muối mặn không uống
được chăng?
- Hiền đệ Arittha, ta không được biết.
- Vương huynh chỉ biết làm tổn hại các Bà-la-môn thôi, này hãy nghe
đây.
Rồi chàng ngâm vần kệ:
127. Một ẩn sĩ, thông kệ, chú thần,
Đứng tr ên bờ biển,
đệ nghe rằng:
Chạm v ào biển, nó liền ăn sống,
Từ ấy, nước không uống được dần.
Tất cả các Bà-la-môn đều như thế đấy.
Rồi chàng đọc kệ khác:
128. Đế Thích xưa th ành
đấng Ngọc ho àng,
Đặc ân chiếu xuống B à-la-môn,
Đông, tây, nam, bắc, đồng dâng lễ,
N ên đượcVệ-đ à, họ hưởng phần.
Cứ thế Arittha miêu tả các Bà-la-môn cùng các tế lễ hy sinh và kinh Vệ- đ à
cho hội chúng Nàga. Nghe vậy nhiều rồng Nàga tìm
đến thăm Bồ -tát bên giường bệnh, và bảo
nhau:
- Vương tử đang kể chuyện cổ tích.
Rồi dường như có nguy cơ là họ chấp nhận tà thuyết ấy.
Lúc bấy giờ Bồ-tát đang nằm tr ên sàng
tọa nghe hết câu chuyện xong, hội chúng Nàga lại kể cho ngài nghe, ngài suy
nghĩ: "Arittha đang kể một chuyện cổ sai lạc,
ta phải ngắt lời thuyết giảng của em ta v à
đem chánh kiến lại cho hội chúng n ày".
Rồi ngài trở dậy, tắm rửa, trang hoàng châu báu xong liền ngồi trên bảo tọa,
tụ tập hội chúng Nàga lại. Ngài cho gọi Arittha
đến bảo:
- Này Arittha, hiền đệ đ ã nói lời sai
lầm khi diễn tả các Bà-la-môn và kinh Vệ- đ à,
vì các tế lễ hy sinh theo nghi thức của kinh Vệ- đ à
không phải là điều đáng mơ tưởng v à nó
không thể đưa lối đến thi ên giới, hãy
nhìn kỹ đây những g ì hư vọng trong lời
nói của hiền đệ.
Thế rồi ngài ngâm các vần kệ này miêu tả các loại tế lễ hy sinh khác
nhau:
129. Vệ- đ à là bẫy kẻ khôn ngoan,
Lôi cuốn làm hư hỏng nạn nhân,
Ảo ảnh tạo mê lầm mắt tục,
Song bao bậc trí vượt an toàn.
130. Kinh Vệ- đ à không bí lực
thần,
Cứu người hèn, phản bội, vô luân,
Lửa kia dù thắp bao n ăm tháng,
Vô vọng cuối c ùng tên chủ nhân.
131. Dù cây toàn cõi đất chồng cao,
Để thỏa nguyện thần lửa khát khao,
Nó vẫn th èm thuồng, khao khát mãi,
Nà-ga mong đáp ứng l àm sao?
132. Sữa thường cứ thế biến dần lên,
Bơ, sữa đông l à chuyện tự nhiên;
Khao khát đổi thay vầy ngọn lửa,
C àng khơi động, nó m ãi cao lên.
133. Lửa không cháy tự gỗ tươi, khô,
Lửa cần nhen nhúm mới bùng to,
Gỗ tươi, khô nếu đều bừng cháy,
Ắt hẳn rừng xanh hóa hỏa l ò!
134. Kẻ chất củi, rơm đốt lửa cao,
Đạt nhiều công đức, khác đâu n ào,
Đầu bếp nhen l ò, hay thợ nguội,
Hoặc người thiêu xác chết kia sao?
135. Chẳng ai cầu nguyện, dẫu thành tâm,
Hoặc chất mồi lên đốt lửa hồng,
Được phước đức g ì nhờ tế lễ,
Lửa cao ngất khói cũng tàn dần!
136. Lửa mà bạn nghĩ đáng tôn vinh,
Vậy phải ở c ùng rác thối tanh,
Ăn xác chết hân hoan độc ác,
Mọi người kinh tởm vội quay nhanh.
137. Có người tôn kính lửa như thần,
Giống bọn man ri trọng nước sông,
Bọn chúng lạc ra ngo ài chánh đạo,
Đều không xứng được gọi thần nhân.
138. Thờ lửa, tôi đ òi của thế nhân,
Vô tình, mù điếc trước lời than,
Sống đời ích kỷ đầy lầm lỗi,
Mơ tưởng thi ên đường có được chăng?
139. B à-la-môn ấy muốn làm ăn,
N ên bảo Phạm thiên cúng lửa thần,
Sao Tạo hóa làm ra vạn vật,
Lại thờ tạo vật chính tay làm?
140. Pháp luật hão huyền, phi lý sao,
Tổ tiên ta tưởng đạt sang gi àu:
"Học hành ngài tạo La-môn ấy,
Sát- ly cầm quyền lực quý cao.
141-142. - Vệ xá cày bừa mọi đất đai,
Thủ -đ à phụng mệnh của bao người,
Từ thời nguyên thủy là như vậy,
Phát xuất tối cao lệnh của trời".
Ta thấy lệnh này đều áp đặt,
Mắt ta trông đ ã hiển nhiên rồi.
143. Chỉ các La-môn được tế thần,
Không ai ngo ài Sát-ly cầm quân,
Cày bừa Vệ-xá và nô lệ,
Các Thủ- đ à kia phải phục tuân.
144. Vọng ngữ tham lam thuyết đảo đi ên,
Kẻ ngu tin tưởng chuyện hư huyền,
Ai người có mắt nhìn toàn cảnh,
Sao chẳng công bình, hỡi Phạm thiên?
145. Nếu quyền vô hạn khắp nơi nơi,
Sao chính tay ban phúc hiếm hoi,
Sao vật ngài sinh đều chịu khổ,
Sao không ban phúc đến muôn lo ài?
146. Lừa dối ngu si ở khắp nơi,
Tràn đầy hư vọng, chánh chân vơi,
Phạm thi ên là vị bất công quá,
Đ ã tạo thế gian lắm trái sai.
147. Những kẻ được xem l à trắng trong,
Tha hồ giết nhái, rắn, trùng, ong,
Tục này man rợ, ta khinh ghét,
Như thể Kam-bo, bộ lạc rừng.
148-149. Nếu kẻ giết kia được trắng
trong,
Nạn nhân cũng được đến thi ên đ àng,
La-môn hãy giết La-môn sạch,
Như vậy bọn này được lạc an,
V à cả những ai nghe thật kỹ,
Những lời chúng nói thật tà gian.
150. Chẳng thấy bò, dê muốn thiệt thân,
Để mong có cuộc sống cao hơn,
Chúng miễn cưỡng đi v ào chỗ chết,
Vẫy vùng tuyệt vọng trút hơi tàn.
151. Bao phủ tế đ àn, chuyện sát sinh,
Tuôn lời bóng bẩy tuyệt tài tình:
"Tế đ àn như thể con bò mập,
Bảo đảm bao tâm nguyện đạt th ành".
152-153. Nếu củi chất quanh vật tế thần,
Chứa đầy kho báu, họ ca vang,
Bạc, v àng, châu, ngọc cho ta hưởng,
Cùng lạc thiên cung sẽ ngập tràn,
Hẳn họ tế đ àn riêng họ hưởng,
Giữ cho mình sản nghiệp giàu sang.
154. Bọn dối lừa, ngu xuẩn, ác gian,
Chuyện dài thêu dệt phỉnh ngu dân:
"Dâng tiền, cắt móng và râu tóc,
Người sẽ được như nguyện thỏa l òng".
155-156. Thí chủ ngây ngô sẵn nhiệt tình,
Với hầu bao đến, chúng vây nhanh,
Như bầy quạ xúm quanh chim cú,
Tâm hướng về bao chuyện ác h ành,
Khiến nạn nhân kia thành sạt nghiệp,
Cuối cùng bị lột sạch sành sanh,
Đồng tiền chắc chắn người kia có,
Đổi lấy hứa suông chẳng thực h ành.
157-158. Như bọn lạ tham được lệnh vua,
Tịch thu t ài sản đám nông gia,
Bọn n ày cướp chỗ nào rình rập,
Tìm của với con mắt ác tà;
Không luật lệ nào lên án chúng,
Tuy nhiên chúng phải chết là vừa!
159-160. Tế sư phải nắm nhánh Bu-ta,
Làm lễ tế đ àn tự trước kia,
Nó được gọi thay Thi ên chủ
đấy;
Thế nhưng nếu thật vậy từ xưa,
Phải chăng Thi ên chủ In-dra đ ã,
Chiến thắng được y êu quỷ
địch th ù?
Tay của trời cho ngài ích lợi,
Có đâu l àm quỷ sợ vu vơ?
161-162. Mỗi rặng núi trong quốc độ kia,
Chính l à lễ vật tự ngàn xưa,
Đặt l ên đ àn
tế thành từng đống,
Tín chủ đưa tay nhẫn nại ra
Chất lễ vật l ên cao tựa núi,
Tuân theo lệnh Đại Phạm thi ên mà!
163-164. "Núi được chất cao với lễ dâng",
Nói như vậy đó các La-môn,
Khoe khoang huyễn hoặc, ôi ô nhục!
Đống gạch kia d ù kiếm hết lòng,
Cũng chẳng chứa đâu nguồn mạch sắt,
Để người thợ mỏ phải ho ài công.
165. Chuyện kể một hiền thánh thuở xưa,#
Đang khi cầu nguyện ở b ên bờ,
Bị chìm xuống biển, từ thời đó,
Nước biển không sao uống đến giờ!
166-167. Sông đ ã nhận chìm các Thánh hiền,
Hằng tr ăm v à nước vẫn bình yên,
Xuôi dòng chảy mãi không hề thối,
Sao chỉ biển xanh giữ hận hiềm?
Nước mặn tràn vào trên mặt đất,
Do người đ ào, chẳng bởi lời nguyền.
168-169. Trước tiên chẳng có nữ, nam nhân,
Trí óc làm nhân loại sáng dần,
Dòng giống ban đầu b ình
đẳng cả,
Nhưng v ì thành bại đ ã bao lần,
Làm con người đổi thay ngôi thứ,
Chẳng phải v ì xưa thiếu phước ân,
Những lỗi lầm ngày nay đ ã khiến,
Họ thành ưu thắng hoặc cùng bần.
170. Kẻ hạ đẳng kia d ùng trí khôn,
Đọc kinh n ày, trí chẳng cao hơn,
La-môn tạo Vệ- đ à làm hại,
Khi các tha nhân đạt trí thông.
171. Như vẹt, câu ca được thuộc l òng,
Khó quên vì nhịp điệu du dương,
Tối tăm ý nghĩa l àm mê mẩn,
Ngu trí nuốt trôi thật bốc đồng.
172. B à-la-môn chẳng giống thú hoang,
Sư tử, cọp beo của núi ngàn,
Chúng với trâu bò đồng một loại,
Khác ngo ài nhưng trí vẫn ngu đần.
173. Nếu vua thắng trận dứt đao binh,
V à sống bình an với bạn mình,
Chế ngự dục tham, theo chánh đạo,
Muôn dân hạnh phúc sống phồn vinh.
174. Vệ-đ à, Sát- đế-ly cầm quyền,
Độc đoán cả hai, lại h ão huyền,
Mù quáng chúng lần mò tiến bước,
Trên đường hồng thủy ngập li ên miên.
175. Vệ- đ à, Sát-ly nắm quyền n ăng,
Thâm nghĩa, chúng ta thảy nhận chân:
Rốt cuộc, nhục vinh hay được mất,
C ùng chung số phận bốn giai tầng.
176. Như các chủ nhà muốn kiếm ăn,
Tính bao nghề tốt đẹp, an to àn,
La-môn nay gặp ngày tàn mạt,
Tìm kế sinh nhai đủ mọi đ àng.
177. Chủ nhà lầm lạc bởi tham vàng,
Mù quáng đi theo dục dẫn đ àng,
Bày đủ mọi tr ò lừa
đảo ấy,
Kẻ ngu phải đọa! Thác người khôn.
Bậc Đại Sĩ, sau khi đánh tan mọi luận thuyết
của họ như vậy, đ ã thành lập ra giáo phái của ngài và khi hội chúng
Nàga nghe ngài thuyết giảng, tâm họ tràn đầy
hoan hỷ. Bậc Đại Sĩ cho thả t ên Bà-la-môn hạ
đẳng kia ra khỏi cảnh giới N àga mà không
hề đá động g ì
đến g ã, dù chỉ bằng một lời nói khinh
miệt.
*
Vua Sàgara cũng không lỗi hẹn, vội ngự du cùng binh lính
đến nơi trú ngụ của vua cha, sau khi đánh trống
báo cho thần dân biết ng ài sẽ đi thăm
ngoại tổ phụ v à quốc cửu, bậc Đại Sĩ du
h ành qua sông Yamunà, trước tiên ngài ngự
đến am ẩn sĩ của tổ phụ với mọi vẻ long trọng
huy ho àng, theo sau ngài có đầy đủ các
vương tử c ùng phụ vương, mẫu hậu ngài.
Lúc ấy vua Sàgara chưa nhận ra bậc Đại Sĩ
khi ng ài tiến đến c ùng
đám t ùy tùng, liền hỏi vua cha:
178. Chiêng trống nào đây, tiếng nói vang,
Trầm h ùng hòa điệu giữa không gian,
L àm tâm Thánh thượng đầy hoan hỷ,
Đ àn sáo, tù và, tiếng trống con?
179. Ai là nam tử bước hiên ngang,
Nai nịt cung tên được điểm trang,
Vương miện quanh đầu đang chiếu sáng,
Khác n ào ánh chớp tỏa hào quang?
180. Ai đó uy nghi bước đến gần,
Sáng ngời tướng mạo dáng thanh xuân,
Như c ành phượng vĩ đang hồng đỏ,
L ò thợ rèn lia cháy sáng bừng?
181. Chiếc lọng của ai sáng sắc vàng,
Làm mờ ngọ nhật vẻ kiêu c ăng,
B ên sườn khéo léo treo lơ lửng,
Chiếc quạt đập ruồi đợi sẵn s àng?
182. Gậy vàng vung vẫy các đuôi công,
H òa đủ m àu bên cạnh mặt rồng,
Rực rỡ vòng tai tô điểm tóc,
Khác n ào tia chớp lóe không trung?
183. Hào kiệt nào đây mắt sáng trong,
M ão long đội giữa đôi m ày cong,
R ăng trắng như chồi hoa, vỏ ốc,
Ho àn toàn đều đặn, thẳng ngay h àng.
184. Bàn tay hồng đỏ tựa sơn son,
Môi, đóa bim-ba thắm nở tr òn,
Chàng trẻ sáng ngời như mặt nhật,
Như sà-la nở rộ đầu non,
In-dra Thi ên chủ mang bào giáp,
Chiến thắng quỷ thù thảy dẹp tan.
185. Ai vừa hiện trước nhãn quang ta,
Mở ví bên sườn, tuốt kiếm ra,
Chuôi nạm ngọc vàng đầy kỹ xảo,
Huy ho àng chiếu sáng dưới tay ngà?
186. Ai cởi hài vàng khỏi gót chân,
Hài thêu dệt gấm thật cao sang,
Cuối đầu trịnh trọng trang nghi êm lễ,
Bày tỏ lòng tôn kính Trí nhân?
Khi nghe con của ngài là quốc vương Sàgara Brahmadatta hỏi như vậy, vị ẩn
sĩ xuất gia đ ã chứng
đắc thắng trí c ùng các Thiên chứng, liền
trả lời:
- Này vương nhi, đó l à các vương tử của
vua Dhatarattha, các Long vương Nàga của bào muội của con
đó.
Rồi ngài ngâm kệ sau:
187. Dha-ta vương tử các chàng đây,
Uy lực, vinh quang vĩ đại thay,
Tất cả đều tôn s ùng chấp nhận,
Sa-mud-da mẫu hậu chung này.
Trong lúc các vị đang đ àm
đạo, hội chúng N àga
đến nơi, đảnh lễ dưới chân vị ẩn sĩ, rồi ngồi
xuống một b ên. Công chúa Samuddajà cũng
đảnh lễ cha xong, khóc lóc một hồi rồi từ tạ c ùng hội chúng Nàga trở
lại cảnh giới của mình. Quốc vương Sàgara ở lại
đó v ài hôm rồi trở về thành Ba-la-nại. Còn công chúa Samuddajà về sau
qua đời tại cảnh giới N àga.
Phần Bồ-tát vẫn giữ giới suốt đời Ng ài
và tu tập đủ mọi công hạnh trong ng ày
trai giới, nên khi mạng chung, ngài cùng với hội chúng Nàga
đi l ên thiên giới thật
đông đảo.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Đạo Sư dạy:
Như vậy các vị Thánh đệ tử, các bậc hiền
nhân ng ày xưa, trước khi đức Phật ra
đời, đ ã từ bỏ mọi vinh quang của quốc độ
N àga và trang nghiêm hành trì các công hạnh trong ngày trai giới.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân:
Vào thời ấy, gia tộc của Đại vương l à
cha mẹ Ta, Devadatta ( Đề-b à- đạt-đa)
l à gã Bà-la-môn hạ đẳng, Ànanda
(A-nan) là Somadatta, Uppalavannà (Liên hoa Sắc) là Accimukhì, Sàriputta
(Xá-lợi-phất) là Sudassana, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Subhaga,
Sunakkhatta là Kànàrittha và Ta chính là bậc
Đại trí Bh ùridatta.