Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-069 · 541. CHUYỆN

Jātaka group 69 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-069
Số MN69
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương XXII#

Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-

541. CHUYỆN#

ĐẠI VƯƠNG NIMI
(Tiền thân Nimi)
Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi trú
tại vườn xo ài của vua Makhàdeva gần thành Mithilà, về một nụ cười.
Một buổi chiều nọ, bậc Đạo Sư c ùng
hội chúng đông đảo Tỷ- kheo đang dạo chơi trong
vườn xo ài, Ngài chợt thấy một nơi hợp ý Ngài. Vì muốn kể lại hành
nghiệp của Ngài ở thời quá khứ, ngài liền để lộ
một nụ cười tr ên khuôn mặt cho hội chúng chiêm ngưỡng. Khi Tôn giả
Ànanda hỏi tại sao ngài mỉm cười, Ngài đáp:
- Này Ànanda, ở chỗ kia, ngày xưa Ta đ ã
nhập Thiền định v ào thời vua Makhàdeva.
Rồi theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức
Thế-tôn ngồi xuống nơi Tôn giả mời Ng ài, và kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, ở quốc độ Videha, trong kinh th ành
Mithilà có một vị vua tên là Makhàdeva. Khi còn thanh xuân, vua hưởng dục
lạc trong khoảng tám mươi bốn ngàn n ăm, kế đó
Ng ài làm thái tử trong tám mươi bốn ngàn n ăm
rồi Ng ài lên làm vua trong tám mươi bốn ngàn n ăm
nữa.
Lúc bấy giờ Ngài bảo người thợ hớt tóc phải báo cho ngài biết ngay khi gã
thấy sợi tóc bạc đầu ti ên trên
đầu Ng ài. Thời gian qua, khi người ấy
thấy sợi tóc bạc liền tâu với vua, vua bảo gã lấy nhíp nhổ ra
để l ên tay Ngài, Ngài thấy như thể thần
chết đang bám v ào trán Ngài vậy. Ngài
nghĩ thầm: "Bây giờ đ ã
đến lúc ta phải rời thế tục". V ì thế
Ngài cho phép người hớt tóc lựa chọn một làng theo ý gã, còn ngài cho triệu thái
tử đến giao việc triều chính cho thái tử, v ì
là Ngài sẽ xuất gia.
- Tâu phụ vương, tại sao vậy? Thái tử hỏi.
Ngài đáp:
1. Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra,
Cướp dần đời sống tháng năm qua,
Chúng là thiên sứ nhắc ta nhớ,
Nay đến thời ta phải xuất gia.
Cùng với những lời này, Ngài phong vương cho con theo nghi lễ quán
đảnh (rảy nước thánh tr ên
đầu), huấn dạy tân vương phép trị nước, rồi Ng ài
rời kinh thành, sống theo đời của một sa-môn.
Suốt tám mươi bốn ng àn n ăm ng ài
tu tập Tứ Vô lượng Tâm (bốn phạm trú: Từ, bi, hỷ, xả), rồi Ngài
được sinh l ên Phạm thiên giới.
Con của Ngài cũng theo gương cha, xuất thế và
được sinh l ên Phạm thiên giới. Các hoàng
tử về sau cũng vậy, cứ lần lượt xuất gia bốn mươi tám ngàn
vị thiếu hai. Khi thấy sợi tóc bạc đầu ti ên xuất hiện, vị ấy liền ẩn
cư trong vườn xoài, hành trì Tứ Vô lượng Tâm và
được sinh l ên Phạm thiên giới.
Là vị vua đầu ti ên trong hoàng tộc
được sinh c õi này, vua Makhàdeva
đứng tr ên Phạm thiên giới nhìn xuống số
phận của hoàng tộc, Ngài rất hoan hỷ khi thấy gần tám mươi bốn hoàng tử
đ ã xuất gia. Ngài suy nghĩ: "Sẽ có
Niết-bàn bây giờ hay không?" Ngài thấy là không thể có
được, n ên Ngài quyết
định chính Ng ài chứ không ai khác nữa
phải kế tục sự nghiệp hoàng gia. Vì thế Ngài từ thiên giới xuống nhập mẫu
thai hoàng hậu của vị vua thành Mithilà.
Vào ngày đặt t ên, các nhà tiên tri
nhìn các tướng mạo của hài nhi, đồng tâu:
- Tâu Đại vương, vương tử n ày ra
đời để kế tục sự nghiệp ho àng gia. Sẽ
không có vị nào trong hoàng tộc làm ẩn sĩ nữa.
Nghe vậy, vua bảo:
- Hài nhi này ra đời để nối nghiệp ho àng
gia như thể chiếc vành bánh xe vậy.
Vì thế Ngài đặt t ên con là:
Nimi-kumàra hay vương tử A Luân.
Từ thuở ấu thơ, vương tử này đ ã
chuyên tâm bố thí, làm công đức, giữ giới luật
Bồ-tát. Khi vua cha theo lệ thường, trông thấy sợi tóc bạc đầu ti ên,
liền ban một ngôi làng cho người hớt tóc, phong vương cho con rồi trở thành
ẩn sĩ trong vườn xoài và được sinh l ên
Phạm thiên giới.
Còn vua Nimi chuyên tâm bố thí, nên đ ã
lập n ăm bố thí đường tại bốn cổng th ành
và ngay chính giữa thành để thực h ành
đại bố thí. Trong mỗi bố thí đường, Ng ài
ban phát một tr ăm ng àn
đồng tiền, thế l à Ngài phát ra n ăm
trăm ng àn đồng tiền mỗi ng ày.
Ngài thường xuyên giữ Ngũ giới, vào các ngày rằm Ngài giữ giới hạnh Bố-tát.
Ngài khuyến khích dân chúng bố thí và làm công
đức, Ng ài chỉ dạy cho họ con đường đi l ên
thiên giới, khiến họ thấy kinh sợ thần chết. Rồi Ngài thuyết pháp cho họ
nghe.
Dân chúng tin theo lời thuyết giảng của Ngài, bố thí, làm lành, nên khi
từ trần đều lần lượt được sinh l ên thiên
giới, vì thế thiên giới trở nên đông đảo, c òn
địa ngục như thể trống vắng.
Lúc ấy ở cõi trời Ba mươi ba, chư Thiên đang
tụ họp tại Thiện Pháp đường (Sudhamm à)
đồng thanh hô to:
- Hoan nghênh bậc sư trưởng của chúng ta,
Đại vương Nimi vạn tuế! Chính nhờ Ng ài hành thiện nghiệp, nhờ tri
kiến Phật của Ngài mà chúng ta đ ã
đạt được an lạc vô bi ên ở thiên giới
này.
Như thế họ tán thán công đức của bậc Đại Sĩ.
Ngay trong c õi nhân gian tiếng tán thán cũng lan tràn khắp nơi như
dầu loang trên mặt biển cả.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày cho
hội chúng Tỷ-kheo qua các vần kệ sau:
2. Quả thật diệu kỳ ở thế gian,
Các hiền nhân đ ã
được vinh thăng,
V ào thời minh chúa Ni-mi ấy,
Thánh giả, hiền nhân đ ã ngập tràn.
3. Vi- đề-ha, đại đế ngày xưa,
Bậc chiến thắng bao kẻ địch thù,
Trong lúc ngài thi hành bố thí,
Vẫn thường sinh khởi mối suy tư:
"Điều gì đem lại nhiều thành quả,
Bố thí? Tu hành? Ai bảo cho?
Lúc ấy cung của Sakka Thiên chủ ( Đế Thích)
bỗng nóng rực l ên. Thiên chủ tìm hiểu lý do, thấy vua
đang suy nghĩ như vậy, ng ài nói:
- Ta sẽ giải quyết vấn đề n ày.
Rồi ngài ra đi, bỗng chốc đ ã biến
hoàng cung thành một vùng sáng lòa, ngài bước vào
điện sừng sững tỏa h ào quang rực rỡ và
theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài làm sáng tỏ mọi sự.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
4. Đại đế chư thiên, đấng vạn năng,
L à ngài ngàn mắt [*] tỏa hào quang,
Nhận ra tư tưởng trong vua ấy,
Trước ánh sáng ngài, bóng tối tan.
[*] Sahassakkka: Sakka có ngàn mắt.
Đại đế Nimi tâu Thiên chủ Vàsava (tức Sakka), trong lúc toàn thân rợn
thịt da:
5. Ngài là ai, có phải Thiên thần,
Hay chính Sak-ka Thiên chủ ch ăng?
V ì trẫm chưa từng nghe hoặc thấy,
Hào quang như vậy ở trên trần.
Sau đó Thi ên chủ Vàsava nói với vua
Nimi, vì biết vua đang rợn cả thịt da:
6. Ta chính Sak-ka Thiên chủ đây,
Đến thăm ng ài chính ở nơi này,
Hỏi điều ng ài muốn, kìa Hoàng thượng,
Chớ rợn thịt da sợ hãi vầy!
Rồi vua Nimi hỏi Thiên chủ Vàsava, khi nghe lời mời này:
7. Sak-ka Thiên chủ đấng to àn n ăng,
Giải quyết cho ta nỗi khó khăn:
Bố thí hay tu h ành Thánh hạnh,
Việc gì đem kết quả nhiều hơn?
8. Rồi Và-sa lại bảo Ni-mi
Giải quyết cho vua chính vấn đề,
Nói quả tu h ành đời Thánh hạnh,
Với nh à vua ấy vẫn vô tri:
9. Người sinh làm một Khat-ti-ya,
Kẻ sống đời thanh tịnh bậc ba,
Một vị Thi ên thần vào bậc giữa,
Thánh hiền bậc nhất đạt tinh hoa.
10. Nhờ bố thí thôi khó đạt th ành,
Như vầy những quả vị an lành,
Những gì bậc Thánh nhân xuất thế
Chứng đắc nhờ tu tập khổ h ành.
Qua các vần kệ này, Ngài làm sáng tỏ thành quả vĩ
đại của đời tu h ành, rồi Ngài
đọc các b ài kệ khác, nêu tên các vị vua
trong quá khứ đ ã không thể vượt qua Dục
giới nhờ thực hành đại bố thí, đó l à các
vị vua:
11. Du-dì-pa, Sà-ga-ra, Se-la,
Mu-ca-lin-da, Bhagì-ra-sa,
U-sì-na-ra và At-tha-ka,
As-sa-ka và Pu-thuj-ja-na.
12. Các vua, giáo sĩ, Khat-ti-ya,
Và biết bao nhiêu kẻ đ ã qua,
Vì chỉ chuyên thi hành tế lễ,
Không ai vượt khỏi cảnh Pe-ta.
Sau khi giải thích thành quả của đời sống tu
h ành cao hơn hẳn thành quả của bố thí. Như vậy ngài nêu rõ những vị
ẩn sĩ nhờ sống đời Thánh hạnh đ ã vượt
qua thế giới Peta (ma quỷ) và được sinh l ên
Phạm thiên giới, rồi ngài nói:
13. Và đây bảy ẩn sĩ hiền nhân,
Những vị đ ã siêu thoát cõi trần:
Yà-ma-ha-nu, So-ma-yà-ga,
Ma-no-ja-va, Sa-mud-da,
Mà-gha, Bha-ra-ta, Kà-li-ka-ra.
Còn có bốn hiền nhân khác nữa:
Kas-sa-pa, An-gì-ra-sa,
A-kit-ti, Ki-sa-vac-cha,
Thảy đều l ên cõi Phạm thiên thần.
Từ trước đến giờ ng ài theo truyền
thuyết mô tả thành quả vĩ đại của đời Thánh
hạnh, bây giờ ng ài tiếp tục tuyên bố những gì chính ngài
đ ã thấy:
14. Sì-dà phương bắc, một trường giang,
Sâu thẳm, thuyền bè khó vượt ngang,
Quanh nó, giống như rừng lửa sậy,
Sáng ngời các dốc núi màu vàng.
15. Cát đằng bao phủ ở quanh v ùng,
Thơm ngát cây trên núi dưới sông,
Ở đó mười ng àn nhà ẩn sĩ.
Một thời đ ã trú ngụ tu thân.
16. Ta giữ lời nguyền của Thánh nhân,
Chuyên tâm tiết dục, tự điều thân,
Thực h ành bố thí, đời đơn độc,
Chăm sóc tâm từng bước vững v àng.
17. Bất cứ ở trong đẳng cấp n ào,
Phải tìm bậc Thánh để theo hầu,
V ì con người thảy đều r àng buộc,
Do chính mọi hành nghiệp bấy lâu.
18. Xa chánh đạo, tất phải đọa thân,
V ào miền địa ngục mọi giai tầng,
Mọi giai tầng trở th ành thanh tịnh,
Nếu tạo thiện hành, sống chánh chân.
Sau đó ng ài bảo:
- Tuy nhiên, này Đại vương, mặc d ù
đời tu h ành
đạt kết quả cao hơn bố thí nhiều, các bậc đại nhân đều phải lưu tâm đến cả
hai việc n ày: Bố thí và giữ giới hạnh.
Với lời nhủ này, Thiên chủ trở về cảnh giới của ngài.
Lúc ấy hội chúng chư Thiên giới liền hỏi ngài:
- Tâu Thiên chủ, lâu nay chúng con không
được yết kiến Thi ên chủ, chẳng hay ngài ở
đâu vậy?
- Này các hiền giả, vua Nimi ở thành Mithilà
đang có mối ho ài nghi trong lòng nên ta phải
đi giải quyết vấn đề để vua khỏi nghi ngờ nữa.
Rồi ngài tả sự việc qua các vần kệ:
19. Này chư Thiên hãy lắng nghe ta,
Tất cả đây tề tựu nảy giờ:
Các bậc chánh nhân đều khác hẳn,
Cả về đẳng cấp lẫn t ài hoa.
20. Ni-mi chúa tể ở phàm trần,
Là bậc trí hiền đức, chánh chân,
Vua nước Vi-đề, chuy ên bố thí,
Là người chiến thắng các cừu nhân.
21. Trong lúc ngài ban phát rộng tay,
Khởi sinh trong trí mối nghi này:
" Điều g ì kết quả nhiều hơn hẳn,
Bố thí? Tu hành? Ai có hay?".
Sau đó Ng ài kể các
đức tính của vua, không sót điều g ì
khiến chư Thiên mong ước được gặp vua, liền
nói:
- Tâu Thiên chủ, vua Nimi là bậc sư trưởng của chúng con, nhờ lời dạy bảo
của Ngài, cùng các phương tiện của Ngài, chúng con
đ ã đạt được
niềm an lạc tr ên Thiên giới. Chúng con ao ước
được gặp Ng ài. Vậy xin Thiên chủ hãy cho
mời Ngài đến để chúng con được bái yết Ng ài.
Thiên chủ Sakka chấp thuận, truyền gọi thần Màtali
đến:
- Này hiền hữu, hãy buộc ngựa vào xa giá của ta, rồi xuống kinh thành
Mithilà, rước vua Nimi lên thiên xa và đem Ng ài
về đây.
Thần Màtali vâng lệnh ra đi. Trong khi Thi ên
chủ Sakka đ àm
đạo với chư Thi ên và ra lệnh cho Màtali
đem xe xuống trần, tính ra đ ã một tháng
trôi qua hạ giới.
Lúc đó đúng ng ày trai giới tr ăng
tr òn, vua Nimi mở cửa sổ hướng đông ra,
ngồi tr ên lầu, các triều thần vây quanh, suy ngẫm
đến công hạnh của m ình. Vừa lúc tr ăng
l ên ở hướng đông th ì thiên xa
xuất hiện. Dân chúng đ ã
ăn cơm tối xong, đang c ùng nhau trò
chuyện thong dong trước cửa:
- Ô kìa! Sao hôm nay, lại có đến hai vầng
trăng thế? Họ k êu lên.
Trong lúc họ đang b àn tán thì chiếc
xe lộ rõ dần:
- Ồ không phải vầng tr ăng, m à là
chiếc xe ngựa.
Lúc đó đo àn tuấn mã cả ngàn con của
thần Màtali cùng xe của Thiên chủ Sakka xuất hiện, dân chúng tự hỏi: "Xe này
dành cho ai đây? Phải rồi, vị vua của họ thật
anh minh, chắc Thi ên chủ Sakka dành xe này cho vị vua của họ rồi,
chắc Thiên chủ muốn gặp vua".
Vì thế họ hoan hỷ reo hò:
22. Một việc diệu kỳ ở thế gian,
Làm ta rợn gáy bởi hân hoan:
Vì Vi- đề Đại vương vinh hiển,
N ên chiếc thiên xa xuống cõi phàm.
Trong lúc dân chúng đang b àn tán mải
mê như vậy thì nhanh như gió, Màtali quay xe lại, dừng xe bên song cửa hoàng
cung, mời vua lên xe.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
23. Mà-ta-li, đại-lực Thi ên thần,
Điều ngự thi ên xa của Ngọc hoàng,
Đến thỉnh Vi-đề-ha Chúa tể,
Ở Mi-thi điện: "Tấu minh quân,
Chúa công dưới thế, l ên xa giá,
Thiên chủ In-dra với các thần,
Ở cõi B ăm ba, cung Thiện pháp,
Đang chờ để yết kiến tôn nhan".
*
Vua suy nghĩ: "Ta sắp viếng cõi trời mà ta chưa từng biết, vậy ta phải tỏ
lòng tri ân đối với thần M àtali". Thế
rồi ngài bảo các cung phi cùng thần dân:
- Chẳng bao lâu ta sẽ trở về trần thế, vậy các người phải chuyên tâm làm
việc thiện và bố thí.
Rồi Ngài lên xe.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
24. Khi ấy Vi- đề-ha Đại quân,
Vội v àng tiến đến chiếc xe thần,
Bước v ào, khi Đại vương an tọa,
Thần lái thi ên xa lại hỏi rằng:
- Thánh chúa, đường n ào ngài muốn chọn,
Nơi người ác ở hoặc hiền nhân?
*
Nghe nói vậy, vua liền nghĩ: "Cả hai chốn này ta
đều chưa hề thấy bao giờ cả, vậy ta muốn xem cả
hai". Ng ài đáp lại:
25. Mà-ta-li, hỡi quản xa thần,
Hai chỗ, ta đều muốn ngắm trông,
Nơi chốn bậc hiền nhân trú ngụ,
V à nơi kẻ ác đọa đ ày thân.
Màtali suy nghĩ: "Không thể đi xem cả hai
nơi c ùng một lúc được, vậy ta phải hỏi
lại vua xem sao". Rồi thần ngâm kệ:
26. Chỗ nào đi trước, Đ ại minh quân,
Nơi trước tiên ngài muốn ngắm trông,
Nơi chốn bậc hiền nhân trú ngụ,
Hay nơi kẻ ác đọa đ ày thân?
Vua suy nghĩ thế nào ngài cũng sẽ lên Thiên giới và ngài lại ước mong
thấy địa ngục, n ên ngài ngâm kệ:
27. Ta muốn xem nơi của tội nhân,
Hãy đưa ta đến ngục sau c ùng,
Nơi người đ ã phạm hành vi ác,
Nơi kẻ ác nay đan g trú thân.
Lúc ấy Màtali chỉ cho vua thấy dòng sông ở
địa ngục, t ên gọi Vetarani.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày:
28. Thần lái thiên xa chỉ chúa công,
Dòng sông hôi thối Ve-ta-ran,
Chứa đầy chất nước đang thi êu hủy,
Nóng bỏng, phủ toàn lửa cháy bừng.
Vua kinh hoàng khi nhìn thấy những tội nhân bị hành hạ
đau đớn trong d òng sông Vetarani, ngài
liền hỏi Màtali họ đ ã mắc những tội gì,
Màtali liền kể lại:
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
29. Vua Ni-mi thấy tội nhân sa xuống,
Dòng sông sâu, liền hỏi Mà-ta-li :
"Ta kinh hoàng thấy cảnh tượng đằng kia,
Những kẻ n ày phạm tội gì, xin nói,
Mà ngày nay bị sa vào sông thối?".
30. Thần đáp, n êu tội chín, quả liền
sinh:
- Ai trong đời ỷ sức mạnh ri êng mình,
Lại ức hiếp kẻ nghèo hèn, yếu đuối,
Kẻ ác kia đ ã gây bao tội lỗi,
Bị thả vào dòng nước Ve-ta-ran.
Màtali đáp lời vua như vậy. Khi vua đ ã
thấy địa ngục Vetarani rồi, M àtali liền
làm cho cảnh này biến mất, rồi lái xe đến xem
nơi tội nhân bị các lo ài chó và ác thú khác xâu xé. Thần Màtali
đáp lời vua hỏi như sau.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày :
31. Bầy chó đen, đàn kên kên cùng
quạ,
Đang đợi mồi kinh khủng, lúc ta trông,
Mà-ta-li, ta kinh hãi trong lòng,
Tội lỗi gì họ gây ra, xin nói,
Quạ rình ai? Mà-ta-li đáp lại:
32. Nếu tội chín muồi v à quả phải mang;
- Những kẻ xan tham, sân hận, nói sàm,
Làm tổn hại Bà-la-môn, ẩn sĩ,
Những kẻ ác đ ã gây bao tội thế,
Nay làm mồi cho diều quạ, ngài xem!
*
Những câu hỏi khác của vua cũng đều được
thần M àtali đáp lại tương tự như tr ên .
33. Mình rực lửa khi họ nằm phủ phục,
Đống than hồng v ùi dập, lúc ta trông,
Mà-ta-li, ta hoảng sợ trong lòng.
Tội lỗi gì các kẻ này phạm phải,
Thần quản xa, nói cho ta biết với,
Nay nằm vùi dập dưới đống than hồng?
34. M à-ta-li, thần điều ngự, tỏ tường,
N êu tội lỗi chín muồi mang kết quả:
- Những kẻ này trên đời đầy gian trá
H ành hạ người vô tội, tạo đau thương,
Cả nữ nhi c ùng với bọn nam nhân,
Những kẻ ác đ ã gây tạo tội lỗi,
Nay nằm vùi dưới đống than đỏ ối.
35. Những người kia nằm hố than vật v ã,
Gầm thét lên, thân cháy. Lúc ta trông,
Mà-ta-li, ta hoảng sợ trong lòng,
Bọn này phạm tội gì, cho ta rõ,
Ai nằm vẫy vùng trong hầm lửa đỏ?
36. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu quả mang khi tội đ ã chín
muồi:
- Những người trước đám đông dân chúng,
L àm chứng nhân sai, nợ nần lật lọng,
Làm hại người như vậy, tấu Anh quân,
Những ác nhân này phạm tội bất nhân,
Nay nằm đó vẫy v ùng trong hố lửa.
37. Khói lửa rực trời một hầm than đỏ,
Ta thấy k ìa chảo sắt lớn gớm ghê,
Khi ta nhìn, lòng sợ hãi tràn trề,
Mà-ta-li, nói cho ta biết với,
Tội lỗi gì các kẻ này mắc phải,
Nay bị thả vào chảo sắt khổng lồ?
38. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp vua:
N êu tội lỗi chín muồi mang kết quả:
- Kẻ làm hại Bà-la-môn, hiền giả,
Kẻ xấu xa làm hại các thiện nhân,
Những ác nhân mang ác nghiệp vào thân,
Nay phải chịu rơi đầu v ào chảo sắt.
39. Cổ bị tóm thả vào trong chảo sắt,
Đầy nước sôi s ùng sục thật kinh hồn,
Mà-ta-li, ta sợ hãi từng cơn,
Tội lỗi nào những kẻ này mắc phải,
Giờ đây đầu nát tan nằm chịu tội?
40. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp vua :
N êu tội chín muồi nên quả sinh ra;
- Đó l à những ác nhân trên hạ giới,
Bắt chim muông, rồi lại còn sát hại,
Và sát sinh như vậy, hỡi Quân vương,
Do ác hành gây tội lỗi đau thương,
Nay nằm đó với cổ đầu siết chặt.
41. D òng sông kia sâu thẳm, bờ nông cạn,
Dễ đi qua bờ b ên ấy, thế nhân,
Nóng như thiêu, liền uống, nhưng vừa dùng,
Nước thành trấu lửa, khi ta nhìn thấy,
Mà-ta-li, lòng ta đầy kinh h ãi,
Nói cho ta, tội lỗi của thế nhân,
Sao uống vào, nước hóa trấu cháy bừng?
42. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại,
N êu tội chín muồi và nay mang trái:
- Đây những người trộn gạo với trấu tro,
Đem bán gian cho những kẻ đi mua,
N ên giờ phải chịu khát thiêu cổ họng,
Nhưng uống vào, nước hóa ra trấu nóng.
43. Bao gươm giáo cung tên đâm xuy ên
thủng,
Hai bên sườn những kẻ nọ thét gào,
Mà-ta-li,ta kinh hãi, nói mau,
Tội lỗi gì các kẻ kia đ ã tạo,
Nên ngày nay chịu biết bao gươm giáo,
Phải nằm kia hứng lấy mọi cung tên?
44. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp liền,
Tả tội chín muồi v à nay mang quả;
- Kìa những thế nhân lòng đầy gian trá,
Đ ã lấy của người để sống gi àu
sang,
Trâu, dê, cừu, ngựa, thóc, lúa, bạc, vàng,
Những ác nhân này gieo trồng tội báo,
Nên giờ đây nằm hứng bao gươm giáo.
45. Những kẻ n ày bị cột cổ là ai,
Kẻ xé thịt, người chặt xương từng mảng,
Mà-ta-li, lòng ta đầy kinh hoảng,
Nói cho ta tội tạo bởi chúng sinh,
Đang nằm kia thân bị xé tan t ành?
46. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại,
N êu tội chín muồi và nay mang trái:
- Dân chài, hàng thịt, s ăn bắn hươu nai,
Kẻ giết trâu d ê đem bán ở đời,
Những ác nhân đ ã gây bao tội ác,
Nay nằm kia với tấm thân tan nát.
47. Hồ hôi đầy phân bẩn ở đằng kia,
M ùi thối xông lên, bao người chết đói,
Ăn đồ dơ! L òng ta đầy kinh h ãi,
Khi ta nhìn, hãy nói, Mà-ta-li,
Các thế nhân kia mắc tội lỗi gì,
Nay ta thấy ăn to àn
đồ dơ thối?
48. M à-ta-li, thần quản xa, đáp lại,
Nếu tội chín muồi nay quả phải mang:
- Những kẻ tinh ma ích kỷ hại nhân,
Sống với bạn m à đem l òng hại bạn,
Những ác nhân này đ ã gây nghiệp chướng,
Nay ăn đồ dơ bẩn tội t ình thay.
49. Hồ đằng kia đầy máu đỏ hôi tanh,
M ùi thối xông lên, kìa đám sinh linh,
Khát thi êu họng, uống vào! Ta kinh hãi,
Khi ta nhìn, Mà-ta-li, hãy nói
Bọn người kia đ ã tạo lỗi lầm gì,
Nên bây giờ phải uống dòng máu kia?
50. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại,
N êu tội chín muồi và nay mang trái:
- Những kẻ này đ ã giết mẹ hoặc cha,
Chúng phải tôn sùng, tội ngỗ nghịch mà,
Bọn ác này đ ã tạo ra trọng tội,
Chúng đang uống đằng kia d òng máu thối.
51. Kìa lưỡi xuyên ngang bằng cái móc câu,
Như tr ăm mũi gai tr ên gỗ cắm vào,
Ai vẫy vùng như cá nằm trên cạn?
Khi thấy người đang thét g ào lảm nhảm,
Ta kinh hoàng, hãy nói, Mà-ta-li,
Tội lỗi gì phạm bởi đám người kia,
Nay nằm đó nuốt móc câu như vậy?
52. M à-ta-li, thần lái xe, đáp lại,
N êu tội chín muồi và quả phải mang:
- Những thế nhân kia buôn bán chợ hàng,
Tranh giành mua rẻ vì tham tư lợi,
Tưởng đâu che được bao tr ò gian dối,
Như người câu cá. Nhưng kẻ dối đời,
Phải lâm nguy, bởi nghiệp cũ theo ho ài,
Bọn gian ác này đ ã gây tội ấy,
Đang nằm kia, nuốt móc câu như vậy.
53. Những nữ nhân, tơi tả, đứng giơ tay,
G ào thét lên, khốn khổ, máu bôi đầy,
Như thú trong l ò. Thân vùi đến ngực,
C òn nửa người trên lửa thiêu rừng rực!
Ta kinh hoàng cho biết, Mà-ta-li,
Đám nữ nhân kia phạm tội ác g ì,
Nay phải đứng chôn v ùi trên mặt
đất,
Nửa người tr ên lửa đang thi êu
hừng hực,
Phần nằm sâu dưới đất đến nửa người?
54. M à-ta-li, khi ấy vội đáp lời,
N êu tội chín muồi và nay mang trái:
- Những kẻ kia cao sang trên thế giới,
Đời sống dâm ô, gây nghiệp bất nhân,
Phản bội, trốn chồng l àm việc vô luân,
Để thoả m ãn những tấm lòng tham dục,
Họ phung phí cuộc đời trong trụy lạc;
Giờ đây m ình rực lửa đứng chôn thân.
55. Sao những kẻ kia bị người lôi cẳng,
V à thả vào dòng nước Na-ra-ka?
Lòng kinh hoàng, Mà-ta-li, nói ra,
Tội lỗi gì những thế nhân tạo vậy,
Nên ngày nay trôi vào dòng sông ấy?
56. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu nghiệp nhân mang quả đ ã chín
muồi:
- Những kẻ kia trên thế gian độc ác,
Trộm báu vật, tư thông vợ người khác,
N ên giờ đây bị thả xuống d òng
sông,
Chịu khổ hình trong địa ngục muôn năm,
Không an lạc cho người gây tội lỗi,
V ì nó luôn bị nghiệp mình theo dõi.
Những ác nhân này gây tạo lỗi lầm,
Nên ngày nay bị thả xuống dòng sông.
Nói xong, Màtali làm cho cảnh địa ngục biến
mất rồi tiếp tục lái xe tiến l ên, chỉ cho vua xem
địa ngục h ành hình kẻ theo tà giáo. Theo
lời vua yêu cầu, thần Màtali giải thích:
57. Ta chứng kiến bao nghiệp nhân gây quả,
Thật kinh hoàng trong địa ngục, khi trồng,
Mà-ta-li, ta sợ hãi trong lòng,
Tội lỗi gì những thế nhân phạm phải,
Nên ngày nay bị trầm luân khổ ải,
Rất đau thương, thống thiết, khó vượt qua?
58. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp vua,
N êu tội chín muồi và nay mang trái:
Bọn ác tà kiến kia trên thế giới,
Đặt l òng tin vào vọng tưởng hư danh,
Buộc tha nhân phải tín ngưỡng theo mình.
Vì tà kiến đ ã gây bao tội lỗi,
Nên ngày nay phải chịu bao khổ ải,
Rất đau thương, th ống thiết, khó vượt
qua.
Bấy giờ trên thiên giới, chư Thiên đang tụ
tập tại Sudhamma (Thiện pháp đường) chờ đợi nh à vua
đến. Thi ên chủ Sakka nghĩ thầm: "Màtali
đ ã đi lâu
lắm rồi" v à khi xét thấy lý do, ngài bảo:
Màtali đang đi v òng quanh làm vị
hướng dẫn, chỉ các cảnh giới địa ngục cho nh à
vua xem và giải thích các tội lỗi đ ã
đưa đường đến mỗi địa ngục ấy.
Rồi cho gọi một vị Thiên đồng trẻ tuổi nhanh
nhẹn, ng ài bảo vị này:
- Hãy đi bảo M àtali mang nhà vua
đến đây ngay. Vị ấy đang ti êu phí hết
cuộc đời của nh à vua
đấy, không n ên
đi quanh các địa ngục quá lâu như vậy.
Lập tức vị Thiên đồng ra đi, truyền lệnh của
Thi ên chủ cho Màtali. Nghe xong Màtali
đáp:
- Chúng tôi không dám chậm trễ nữa.
Rồi trong một thoáng nhanh như chớp, thần chỉ tất cả mọi cảnh giới
địa ngục rộng lớn cho vua xem khắp bốn phương v à
ngâm kệ sau:
59. Giờ Đại v ương
đ ã chứng kiến nhiều nơi,
Của thế nhân mắc tội lỗi trên đời,
N ên đọa đ ày và
đây Minh quân hỡi,
Nhanh l ên th ăm Đại đế của cõi
trời.
Nói xong thần quay xe lên thiên giới. Khi ấy vua thấy trên không tòa lâu
đ ài của một thiên nữ, tên là Bìrani, với
các đỉnh tháp đầy ngọc v àng,
được trang ho àng thật lộng lẫy, có hoa
viên và hồ hoa sen súng cùng những cây quý bao quanh xứng
đáng với cảnh đẹp ấy. Thi ên nữ này ngồi
trên đó tọa s àng trong c ăn
ph òng có đỉnh tháp hướng ra phía trước v à
được cả ng àn tiên nữ hầu hạ chung quanh,
bà đang nh ìn ra cửa sổ. Vua liền hỏi
Màtali nữ thần ấy là ai và Màtali giải thích như sau:
60. Ngắm lâu đ ài kia với n ăm
đỉnh tháp,
Đầy tràn hoa tô điểm, ngự tọa sàng,
Một nữ thần thật diễm lệ huy hoàng,
Muôn vẻ uy nghi, muôn phần kỳ lực,
Mà-ta-li, lòng ta vui náo nức,
Nói ta nghe những thiện nghiệp của nàng,
Khiến nàng nay hạnh phúc ở thiên đàng.
61. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại :
Nêu thiện nghiệp chín muồi nay mang trái:
Ngài nghe ch ăng ở xứ B ì-ra-ni,
Một Bà-la-môn có một nô tỳ,
Tiếp một khách đúng thời, l òng niềm nở
Như mẹ đón con m ình, nên từ
đó,
Cao sang, trong sạch , sống hưởng lâu đ ài.
Nói xong, Màtali lái xe tiến lên và chỉ vua xem bảy lâu
đ ài bằng vàng của Thiên thần Sonadanna.
Vua thấy cảnh tượng huy hoàng của Thiên thần này, liền xin Màtali giải
thích:
62. Kia bảy lâu đ ài sáng ngời chói
lọi,
Một thiên nhân đang ngự trị huy ho àng,
Cùng các vợ tiên trú ngự thiên đường.
Ta hoan hỷ nhìn, Mà-ta-li hỡi,
Thiện nghiệp nào thế nhân kia vun xới,
Mà bây giờ lạc trú cảnh thiên đ ình?
63. Mà-ta-li, thần điều ngự, lại tr ình,
Tuyên thiện nghiệp chín muồi và mang quả:
- So-na-din-na trước làm vua đ ã,
Đem cúng dường với đại lượng quân vương,
Bảy am tu c ùng tất cả đồ d ùng,
Cung cấp đủ tâm th ành và vật thực:
Sàng tọa, đ èn, hương, cùng nhiều y phục,
Hoan hỷ, tam hòa với các chánh nhân,
Ngài giữ ngày trai giới, mỗi hai tuần:
Mồng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng,
Thanh tịnh bước đường, điều thân, độ lượng,
N ên bây giờ tận hưởng lạc thiên cung.
Màtali kể rõ các thiện nghiệp của vua Sonadinna xong, liền lái xe tiến
tới nữa. Rồi thần lại chỉ một lâu đ ài
bằng pha lê, cao ngất đến hai mươi lăm dặm, có
h àng tr ăm cột trụ l àm bằng thất
bảo, hằng tr ăm đỉnh tháp, rải rác các r èm
treo và chuông nhỏ. Một chiếc cờ bằng bạc và vàng
đang phất phới, cạnh đó l à một công viên
đầy hoa lá tốt tươi, một hồ thả hoa súng xinh
xinh, các nữ thần y êu kiều ca hát muôn
điệu nhạc. Khi vua thấy cảnh n ày liền hỏi các nữ thần này
đ ã tạo những thiện nghiệp gì, Màtali
đáp:
64. Kìa cung pha lê sáng ngời, rực rỡ,
Các đỉnh cao chất ngất đến tầng mây,
Thức uống, đồ ăn la liệt đủ đầy,
Thi ên nữ kỳ tài cả đo àn tuyệt
sắc,
Đang tr ình diễn múa ca cùng tiếng hát.
Ta hân hoan, hãy nói, Màtali,
Các nữ nhân này đ ã tạo nghiệp gì,
Nay an trú lâu đ ài
đầy hoan lạc?
65. M à-ta-li, thần quản xa, liền đáp,
Tả những thiện duy ên mang lại quả lành;
- Các nữ nhân này Thánh hạnh tu hành,
Tín nữ tại gia giữ ngày Bố-tát,
Rộng lượng, điều thân, tịnh tâm, tịnh giác,
N ên giờ đây hạnh phúc ở Thi ên
cung,
Mà Đại vương đ ã tận mắt ngắm trông.
Rồi thần lái xe tiến lên, chỉ một lâu đ ài
bằng ngọc bích, sừng sững trên một nơi bằng phẳng, hùng vĩ như ngọn núi ngọc
bích sáng ngời, các Thiên tử đang nô đ ùa
ca hát khúc nhạc thiên đường. Thấy cảnh n ày,
vua liền hỏi về các thiện nghiệp của các Thiên tử này và vị kia
đáp lại:
66. Lâu đ ài ngọc kia tỏa
đầy ánh sáng,
Cảnh nguy nga, tráng lệ, thật huy ho àng,
Nhạc du dương đang trổi khúc thi ên
đường,
Đ àn ca trống âm vang theo vũ khúc,
Ta chưa từng nhìn cảnh nào ngoạn mục,
Âm thanh kia êm dịu chẳng hề nghe,
Lòng hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li,
Nghiệp lành nào những vị này tạo tác,
Nay hạnh phúc trong thiên cung hoan lạc?
67. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu thiện duyên nay đem quả chín muồi:
- Đây các vị tại gia trong đời trước,
Bố thí nhiều vườn cây v à giếng nước,
Kéo nước và thành tín cúng Thánh nhân:
Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần,
L òng hoan hỷ cùng chân nhân chính trực,
Cứ mỗi hai tuần giữ ngày Bố-tát:
Mùng tám, mười tư cùng với ngày rằm,
Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân,
Nay an trú trong lâu đ ài hoan lạc.
Như vậy, khi đ ã nêu các thiện nghiệp
của các vị Thiên thần kia, Màtali liền lái xe
đến một lâu đ ài pha lê khác, với nhiều
đỉnh tháp, hoa thơm cỏ lạ v à cây xinh
đẹp mọc khắp nơi, vang dội muôn tiếng chim ca, b ên cạnh một dòng sông
trong vắt. Đó l à nơi cư ngụ của một
thiện nhân, có cả một đo àn tiên nữ hầu
hạ quanh mình. Thấy cảnh tượng này, nhà vua lại hỏi Màtali về các nghiệp quả
của vị ấy và được giải thích như sau:
68. Kìa cung pha lê chói ngời ánh sáng,
Các đỉnh cao chất ngất đến từng mây,
Thức uống đồ ăn la liệt, cả bầy,
Thi ên nữ diễm kiều đủ t ài múa
hát;
Bao hoa lá viền đôi bờ sông mát.
Ta hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li,
Nam nhân này đ ã tạo nghiệp lành gì?
Nay thọ hưởng lâu đ ài
đầy thi ên lạc?
69. Mà-ta-li, thần lái xe, liền đáp,
N êu nghiệp lành, nay quả tốt sinh ra:
- Một chủ nhà ở tại Kim-bi-là,
Hào phóng cúng các vườn cây, giếng nước,
Kéo nước dâng Thánh nhân lòng thành thực:
Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần,
L òng hân hoan cùng các bậc chánh nhân,
Ngày Bố-tát giữ hai lần nửa tháng:
Mùng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng,
Điều thân, rộng lượng, theo bước Thánh h ành,
Nay trú an trong lạc thú thiên đ ình.
Như vậy, sau khi tả nghiệp lành của Thiện nhân này xong, thần lái xe
đi nữa, rồi thần chỉ cho vua một lâu đ ài
pha lê khác: Lâu đ ài này lại còn nhiều
cỏ cây hoa trái muôn màu bao quanh hơn các lâu
đ ài trước nữa. Thấy vậy vua liền hỏi các thiện nghiệp của vị Thiên
thần đầy diễm phúc kia v à Màtali liền
đáp:
70. Kìa ngọc cung đang tỏa đầy ánh sáng,
Các đỉnh cao chất ngất đến từng mây,
Thức uống đồ ăn b ày la liệt, cả bầy,
Thiện nữ diễm kiều đủ t ài múa hát,
Bao hoa lá viền đôi bờ sông mát:
S à-la, xoài, tượng, vương giả cây cao,
Pi-yal, tin-duk, đ ào
đỏ ngọt ng ào,
Vườn cây trái mọi nơi sinh quả quý.
Mà-ta-li, nói đi, ta hoan hỷ,
Thi ên nhân này đ ã tạo nghiệp lành
gì,
Nay hưởng lâu đ ài thiên lạc tràn trề?
71. Mà-ta-li, thần lái xe, đáp lại,
N êu thiện nghiệp chín muồi và mang trái:
- Một chủ nhà ở tại Mi-thi-là,
Hào phóng, đem cho giếng nước, vườn hoa,
Kéo nước, cúng Thánh nhân, l òng ngưỡng mộ:
Y phục, thức uống ăn v à tọa cụ,
Mọi nhu cầu, hòa hợp với chánh nhân,
Người giữ ngày trai giới mỗi hai tuần,
Mồng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng,
Thanh tịnh bước đường, điều thân, độ lượng,
Nên giờ đây an trú l ạc thiên
cung.
Tả xong thiện nghiệp của vị này như vậy, thần tiếp tục lái xe
đi đến một lâu đ ài bằng ngọc, giống lâu
đ ài đầu ti ên,
và vua lại yêu cầu thần kể các hành nghiệp của vị Thiên thần
đang hưởng lạc tại đây:
72. Kìa ngọc cung đang chiếu đầy ánh sáng,
Cảnh nguy nga tráng lệ thật huy ho àng,
Nhạc du dương đang trổi khúc thi ên
đường,
Đ àn ca trống âm vang theo vũ khúc,
Ta chưa từng thấy cảnh nào ngoạn mục,
Âm thanh êm dịu quá chẳng hề nghe.
Lòng hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li,
Các nghiệp lành những vị này tạo tác,
Nay hạnh phúc trong thiên cung hoan lạc?
73. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu thiện duyên nay mang quả chín muồi:
- Một vị tại gia ở thành Bê-na-rét,
Bố thí nhiều vườn cây cùng giếng nước,
Kéo nước và dâng cúng Thánh nhân:
Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần,
L òng hòa hợp cùng thiện nhân chánh trực,
Mỗi tháng hai lần giữ ngày Bố-tát,
Mồng tám, mười tư, cùng với ngày rằm,
Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân,
Nay an trú trong lâu đ ài an lạc.
Vừa lái thiên xa tiến lên, thần vừa chỉ một lâu
đ ài bằng vàng, như mặt trời
đang tỏa ánh sáng v à theo lời thỉnh cầu
của nhà vua, thần kể các thiện nghiệp của vị Thiên nhân
đang an trú ở đấy:
74. Ngắm lâu đ ài kia sáng ngời ánh
lửa,
Đỏ như mặt trời đang lúc l ên cao,
Mà-ta-li, long hoan hỷ, nói mau,
Thiện nghiệp gì thế nhân này vun xới,
Nay an trú hưởng lâu đ ài trên thiên
giới?
75. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu thiện duyên nay mang quả chín muồi:
- Một chủ nhà xưa ở thành Xá-vệ,
Giếng nước, vườn cây, rộng lòng bố thí,
Kéo nước, dâng các Thánh với tín tâm:
Thức uống ăn v à y phục, tọa sàng,
Vật cần thiết, tâm hòa người chánh trực,
Mỗi tháng hai lần giữ ngày Bố- tát,
Mùng tám, mười tư, cùng với ngày rằm,
Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân,
Nay an trú lâu đ ài đầ y hoan lạc.
Trong khi thần Màtali tả cảnh tám lâu đ ài
này, Sakka Thiên chủ, Đại đế của chư Thi ên,
tưởng rằng Màtali còn lâu lắm mới trở về, nên đ ã
phái một Thiên tử nhanh chân khác đi đưa tin
triệu hồi. M àtali nghe lệnh, thấy không thể nào trì hoãn
được nữa, liền trong một thoáng nhanh như chớp,
thần chỉ một lượt nhiều lâu đ ài và nêu cho vua thấy những thiện
nghiệp của các Thiên nhân ở trong đó :
76. Nhìn những lâu đ ài rực sáng trên
không,
Như tia chớp xuyên qua đám mây hồng.
L òng hoan hỷ, Mà-ta-li, hãy nói,
Thiện nghiệp gì các vị này vun xới,
Nên bây giờ an hưởng cảnh thiên đường?
77. M à-ta-li đáp lại đấng quân vương,
N êu thiện nghiệp chín muồi và mang quả:
- Sống hướng thiện, tín thành và thức giả,
Thi hành những lời dạy của Đạo Sư,
Nhờ sống như Phật Đại Giác dạy cho,
Nay l ên các thiên cung ngài đang ngắm!
Sau khi đ ã chỉ cho nhà vua các lâu
đ ài trên không, thần lên
đường trở về yết kiến Sakka Thi ên chủ
với những lời này:
78. Ngài đ ã thấy cảnh người lành, kẻ
dữ,
Giờ ta mau bái yết đấ ng Thiên hoàng.
Nói xong, thần tiếp tục lái xe đi v à
chỉ cho nhà vua xem bảy ngọn đồi bao quanh núi
Sineru (Tu-di) l àm thành một vòng tròn, rồi
để giải thích cách vua hỏi M àtali khi
thấy cảnh này, bậc Đạo Sư nói:
79. Khi Đạ i vương du hành lên thiên
giới,
Ngự thiện xa ngàn thiên mã kéo đi
Thấy những đỉnh non cao ngất đằng kia,
Trên biển cả Si-dà, ngài liền hỏi:
- Núi đồi n ày là gì xin hãy nói,
Nghe vua Nimi hỏi, thần Màtali đáp:
80. Núi hùng vĩ Sudassara, Karavìka,
Ìsadhara, Yugandhaka,
Nemindhara, Yinatara Assakanna,
Những đồi n ày ở Sìdantara,
Theo lớp hàng đồi núi đứng gần xa,
Cao sừng sững giữa không gian chất ngất,
Mà Đại vương đang ng ắm nhìn tận mắt.
Rồi thần chỉ thiên giới của Tứ đại Thi ên
vương và tiếp tục đi cho đến lúc thấy các tượng
thần Indra đứng sừng sững quanh Đại Thi ên môn Cittakùta ở cõi trời Ba
mươi ba.
Thấy cảnh tượng này, vua liền hỏi và Màtali
đáp lại:
81. Cảnh đẹp tinh vi , tráng lệ, huy
hoàng,
Tượng thần Indra sừng sững thiên môn,
Như thần hổ đứng canh, ta nh ìn kỹ,
Mà-ta-li, lòng ta đầy hoan hỷ,
Nói cho ta t ên cảnh đẹp tuyệt vời.
82. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu thiện nghiệp chín muồi nay mang trái:
- Ci-ta-kù-ta, nơi ngài chiêm bái,
Cổng đi v ào cung
Đại đế Thi ên hoàng,
Đây Đại môn quan của ngọn Mỹ Sơn,
Diễm lệ, huy ho àng, bao quanh sừng sững,
Với tượng Indra như bầy hổ đứng.
Mời Hiền vương v ào chốn thanh tịnh này.
Nói xong Màtali dẫn vua vào trong, và việc ấy
được tả lại như sau:
83.Khi Đại vương ngự giá chiếc thiên
xa,
Được cả ng àn tuấn mã kéo
đi qua,
Nh à vua ngắm nơi chư Thiên hội họp.
Trong khi Ngài đi ngang qua, ngắm nơi chư
Thi ên hội họp tại Thiện pháp đường
Sudhamm à, Ngài liền hỏi và Màtali đáp
lại:
84. Như mùa thu, trời cả một màu xanh,
Tòa lâu đ ài ngọc bích hiện nguyên hình,
Lòng hoan hỷ, Mà-ta-li, hãy nói,
Tên lâu đ ài mà ta
đang chi êm bái?
85. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời,
N êu thiện duyên đem quả tốt chín muồi:
- Đây Thiện pháp đường chư Thi ên tụ tập,
Trụ đứng nguy nga, công tr ình mỹ thuật,
Tám bề xây bằng ngọc bích, bảo trân,
Tam thập tam thiên với đấng Ngọc ho àng,
Đại đế In-dra cầu mong lạc phước,
Cho trời, người; mời Đại vương h ãy bước,
Chốn diễm kiều, nơi trú ngụ chư Thiên.
Các vị Thiên lúc ấy đang ngồi đợi vua đến.
Khi nghe tin, họ bước ra đón ng ài với hoa hương cõi trời thơm tỏa
ngào ngạt đến tận cổng Cittak ùta ấy và
mời ngài vào Thiện pháp đường. Vua xuống xe v ào
sảnh đường, chư Thi ên mời ngài ngồi và
Sakka Thiên chủ cũng ban tặng ngài đủ mọi hoan
lạc của thi ên giới.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
86. Chư Thiên ngắm đứ c vua vừa mới
đến,
Đồng ch ào mừng vị quý khách Minh quân:
- Cung nghênh ngài! Thiên chủ rất hân hoan,
Được diện kiến! B ên Sak-ka Thiên chủ,
Chúng Thiên đồng kính mời Minh quân ngự.
87. Thi ên chủ mời Đại đế Vi-đề-ha,
Vị Minh quân ngự trị Mi-thi-l à,
Và-sa-va liền tặng ngài tất cả,
Thiên lạc và thỉnh Minh quân an tọa.
88. - Giữa các quân vương cai trị cõi đời,
Xin cung ngh ênh chúa tể đến cung trời,
An trú với chư Thi ên, này Chúa tể,
Ngài sẽ được mọi ước nguyền như ý,
Hưởng trường xuân n ơi Tam thập tam thiên.
Như vậy Thiên chủ Sakka ban ngài các thiên lạc, nhưng vua từ chối khéo và
đáp lại:
89.- Như khi ta đượ c ngự giá xe tiên,
Hay được tặng phỉ nguyền bao phúc lạc,
Chính l à hưởng đặc ân từ kẻ khác.
90. Ta không m àng những phúc lạc đặc ân,
Nhận từ tay do kẻ khác phát phân,
Các thiện nghiệp đều của ta duy nhất,
Tr ên các nghiệp riêng, ta luôn vững chắc.
91. Ta sẽ đi l àm thiện nghiệp cho người,
Bố thí cúng dường ở khắp mọi nơi,
Ta sẽ bước theo con đường giới đức,
Tập ph òng hộ và tự thân điều phục,
Người thực h ành như vậy sẽ hân hoan,
Không còn lo phải gặp lúc ăn năn.
Như vậy bậc Đại sĩ thuyết Pháp cho chư Thi ên
với âm thanh ngọt như mật. Ngài ở lại đó bảy ng ày
theo ước tính của loài người, đem đến niềm hân
hoan cho Thi ên chúng. Rồi đứng giữa các
vị Thi ên thần, ngài nêu rõ công đức của
M àtali:
92. Mà-ta-li, thần quản xa thiên giới,
Là vị thần đặc biệt đ ã ban ân,
Vị ấy chỉ cho ta thấy rõ ràng
Nơi kẻ dữ, người lành đang cư trú.
Rồi vua từ giã Thiên chủ Sakka, nói rằng ngài muốn trở về hạ giới. Sau
đó Thi ên chủ bảo:
- Này hiền hữu Màtali, hãy rước Đại vương
Nimi về th ành Mithilà ngay lập tức.
Xa giá đ ã sẵn sàng và vua
đáp lại những lời chúc tụng thân hữu của chư
Thi ên rồi tạ từ lên xe. Màtali lái xe về hướng
đông, đến th ành Mithilà. Dân chúng thấy
thiên xa, hoan hỷ biết vua đ ã trở về.
Một đám người vây quanh vua v à hỏi ngài
cảnh Thiên giới. Ngài tả cho họ nghe cảnh an lạc của chư Thiên và Thiên chủ
Sakka, rồi khuyến dụ họ làm lành, bố thí để
được tái sinh l ên cõi trời.
Sau đó khi người thợ hớt tóc thấy sợi tóc
bạc đầu ti ên và bảo cho ngài hay, ngài liền bảo gã cất sợi tóc bạc
ấy, rồi ban cho gã một ngôi làng. Ngài muốn rời thế tục nên phong vương cho
con ngài. Khi được hỏi tại sao ng ài muốn
xuất thế, ngài đọc câu kệ:
Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra ...
Và cũng như các vua trước, ngài xuất gia, vào sống trong vườn xoài, tu
tập Tứ Vô lượng tâm, rồi được sinh l ên
cõi Phạm thiên .
Việc xuất gia của ngài được các bậc Đạo Sư
tả trong vần kệ cuối c ùng:
93. Ni-mi, Chúa tể Mi-thi-là,
Khi đ ã làm
Đạo Sự xuất gia,
Ng ài bước vào con đường Thánh hạnh.
Bản thân chế ngự với Thiền na.
Và con ngài, vua Kalàra-Janaka, cũng xuất gia, chấm dứt cả triều
đại của ng ài.
*
Khi bậc Đạo Sư thuyết giảng xong, Ng ài
nói:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên
Như Lai xuất thế, mà Như Lai đ ã xuất thế
trong đời trước.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Sakka là Anuruddha (A-na-luật- đ à),
Màtali là Ànanda (A-nan), tám mươi bốn vị vua là
đệ tử đức Phật v à vua Nimi chính là Ta
vậy.