Chương XXII#
Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-
540. CHUYỆN HIẾU TỬ SÀMA#
(Tiền thân Sàma)
Ai đó đang mai phục bắn m ình…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể tại Kỳ Vi ên
về một Tỷ- kheo phụng dưỡng mẹ.
Chuyện kể rằng có một thương nhân giàu có tại thành Xá-vệ, của cải lên
đến một trăm tám mươi triệu, người n ày
có một cậu con trai rất được y êu quý.
Một ngày nọ, cậu trai đi l ên lầu, mở cửa
nhìn xuống đường, khi thấy đám đông dân chúng
đang đi đến Kỳ Vi ên, tay cầm hương hoa cúng dường
để nghe thuyết Pháp, cậu bảo rằng cậu cũng muốn
đi. Cậu truyền đem hương hoa lại, rồi cậu đi đến tịnh xá cúng dường y phục,
dược phẩm, c ùng các thức ăn uống cho
chúng Tỷ-kheo ở đó v à đảnh lễ đức Thế
Tôn với hương hoa, rồi ngồi xuống một b ên…
Sau khi nghe thuyết Pháp, cậu nhận thức được
các quả ác do tham dục gây ra v à những quả phúc do
đời sống tu h ành mang lại. Rồi khi hội
chúng ra về, cậu xin đức Thế Tôn cho cậu thọ
giới. Nhưng đức Như Lai bảo cậu rằng ng ài không truyền giới cho ai
chưa xin phép cha mẹ. Vì thế cậu ra về, nhịn ăn
một tuần, cuối c ùng được cha mẹ chấp
thuận, cậu trở lại v à xin thọ giới. Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo làm lễ
xuất gia cho cậu.
Sau đó vị Tỷ-kheo mới n ày
được tán thán v à
đạt nhiều công hạnh, được sự ái mộ của các vị
sư trưởng v à giáo thọ và khi đ ã
thọ đại giới, ông tinh thông Giáo pháp trong v òng
n ăm năm. Rồi vị Tỷ-kheo n ày nghĩ: "Ta
sống viễn ly ở chốn này thật không hợp với ta". Và ông nóng lòng
đạt cứu cánh của Thiền định. Thế l à sau
khi nghe lời dạy của vị giáo sư về Thiền định,
ông đi đến một l àng ở biên giới, sống trong rừng sâu hành trì phép
Thiền định, nhưng không đạt được ý niệm n ào
đặc biệt, d ù ông
đ ã tinh cần tu tập trong mười hai n ăm
liền m à tâm không được định tĩnh.
Cũng trong thời gian này, cha mẹ của Tỷ-kheo này trở nên nghèo túng vì
những người thuê đất hay bán h àng cho
nhà này thấy trong nhà không có con em gì đến
buộc họ trả nợ, cho n ên đ ã
đoạt hết của cải n ào rơi vào tay họ và
tha hồ chạy trốn; gia nhân tôi tớ trong nhà lại trộm vàng bạc trốn
đi. V ì thế cuối cùng hai người lâm vào
cảnh khốn cùng, không còn đến cái b ình
đựng nước nữa, phải bán nh à
đi lang thang hết sức c ùng cực, phải
đi ăn xin, mặc áo rách rưới v à mang
chiếc bình mẻ trong tay.
Lúc bấy giờ có một trưởng lão Tỷ-kheo từ Kỳ Viên
đến nơi cư trú của người con trai ấy, ông tiếp
đón ân cần vị khách kia xong, ngồi y ên lặng hỏi th ăm
khách từ đâu đến. Khi được biết từ Kỳ Vi ên, ông hỏi th ăm
sức khỏe của bậc Đạo Sư c ùng các đại đệ
tử của ng ài, xong rồi hỏi th ăm tin tức
cha mẹ m ình.
- Thưa Tôn giả, xin Tôn giả cho biết tình cảnh của một gia
đ ình thương nhân ở Xá-vệ.
- Này hiền hữu, đừng hỏi thăm tin tức gia đ ình
ấy nữa.
- Tại sao thế, thưa Tôn giả?
- Người ta nói gia đ ình ấy có một cậu
con trai, nhưng cậu ta đ ã
đi tu theo đạo pháp, v à từ khi cậu ấy
xuất gia thì gia đ ình cậu bị sạt nghiệp,
lúc này cả hai ông bà lão đang lâm v ào
tình cảnh rất thê thảm và phải đi ăn xin.
Khi ông nghe khách nói xong, không thể nào cầm lòng
được, nước mắt cứ r àn rụa và khi khách
hỏi tại sao lại khóc, ông đáp:
- Thưa Tôn giả, đó chính l à cha mẹ
tôi, tôi là con của các vị ấy.
- Này Hiền hữu, cha mẹ bạn đ ã sạt
nghiệp vì bạn,vậy hãy về phụng dưỡng các vị.
Ông liền nghĩ: "Trong mười hai n ăm liền ta
tinh cần tu tập m à không thể nào đạt đạo
hay đắc quả, có lẽ ta vô t ài trí. Vậy ta có làm gì
được với đời sống Phạm hạnh n ày? Chi
bằng ta trở về làm một gia chủ phụng dưỡng cha mẹ già và bố thí của cải. Như
vậy cuối cùng ta cũng được sinh l ên
thiên giới". Quyết định xong ông nhường chỗ cư
trú của m ình trong rừng cho vị Trưởng lão kia.
Hôm sau ông ra đi, qua nhiều chặng đường th ì
tới tinh xá phía sau Kỳ Viên không xa thành Xá-vệ mấy. Tại
đó ông thấy hai con đường, một đường dẫn đến Kỳ
Vi ên, một đường dẫn đến Xá-vệ. Khi đứng
đó, vị Tỷ-kheo n ày suy nghĩ: "Ta đến
viếng cha mẹ ta trước hay đức Phật trước? Rồi ông tự nhủ: "Ng ày xưa
ta gặp cha mẹ ta luôn, từ đây ta sẽ ít có dịp
yết kiến đức Phật; vậy ta h ãy yết kiến bậc Chánh
Đẳng Giác ng ày hôm nay và nghe thuyết
Pháp, rồi ngày mai ta sẽ đi thăm cha mẹ".
Thế là ông bỏ con đường đi Xá-vệ v à
đi đến Kỳ Vi ên lúc chiều tối. Vào ngày
đó, lúc tảng sáng, bậc Đạo Sư nh ìn xuống
trần gian, đ ã thấy
được tiềm lực ngộ đạo của vị n ày, nên
khi ông đến yết kiến Thế Tôn, ng ài tán
thán công đức của cha mẹ theo kinh M àtiposaka
(voi hiếu dưỡng mẹ-Tiền thân số 455). Trong khi
đứng cuối hội chúng Tỷ-kheo v à nghe thuyết Pháp, ông nghĩ: "Nếu ta
trở thành người gia chủ, ta có thể phụng dưỡng cha mẹ ta", nhưng bậc
Đạo Sư cũng dạy: "Một người con đi xuất gia vẫn
có thể giúp đỡ cha mẹ m ình". Trước kia ta rời thế tục mà không
đến yết kiến đức Thế Tôn, v à ta
đ ã thất bại trong sự thọ giới không trọn
vẹn như vậy. Bây giờ ta muốn phụng dưỡng cha mẹ ta mà vẫn duy trì
đời sống tu h ành chứ không làm một người
gia chủ". Vì vậy ông cầm lấy thẻ cùng các vật thực phát theo thẻ và cháo của
mình và cảm thấy như thể mình đ ã phạm
trọng tội đáng bị khai trừ sau mười hai năm độc
cư trong rừng.
Sáng hôm sau ông đi đến Xá-vệ v à nghĩ
thầm: "Ta nên đi lấy cháo trước hay thăm cha mẹ
ta trước đây?". Ông nghĩ lại v à thấy rằng
đi thăm cha mẹ trong lúc cha mẹ ngh èo
khổ mà không có gì trong tay để biếu th ì
thật là không phải đạo. V ì thế ông
đi lấy cháo trước rồi đến cửa nh à cũ.
Vừa thấy cha mẹ ngồi cạnh bức tường đối diện,
sau khi đ ã đi một v òng khất thực
được cháo l òng, ông
đứng không cách xa họ mấy v à bỗng thấy
nỗi sầu thương nổi lên, mắt đẫm lệ. C òn
họ thấy ông nhưng không nhận ra, rồi bà mẹ tưởng rằng
đó l à một kẻ
đang chờ của bố thí, liền nói:
- Chúng ta không có gì để bố thí cho người
cả, người chịu khó đi nơi khác.
Nghe bà mẹ nói vậy, ông cố nén nỗi buồn đang
tr àn đầy trong l òng,
đứng y ên mắt
đẫm lệ, v à khi
được bảo lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn đứng y ên.
Cuối cùng ông cha bảo bà mẹ:
- Bà đến xem thử có phải con trai b à
đó không?.
Bà vùng dậy chạy đến nh ìn ra con, gục
xuống chân mà than khóc, ông cha cũng khóc theo, bao nỗi sầu khổ
đều tuôn ra hết. Thấy lại cha mẹ, ông không thể
nén được l òng mình, cũng bật khóc. Sau cơn xúc
động, ông nói:
- Đừng buồn nữa cha mẹ ôi, con sẽ phụng
dưỡng cha mẹ.
Thế là sau khi an ủi cha mẹ và cho họ húp nước cháo rồi ngồi xuống bên
đường, ông lại ra đi khất thực đem về cho cha
mẹ d ùng, sau đó mới đi khất thực cho
chính m ình. Xong bữa ăn, ông liền đi t ìm
nơi trú chân không xa đó mấy. "Từ ng ày
ấy về sau ông ch ăm sóc cha mẹ bằng cách n ày;
ông đem cho cha mẹ đồ khất thực d ành cho
mình, luôn cả những vật dụng bố thí hằng nửa tháng một lần, và ông
đi khất thực nhiều lần để thọ dụng. C òn
những vật thực dành cho mùa mưa cũng đều đem
cho cha mẹ d ùng, trong khi ông đem áo
quần rách của cha mẹ về đóng cửa kín m à nhuộm lại
để mặc. Nhưng rất ít ng ày ông
đi khất thực được đồ d ùng, phần nhiều là
chẳng được g ì cả, nên y trong cũng như y
ngoài đều tả tơi cả. Trong thời gian chăm sóc
cha mẹ như thế, ông dần dần trở n ên xanh xao gầy ốm, bạn hữu thấy vậy
bảo:
- Da dẻ bạn trước đây tươi sáng, nhưng nay
bạn xanh xao quá, hẳn có bệnh g ì?
Ông đáp:
- Ta không có bệnh gì cả, nhưng ta đang gặp
một chướng ngại.
Rồi ông kể cho họ nghe câu chuyện nhà. Họ
đáp:
- Thưa hiền giả, bậc Đạo Sư không cho phép
ta phí phạm lễ vật cúng dường của các thí chủ, bạn đ ã làm việc trái
phép khi đem lễ vật cúng dường của thí chủ cho
người thế tục.
Nghe nói vậy, ông hổ thẹn cúi gầm mặt xuống, nhưng vẫn chưa thỏa dạ, họ
đem chuyện kể với bậc Đạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, người này đ ã phí phạm
lễ vật cúng dường và đem cho người thế tục.
Bậc Đạo Sư cho gọi vị Tỷ-kheo trẻ ấy đến v à
hỏi:
- Có phải ông đ ã xuất gia mà còn lấy
vật cúng dường của thí chủ đem cho người thế
tục không?
Ông thú nhận là có. Rồi bậc Đạo Sư muốn ngợi
khen việc l àm của ông và nói về một việc cũ của Ngài, liền hỏi:
- Thế ông phụng dưỡng người thế tục nào đó?
- Bạch Thế Tôn, chính cha mẹ của con.- Ông
đáp.
Lúc đó Thế Tôn muốn khuyến khích việc l àm
của ông hơn nữa, Ngài bảo ba lần:
- Tốt lành thay! Tốt lành thay! Ông đang đi
con đường ng ày xưa Ta đ ã
đi qua, ng ày xưa khi
đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta.
Như thế vị Tỷ-kheo được Ng ài khích lệ
vì việc đó. Rồi theo lời thỉnh cầu của chúng
Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư kể chuyện quá khứ để cho biết các nghiệp đời trước của
Ng ài.
*
Ngày xưa, không xa thành Ba-la-nại, ở phía bên này sông, có một làng thợ
s ăn v à một làng nữa ở bên kia sông, mỗi
làng có chừng n ăm trăm gia đ ình cư trú.
Lúc bấy giờ có hai nhà thiện xạ trong hai làng
đó l à đôi bạn thân thích, họ giao ước
với nhau từ trẻ rằng nếu đôi b ên sinh con trai và con gái thì sẽ gả
con cho nhau. Theo thời gian trôi, một cậu trai
được hạ sinh trong nh à thiện xạ bên này sông và một cô gái sinh vào
nhà thiện xạ kia. Cậu bé được đạt t ên
Dukùlaka vì khi sinh ra đời cậu được quấn trong
lớp t ã lót thật đẹp, c òn cô gái
được đặt t ên là Parikà, vì cô sinh ra
bên kia sông. Cả hai đều xinh đẹp với l àn
da óng ả như vàng và mặc dù được sinh ra trong
l àng s ăn bắn, chúng không hề sát sinh
hại mạng. Khi cậu bé l ên mười sáu tuổi, cha mẹ cậu bảo:
- Này con, cha mẹ sẽ cưới vợ cho con.
Nhưng cậu là một người thanh tịnh từ Phạm thiên giới mới xuống
đây, cho n ên cậu bịt tai lại bảo:
- Con không muốn ở trong nhà, đừng nói
chuyện ấy với con.
Rồi mặc dù cha mẹ cậu nói chuyện đó ba lần,
cậu không tỏ ý ham thích chút n ào. Còn nàng Parikà cũng vậy, khi cha
mẹ nàng bảo:
- Con trai của ông bạn nhà ta thật khôi ngô với làn da óng ả như vàng,
cha mẹ định gả con cho cậu ấy đấy.
Nàng cũng bịt tai lại và trả lời như chàng trai kia.Vì chính nàng cũng
xuống đây từ Phạm thi ên giới. Cậu
Dukùlaka bí mật gửi cho cô gái một lời nhắn nhủ: "Nếu nàng muốn sống
đời vợ chồng th ì hãy tìm
đến một gia đ ình khác, vì ta không muốn
như vậy". Và nàng cũng gửi cậu một lời nhắn nhủ tương tự như thế. Nhưng dù
họ không đồng ý, cha mẹ họ vẫn cử h ành
hôn lễ. Thế là cả hai người sống riêng lẻ như các vị Phạm thiên, không hề sa
vào bể ái dục. Dakùlaka không hề giết cá hay nai hươu, cũng không hề bán các
thứ cá mà người khác mang đến cho cậu. Cuối c ùng
cha mẹ cậu bảo:
- Con sinh ra trong gia đ ình s ăn
bắn m à con lại không thích sống trong nhà, cũng không sát sinh hại
vật, vậy con muốn gì?.
Cậu đáp:
- Nếu cha mẹ cho phép, con xin làm ẩn sĩ ngay ngày hôm nay.
Cha mẹ họ đều cho phép họ ngay lập tức. Thế
l à họ từ giã cha mẹ, ra đi dọc theo bờ
sông Hằng, rồi rời bỏ sông Hằng, họ đi l ên núi dọc theo sông
Migasammatà. Lúc bấy giờ cung của Sakka Thiên chủ bỗng nóng rực lên. Thiên
chủ Sakka, sau khi xác định duy ên cớ,
liền bảo thần Vissakamma:
- Này Vissakamma, có hai bậc Đại nhân đ ã
xuất thế và đang đi v ào núi Himavat,
chúng ta phải tìm nơi trú ẩn cho họ, vậy hãy đi
dựng am lá v à cung cấp mọi vật dụng cần thiết cho cuộc
đời tu h ành của họ ở một nơi cách sông
Migasammatà chừng một phần tư dặm đường, xong
rồi trở lại đây.
Thế là vị này đi chuẩn bị đủ mọi vật dụng
giống như được mô tả trong Tiền thân M ùgapakkha, rồi trở về nhà; sau
khi đ ã xua hết mọi súc vật có thể gây ồn
ào khó chịu trong rừng và mở một con đường m òn
gần đó. Hai vị ẩn sĩ thấy có đường m òn
liền theo đó đến am. Khi Duk ùlaka bước
vào trong am, thấy đủ mọi vật dụng cần thiết
liền k êu lên:
- Đây chính l à lễ vật của Thiên chủ
Sakka cúng dường ta.
Thế rồi Dukùlaka cởi áo ngoài ra, mặc vào chiếc y màu vỏ dà,
đắp tấm da hươu qua một b ên vai, cột túm
tóc lại ra dáng một vị khổ hạnh, rồi cũng làm lễ truyền giới cho Parikà như
vậy, xong rồi họ sống ở đó, tu tập l òng
Từ thuộc về cõi Dục. Nhờ ảnh hưởng lòng Từ của họ
đối với mọi vật, chim muông v à thú rừng
cũng khởi lên lòng từ ái đối với nhau, chứ
không hề l àm hại lẫn nhau.
Parikà lo kiếm nước và thức ăn, quét dọn am,
l àm đủ mọi việc cần thiết, rồi cả hai
người đi kiếm đủ loại trái cây về ăn. Sau đó họ ở v ào trong thảo am
riêng của mình hành trì đủ mọi giới luật của
đời Phạm hạnh. Thi ên chủ Sakka cung cấp
đủ mọi nhu cầu của họ.
Một ngày kia, ngài tiên tri được một hiểm
họa sắp xảy ra cho họ: "Họ sẽ mất thị giác". V ì thế ngài tìm
đến Duk ùlaka,
đảnh lễ xong, ngồi xuống một b ên, ngài
bảo:
- Thưa Tôn giả, ta thấy trước một hiểm họa sắp
đe dọa các Tôn giả, vậy các Tôn giả phải sinh
một đứa con trai để phụng dưỡng các vị sau n ày, hãy
đi theo đường lối của thế gian.
- Thưa Thiên chủ, tại sao ngài lại bảo vậy? Ngay cả khi chúng con còn ở
chung một nhà trước kia, chúng con cũng đ ã
chán ghét ái dục, giờ đây l àm sao chúng
con thực hiện điều ấy được khi chúng con đ ã
vào rừng sống đời Phạm hạnh của kẻ xuất gia.
- Được rồi, nếu Tôn giả không muốn l àm
như ta nói, thì đợi đến lúc thuận tiện h ãy
lấy tay sờ rốn của Parikà.
Dukùlaka ưng thuận làm theo. Thiên chủ Sakka từ giã ra về. Bậc
Đại Sĩ kể chuyện ấy với Parik à và
đến lúc thời cơ thuận lợi, lấy tay sờ v ào
rốn Parikà. Ngay lúc ấy Bồ-tát từ Thiên giới xuống nhập vào bụng bà và bà
mang thai từ đó. Sau mười tháng, b à hạ
sinh một hài nhi da vàng óng, vì thế nên họ đặt
t ên là Suvannasàma (Hoàng Kim).
Lúc bấy giờ các nữ thần Kinnara (Khẩn-na-la: Ca thần của Sakka) ở núi bên
kia đến chăm sóc Parik à lúc bà lâm bồn.
Đôi cha mẹ n ày tắm rửa hài nhi xong
đặt v ào chòi lá và
đi kiếm đủ loại trái cây. Trong khi họ ra ngo ài,
các nữ thần Kinnara đem h ài nhi vào
động của họ tắm rửa v à
đem l ên
đỉnh núi trang ho àng cho hài nhi đủ loại
hoa, lấy chất sơn v àng đỏ xanh l àm
dấu đặc biệt tr ên thân thể, rồi
đem về để lại tr ên giường trong chòi lá,
sau đó Parik à về chòi cho con bú.
Họ yêu quý con, nâng niu ch ăm sóc con cho
đến năm mười sáu tuổi, họ thường để con ở trong ch òi rồi
đi v ào rừng kiếm củ và trái cây. Bồ-tát
suy nghĩ: "Mối hiểm họa một ngày kia sẽ xảy ra". Ngài thường canh chừng con
đường cha mẹ ng ài
đi ra.
Một ngày kia họ trở về lúc chiều tối sau khi
đ ã nhặt củ và trái cây. Vừa đến gần ch òi
thì một đám mây lớn kéo tới. Họ vội ẩn m ình
dưới gốc cây trên một ổ kiến. Trong ổ kiến này có một con rắn
độc. Lúc bấy giờ nước tr ên thân họ nhỏ
giọt xuống mang theo mùi mồ hôi đến mũi con rắn
l àm nó tức giận, thổi phà hơi độc lúc họ
đứng đó để tấn công họ, khiến cho cả hai đều bị m ù không nhìn thấy
nhau được nữa. Duk ùlaka gọi lớn Parikà:
- Mắt ta mù rồi, ta không thấy nàng nữa.
Họ bảo nhau trong khi quờ quạng đi quanh,
khóc lóc v à không sao tìm được lối về."
Đời trước ta đ ã phạm tội gì?" Họ nhủ thầm như vậy. Thuở tiền kiếp, họ
sinh vào gia đ ình một y sĩ. Vị y sĩ
đó chữa bệnh mắt cho một người gi àu có,
nhưng người này không chịu trả y phí, vị y sĩ tức giận nói với vợ:
- Ta phải làm sao đây?
Bà vợ cũng tức giận bảo:
- Ta không cần tiền của nó, cứ chế ra một thứ thuốc rồi bảo
đó l à thuốc chữa bệnh và ta làm mù mắt
nó đi.
Vị y sĩ đồng ý l àm theo lời vợ và
chính vì tội này mà giờ đây cả hai đều bị m ù
lòa.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Trước đây cha
mẹ ta thường về v ào giờ này, ta chẳng biết chuyện gì xảy ra cho cha
mẹ ta, ta phải đi t ìm mới
được". V ì thế ngài ra
đi t ìm họ và gây nên một tiếng
động. Họ nhận ra tiếng động ấy n ên cũng
làm một tiếng động đáp lại v à vì lòng
thương con, họ bảo con:
- Sàma ơi, ở đây nguy hiểm lắm, đừng tới
gần. V ì thế ngài đưa cho cha mẹ một cây
d ài, bảo họ cầm lấy đầu cây gậy rồi đi
lần về phía ng ài. Ngài bảo với họ:
- Cha mẹ bị mù mắt vì duyên cớ gì?
- Khi trời mưa ta núp dưới gốc cây trên một tổ kiến, thế là ta bị mù mắt.
Nghe thế ngài biết ngay sự việc đ ã
xảy ra. "Có lẽ ở đó có rắn độc, đang lúc nổi
giận, nó phun nọc độc ra đấy". Khi ng ài nhìn cha mẹ, ngài bật khóc
rồi lại bật cười. Cha mẹ ngài hỏi tại sao, ngài
đáp:
- Con khóc vì cha mẹ bị mù lúc còn trẻ, nhưng con lại cười vì từ
đây con sẽ phụng dưỡng cha mẹ, cha mẹ đừng
buồn, con sẽ chăm nom cha mẹ chu đáo.
Thế rồi ngài dẫn họ về chòi, buộc dây thừng tứ phía phân chia các gian
để ở ban ng ày và ban
đ êm, các trai phòng và các phòng khác
nữa. Từ ngày ấy ngài bảo cha mẹ ở nhà, còn ngài
đi kiếm củ v à trái rừng. Buổi sáng dọn dẹp nhà cửa,
đi lấy nước sông Migasammat à về, nấu
thức ăn v à nước, rồi lấy nước rửa mặt
đánh răng cho cha mẹ, đem đến cho cha mẹ đủ
trái cây ngon ngọt. Khi cha mẹ súc miệng xong, ng ài mới dùng.
Ăn xong ng ài chào cha mẹ, rồi
được một đ àn nai hộ tống, ngài vào rừng
hái quả.
Sau khi hái quả cùng với đám nữ thần Kinnara
tr ên núi, ngài trở về lúc chiều tối, nấu nước nóng tắm rửa chân tay
cho cha mẹ rồi mang lại một mẻ chậu than hồng hơ ấm tay chân cha mẹ. Ngài
đem đủ loại trái cây cho cha mẹ d ùng.
Cuối cùng ngài mới ăn phần m ình và cất
dọn các thứ còn lại. Cứ thế ngài ch ăm sóc cha
mẹ mỗi ng ày.
Lúc ấy có một vị vua tên Pilliyakkha trị vì tại Ba-la-nại. Vị này rất
thích thịt thú rừng nên đ ã giao việc
triều chính cho mẹ rồi nai nịt n ăm loại vũ khí
đi v ào núi Himavat s ăn bắn hươu nai để
ăn thịt, tiến lần đến con sông Migasammat à và cuối cùng tới nơi Sàma
thường xuống múc nước. Thấy có vết chân hươu nai, vua dựng chỗ trú ẩn dưới
các bụi cây màu ngọc bích, lấy tên tẩm thuốc
độc v ào, sẵn sàng giương lên và nằm mai phục.
Buổi chiều bậc Đại Sĩ đ ã hái trái cây
xong, đem về lều, ch ào hỏi cha mẹ rồi
nói:
- Con sẽ đi tắm v à múc ít nước.
Ngài cầm bình, cả một đo àn nai vây
quanh, ngài chỉ chọn ra hai con, buộc bình vào lưng chúng, rồi dẫn chúng
đến nơi tắm sông. Nh à vua thấy ngài
đến gần tự nhủ: "Suốt thời gian ta đi quanh
quẩn nơi đây, ta chưa hề thấy bóng người n ào cả, vậy
đó l à Thiên thần hay rắn thần? Bây giờ
nếu ta đến gần hỏi nó ắt nó sẽ bay l ên
trời nếu đó l à Thiên thần, hoặc sẽ
độn thổ nếu đó l à rắn thần. Nhưng ta có
ở núi Himavat này mãi đâu, một ng ày kia
ta sẽ trở về Ba-la-nại. Lúc đó các quan đại
thần sẽ hỏi ta có thấy được việc g ì kỳ lạ trong thời gian ta lang bạt
ở đây không. Nếu ta bảo họ ta có thấy một người
như vầy như vầy, họ sẽ gạn hỏi ta t ên nó là gì, nếu ta trả lời không
biết thì họ sẽ chê trách ta; vậy thì ta cứ bắn nó cho bị thương, rồi hỏi nó
sau".
Vừa lúc ấy, bầy nai đi xuống trước để uống
nước rồi bước l ên khỏi chỗ tắm. Sau đó
Bồ-tát chầm chậm bước xuống nước như thể một vị đại Trưởng l ão
đầy đủ giới luật uy nghi đang chuy ên tâm
đạt đại định, khoác bộ áo bằng vỏ cây v à
đắp tấm y bằng da nai qua một b ên vai,
nhấc bình lên múc đầy nước, rồi đặt tr ên
vai trái. Ngay lúc này, vua thấy rằng đ ã
đến thời, liền bắn mũi t ên tẩm thuốc
độc, l àm bậc
Đại Sĩ bị thương ở sườn b ên phải, rồi
mũi tên xuyên qua sườn bên trái.
Bầy nai thấy ngài bị thương kinh hoàng chạy trốn, nhưng Suvannasàma, mặc
dù bị thương nặng, vẫn hết sức giữ bình nước cho vững và cố
định thần, ng ài chầm chậm bước ra khỏi
nước. Ngài đ ào cát chất lên một ụ cao,
kê đầu l ên hướng về phía chòi của cha
mẹ, và ngài nằm xuống chẳng khác nào một bức tượng vàng trên bãi cát màu
sáng bạc. Rồi hồi tưởng lại, ngài suy xét mọi việc
đ ã xảy ra: "Ta không có kẻ thù nào trong
vùng núi Himavat này, ta cũng không thù oán ai cả". Khi ngài nói như vậy, máu
từ miệng ngài tuôn ra và vì không nhìn thấy vua, ngài liền ngâm kệ:
1. Ai đó đang mai phục bắn m ình,
Khi ta đ ã múc nước
đầy b ình,
Bà-la-môn, quý tộc, nô lệ,
Ai ám hại ta chẳng biết danh?
Rồi ngài ngâm thêm một vần kệ cho biết thịt của ngài vô dụng, không làm
thức ăn được:
2. Người chẳng thể nào ăn thịt ta,
Cũng không thể sử dụng bao da,
Sao người nghĩ lấy ta l àm đích,
Người đ ã tưởng đâu thắng lợi m à?
Ngài lại ngâm thêm một vần kệ khác hỏi họ tên của vua:
3. Người là ai, hãy nói con ai,
Là gì ta sẽ gọi tên người,
Tại sao người lại nằm mai phục?
Thành thật xin người hãy trả lời.
Khi nghe vậy, vua tự nhủ: "Mặc dù kẻ này đ ã
bị ta bắn trọng thương bằng tên độc, vẫn không
mạ lỵ ta, oán trách ta, lại c òn nói n ăng
dịu d àng như thể ru lòng ta vậy. Thôi ta
đến xem sao". Thế l à vua đến gần b ên
ngài và ngâm kệ:
4. Chúa tể Kà-si quốc chính ta,
Đại vương danh hiệu Pi-yak-kha,
Ta rời ngôi báu v ì thèm thịt,
Thơ thẩn tìm nai rừng núi xa.
5. Tài thiện xạ ta thật khéo thay,
Tâm ta can đảm chẳng lung lay,
Chẳng rồng rắn thoát t ên ta được
Khi nó đ ã vào tầm bắn đây.
Sau khi tự khen ngợi tài n ăng m ình
như vậy, vua hỏi gia thế của ngài:
6. Ngươi là ai đó vậy, con ai,
Là gì ta sẽ gọi tên ngươi?
Và tên thân phụ cùng gia tộc,
Tên của nhà ngươi, hãy trả lời.
Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Nếu ta bảo rằng ta l à
Thiên thần hay dòng dõi các nữ thần Kinnara (Khẩn-la-na), hoặc bảo ta là một
Sát- đế-lỵ hay thuộc một quý tộc tương tự, vị n ày
sẽ tin ngay, nhưng ta phải nói sự thật". Vì thế ngài nói:
7. Lúc ta sinh được gọi Sà-ma,
Con thợ s ăn c ùng khổ chính ta,
Nay ở đây nằm tr ên
đất lạnh,
Người nh ìn ta đ ã gặp nguy cơ.
8. Tên độc củ a người bắn trọng thương,
Ta nằm đơn độc tựa linh dương,
Nạn nhân người giết nhờ t ài nghệ,
L ăn lóc ta nay nhuộm máu hường.
9. T ên của người xuyên suốt thịt da,
Theo từng hơi thở máu trào ra,
Ngất ngư, ta vẫn còn than hỏi:
Sao muốn giết người mai phục ta?
10. Ngươi chẳng thể nào ăn thịt ta,
Cũng không thể sử dụng bao da,
Sao người nghĩ lấy ta l àm đích,
Người đ ã tưởng đâu thắng lợi mà?
Khi vua nghe vậy, biết rằng không thể nói thật
được, liền bịa một câu chuyện như sau:
11. Một nai đ ã
đến đúng vừa tầm,
Ta nghĩ rằng ta sắp hưởng phần,
Nhưng thấy ngươi, nai kinh hoảng chạy,
Với ngươi, ta chẳng có lòng sân.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Tại sao Đại vương nói vậy được? Cả v ùng
núi Himavat này không có nai nào thấy ta mà bỏ chạy:
12. Từ khi ta mới biết suy tư,
Nhớ lại thời xưa mãi đến giờ,
Không thú mồi hay nai chạy trốn,
Kinh ho àng khi gặp bước ta qua.
13. Từ lúc ta mang áo vỏ cây,
Bỏ đằng sau chuỗi ng ày thơ ngây,
Không nai hay thú mồi đ ào tẩu,
Khi thấy ta qua các lối này.
14. Các thú hoang kia chính bạn mình,
Cùng ta phiêu bạt khắp rừng xanh,
Nai này sao lại, như người nói,
Khi thấy ta liền chạy hãi kinh ?
Khi vua nghe nói, liền nghĩ thầm: "Ta đ ã
làm trọng thương con người vô tội này và lại còn nói dối, thôi ta phải thú
tội mới được". Nghĩ vậy, vua nói:
15. Chẳng có nai nào thấy Sà-ma,
Sao ta nói dối quá dư thừa?
Lòng ta tràn ngập niềm tham, hận,
Và bắn đầu t ên
đó ấy, chính ta.
Rồi vua nghĩ: "Suvanna không thể sống một mình trong rừng
được, chắc phải có thân thích ở đây, để ta thử
hỏi xem". V ì thế vua ngâm kệ:
16. Sáng sớm từ đâu
đến, bạn l ành,
Ai người bảo bạn phải cầm bình,
Đổ đầy nước múc bờ sông ấy,
Mang gánh nặng lui bư ớc lộ trình?
Nghe vậy, bậc Đại Sĩ cảm thấy một nỗi đau
đớn vô c ùng và ngâm vần kệ trong khi máu trào ra từ miệng:
17. Cha mẹ sống rừng vắng phía xa,
Mù lòa chỉ lệ thuộc con thơ,
Vì hai thân, đến b ên bờ nước,
Ta đổ đầy b ình nước của ta.
Rồi ngài tiếp tục than khóc số phận của cha mẹ:
18. Đời sống chỉ như lửa chập chờn,
Một tuần thực phẩm trữ không hơn
Nếu không có nước ta đem lại,
Yếu đuối, m ù lòa chết thảm thương.
19. Ta chẳng sợ đau khổ tử vong,
Ấy l à số phận mọi loài chung,
Sống không còn được nh ìn thân phụ,
Điều ấy khiến tâm trí h ãi hùng.
20. Thời khắc lê thê nặng khổ buồn,
Mẹ ta ấp ủ nỗi sầu thương,
Nửa đ êm và cả khi trời sáng,
Dòng lệ chảy như suối nước tuôn.
21. Thời khắc lê thê nặng khổ buồn.
Cha ta ấp ủ nỗi sầu thương,
Nửa đ êm và cả khi trời sáng.
Dòng lệ chảy như suối nước tuôn.
22. Họ lang thang khắp chốn rừng hoang,
Than vãn con đi quá muộn m àng,
Chờ đợi ho ài công nghe tiếng bước,
Hay chờ ta vuốt tấm thân tàn.
23. Ý tưởng này, tên độc thứ hai,
Đâm sâu hơn trước nữa, than ôi!
V ì ta nằm tại đây chờ chết
Không thể nh ìn cha mẹ nữa rồi!
Nhà vua nghe ngài than khóc, nghĩ thầm: "Người này phụng dưỡng cha mẹ hết
lòng hiếu thảo tận tụy, ngay bây giờ đang lúc
đau đớn m à cũng chỉ nghĩ đến cha mẹ,
thật ta đ ã gây tội ác với một thánh nhân như vậy, làm sao ta an ủi
được người đây? Khi ta đọa xuống địa ngục rồi
th ì ngai vàng có ích gì cho ta? Thôi ta nguyện phụng dưỡng cha mẹ
người như người đ ã phụng dưỡng họ. Như
thế cái chết của người không ảnh hưởng mấy đến
họ". Liền sau đó vua nói l ên quyết tâm của mình qua các vần kệ sau:
24. Này hỡi Sà-ma dáng cát tường,
Chớ nên tuyệt vọng ngập tâm hồn,
Vì ta phụng dưỡng hai thân lão
Trong cảnh cô đơn nặng khổ buồn.
25. Ta nay thành thạo với cây cung,
Lời hứa ta cương quyết thủy chung,
Ta sẽ thay người và phụng dưỡng
Mẹ cha người sống ở trong rừng.
26. Ta sẽ đi t ìm miếng thịt nai,
Đủ d ùng củ rễ, trái cây tươi,
Rồi ta hầu hạ hai thân lão,
Ta chính gia nô của các ngài.
27. Hiện nay hai vị ở rừng nào?
Này hởi Sa-ma, hãy nói mau,
Ta thề bảo vệ, nuôi hai vị
Như chính người làm tự bấy lâu.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Thế thì tốt quá, xin Đại vương nuôi nấng
cha mẹ ta d ùm.
Rồi ngài chỉ đường cho vua:
28. Nơi chốn đầu ta đặt ở đây,
Hai trăm tầm chạy giữa rừng cây,
Con đường dẫn đến lều cha mẹ,
Xin đến, l àm ơn phụng dưỡng thay.
Sau khi chỉ đường v à kiên nhẫn chịu
đựng đau đớn khủng khiếp v ì lòng thương
yêu cha mẹ, ngài kính cẩn chấp tay lại, thỉnh cầu vua một lần cuối hãy nuôi
dưỡng cha mẹ thay mình:
29. Cung kính lễ ngài, bậc Đại vương,
Ng ài đi như vậy đúng con đường,
Mù lòa, cha mẹ ta đơn độc,
Xin bảo vệ, nuôi dưỡng, đoái thương.
30. Kính lễ K à-si Chúa thượng ôi,
Hai tay ta chắp khẩn cầu ngài,
Nhân danh ta gửi về cha mẹ
Lời nhắn nhủ ta đ ã nói rồi.
Vua nhận lời ủy thác và bậc Đại Sĩ, sau khi
nói xong lời nhắn nhủ cuối c ùng, liền bất tỉnh.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như
sau:
31. Sà-ma với vẻ mặt hiền lương,
Đ ã nói lời này với
Đại vương,
Rồi ngất lịm dần v ì thuốc độc,
Nằm m ê man tựa bỏ thân tàn.
*
Từ trước đến giờ ng ài cố gắng thốt ra
những lời lẽ trên như thể người bị hụt hơi, nhưng
đến đây tiếng nói đ ã
đứt qu ãng vì toàn thân, tim óc, sinh lực
của ngài đều lần lượt chịu tác động dữ dội của
thuốc độc, n ên miệng và mắt ngài khép lại, tay chân cứng
đờ, to àn thân
đẫm máu. Vua k êu lên:
- Người này đang nói với ta cho đến giờ phút
n ày, bỗng dưng tại sao lại hết thở vô ra rồi kìa? Các cơ quan
đ ã ngưng hoạt
động, thân thể đ ã cứng
đờ, chắc chắn S à-ma
đ ã chết rồi,
Và không thể nào ng ăn được sầu thương, vua
đấm v ào đầu than khóc thảm thiết.
*
Đến đây bậc Đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn đề này:
32. Đau đớn nhà vua đã khóc than:
- Trước kia chưa xảy đến tai nạn,
Ta không hề biết gi à rồi chết,
Trời hỡi, giờ ta biết rõ ràng!
33. Nay thấy mọi người phải chết thôi,
Chính Sà-ma cũng chết, than ôi!
Chàng vừa khuyên nhủ, lời tr ăn trối,
Khi hấp hối từ gi ã cõi đời.
34. Địa ngục đ ày, ta đọa hiển nhi ên,
Thánh nhân bị giết đó, nằm y ên,
Mọi người thôn xóm nào ta gặp,
Sẽ nói đồng thanh tội lỗi tr ên.
35. Sống ở rừng hoang vắng vẻ này,
Họ tên ta có kẻ nào hay?
Đây miền hiu quạnh không người ở,
Ai sẽ nhắc ta mối nhục n ày?
*
Lúc bấy giờ có một nữ thần tên gọi Bahusodarì ở tại núi Gandhamàdana
(Hương Sơn) đ ã là mẹ của Bồ-tát cách
đây bảy đời trước của ng ài, vẫn thường
tưởng nhớ đến ng ài với tình mẹ thương
con; nhưng ngày hôm đó v ì ham tưởng lạc
thú thiên giới nên bà không nhớ đến ng ài
như thường lệ. Các bằng hữu của bà lại bảo bà đ ã
đi dự hội họp tr ên thiên giới cho nên
đ ã im hơi lặng tiếng.
Bỗng nhiên bà nghĩ đến ng ài
đúng lúc ng ài
đang bất tỉnh. B à tự nhủ: "Việc gì
đ ã xảy ra cho con ta?" và bà nhìn thấy
vua Piliyakkha đ ã giết ngài bằng mũi tên
tẩm thuốc độc b ên bờ sông Migasammatà,
ngài đang nằm tr ên bờ cát, còn nhà vua
đang than khóc thảm thiết. "Nếu ta không đến đó
th ì con ta sẽ chết, vua sẽ đau đớn lắm,
c òn cha mẹ Sà-ma sẽ chết đói, chết khát.
Nhưng nếu ta đến, th ì vua sẽ mang bình nước lại cho cha mẹ của con
ta. Sau khi nghe họ nói, vua sẽ dẫn họ đến gặp
con, rồi ta v à họ sẽ cùng thành tâm thực hiện lời nguyền trang nghiêm
để đánh tan chất độc trong thân thể S àma
cho con ta sống lại. Cha mẹ của con ta lại được
sáng mắt ra v à sau đó khi đ ã nghe
Sàma thuyết giảng, vua sẽ làm bố thí lớn và
được tái sinh l ên cõi trời, vậy ta phải
đi liền". Thế rồi b à đến bờ sông
Migasammat à, và tàng hình đứng tr ên
không, thuyết Pháp cho vua nghe.
*
Đến đây bậc Đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn đề này:
36. Thần nữ ẩn mình giữa cõi không,
Ở trên thượng đỉnh của Hương Sơn,
Rót v ài câu kệ vào tai nọ,
Vì bởi xót thương vị chúa công:
37.- Ngài đ ã tạo ra một ác hành,
Tội kia đ è nặng ở trên mình,
Mẹ, cha, con thảy đều vô tội,
Mũi t ên ngài giết cả gia đ ình.
38. Đến đây ta bảo với ng ài nào:
Tìm chỗ trú an nương tựa vào,
Cấp dưỡng người mù rừng vắng nọ,
Tâm ngài sẽ hạnh phúc dường bao!
Nghe nữ thần dạy bảo, vua tin lời bà ngay rằng nếu
đi phụng dưỡng hai kẻ m ù lòa
đó, vua sẽ được l ên thiên giới. Vì thế
vua quyết định: "Ta c òn cần gì ngai vàng
nữa, ta sẽ bỏ đi v à hết lòng phụng dưỡng
họ". Sau một hồi tuôn trào lời than khóc, vua cố nén nỗi sầu bi vì cho rằng
Sàma đ ã chết thật rồi, vua làm lễ cung
kính thi thể ngài với đủ loại hoa thơm, vẩy
nước l ên thi thể ngài, đi diễu quanh ba
v òng, thân phía bên hữu hướng về thi thể và lễ bái khắp bốn phương.
Rồi vua cầm bình nước đ ã
được giao v à
đi về hướng nam, l òng nặng trĩu u sầu.
Đến đây, bậc Đạo Sư giải thích thêm qua vần kệ:
39. Sau một hồi tuôn lệ khóc than,
Thương chàng xấu số nửa chừng xuân,
Vua liền tiến lại cầm bình nước,
Và hướng mặt đi đến phía nam .
*
Nhà vua vốn là người mạnh khỏe, nên cầm bình nước cương quyết b ăng
rừng đến am ẩn sĩ v à cuối cùng cũng đến
trước cửa am hiền giả. Hiền giả đang ngồi trong am, nghe tiếng chân người
đến gần, phân vân không biết l à ai, liền thốt lên lời kệ:
40. Ta đang nghe các bước chân n ày,
Một kẻ nào đi đến lối đây,
Không phải tiếng chân S àma bước,
Xin nói, thưa ngài, cho lão hay.
Vua nghe nói liền suy nghĩ: "Nếu ta bảo thật cho ông lão biết ta
đ ã giết con ông và không nói rõ ta là
vua thì họ sẽ phẫn nộ và mắng chửi ta, và lòng sân hận của ta sẽ nổi lên
khiến ta xúc phạm đến họ, lại c àng gây
thêm tội ác; nhưng thường tình ai gặp vua mà lại không kinh sợ, vậy ta phải
nói cho họ biết". Vì thế vua đặt b ình
vào đúng chỗ, rồi đứng trước cửa am nói to:
41. Kà-si Chúa tể chính là ta,
Tên được gọi l à Pi-yak-kha,
Từ giã ngôi vì thèm món thịt,
S ăn nai, phi êu bạt chốn rừng già.
42. Có tài thiện xạ chính ta đây,
Cương quyết l òng ta chẳng chuyển lay,
Chẳng rắn thần nào hòng thoát khỏi,
Một khi đ ã
đến trong tầm tay!
Lão hiền nhân chào mừng vua với tình thân hữu, và
đáp lời:
43. Kính mừng vạn tuế Đấng Quân vương!
Hạnh ngộ ng ài đi lạc bước đường,
Chúa thượng vinh quang v à vĩ đại,
Sứ mạng g ì xin được tỏ tường?
44. Tin-dook, pi-yal, các lá cây,
Kà-su-mà trái ngọt ngào thay,
Dù còn chỉ ít oi đôi chút,
Chọn thứ thiệt ngon có sẵn đây.
45. Nước mát n ày từ dưới động sâu,
Ẩn m ình trên một ngọn đồi cao,
Kính mời Chúa thượng, xin ng ài ngự,
Cầm lấy, uống vào thỏa ước ao.
Vua nghe lời tung hô nọ liền nghĩ: "Nếu ta nói ngay với ông lão rằng ta
vừa giết chết con lão thì thật là thất sách. Vậy ta phải khởi
đầu câu chuyện như ta chẳng biết g ì cả,
rồi sẽ nói sau". Vì thế vua hỏi:
46. Sao ngươi mù lẩn quẩn rừng hoang,
Các trái này đây ai đ ã mang?
Người ấy phải là người sáng mắt,
Hái nhiều loại tích trữ kho hàng .
Lão hiền nhân ngâm hai vần kệ sau cho biết hai vợ chồng lão không
đi hái trái m à con trai
đ ã mang về:
47. Sà-ma, con trẻ tuổi hoa niên,
Tầm thước, đẹp sao mắt ngắm xem,
Tóc d ài, đen nhánh quanh đầu nọ,
Cứ cuộn tr òn trông thật tự nhiên.
48. Đem trái cây rồi lại bước ra,
Vội đi đổ nước đầy b ình ta,
Sẽ quay trở lại tức thì đó,
Đường đến bờ sôn g cũng chẳng xa.
Vua đáp lời:
49. Sà-ma hiếu tử của hai người,
Người tả đẹp sao, tốt tuyệt vời,
Ta đ ã giết chàng nằm ở đó,
Tóc đen kia nhuộm máu hồng rồi!
Chòi lá của Parikà gần đó, trong lúc b à
ngồi nghe giọng nói của vua, bà lo ngại không biết việc gì
đ ã xảy ra và khi
đi đến gần men theo sợi dây thừng, b à
kêu lên:
50. Cho biết là ai, Du-kù-la,
Nói rằng con bị giết, Sà-ma,
"Sà-ma đ ã chết",
đây tin dữ,
Như xẻ l àm đôi tim của ta!
51. Như thể chồi cây sung trẻ non,
Bị cơn gió mạnh xé l ìa tan,
"Sà-ma đ ã chết", nghe tin ấy,
Đau khổ l àm ta nát ruột gan.
Lão nhân khuyên nhủ bà:
52. Đây l à Chúa tể nước Kà-si,
Cung ác của ngài đ ã giết
đi,
Con của chúng ta b ên bến nước,
Song ta đ ừng có rủa nguyền gì.
Parikà đáp lại:
53. Chỗ dựa, con yêu, độc nhất đời,
Trông mong, chờ đợi m ãi không thôi,
Sao tâm chứa đủ niềm căm hận,
Với kẻ ra tay giết hại người?
Lão nhân nói lớn:
54. Chỗ dựa, con yêu độc nhất đời,
Trông mong, chờ đợi m ãi không thôi,
Nhưng hiền nhân cấm ta c ăm hận,
Với kẻ ra tay giết hại người!
Rồi cả hai ông bà đều lớn tiếng khóc than
đấm ngực tán thán công đức của Bồ-tát. Lúc đó vua cố hết sức an ủi hai vị:
55. Thôi đừng khóc nữa, ta van người,
Vì trẻ Sà-ma bạc phận rồi,
Ta sẽ phụng thờ hai vị mãi,
Đừng buồn như thể quá đơn côi.
56. Ta đây th ành thạo với cây cung,
Lời hứa ta cương quyết thủy chung,
Ta sẽ hầu bên hai vị mãi.
Và nuôi hai vị ở trong rừng.
57. Ta sẽ đi t ìm miếng thịt nai,
Đủ d ùng củ, rễ, trái cây tươi,
Rồi ta hầu hạ bên hai vị,
Ta chính gia nô của các người,
Hai ông bà lão liền phản đối vua:
58. Chuyện n ày chẳng phải đạo, Quân#
vương,
Chẳng thích hợp đâu, trái lẽ thường,
Ng ài chính là Quân vương hợp pháp,
Chúng thần xin đảnh lễ đôi chân.
Khi nghe vậy vua rất hoan hỷ nghĩ thầm: "Thật kỳ diệu thay! Họ
đ ã không mở lời hung h ăng
trách mắng ta l à kẻ gây tội lỗi, lại còn tiếp
đón ta thật ân cần". Rồi vua ngâm kệ:
58. Sơn nhân tuyên bố lẽ công bằng,
Tiếp đón như vầy thật chí thân,
Ng ài chính từ đây cha của trẫm,
V à bà là mẹ của thần dân.
Cả hai ông bà đều cung kính giơ tay l ên
trời thỉnh cầu vua.
- Chúng tôi không dám nhờ Đại vương phụng
dưỡng, chỉ mong Đại vương cầm đầu cây gậy dẫn chúng tôi đến chỗ S à-ma
nằm.
Rồi họ ngâm hai vần kệ:
59. Kà-si Chúa tể thật huy hoàng!
Ngài sẽ làm dân tộc phú cường,
Xin hãy đưa ta đi đến chỗ,
S à-ma yêu quý của ta nằm.
60. Tại đó, ta quỳ xuống dưới chân,
Chúng ta sờ mắt, mũi, to àn thân,
Chúng ta quyết đợi chờ thần chết,
Ki ên nhẫn bên con mãi đến c ùng.
Trong lúc họ đang nói chuyện th ì mặt
trời lặn. Vua nghĩ thầm: "Bây giờ nếu ta đưa họ
đến đó, họ sẽ tan nát c õi lòng trước cảnh
đau thương v à nếu ba mạng người chết vì
ta, thì chắc chắn ta sẽ đọa v ào
địa ngục. Thôi ta đừng dẫn họ đến đó nữa". Thế
rồi vua ngâm ba vần kệ n ày:
61. Một vùng đầy d ã thú s ăn
mồi.
Như tận c ùng biên giới cõi đời,
Chính chỗ S à-ma nằm hiện tại,
Như vầng tr ăng rụng xuống trần rồi.
62. Một vùng đầy d ã thú s ăn
mồi.
Như tận c ùng biên giới cõi đời,
Chính chỗ S à-ma nằm hiện tại,
Như vầng duong rụng xuống trần rồi.
62. Ở chốn tận cùng của thế gian,
Chàng nằm, bụi, máu, phủ lên chàng,
Vậy nên ở lại trong am thất,
Đừng mạo hiểm trong chốn núi ng àn.
Hai ông bà đáp lời chứng tỏ l òng gan
dạ của họ:
64. Mặc loài dã thú phá tan hoang,
Hàng vạn triệu con cứ ngập tràn,
Ta chẳng sợ đâu bầy d ã thú,
Chúng không thể hại đến thân t àn.
Như thế vua không thể ng ăn cản họ được, đ ành
phải cầm tay dắt họ đến đó.
Khi đến nơi, vua bảo:
- Con trai của hai vị nằm đây rồi.
Ông lão liền ấp đầu v ào lòng con và
bà mẹ gục đầu xuống chân con khóc lóc thảm
thiết.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ n ày
để l àm sáng tỏ vấn
đề;
65. Lấm bụi và tan nát ruột gan,
Vừa nhìn cảnh tượng Sà-ma nằm,
Họ quỳ xuống giống như nhìn thấy,
Vầng nhật nguyệt rơi rụng xuống trần;
Cha mẹ giơ cao đôi tay họ,
Khóc than thật thống thiết muôn phần.
66. -Phải chăng con ngủ hỡi S à-ma,
Con giận hờn, quên cả mẹ cha?
Hãy nói việc gì làm mệt trí,
Khiến con nằm chẳng trả lời ta?
67. Ai sẽ, bây giờ, kết tóc ta,
Rồi ai sẽ phủi bụi trong nhà,
Khi Sà-ma chẳng còn đây nữa ,
Ở lại chỉ hai kẻ mắt lòa?
68. Ai sẽ quét sàn cho chúng ta,
Ai đem nước nóng, lạnh bây giờ,
Ai t ìm củ, quả rừng về nữa,
Cô độc, gi à, mù cả mẹ cha?
Bà mẹ than khóc đấm ngực hồi lâu, rồi suy
xét kỹ nỗi sầu thương của m ình, bà tự nhủ: "Tất cả chuyện
đau thương n ày là do con ta bị hôn mê vì
chất độc quá mạnh, vậy ta phải th ành
khẩn thề nguyền để giải độc cho con". V ì
thế bà thực hiện một lời thề Chân lý qua các vần kệ sau:
70. Nếu quả thật là thuở trước đây,
S à-ma luôn sống chánh chân đầy,
Cầu mong thuốc độc trong d òng máu,
Mất hết hiệu n ăng, vô hại ngay.
71. Nếu thuở trước con nói thật chân,
Ng ày đ êm lo phụng dưỡng song
thân,
Cầu mong thuốc độc trong d òng máu,
Mất hết công n ăng, hạ xuống dần.
72. Công đức ng ày xưa đ ã tạo ra,
Chính ta và cả lão thân gia,
Cầu mong giải độc cho tan hết,
Con trẻ quý y êu được tỉnh ra.
Sau khi bà trang nghiêm thề nguyền như vậy, Sàma bỗng nghiêng mình và khi
ông cha cũng thành khẩn thề nguyền như vậy thì Sàma xoay người sang phía bên
kia. Sau đó nữ thần cũng lập lại lời thề nguyền
trang nghi êm như vậy.
Bậc Đạo Sư giải thích th êm qua các
vần kệ:
73. Thần nữ ẩn mình giữa cõi không,
Ở trên thượng đỉnh của Hương Sơn,
Thực h ành lời nguyện cầu chân lý,
Vì với Sà-ma, dạ xót thương.
74. -Ở đây tr ên thượng
đỉnh Hương Sơn
Ta đ ã chọn đời sống độc đơn,
Trong chốn rừng sâu thăm thẳm ấy
Mọi lo ài hoa tỏa ngát hương thơm.
75. Không có một ai giữa thế nhân,
Còn thân thiết đối với ta hơn,
V ì đây quả thật l à chân chánh,
Mong chất độc trong máu thoát dần.
76. Trong khi thương xót họ thay phi ên,
Chứng thực trang nghiêm, họ phát nguyền,
Kìa thấy Sà-ma vùng đứng dậy,
Xinh tươi, cường tráng, thật hồn nhi ên.
Thế là bậc Đại Sĩ đ ã phục hồi khỏi
vết trọng thương, cha mẹ ngài lại phục hồi thị giác, bình minh cũng vừa xuất
hiện. Các phép lạ ấy xảy ra cùng một lúc tại chốn am tranh nhờ thần lực của
tiên nữ. Đôi cha mẹ vui mừng không sao kể xiết
khi thấy m ình sáng mắt ra và con trai họ
đ ã phục sinh . Lúc ấy Sà-ma ngâm kệ này:
77. Con chính Sà-ma được vạn an,
Nh ìn con trước mặt, hãy hân hoan,
Hãy lau khô hết đôi d òng lệ,
Và đón ch ào con, hạnh phúc tràn.
78. Vạn tuế, cầu mong bậc Đại vương,
Phước phần phục vụ lệnh ng ài luôn,
Ngài là chúa tể thần dân đó,
Ước nguyện g ì xin hãy tỏ tường.
79. Tin-duk, pi-yal, ma-dhuk tươi,
Trái cây quý hiếm nhất, xin mời,
Dâng lên thượng khách, ngon như mật.
Ngài ngự dùng cho thỏa ý ngài
80. Nước mắt đây từ dưới động sâu
Ẩn m ình trên một ngọn đồi cao,
Suối trong l àm dịu ngay cơn khát,
Ngài ngự dùng cho thỏa khát khao.
Vua nhìn cảnh tượng kỳ dịu này liền nói to:
81. Ta lạ lùng kinh ngạc biết bao,
Ta không thể nói hướng phương nào,
Một giờ trước thấy chàng nằm chết,
Nay sống dậy đây thật nhiệm mầu!
Sà-ma nghĩ thầm: "Vua tưởng ta đ ã
chết, vậy ta phải giải thích rõ là ta vẫn còn sống" và ngài nói:
82. Một người đầy đủ các công năng,
Tình cảm, tâm tư chẳng thoát thân,
Vì bất tỉnh là ngưng hoạt động,
Người ngo ài tưởng kẻ ấy từ trần.
Rồi muốn cho hiểu rõ ý nghĩa thật sự của chuyện này, ngài ngâm kệ thuyết
pháp:
83. Các thế nhân theo Pháp chánh chân,
Ch ăm nuôi cha mẹ lúc gian truân,
Chư thiên nhìn thấy lòng con hiếu,
Và đến chữa l ành các bệnh luôn.
84. Các thế nhân theo Pháp chánh chân,
Ch ăm nuôi cha mẹ lúc gian truân,
Chư thi ên thế giới này ca tụng,
Đời kế c õi thiên hưởng phước phần.
Vua nghe vậy nghĩ thầm: "Thật kỳ diệu thay, ngay cả các thiên thần cũng
xuống trần chữa lành bệnh cho người phụng thờ cha mẹ, khi kẻ này bị bệnh
hoạn, chàng Sà-ma này thật vinh quang vượt bậc".
Rồi vua ngâm kệ:
85. Ta lạ lùng kinh ngạc biết bao,
Ta không thể thấy hướng phương nào,
Sà-ma, ta đến nhờ ch àng giúp,
Chàng chính là nơi ta trú vào.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ nói:
- Tâu Đại vương, nếu Đại vương muốn l ên
thiên giới và hưởng an lạc ở đó, th ì
Đại vương phải thực h ành Mười phận sự
như sau:
Rồi ngài ngâm kệ về vấn đề n ày:
86. Trước tiên là đối với song thân,
Ngài phải làm tròn phận sự luôn,
Phận sự hoàn thành trên cõi đất,
Sẽ đưa ng ài đến c õi Thiên nhân.
87. Đối với vương phi, với các con,
Phải l àm tròn phận sự, Quân vương,
Phận sự hoàn thành trên cõi đất,
Sẽ đưa ng ài đến c õi Thiên nhân.
88. Với thân bằng và các triều thần,
Binh sĩ trong tất cả đạo quân,
Với các thôn l àng và thị trấn,
Giang sơn ngài với mọi tùy tùng.
89. Với người thanh tịnh, Bà-la-môn,
Ẩn sĩ, thú, chim, hỡi Chúa công,
Phận sự hoàn thành trên cõi đất,
Sẽ đưa ng ài đến c õi thiên thần.
90. Phận sự tròn đem lại phước ân,
Phạm thi ên, Đế Thích, các thi ên
thần,
Nhờ làm phận sự đầy an lạc,
Vậy phải ho àn thành phận thế nhân.
Sau khi thuyết giảng Thập vương pháp cho vua xong, bậc
Đại sĩ c òn thuyết giảng thêm nhiều pháp
nữa và dạy vua giữ N ăm giới. Vua cuối đầu tín
thọ lời thuyết giảng v à sau khi cung kính từ tạ ra về, liền trở lại
Ba-la-nại thực hành đại bố thí c ùng
nhiều công đức khác, rồi đi theo nghiệp của m ình
cùng với triều thần gia nhập hội chúng thiên giới. Còn Bồ-tát cùng với cha
mẹ ngài đều đạt các Thắng trí v à nhiều
cấp độ Thiền chứng khác nhau, rồi đi l ên
cõi Phạm thiên.
*
Sau khi thuyết giảng xong, bậc Đạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, người hiền phụng dưỡng cha mẹ là một phong tục tối cổ.
Rồi ngài tuyên thuyết các Sự Thật (sau đó vị
Tỷ-kheo đắc quả Dự-Lưu) v à nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, vua là Ànanda (A-nan), nữ thần là Uppalavannà (Liên Hoa
Sắc), Thiên chủ Sakka là Anuruddha (A-na-luật- đ à),
người cha là Kassapa (Ca-diếp), người mẹ là Bhaddakàpilàni và Sàma chính là
Ta.