Chuyện Tiền Thân · Jātaka

490. Chuyện n ăm vị h ành

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 57

Chuyện n ăm vị h ành#

Jātaka group 57

Chương XIV (tt)

490. Chuyện n ăm vị h ành

trì trai giới (Tiền thân Pancùposatha)

Ta chắc giờ chim thiểu dục rồi...,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về n ăm

trăm cư sĩ giữ hạnh Bồ-tát giới.

Thời đó người ta nói l à bậc Ðạo Sư

ngồi trên bảo tọa dành cho đức Phật trong Chánh

pháp đường, giữa tứ chúng, nh ìn quanh hội chúng với từ tâm, Ngài thấy

rằng hôm nay bài thuyết giảng sẽ quay về đề t ài

chuyện các nam cư sĩ. Sau đó Ng ài hỏi

hội chúng:

- Các nam cư sĩ có giữ hạnh trai giới (Bồ-tát) ch ăng?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Họ đáp.

- Lành thay, việc hành trì ngày trai giới là tập tục của các trí nhân tự

thuở xưa: Ta bảo là các bậc trí tự ngàn xưa đ ã

hành trì trai giới để nhiếp phục các tham dục.

Rồi theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, có một khu rừng lớn ng ăn chia

vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đ à) với hai vương quốc giáp giới nó.

Bồ-tát sinh ra ở Ma-kiệt- đ à trong một

gia đ ình Bà-la-môn sang trọng. Khi ngài

lớn lên, ngài từ bỏ các tham dục và đi v ào

rừng kia dựng lên một ẩn am và sống tại đó. Bấy

giờ không xa nơi am thất ấy có một con Bồ câu rừng sống c ùng chim

mái, trong một tổ kiến kia có con Rắn, trong bụi rậm nọ có con Chó rừng làm

hang ổ và trong một bụi rậm khác lại có con Gấu. Cả bốn con vật này thường

đến viếng vị hiền nhân v à nghe ngài

thuyết Pháp.

Một ngày kia, Bồ câu cùng vợ rời tổ đi kiếm

thức ăn. Chim mái bay sau, v à khi nó

đang bay, một con chim ưng th ình lình chụp bắt lấy nó và tha

đi. Nghe tiếng k êu thét của chim mái,

chim trống quay lại nhìn và thấy chim ưng đang

tha vợ nó đi! Chim ưng giết chết chim mái ngay khi nó đang k êu cứu và

xé xác ăn ngay. Bấy giờ l òng chim trống

nóng như lửa đốt v ì thương tiếc chim mái

phải bị chia lìa đột ngột với nó như vậy. Rồi

chim suy nghĩ: "Ái dục n ày xâu xé lòng ta

đau đớn quá sức chịu đựng; ta không c òn

muốn đi t ìm mồi cho

đến khi n ào ta thấy

được cách nhiếp phục nỗi đau". Thế l à

chim bỏ ngang việc kiếm ăn, bay đến tận nh à

tu khổ hạnh kia, quyết tâm giữ hạnh nguyện nhiếp phục tham ái và nằm xuống

một bên.

Con rắn cũng nghĩ rằng nó muốn kiếm ăn, n ên

bò ra khỏi lỗ và kiếm được chút g ì

đó tr ên lối nó bò

đi gần một l àng ở biên

địa. Vừa lúc ấy, một con b ò

đực của người lý trưởng, một con vật tuyệt đẹp

to àn màu trắng, sau khi gặm cỏ xong, quỳ mọp xuống gần một tổ kiến,

lấy sừng hất tung đất l ên

để đ ùa chơi. Con Rắn kinh hoảng khi nghe

tiếng móng bò sột soạt, phóng đến ẩn m ình

trong một tổ kiến. Con bò tình cờ giẫm lên Rắn, làm con Rắn tức giận cắn con

bò và con bò chết tại chỗ. Khi dân làng khám phá ra con bò

đ ã chết, họ

đều vừa chạy vừa khóc than, đem cúng v òng hoa cho bò rất trọng thể

rồi mới chôn nó xuống mồ và trở về nhà. Khi dân chúng

đ ã đi hết,

con Rắn b ò ra và suy nghĩ: "Vì giận dữ, ta

đ ã đoạt

mạng sống của con vật n ày và đ ã

gây bao đau buồn cho nhiều người. Ta chẳng c òn

muốn đi kiếm mồi bao giờ nữa, cho đến khi ta

học được cách nhiếp phục sân hận". V ì thế nó quay

đi về thảo am sĩ kia, v à quyết giữ hạnh

nguyện nhiếp phục sân hận, nó nằm xuống một bên.

Con Chó rừng cũng đi kiếm mồi v à thấy

một con voi đ ã chết. Nó vui mừng quá:

- Thức ăn nhiều lắm đây rồi!

Nó kêu lên và đi cắn một miếng v ào

thân voi, chẳng khác nào cắn vào một thân cây. Nó thấy chẳng thích thú gì cả

nên cắn vào chiếc vòi cứ như thể là cắn vào hòn

đá.

Nó thử cắn cái bụng - cũng như là cái thúng vậy, nên nó nhào vào

đuôi voi - giống như cái bát sắt. Rồi nó chồm l ên

đít voi v à ô kìa! Chiếc mông mềm như

chiếc bánh sữa! Nó thích thú quá nên cứ ăn sâu

v ào trong. Rồi ở đó ăn m ãi khi

đói, c òn khi khát thì uống máu voi. Khi

nằm xuống nó trải phần trong ruột và ngực voi ra như cái giường

để ng ã lưng, nó suy nghĩ: "Ở

đấy ta đ ã tìm

được thức ăn uống v à giường nằm rồi, vậy

còn đi đâu l àm gì nữa".

Thế là nó ở lỳ đó, l òng rất thỏa mãn,

trong cái bụng voi và chẳng hề chui ra ngoài lần nào cả. Dần dần xác voi khô

cứng dưới sức nắng gió, cái chỗ hở phía sau mông voi khép kín lại. Con chó

rừng quằn quại bên trong mất dần máu thịt, thân thể võ vàng, song không tìm

được cách thoát ra ngo ài.

Rồi một ngày kia, có cơn bão rớt thình lình, cái lỗ hở ấy thấm nước và

mềm ra bắt đầu hé miệng. Khi thấy khe hở, Chó

rừng k êu lên:

- Lâu nay ta đ ã bị hành hạ quá nhiều,

giờ đây ta phải thoát ra bằng lỗ n ày.

Rối nó đi ra lỗ đó bằng cái đầu trước ti ên.

Bấy giờ cái lỗ còn hẹp mà nó ra mau quá nên thân thể bầm dập và lông lá rụng

xuống đất. Khi ra ngo ài

được rồi, nó trần trụi như khúc thân dừa, không

c òn một sợi lông nào nữa! Nó suy nghĩ: "À, vì tham

ăn m à ta ta chịu nông nỗi cực khổ này.

Ta chẳng bao giờ muốn đi ra kiếm mồi nữa cho

đến khi ta học được cách chế ngự dục tham trong ta".

Sau đo, nó đi đến ẩn am kia, quyết giữ hạnh

nguyện chế ngự dục tham v à nằm xuống một bên.

Phần con Gấu ra khỏi rừng và vì lòng tham ăn

thúc đẩy nó đi về phía l àng biên địa của

quốc độ Malla.

- Con Gấu đây n ày!

Toàn dân làng la to lên, họ bước ra trang bị

đầy cung , gậy, giáo v à nhiều thứ khác nữa, vây quanh bụi cây mà Gấu

đang nằm. Nó thấy m ình bị cả

đám người vây quanh th ì vụt chạy trốn

đi. Vừa chạy vừa bị đám người ấy đánh cho một

trận nhừ tử bằng cung gậy, về đến hang, nó bị dập đầu v à chảy máu. Nó

nghĩ thầm: ' À, chính vì lòng tham ăn thái quá

đ ã gây cho ta mọi tai họa này. Thôi ta chẳng bao giờ muốn

đi kiếm mồi cho đến khi học được cách nhiếp

phục l òng tham ấy". Vì thế nó đi đến

thảo am, quyết giữ hạnh nguyện nhiếp phục tính tham lam, v à nằm xuống

một bên.

Còn vị tu khổ hạnh này không thể phát khởi Thiền

định được v ì ngài vốn vẫn tràn

đầy ki êu mạn về dòng dõi quý tộc của

ngài. Một vị Ðộc Giác Phật, nhận thấy ngài đang

bị ng ã mạn chi phối, tuy vậy, vị này biết rõ ngài không phải là người

tầm thường. Vị ấy suy nghĩ: "Người này sẽ thành bậc Chánh Giác, và ngay

trong hiện kiếp này người ấy sẽ đạt Tối thắng

trí. Ta muốn giúp người ấy nhiếp phục ng ã mạn và khiến người ấy tụ

tập các Thiền chứng".

Vì vậy trong khi ngài đang ngồi trong thảo

am, vị Ðộc Giác Phật kia từ vùng thượng Tuyết Sơn

đi xuống v à an tọa trên một phiến

đá của nh à tu khổ hạnh. Vị này bước ra

thấy vị Phật ngồi trên sàn tọa của mình thì do lòng

đầy ki êu mạn, ngài không tự chủ

được nữa ng ài bước lên búng ngón tay vào

mặt vị kia và kêu to:

- Ðồ vô tích sự xấu xa kia, thật đáng nguyền

rủa, quân giả dối trọc đầu, tại sao ngươi dám ngồi tr ên tọa sàng của

ta?

Vị kia đáp:

- Bạch Thánh giả, tại sao ngài đầy l òng

kiêu mạn thế kia? Ta đ ã

đạt trí tuệ của một Ðộc Giác Phật, nên

ta bảo cho ngài biết rằng ngay trong chính hiện kiếp này, ngài sẽ

được ho àn toàn giác ngộ. Ngài

đ ã đủ cơ

duy ên thành Phật! Khi ngài đ ã

thành tựu Thập hạnh Ba-la-mật và sau một thời gian dài bằng thời kỳ

đó trôi qua, ng ài sẽ thành bậc Chánh

giác, danh hiệu là Siddhatha.

Sau đó vị ấy mới cho ng ài biết về

danh tánh, dòng họ, gia tộc, các đệ tử, vân

vân...v à thêm:

- Vậy thì bây giờ tại sao ngài quá kiêu mạn và sân hận như vậy? Việc ấy

không xứng đáng với ng ài.

Ðó là lời khuyên của vị Ðộc Giác Phật. Nghe những lời này, nhà khổ hạnh

chẳng nói gì nữa, cũng chẳng đảnh lễ vị kia,

chẳng hỏi xem nơi đâu, bao giờ, v à bằng cách nào mình sẽ thành Phật.

Sau đó vị khách lại bảo:

- Ngài hãy học cách đánh giá d òng dõi

của ngài và thần lực của ta qua việc này, nếu làm

được th ì hãy bay lên không như ta

đây.

Nói vậy xong, vị này bay lên không hất tung bụi bám trên

đôi chân m ình vào cuốn tóc trên

đầu nh à khổ hạnh, rồi lại trở về vùng

thượng Tuyết Sơn.

Khi vị ấy đi rồi, l òng nhà khổ hạnh

tràn ngập đau buồn. Ng ài bảo:

- Ðó là một bậc Thánh, với tấm thân nặng như thế kia mà có thể bay qua

không gian như một hạt bông bị gió cuốn! Một vị Ðộc giác Phật như vậy, mà ta

chẳng hề hôn chân Ngài, vì ta đây ki êu

mạn về dòng dõi của ta, nên cũng không hỏi Ngài xem bao giờ ta sẽ thành

Phật. Cái dòng dõi này có làm gì được cho ta đ ã

chứ? Trong thế giới này, cuộc sống thuần thiện chính là một cách thể hiện uy

lực, còn lòng kiêu mạn của ta chỉ đưa ta đến

địa ngục thôi. Vậy ta sẽ chẳng bao giờ đi kiếm trái rừng nữa, cho đến khi n ào

ta học được cách nhiếp phục l òng kiêu

mạn của ta".

Sau đó ng ài vào thảo am và quyết giữ

hạnh nguyện nhiếp phục lòng kiêu mạn. Khi tĩnh tọa trên tấm

đệm rơm. bậc trí giả quý tộc kia nhiếp phục

được l òng kiêu mạn rồi làm phát khởi tâm Thiền

định, tụ tập các Thắng trí v à các Thiền

chứng xong, liền bước ra ngồi trên phiến đá

cuối mái hi ên.

Lúc bấy giờ, chim Bồ câu và các con vật kia

đứng l ên đảnh lễ Ng ài rồi ngồi

xuống một bên, bậc Ðạo Sư bảo Bồ câu:

- Các ngày kia chim chẳng hề đến đây v ào

giờ này, mà chim đi kiếm mồi. Vậy hôm nay chim

giữ Trai giới đó chăng?

- Thưa Tôn giả, chính vậy.

Ngài hỏi:

- Tại sao thế?

Và ngài ngâm vần kệ đầu:

1. Ta chắc giờ chim thiểu dục rồi,

Nay Bồ câu chẳng muốn tìm mồi,

Tại sao đ ành chịu nằm thèm khát,

Sao nguyện theo Trai giới hỡi ngài?

Bồ câu đáp lời qua hai vần kệ:

2. Xin đầy tham đắm, cặp uy ên ương

Ðùa giỡn quanh đây tựa phượng loan,

Ưng ác chụp nàng, bay biến mất,

Chia lìa duyên kiếp đ ã tan hoang!

3. Con biết niềm mất mát phủ phàng,

Bạo tàn, khốc liệt biết bao đường,

Con nhìn mọi vật, lòng đau đớn;

Vì thế con tìm đến náu nương

Nhờ giới hạnh, thề nguyền ái dục

Chẳng bao giờ trở lại lòng con.

Khi Bồ câu đ ã tán thán hành

động của m ình liên quan

đến hạnh nguyện ấy, bậc Ðạo Sư lại hỏi

câu đó với con Rắn v à lần lượt các con

vật kia. Mỗi con trong bọn chúng đều n êu

lên sự việc như đ ã xảy ra:

Bồ-tát:

4. Vật ở cây, bò sát cuộn mình,

Ðầy r ăng nhọn hoắc, nọc truyền nhanh,

Rắn sao muốn giữ truyền Trai giới,

Sao đói khát cam chịu cố t ình?

Con Rắn:

5. Con bò thôn trưởng thật oai hùng,

Dáng đẹp, lưng g ù cứ chuyển rung,

Bò gầm lên, con hờn cắn nó,

Ðau đớn, b ò chết ngã l ă n

đ ùng!

6. Dân làng mọi kẻ đổ ra đường,

Than khóc vì trông thấy tận tường,

Vì vậy con nương nhờ giới hạnh,

Thề sân hận chẳng trở về con.

Bồ-tát:

7. Xác chết, thức ăn quý sẵn đầy,

Nằm trong nghĩa địa r ã tan thây,

Chó rừng, sao chịu đ ành thèm khát,

Sao lại thề tuân giới hạnh này?

Chó rừng:

8. Tìm được voi v à thích thịt ngon,

Con vào bụng nó ở lỳ luôn

Song nhiều gió mạnh, trời gay gắt

Làm héo khô khe hở chó chun!

9. Tôn giả, con vàng võ, ốm gầy,

Vì không lối thoát, phải nằm đây,

Rồi cơn bão nọ bùng vang dội

Làm ướt, mềm đi ng ã hậu này.

10. Ðể thoát ra, con chẳng chậm đâu

Như tr ăng thoát khỏi vuốt la-hầu,

Nên con chạy đến nhờ Trai giới,

Con nguyện tham tâm tránh chạy mau.

Bồ tát:

11. Ngài có thói xưa vẫn kiếm mồi

Nằm trên tổ kiến, Gấu Ông ơi,

Sao nay lại chịu nằm thèm khát,

Sao muốn thề nguyền Trai giới thôi?

Con Gấu:

12. Bỏ nhà vì quá đói trong l òng,

Con đến Mal-la, chạy vội v àng

Dân chúng trong làng đều đổ đến,

Dùng cung, gậy, chúng đánh hung t àn.

13. Mình con vấy máu, vỡ tan đầu,

Con chạy về nơi trú ẩn mau,

Vì vậy con nguyền theo giới hạnh,

Dục tham chẳng kéo đến ng ày sau.

Như vậy cả bốn con vật đều tán thán h ành

động của chúng trong việc quyết tâm giữ hạnh

Trai giới, xong vừa đứng l ên đảnh lễ bậc

Ðạo Sư, chúng vừa hỏi ngài câu này:

- Thưa Tôn giả, các ngày trước ngài ra đi

kiếm trái rừng v ào giờ này. Tại sao hôm nay ngài không

đi, m à lại hành trì Trai giới?

Chúng liền ngâm vần kệ này:

14. Ðiều ấy, ngài mong muốn giải bày,

Mọi điều con biết, đ ã thưa thầy,

Song nay đến lượt m ình, xin hỏi:

Tôn giả sao theo hạnh nguyện này?

Bồ tát:

15. Một vì Ðộc Giác Phật qua đây

Chốc lát trong am, đ ã giải bày

Mọi việc vãng lai, danh tiếng, hiệu,

Gia đ ình và

đạo lộ sau n ày.

16. Ta không quỳ, bởi quá kiêu c ăng

Ở trước chân Ngài, chẳng hỏi han,

Vì thế, ta nương vào giới hạnh,

Ðể kiêu c ăng ấy chẳng đeo gần.

Bằng cách ấy, bậc Ðạo Sư giải thích việc hành trì hạnh nguyện của mình.

Sau đó ng ài thuyết giáo cho chúng, bảo

chúng ra đi v à ngài bước vào thảo am.

Các con vật kia trở về chốn ở của mình. Bậc Ðạo Sư không hề gián

đoạn tâm Thiền định n ên

được sinh v ào cõi Phạm thiên. Còn các

con vật ấy tuân hành lời thuyết giáo của ngài nên

đ ã lên cộng trú

đông đảo với Thi ên chúng.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:

- Như vậy, này các cư sĩ, giữ hạnh nguyện Trai giới là một tập tục của

các bậc trí ngày xưa, và nay các ông phải biết hành trì.

Rồi ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Anuruddha (A-na-luật) là chim Bồ câu, Kassapa (Ca-diếp) là

con Gấu, Mục-kiền-liên là Chó rừng, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là con Rắn, và

Ta chính là nhà tu khổ hạnh kia.

-ooOoo-

491. Chuyện Ðại Khổng Tước (Tiền thân Mahà-Mora)

Bắt ta, bạn sẽ được ng àn vàng...,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo thối

thất.

Bậc Ðạo Sư bảo vị Tỷ-kheo này:

- Có đúng như Ta nghe nói l à ông

đ ã thối thất ch ăng?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, quả đúng vậy.

Ngài liền nói:

- Này Tỷ-kheo, chẳng lẽ lòng tham muốn dục lạc này lại không

đánh bại một người như ông sao? Trận cuồng

phong ho ành hành khắp núi Sineru (Tu-di) cũng chẳng nao núng trước

một ngọn lá khô đâu. Ng ày xưa tham dục

này đ ã đánh

bại các bậc thanh tịnh, l à những vị đ ã

lánh xa bảy ngàn n ăm khỏi mọi tham dục khởi l ên

trong tâm mình.

Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát

được sinh v ào bụng một con Công mái ở

một vùng biên địa. Khi thai kỳ đ ã mãn,

Công mẹ sinh trứng ở một nơi nó kiếm mồi và bỏ

đi xa. Lúc bấy giờ trứng chim công khỏe mạnh chẳng bị tai nạn g ì nếu

không có những mối hiểm nguy từ loài rắn hay các loài bọ tai hại tương tự

như thế.

Vì vậy cái trứng Công này có màu vàng óng như chồi cây Kanikara; khi nó

đ ã đủ thuần

thục th ì tự nó nứt ra, và một con Công xuất hiện có màu vàng óng ánh,

với con mắt như trái Gunja, chiếc mỏ màu san hô, và ba sọc

đỏ chạy quanh cổ xuống đến giữa lưng. Khi chim

lớn l ên, thân mình to bằng chiếc xe đẩy

của người bán h àng, trông thật đẹp mắt,

n ên cả đ àn Công màu

đen tụ tập lại chung quanh bầu chim Công n ày

làm chim đầu đ àn.

Một hôm chim Công đang uống nước trong hồ,

nh ìn thấy vẻ đẹp của m ình liền

suy nghĩ: "Ta đẹp nhất trong đám công. Nếu ta ở

chung với chúng giữa mọi nẻo đường đời, ta sẽ gặp nguy hiểm. Ta muốn đi xa

đến v ùng Tuyết Sơn, và ở đó một m ình

tại một nơi vừa ý". Thế là về đ êm, khi

cả đ àn công lui về nơi trú ẩn riêng biệt

kín đáo, Công ra đi m à không ai biết, về

phía khu vực Tuyết Sơn, sau khi b ăng qua ba

rặng núi, Công v ào ẩn thân tại rặng thứ tư. Ðây là khu rừng mà Công

khám phá ra một hồ thiên nhiên rộng bát ngát phủ

đầy hoa sen, không xa một cây đa cạnh một ngọn

đồi, Công chúa đậu tr ên cành cây này. Trong lòng ngọn

đồi n ày có một hang

động kỳ thú, v à vì muốn ở

đó n ên Công chúa

đậu tr ên một vùng

đất phẳng ngay trước miệng hang.

Lúc bấy giờ không ai có thể trèo đến chốn n ày

được d ù từ dưới lên hay trên xuống, cho

nên nó tránh khỏi mọi nỗi lo sợ về chim muông, mèo rừng, rắn rít hay loài

người. "Ðây là một nơi thích thú dành cho ta!" Công suy nghĩ. Hôm ấy Công ở

đó v à sáng hôm sau bước ra khỏi hang,

Công đậu tr ên

đỉnh đồi hướng về phía đông. Khi Công thấy mặt

trời l ên, Công tự vệ mình trong ngày sắp

đến bằng cách đọc câu ca:

- Ngài đ ã hiện ra,

đấng To àn tri.

Sau đó Công đi kiếm mồi. Buổi chiều, Công

lại trở về đậu tr ên đỉnh đồi hướng về

phía Tây., v à khi nhìn thấy mặt trời biến mất dạng, Công tự vệ mình

trước màn đ êm sắp buông xuống bằng cách

đọc câu ca:

- Ngài đ ã lặn kia,

đấng To àn tri.

Bằng cách ấy cuộc đời Công cứ trôi qua (Xem

lại Tiền thân số 159 tập II: Mora J àtaka).

Song một hôm có người thợ s ăn ở trong rừng

bất chợt thấy Công đang đậu tr ên đỉnh

đồi ấy v à trở về nhà. Khi lão sắp chết, lão bảo với con trai về

chuyện ấy:

- Này con, trong rặng núi thứ tư của dãy kia, trong rừng có một con Công

màu vàng ánh. Nếu nhà vua muốn có một con Công như vậy, thì con biết nơi

kiếm nó rồi đấy.

Một ngày kia chánh hậu của vua Ba-la-nại tên là Khema, (Thái Hòa) nằm

mộng về tảng sáng, và giấc mộng diễn ra như thế này: "Một con Công màu vàng

óng đang thuyết Pháp v à bà ch ăm

chú nghe rất hoan hỷ. Khi Công đ ã thuyết Pháp xong liền bay lên ra

đi, b à vội kêu to: "Kìa chúa Công

đang chạy thoát, h ãy bắt Công lại ngay!"

Và trong khi bà thốt lên các lời này, bà liền thức dậy. Khi tỉnh lại, bà

biết đó chỉ l à giấc mộng, và suy nghĩ:

"Nếu ta trình đức vua đó l à cơn mộng,

thì ngài sẽ chẳng quan tâm đến, song nếu ta bảo

đó l à niềm mong ước của một thai phụ thì ngài sẽ lưu ý ngay".

Thế là bà liền giả bộ làm như thể bà đang

khao khát một thứ g ì đó theo cách thông

thường của một thai phụ, v à nằm xuống. Nhà vua

đến viếng b à và hỏi bà

đau bệnh g ì. Bà

đáp:

- Thần thiếp đang có một niềm khát vọng.

- Ái khanh ao ước điều g ì thế?

- Tâu Chúa thượng, thần thiếp ước ao nghe lời thuyết Pháp của một con

chim Công màu vàng ánh.

- Song, này ái khanh, ta tìm đâu ra được một

con chim như vậy?

- Như vậy thì, tâu chúa thượng, thần thiếp sẽ chết mất.

- Này ái khanh, đừng lo buồn chuyện ấy, nếu

nơi n ào có con chim như vậy thì nó sẽ

được bắt về cho ái khanh.

Nhà vua an ủi bà như vậy rồi đi ra ngo ài

ngồi xuống hỏi các triều thần:

- Này các khanh, chánh hậu ao ước nghe bài thuyết giảng của một con chim

Công vàng ánh. Vậy có loại Công vàng ánh ấy ch ăng?

- Tâu Chúa thượng, các Bà-la-môn biết chuyện

đó.

Nhà vua hỏi các Bà-la-môn. Họ đáp như vậy:

- Tâu Ðại vương, theo những vần kệ nói về

điềm l ành của chúng thần, thì trong loài thủy tộc có cá rùa, cua,

trong các loài thú rừng thì có hươu, nai, thiên nga, công, trĩ...các loài

đó c ùng loài người,

đều có thể sinh ra với sắc v àng ánh.

Sau đó nh à vua triệu tập tất cả thợ s ăn

trong quốc độ lại v à hỏi họ có bao giờ từng thấy con Công váng ánh

chưa. Bọn họ đều trả lời không, trừ người thanh

ni ên đ ã

được cha mách bảo cề chuyện ông ta đ ã

thấy. Gã đáp:

- Chính hạ thần chưa thấy, song thân phụ hạ thần

đ ã bảo cho thần biết một nơi có thể tìm

ra một chúa Công vàng ánh.

Nhà vua liền bảo:

- Này hiền hữu, đây l à chuyện sống

chết của trẫm và chánh hậu; vậy hãy cố bắt lấy Công ấy

đem về đây.

Nhà vua cho gã thật nhiều tiền bạc và bảo gã ra

đi.

Gã ấy đem tiền về cho vợ con rồi đi đến nơi

kia g ã thấy bậc Ðạo Sư, gã đặt bẫy bắt

ng ài. Mỗi ngày gã tự nhủ thầm là chắc chắn sẽ bắt

được chim Công; tuy nhi ên gã chết

đi m à chẳng bắt

được Công ấy. Rồi chánh hậu cũng từ trần m à

không thỏa tâm nguyện. Nhà vua nổi trận lôi đ ình

và ngài phán:

- Ái hậu của trẫm đ ã qua

đời v ì chim Công này.

Rồi nhà vua truyền lệnh chép câu chuyện ấy vào một phiến bằng vàng kể

rằng trong rặng thứ tư của khu vực Tuyết Sơn có con chim Công vàng sống ra

sao, hễ ai ăn được thịt nó sẽ trường xuân bất

tử. Nh à vua đặt phiến v àng ấy

trong kho báu và sau đó qua đời.

Kế vị vua ấy, một vua khác lên ngôi, đọc lời

lẽ câu chuyện ghi tr ên phiến vàng nên ước mong

được trường xuân bất tử, liền cho người thợ săn

đi bắt chim Công; song nh à vua ấy cũng chết trước khi mãn nguyện

giống như vua kia.

Cùng cách ấy, sáu vị vua kế tiếp qua đời v à

sáu người thiện xạ chết đi m à không

được kết quả g ì ở khu vực Tuyết Sơn cả.

Song người thợ s ăn thứ bảy, được nh à vua

thứ bảy phái đi, không thể n ào bắt

được chim suốt bảy năm liền mặc d ù mỗi

ngày gã đều mong đợi chuyện ấy, n ên bắt

đầu suy nghĩ không biết tại sao lại không thể

bắt được đôi chân chim sa v ào bẫy.

Vì thế gã ngắm nghía chim, thấy chim cầu nguyện

để được ph ù hộ mỗi buổi sáng tối

đều đặn, v à gã lý luận về trường hợp này

như sau: "Không có con chim Công nào khác ở vùng này, rõ ràng

đây đúng l à chim Công sống

đời thanh tịnh. Chính uy lực đời sống thanh

tịnh của chim ấy c ùng uy lực của thần chú hộ mệnh

đ ã khiến cho

đôi chân chim không bao giờ sa v ào bẫy

của ta được". Khi kết luận như vậy rồi, g ã

đi đến v ùng biên

địa bắt một con công mái, m à gã luyện

cho nó hót tiếng gáy mỗi khi gã búng tay, và xòe cánh múa mỗi khi gã vỗ tay.

Gã đem chim mái trở về, rồi đặt bẫy trước

khi Bồ-tát đọc thần chú hộ mệnh, g ã búng tay và làm cho công mái gáy.

Công trống nghe tiếng gáy ấy lập tức ác dục đ ã

ngủ yên suốt bảy ngàn n ăm, bỗng v ùng dậy

như con rắn hổ mang giương mào lên khi bị đánh.

Bị ác dục l àm cho mê muội, chim Công không thể nào

đọc thần chú hộ mệnh nữa, m à vội vàng

bay về phía chim mái, từ trên không chim hạ cánh xuống

đặt đặt đôi chân ngay v ào bẫy: chiếc bẫy

kia suốt bảy ngàn n ăm chẳng đủ uy lực bắt chim,

nay đ ã kẹp chặt lấy chân chim thần.

Khi người thợ s ăn thấy chim nằm t òn

teng ở cuối sợi dây, gã nghĩ thầm: "Sáu người thợ s ăn

trước đ ã không thể bắt được chim Công

chúa n ày và trong bảy n ăm liền ta cũng

không bắt được nó. Nhưng hôm nay, ngay khi chim đâm si t ình chim mái,

thì nó không đọc thần chú được, n ên sa

vào bẫy và bị bắt, nó đang nằm t òn teng

với cái đầu lộn ngược kia k ìa. Ôi sinh

vật mà ta đ ã làm hại kia thật là

đức hạnh! Nếu ta giao một linh vật như vậy cho

một người khác chỉ v ì bị mua chuộc tiền bạc thì thật là không xứng

đáng: Danh vọng của vua chúa có nghĩa g ì

đối với ta đ ã chứ? Ta muốn thả chim ấy

bay đi".

Nhưng rồi gã lại nghĩ: "Ðó là một thần điểu

kỳ dị phi thường, nếu ta đến gần nó, nó sẽ tưởng ta đến để giết nó, nó sẽ lo

sợ cho tính mạng của m ình mà vùng vẫy, thì có thể gãy chân hay cánh.

vậy ta không muốn đến gần nó, m à chỉ

đứng ẩn m ình và cắt

đứt cái th òng lọng bằng một mũi tên bắn

ra. Sau đó chim muốn đi đâu t ùy ý". Thế

là gã đứng ẩn m ình, giương cung lên, lắp

một mũi tên vào dây và kéo ra sau.

Bấy giờ chim Công trống suy nghĩ: "Người thợ s ăn

n ày đ ã làm ta mê mệt vì ái dục,

và khi thấy ta bị sa bẫy rồi lại không còn quan tâm

đến ta nữa. G ã ấy ở

đâu k ìa?" Chim Công cứ nhìn hướng này

hướng nọ, và thấy người kia đứng với cây cung

sẵn s àng bắn. "Chắc chắn gã muốn giết ta rồi ra

đi". Chúa Công suy nghĩ v à sợ chết nên

ngâm vần kệ đầu xin tha mạng:

1. Bắt ta, bạn sẽ được ng àn vàng,

Bắt sống, xin đừng bắn bị thương,

Van bạn đem ta về chúa thượng,

Chắc ngài sẽ thưởng thật giàu sang.

Nghe vậy, người thợ s ăn suy nghĩ: " Ðại

khổng tước này tưởng ta sắp bắn nó bằng mũi tên

đây. Ta phải trấn an nó mới được". V ì mục

đích ấy, g ã ngâm vần kệ thứ hai:

2. Trên cung, ta chẳng ráp tên này

Ðể bắn chim, Công chúa, ở đây

Ta muốn cắt dây thòng lọng ấy

Ðể chim tùy ý, hãy xa bay!

Nghe lời này, chim Công chúa đáp qua hai vần

kệ:

3. Bảy n ăm theo đuổi, thợ săn n ày,

Ðói khát, bạn cam chịu tháng ngày,

Bạn muốn gì, nay ta mắc bẫy,

Vì sao muốn thả để ta bay?

4. Hiển nhiên mọi vật được an l ành,

Bạn nguyện từ đây bỏ sát sinh,

Mắc bẫy thân ta, tuy thế bạn

Muốn ta được thả để bay nhanh!

Thọ s ăn tiếp theo:

5. Khi người từ bỏ sát quần sinh,

Nhờ nó, muôn loài thoát hãi kinh,

Phước đức n ào

đời sau sẽ đến,

Việc này, Khổng tước đáp cho m ình.

Công chúa:

6. Nhờ nó muôn loài thoát hãi kinh

Khi người thề chẳng sát quần sinh,

Ðời này nó được nhiều ca ngợi,

Thiên giới, đời sau hưởng phước l ành.

Thợ s ăn:

7. Nhiều người nói chẳng có Thiên thần,

Cực lạc, đời n ày có thể mang;

Sinh quả dữ lành ngay hiện tại;

Vì nhiều bậc Thánh đ ã cho rằng:

Thi ân là việc đầy ngu xuẩn,

Vì thế tôi thường đánh bẫy săn

Chim thú, giờ đây tôi muốn hỏi:

Lời kia xứng đáng để tin chăng?

Lúc ấy bậc Ðạo Sư quyết định giảng cho người

n ày biết quả thực có đời sau, n ên

trong lúc ngài đang nằm lủng lẳng ở cuối sợi

dây, đầu lộn ngược xuống đất, ng ài ngâm vần kệ:

8. Ðôi vầng nhật nguyệt rõ ràng ràng

Ði khắp trời cao tỏa sáng quang;

Người gọi là gì nơi hạ giới,

Thuộc về cõi khác hoặc trần gian?

Người thợ s ăn ngâm vần kệ đáp lại:

9. Rõ ràng nhật nguyệt thấy đôi vầng

Ði khắp trời cao, tỏa ánh quang;

Chúng chẳng thuộc về nơi hạ giới,

Mà về cõi khác: miệng người trần.

Lúc ấy bậc Ðạo Sư bảo gã:

10. Vậy chúng đều sai lạc cả bầy,

Những người gian dối nói như vầy!

Chẳng vì duyên cớ gì đi nữa

Lại bảo chỉ riêng thế giới này

Mang nghiệp quả lành hay quả dữ,

Còn xem bố thí việc ngu thay!

Trong khi bậc Ðạo Sư nói, người thợ s ăn suy

nghĩ rồi ngâm hai vần kệ:

11. Ðiều này ngài nói quả là chân,

Sao có người kia lại bảo rằng:

"Bố thí không mang về kết quả?

Rằng đây, ngay ở c õi phàm trần.

Người ta gặt quả lành hay dữ,

Bố thí là công việc độn đần?"

12. Cách nào nên sống, phải làm gì?

Thánh đạo l à

đâu, phải bước đi?

Công chúa, xin ngài cho lão biết,

Pháp môn khổ hạnh phải hành trì,

Cầu mong lão được chim Công chúa

Cứu khỏi chim vào địa ngục kia!

Khi nghe vậy, bậc Ðạo Sư suy nghĩ: "Nếu ta giải

đáp vấn đề n ày cho gã, thì cả thế giới

này đối với g ã thành ra trống rỗng và hư

vọng. Lần này ta sẽ nói cho gã biết bản chất của các Thánh giả Bà-la-môn

chân chính". Với ý định tr ên, ngài ngâm

hai vần kệ:

13. Người truyền khổ hạnh ở trần gian,

Chằng ở nhà đâu, đắp áo v àng,

Sáng sớm đi ra đường khất thực,

Không đi chiều tối: chính hiền nhân.

14. Ðúng thời th ăm các thiện nhân vầy,

Bạn sẽ vui lòng, dẫu hỏi ai

Giải vấn đề, v ì chư vị biết

Cõi trên kia với cõi đời náy.

Khi nói như vậy ngài muốn cho kẻ kia phải biết kinh sợ cảnh giới

địa ngục. C òn người ấy

đ ã đạt đến

tri kiến vi ên mãn của một vị Ðộc Giác Phật, vì người ấy

đ ã sống đến

độ tri kiến sắp th ành thục, như búp hoa sen tròn

đầy sung m ãn

đợi chờ các tia nắng chiếu v ào. Trong

lúc người thợ s ăn nghe b ài thuyết Pháp

của ngài, ngay tại chỗ người ấy đang đứng,

người ấy hiểu lập tức mọi yếu tố cấu tạo n ên các vật hữu hình (tứ

đại), thấu suốt cả ba đặc tính căn bản của

chúng (đó l à: vô thường, khổ, vô ngã) và thâm nhập tri kiến của một

Ðộc Giác phật. Tri kiến trên của vị này cùng với việc giải thoát bậc Ðạo Sư

khỏi cái bẫy kia xảy ra cùng một lúc. Vị Ðộc giác Phật, sau khi

đ ã đoạn

diệt mọi dục tham của m ình, đang đứng tr ên

bờ sinh tử cuối cùng, liền thốt lên cảm thán nguyện trong vần kệ này:

15. Như rắn lột qu ăng lớp vỏ t àn,

Lá khô cây trút lúc xanh dần,

Hôm nay ta bỏ nghề s ăn bắn,

Mãi mãi xa lìa nghiệp thợ s ăn.

Sau khi thốt lên ý nguyện cao cả của mình, vị ấy suy nghĩ: "Ta vừa

được giải thoát khỏi các dây trói buộc của ác

dục; song ở nh à ta còn rất nhiều chim

đang bị giam cầm, vậy l àm thế nào ta giải thoát cho chúng

đây?" V ì thế vị ấy hỏi bậc Ðạo Sư:

- Tâu Khổng tước Ðại vương, ta còn giam cầm nhiều chim tại nhà, làm sao

ta giải thoát cho chúng được?

Lúc bấy giờ Bồ-tát là bậc toàn tri, có tri kiến tinh thông mọi

đường lối v à phương tiện hơn cả một vị

Ðộc Giác Phật, nên ngài bảo:

- Khi ngài đ ã phá vỡ sức chi phối của

tham dục và thâm nhập tri kiến của một vị Ðộc Giác Phật, nhờ lẽ

đó ng ài hãy tuyên thệ

điều Chân lý, th ì trong toàn cõi Diêm

phù- đề sẽ không c òn sinh vật nào bị giam

cầm nữa cả.

Sau đó, vị kia vừa đi v ào bằng cánh

cửa mà Bồ-tát mở ra như vậy, vừa ngâm vần kệ này tuyên thệ một hành

động Chân lý:

16. Tất cả chim nào ta đ ã giam

Trong nhà, ta có đến h àng tr ăm,

Nay ta trả cuộc đời cho chúng

Về tổ, bầy chim được thoát nạn.

Lúc ấy, nhờ hành động Thề nguyền Chân lý

kia, d ù đ ã muộn, tất cả bầy chim

cũng được thoát cảnh giam cầm, ríu rít líu lo

bay về tổ của m ình. Cùng lúc ấy, khắp cõi Diêm-phù- đề

tất cả mọi sinh vật đ ã bị bắt đều được

thả tự do, không c òn con vật nào sót lại trong cảnh giam cầm cả, dù

chỉ là con mèo.

Vị Ðộc Giác Phật ấy giơ tay lên vừa xoa trán mình, lập tức các dấu vết

của dòng họ cũ biến mất và dấu hiệu của bậc tu hành xuất hiện vào chỗ ấy.

Lúc bấy giờ, vị này trông giống như một Trưởng Lão Tỳ kheo

đ ã sáu mươi tuổi,

đắp y đầy đủ, mang tám vật cần thiết (b ình

bát, ba y, đai lưng, dao cạo, cây kim v à

cái lọc nước), cung kính đảnh lễ chim Công

chúa, v à đi diễu quanh ng ài, thân

hướng về phía hữu, rồi bay vụt lên không gian

đến tận một hang động tr ên đỉnh núi

Nanda. Chúa chim Công cũng bay ra khỏi cái bẫy, kiếm mồi v à trở về

chốn ở của mình.

*

Vần kệ cuối cùng do bậc Ðạo Sư ngâm kể chuyện suốt trong bảy n ăm

trời người thợ săn quanh quẩn với chiếc bẫy trong tay v à sau

đó được giải thoát khỏi khổ đau nhờ chim Công

chúa như thế n ào:

17. Thợ s ăn xuy ên suốt khắp rừng

cây

Tìm kiếm chúa Công, bẫy dưới tay,

Ðã giải thoát đau cho Khổng tước

Khi vừa bị bắt, giống Ta đây.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật, vị

Tỷ-kheo thối thất kia đ ã

đắc Thánh quả (A-la-hán).

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Ta là chim Công chúa kia.

-ooOoo-

492. Chuyện lợn rừng của thợ mộc (Tiền thân Taccha-Sùkara)

Lang thang tìm kiếm khắp xa gần...,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hai Trưởng lão.

Người ta đồn rằng khi vua Mah Kosala ( Ðai

vương xứ Kiều-tát-la) gả con gái cho vua Bimbisàra (Tần-bà-sa), ngài

đ ã chia phần nàng một ngôi làng ở Kàsi

để n àng lấy tiền mua dầu thơm tắm gội.

Sau khi vua Ajàtasattu (A-xà-thế) sát hại vua cha (Tần-bà-sa), thì vua

Pasennadi (Ba-tư-nặc), con của vua Mahà-Kosala phá hủy ngôi làng ấy. Trong

các trận chiến xảy ra giữa hai nước về chuyện này, ban

đầu chiến thắng thuộc về Aj àtasattu

(A-xà-thế). Còn vua Kosala thua trận liền hỏi các vị quân sư:

- Ta lập mưu gì để bắt A-x à-thế

được chăng?

Các vị ấy đáp:

- Tâu Ðại vương, T ăng chúng có đại t ài

về thần chú. Hãy phái sứ giả đến hỏi ý kiến của

Tăng chúng tại tinh xá.

Vua đồng ý việc n ày. Vì thế vua

truyền quân hầu tới, bảo họ đi đến đó, ẩn m ình

ở nơi kín, để nghe lóm câu chuyện giữa Tăng

chúng.

Bấy giờ tại Kỳ Viên có một số đại thần của

nhiều vua chúa, đ ã từ giã thế tục xuất gia. Hai người trong

đám ấy l à hai Trưởng lão, sống trong môt

thảo am ở bên ngoài tinh xá, một vị tên là Trưởng lão Dhanuggaha-tissa, vị

kia là Trưởng lão Mantidatta. Hai vị đ ã

ngủ suốt đ êm, và thức dậy khi vầng

đông vừa hé.

Trưởng lão Dhanuggaha-tissa bảo, trong khi nhóm lửa:

- Thưa Hiền giả Tỷ-kheo Datta.

- Thưa vâng, Hiền giả bảo gì?

- Hiền giả đang ngủ chăng?

- Thưa không, tôi không ngủ. Ta phải làm gì bây giờ?

- Này, vua Kosala thật là một kẻ ngu ngốc bẩm sinh, vua ấy chỉ biết một

chuyện là ăn cả đống thức ăn tạp nhạp.

- Thưa Hiền giả muốn nói gì thế?

- Vua ấy đ ã

để cho vua Aj àtasattu

đánh bại, m à Ajàtasattu có hơn gì con

giun trong bụng vua ấy đ ã chứ?

- Vậy thì vua ấy phải làm gì đâ?

-Này Trưởng lão Datta, Hiền giả phải biết có ba cách bày binh bố trận:

bày binh hình Chiếc xe, bày binh hình Bánh xe, và bày binh hình Hoa sen.

Chính là cách bày binh hình Chiếc xe ấy, vua kia phải sử dụng

để bắt Aj àtasattu. Vua ấy phải bố trí

các dũng sĩ hai bên cạnh mình trên đỉnh đồi,

rồi d àn đạo binh chính yếu ra trước mặt

trận: một khi vua kia lọt v ào giữa rồi và vừa nhảy ra vừa hét lớn,

thì họ bắt ngay vua kia như cá nằm trong giỏ. Ðó là cách bắt Ajàtasattu

đấy.

Cả đám sứ giả n ày nghe hết mọi chuyện

đó v à trở về tâu trình với vua mình, vua

lập tức đem một đạo quân lớn ra, bắt được Aj àtasattu

làm tù binh và trói lại bằng các dây xích xiềng. Sau khi trừng phạt như vậy

vài ngày, vua này thả vua kia ra, khuyên không nên làm chuyện như trước nữa,

và để an ủi vua Aj àtasattu , vua lại

đem chính con gái m ình là công chúa

Vajirà gả cho vua Ajàtasattu rồi tiễn đưa về

nước rất trọng thể.

Giữa T ăng chúng có lời b àn tán chuyện

này rất nhiều:

- Ajàtasattu đ ã bị vua Kosala bắt

sống theo lời chỉ dẫn của Trưởng lão Dhanuggaha-tissa.

T ăng chúng cũng đ àm luận việc này tại

Chánh pháp đường v à khi bậc Ðạo Sư

đi v ào, Ngài hỏi T ăng

chúng đang nói chuyện g ì. T ăng chúng tr ình

với ngài. Sau đó ng ài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à

lần đầu Dhanuggaha-tissa biểu lộ t ài

nghệ về chiến lược đâu.

Và ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ có một người thợ mộc sống trong ngôi làng gần cổng thành

Ba-la-nại, đi v ào rừng

đốn củi. Ông t ìm

được một con Lợn rừng đực rớt xuống hố, liền

đem về nh à nuôi nấng và đặt t ên

là Lợn rừng của Thợ mộc. Con Lợn rừng trở thành tên

đầy tớ của ông. Nó nhổ bật cây cối l ên

bằng chiếc mõm và đem về nh à cho ông, nó

buộc cái dây đo đạc quanh mũi nó v à kéo

lê đi, rồi t ìm thấy cái rìu, cái

đục, cái vồ ngậm trong miệng.

Khi Lợn rừng khôn lớn, nó thành một con vật lực lưỡng dị thường, người

thợ mộc thương yêu nó như con ruột mình, và sợ có ai làm hại nó, nên thả nó

vào rùng. Con Lợn rừng suy nghĩ: "Ta không thể sống một mình bơ vơ trong

rừng này. Nếu ta kiếm bà con và ở với chúng chẳng hay lắm sao?" Vì thế nó

tìm bầy lợn khắp rừng cây, cho đến khi gặp được

cả đ àn, nó rất vui mừng, liền ngâm ba vần kệ:

1. Lang thang tìm kiếm khắp xa gần

Ðồi núi chung quanh, các khóm rừng,

Thơ thẩn ta đi t ìm quyến thuộc,

Kìa! Ta tìm thấy đám thân bằng!

2. Ðây, củ quả rừng phong phú sao

Với kho thực phẩm thật đồi d ào!

Núi đồi khe suối xinh tươi quá,

Sống ở đây đời đẹp biết bao!

3. Ta sống đây to àn quyến thuộc thân,

Hưởng thư nhàn, chẳng phải b ăn khoăn,

Cũng không lo lắng và kinh hãi,

Dù chuyện gì do phía địch quân.

Bầy Lợn rừng kia nghe vần kệ này liền đáp

lời qua vần kệ thứ tư:

4. Cừu địch l à

đây! Ở chốn n ào,

Xin tìm đường lối ẩn thân v ào,

Nó thường giết hại, này Thợ mộc,

Lợn đẹp nhất đ àn, loại tối cao!

Hỏi:

5. Kẻ thù các bạn ấy đâu đây?

Nói thật cho ta, hạnh ngộ thay!

Kẻ giết họ hàng, ai đó vậy?

Dù là chưa giết trọn luôn bầy.

Ðáp:

6. Ðó chính là vua của thú rừng!

Với r ăng để cắn, sọc đen vằn,

Ấy là mãnh thú oai hùng quá,

Thường giết lợn uu tú nhất đ àn!

Hỏi:

7. Thân thể ta tàn hết lực ch ăng?

Thế sao ta lại chẳng nhe r ăng?

Nếu ta chung sức thì nhờ vậy

Ta sẽ thắng ngay chú Cọp vằn!

Ðáp:

8. Lời nói này nghe tuyệt diệu thay!

Tượng công, ta thích nói như vầy,

Ðừng cho chú lợn nào đi trốn,

Hoặc bị giết sau trận đấu n ày.

Bấy giờ Lợn rừng của Thợ mộc đ ã làm

cho cả đ àn lợn

đồng tâm nhất trí, liền nói:

- Khi nào Cọp sẽ đến?

- Hôm nay nó đ ã

đến sớm v à bắt mất một con lợn rồi, ngày

mai nó lại sẽ đến sớm đấy.

Lợn rừng rất thiện chiến và biết lợi thế để

tấn công, v ì vậy có thể đạt được chiến

thắng. Lợn rừng nh ìn quanh tìm một nơi, bảo cả

đám ăn uống khi đ êm chưa

đến, rồi tảng sáng hôm sau nó giải thích cho cả

đ àn nghe cách giàn binh gồm ba kiểu: đội

h ình theo Chiếc xe,v.v...

Sau đó, nó gi àn binh hình Hoa sen

theo cách trên. Ở giữa nó đặt bầy lợn con đang

c òn bú, chung quanh là mẹ chúng, kế đó l à

bầy lợn cái không sinh sản, kế nữa là một vòng gồm các lợn mới lớn mập mạp,

tiếp đến l à bầy Lợn có r ăng

nanh mới nhú, tiếp nữa l à bầy lợn có r ăng

nanh đ ã lớn, cón đám lợn rừng đực gi à

cả ở ngoài cùng. Rồi nó bố trí những tiểu đội

chừng mười, hai mươi, ba mươi quân rải rác đây đó. Nó lại bảo chúng đ ào

cho chính nó một cái hố và một hố cho con Cọp rơi vào có hình rổ sàng: giữa

hai hố đó có để một d ãi

đất nhỏ cho nó đứng. Sau đó nó c ùng

đám lợn đực thiện chiến h ùng dũng

đi khắp nơi khích lệ cả đ àn.

Trong khi nó bận rộn như thế thì mặt trời mọc. Con Cọp vừa ra khỏi vùng

thảo am của một nhà khổ hạnh giả danh và xuất hiện trên

đỉnh đồi. Bầy lợn rừng k êu to:

- Thưa Chúa công, kẻ thù của ta đ ã

đến.

Lợn rừng bảo:

- Ðừng sợ, hễ nó làm gì, các bạn cứ làm lại hệt như thế.

Con Cọp rùng mình thật mạnh, làm như thể sắp

đi, rồi tiểu tiện, bầy lợn cũng l àm theo như thế. Con Cọp nhìn bầy

lợn rừng và gầm một tiếng thật lớn, bọn chúng cũng làm y như vậy. Nhìn thái

độ của chúng, con Cọp nghĩ thầm: "Chúng có vẻ

thay đổi, hôm nay chúng đối diện ta như một đám kẻ th ù trong hàng ngũ

chỉnh tề, chắc có một tên thiện chiến nào đó đ ã

tập hợp chúng lại đây; ta không n ên

đến gần chúng hôm nay". V ì sợ chết, Cọp

cụp đuôi chạy vội về nh à tu hành giả mạo

kia và vị này, khi thấy con Cọp đi về tay

không, liền ngâm vần kệ thứ chín:

9. Cọp thề bỏ giết mọi loài ch ăng?

Cọp đ ã cho muôn vật vạn toàn,

Chắc hẳn hàm r ăng không bén nữa,

Ðàn heo đ ã gặp, lại xin

ăn?

Nghe thế, Cọp ngâm ba vần kệ đáp lời:

10. R ăng của ta không cắn được rồi,

Sức ta đ à kiệt quệ mà thôi,

Cùng nhau, chúng đứng to àn huynh

đệ,

Vì thế ta phiêu bạt lẻ loi.

11. Xưa, chúng ngược xuôi, bại tẩu nhanh,

Tìm hang tháo chạy, phách hồn kinh,

Nhưng nay chúng rống, vòng vây chặt,

Vô địch, đấu tranh giáp mặt m ình!

12. Bây giờ chúng thỏa thuận đồng tâm,

Chúng đ ã bầu lên một tướng quân,

Chúng hại thân này khi hiệp lực,

Nên ta thấy chúng, cũng không cần!

Nghe lời này, nhà tu khổ hạnh giả hiệu đáp

lời qua vần kệ sau:

13. Diều hâu đơn độc giết đ àn chim,

Chiến thắng La thần bởi Ðế thiên,

Khi mãnh hổ nhìn bầy dã thú,

Lựa con đẹp nhất, giết êm liền!

Sau đó Cọp ngâm kệ:

14. Chẳng diều, chẳng hổ, chúa sơn lâm,

Thiên chủ, làm sao đủ lực thần

Khống chế cả bầy heo đánh Hổ,

Họ hàng hiệp lực để tranh h ùng!

Nghe vậy, vị tu hành giả hiệu lại ngâm hai vần kệ

để thúc giục nó:

15. Con chim bé bỏng phủ đầy lông,

Bay nhảy từng đ àn lũ thật

đông,

Tụ tập trên cao thành đám lớn,

Cùng nhau lướt nhẹ khoảng trời không.

16. Một mình đáp xuống, chú diều hâu,

Trong lúc cả bầy chúng giỡn nhau,

Tàn sát chúng ngay như ý muốn,

Ðó là cách Hổ phải theo mau!

Nói xong, ông còn khuyến khích Cọp thêm:

- Này Cọp chúa, ngài chưa biết oai lực của ngài

đâu. Chỉ một tiếng gầm, một bước phóng m ình

thôi, là ta dám chắc không sống sót đến hai con

lợn nữa đấy!

Con Cọp làm theo đúng như vậy.

*

Bạc đạo Sư ngâm kệ để l àm sáng tỏ vấn

đề n ày:

17. Với con mắt ác độc th èm

ăn,

Cọp tưởng lời này quả thật chân,

Can đảm mồm nhe răng nhọn hoắc,

Nhảy vào đám lợn cũng đầy răng!

Vậy là con Cọp quay trở lại và đứng một lát

tr ên đồi. Bầy lợn rừng báo cho Lợn rừng

của Thợ mộc biết rằng con cọp lại đến, Lợn rừng bảo:

- Ðừng sợ!

Lợn trấn an chúng và đến đứng b ên bờ

giữa hai cái hố. Cọp phóng nhanh về phía chú Lợn rừng. Song lợn rừng l ăn

quay v ào hố đầu ti ên. Cọp không

kiềm hãm được sức phóng của nó, cũng ng ã

gọn vào trong cái hố có hình như cái sàn quạt lúa. Lập tức lợn rừng nhảy lên

đâm sâu răng nanh v ào sườn Cọp thấu tận

tim nó ra, nhét nó vào hố bên kia, và kêu to:

- Ðó, cứ ăn thịt t ên khốn kiếp

đi!

Con lợn nào đến trước được ăn thịt cọp thỏa

th ê, những con đến sau cứ đi quanh m à

hỏi:

- Này, thịt Cọp mùi vị ra sao đó?

Lợn rừng của Thợ mộc nhảy ra khỏi hố nhìn quanh cả bọn và hỏi:

- Nào, các bạn chẳng thích thịt đó sao?

Song bọn kia đáp:

- Tâu Chúa công, Chúa công đ ã trừ

được Cọp, đó mới l à một tên, tuy thế còn

một tên nữa nguy hiểm gấp mười lần Cọp ấy!

- Xin nói rõ đó l à ai thế?

- Một vị tu khổ hạnh giả hiệu thường ăn thịt

m à Cọp kia vẫn đem đến.

- Vậy thì ta sẽ đi bắt nó mau l ên!

Thế là cả bọn cùng ra cùng đi.

Bấy giờ vị khổ hạnh giả hiệu kia đang trông

ngóng ra con đường, chờ mong Cọp đến từng phút. Song vị ấy có thấy g ì

ngoài bầy lợn rừng đâu!- "Chúng đ ã giết

Cọp rồi, chắc thế, và nay chúng lại đến giết

ta!" Vị ấy vội chạy trốn v à leo lên một cây sung dại. Bầy lợn rừng

báo cho chủ tướng:

- Nó đ ã leo lên cây rồi!

- Ðược lắm, chúng ta sẽ bắt nó tức thì!

Lợn rừng bảo bầy lợn con ủi đất ra khỏi rễ

cây, v à bầy lợn cái hút thật nhiều nước trong mõm

đem về, cho đến khi đứng trơ trụi tận gốc rễ.

Sau đó, lợn rừng bảo bọn kia lui ra rồi chú quỳ xuống lấy răng nanh đâm v ào

rễ cây, chú cắt ngang cả rễ như cái rìu vậy, cây liền ngã xuống song người

kia chẳng bao giờ đặt chân xuống đất được, v ì

đ ã bị chúng xé tan từng mảnh mà

ăn thịt tr ên

đường về.

Vừa chứng kiến việc kỳ diệu hy hữu này, vị Thần cây vừa ngâm kệ:

18. Bạn bè hiệp lực tựa cây rừng

Ðó thật là quang cảnh đáng mừng,

Bầy lợn hợp quần, làm nhiệm vụ

Giết ngay Cọp chúa trọn thành công.

*

Và bậc Ðạo Sư ngâm một vần kệ nữa nói về cách cả hai con người và vật này

bị tiêu diệt như thế nào:

19. Bầy lợn thế là đ ã diệt tan

Bà-la-môn với Cọp đen vằn,

Rồi gầm thét, chúng la vang dội

Trong nỗi lòng vui sướng ngập tràn.

Lần nữa, lợn rừng lại hỏi:

- Thế các bạn còn kẻ thù nào nữa ch ăng?

- Tâu Chúa công, không.

Sau đó chúng đề nghị l àm lễ phong

vương quán đ ãnh cho lợn rừng. Chúng liền

đi t ìm nước. Khi thấy vỏ ốc mà vị ẩn sĩ

giả hiệu ấy dùng để uống, đó l à chiếc vỏ

sò rất quý với hướng xoắn ốc về phía hữu, chúng liền

đổ đầy nước v ào vỏ sò, và làm lễ phong

vương cho lợn rừng của người Thợ mộc ngay dưới gốc cây sung ấy và tại

đó, nước d ùng làm lễ quán

đảnh được rảy l ên

đầu lợn rừng. Một ả Lợn cái son trẻ được chúng

bầu l àm vương phi. Từ đó xuất hiện một

phong tục c òn thịnh hành mãi cho đến

nay, l à khi làm lễ tấn phong cho một vị vua, quân thần

đặt vua l ên ngự trên một chiếc ngai bằng

gỗ sung và rảy nước lên một cái vỏ ốc có đường

xoắn hướng về phía hữu, đó l à một vật rất hiếm và

đắt giá, chỉ d ùng cho lễ phong vương.

*

Bậc Ðạo Sư cũng giải thích việc này bằng cách ngâm vần kệ cuối cùng:

20. Bầy heo ở dưới gốc sung rừng

Ðổ nước thánh đầy để tấn phong

Chú Lợn rừng con người Thợ mộc,

Ðồng hô: "Chúa tể của thần dân!"

*

Khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư bảo:

- Không đâu, n ày các Tỷ-kheo,

đây không phải l à lần

đầu ti ên Trưởng lão Dhanuggaha-tissa

chứng tỏ mình có tài tinh thông chiến lược, mà trước kia cũng vậy.

Cùng với những lời này, Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à

vị khổ hạnh giả danh, Dhanuggatta-tissa là Lợn rừng của thợ mộc và Ta chính

là thần cây.

-ooOoo-

493. Chuyện vị đại

thương nhân (Tiền thân Mahà-Vànija)

Từ nhiều quốc độ, các thuơng nhân...,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một

đám thương nhân sống ở Xá-vệ.

Tương truyền rằng những người này lúc đi

buôn bán xa, đ ã đem lễ vật cúng dường

bậc Ðạo Sư và an trú vào Tam quy cùng Ngũ giới. Họ nói:

- Bạch Thế Tôn, nếu chúng con trở về bình an, chúng con sẽ hôn chân

đảnh lễ Thế Tôn.

Họ lên đường c ùng với n ăm

trăm cỗ xe chất đầy h àng hóa, chẳng bao lâu vào rừng hoang dã, họ

chẳng thấy đường n ào

đi nữa. Bị lạc đường, không nước uống thức ăn,

họ băng qua rừng cho đến khi thấy một cây đa khổng lồ có lo ài rắn ẩn

náu, họ liền thả dây cương xe ngựa ra và ngồi xuống

đó. Nh ìn lên

đám lá, họ thấy chúng sáng loáng như thể thấm

nước, c òn cành cây như mọng đầy nước l àm

cho cả bọn suy nghĩ: "Dường như nước đang chảy

trong thân cây n ày. Ta hãy cắt lấy một nhánh trở về hướng Ðông xem

sao? Chắc là có nước để uống".

Một người trèo lên cây chặt một cành, từ đó

một d òng nước chảy ra sền sệt như nước trong thân cây thốt nốt, họ

lấy nước rửa mặt và uống. Kế đó họ chặt một c ành

ở hướng nam, từ đó xuất hiện đủ loại cao lương

mỹ vị, họ liền ăn uống. Rồi họ chặt một c ành ở hướng Tây này, liền

hiện ra một đám nữ nhân xinh đẹp trang sức lộng

lẫy, họ vui chơi hưởng lạc với đám nữ nhân kia. Cuối c ùng họ chặt một

nhánh ở hướng Bắc: từ đó rớt tung tóe bảy báu

vật, họ lượm lấy chất đầy năm trăm xe ngựa v à trở về Xá-vệ.

Tại đó, họ cho người bảo vệ t ài vật

rất cẩn thận. Rồi tay mang vòng hoa, hương liệu

đủ loại, họ đi đ ên Kỳ Viên đảnh lễ bậc

Ðạo Sư và cúng dường Ngài xong, liền ngồi xuống một bên. Ngày hôm ấy,

họ nghe thuyết Pháp và hôm sau họ đem dâng lễ

vật rất h ào phóng, mà lại khước từ công

đức kia. Họ thưa:

- Bạch Thế Tôn, công đức của lễ vật n ày

chúng con xin nhường lại hồi hướng về vị Thần cây

đ ã ban cho chúng con tất cả tài vật

đó.

Khi cơm nước xong, bậc Ðạo Sư hỏi:

Các ông muốn hồi hướng công đức n ày

cho Thần cây nào?

Các thương nhân trình đức Như Lai việc bọn

họ đ ã được cây đa cho kho báu như thế n ào

, bậc Ðạo Sư bảo:

- Các ông đ ã nhận

được kho báu vật ấy v ì cách sống tiết

độ của các ông v à các ông không buông

mình cho dục lạc chi phối; song ngày xưa, có những người không tiết dục, và

bị dục tham chi phối, nên chúng mất cả tài sản lẫn tính mạng.

Rồi theo lời thỉnh cầu của bọn kia, Ngài kể cho họ nghe một chuyện quá

khứ.

*

Ngày xưa, gần bên thành Ba-la-nại cũng có chính khu rừng hoang này cùng

cây đa n ày. Một

đám thương nhân đi lạc đường v à chợt

thấy cây đa ấy.

Với Trí tuệ Viên mãn của ngài, bậc Ðạo Sư giải thích vấn

đề qua các vần kệ sau:

1. Từ nhiều quốc độ, các thương nhân

Ðến họp cùng nhau cả một đo àn,

Bầu chọn trưởng đo àn và thẳng tiến

Lên đường t ìm kiếm một kho tàng.

2. Ðoàn lữ hành kia thiếu thức ăn

Ðến rừng khô cháy nắng oi nồng,

Chợt nhìn thấy gốc đa h ùng vĩ,

Với bóng cây che mát dịu lòng.

3. Thế rồi dưới tán là cây che,

Cả bọn thương nhân thảy dựa kề,

Lý luận như vầy vì ám độn,

Nghèo nàn trí tuệ, hóa u mê:

4. "Cây này đầy ẩm ướt b ên trong

Từ đó h ình như nước có dòng,

Ta hãy chặt từ cây một nhánh,

Cành nào đ ã mọc hướng về Ðông".

5. Cành kia được chặt, nước tuôn d òng,

Từng giọt tinh nguyên, thật sáng trong,

Cả bọn thương nhân cùng tắm rửa,

Uống cho đến lúc thỏa thu ê lòng.

6. Lại vì trí tuệ chúng nghèo nàn

Vì sự ngu si đ ã cản ng ăn,

Chúng bảo: "Phía Nam còn một nhánh,

Chúng ta hãy đến cắt nhanh chân".

7. Cành này vừa chặt xuống liền mang

Lúa gạo, thức ăn cứ chảy tr àn,

Cháo đặc, nghệ gừng, c ùng xúp

đậu

Và nhiều thức ăn khác thật vô v àn.

8. Bọn thương nhân uống uống ăn ăn,

Chúng nhét vào đầy bụng thật căng,

Rồi bảo với lòng đầy ám độn

Và vì trí tuệ quá nghèo nàn:

9. "Mau lên các bạn phú thương này,

Ta hãy cắt cành lá phía Tây",

Mỹ nữ cả bầy ùa tứ phía,

Xiêm y lộng lẫy diễm kiều thay!

10. Kìa! Xiêm y có đủ muôn m àu,

Lủng lẳng vòng vàng với bảo châu,

Trong số cả tr ăm người mỗi một,

Mỗi chàng chiếm một gái xinh sao!

11. Cùng đứng b ên nhau cả bọn này

Quây quần dưới bóng mát tàn cây,

Ðám thương nhân thảy đều v ào giữa,

Ðùa giỡn bày trò thích thú thay!

12. Lại vì trí tuệ chúng nghèo nàn,

Vì sự ngu si đ ã cản ng ăn

Chúng bảo: "Bắc phương còn một nhánh

Chúng ta hãy chặt xuống lìa thân".

13. Khi cành hướng Bắc chặt vừa xong,

Vàng bỗng tuôn ra cả một dòng,

Bạc chảy đầy tay v à thảm quý,

Bào ngọc, trân châu nói chẳng cùng.

14. Trang phục Ba-la-nại mượt mà,

Ch ăn m àn dày mỏng thực xa hoa,

Thương nhân lúc ấy liền hành sự

Cuộn hết thành bao lớp lụa là.

15. Cũng vì ngu muội với si mê,

Chúng lại bảo nhau, như trước kia:

"Ta hãy chặt cây từ gốc rễ,

Chắc càng thâu của cải tràn trề".

16. Kìa vội đứng l ên, vị trưởng

đo àn

Cúi đầu cung kính, lại thưa rằng:

"Cây đa l àm hại gì chư vị,

Mong ước trời cho hưởng phước phần!

17. Cành hướng Ðông cho nước chảy tràn,

Cành Nam cho thực phẩm ta ăn

Cành Tây cho các nàng kiều nữ,

Cành Bắc cho tơ lụa bạc vàng,

Cây đó hại g ì cho quý vị,

Cầu chư vị hưởng phước trời ban!

18. Cây này cho bóng mát an nhàn,

Nằm nghỉ, ngồi chơi, những lúc cần,

Không được phá tan c ành

đổ hết,

Hành vi bừa bãi thực hung tàn!"

19. Song ngài chỉ một, chúng từng bầy,

Tiếng nói ngài sao cản chúng đây:

Chúng nện những dao rìu sắc bén

Vào phần gốc để đốn thân cây.

Lúc ấy, Linh xà vương thấy bọn chúng đến gần

gốc để đốn ng ã cây, liền nghĩ thầm: "Ta

đ ã cho bọn này nước để uống khi khát,

lại cho thức ăn thần ti ên, bạc chất đầy

năm trăm xe, m à giờ đây chúng bảo nhau h ãy

chặt cây đến tận gốc rễ. Chúng thật tham lam vô

độ, v à trừ vị trưởng đo àn ra,

chúng đều phải chết!" Thế l à Rắn chúa

tập hợp quân đội Rắn ngay:

- Ta truyền thật nhiều quân sĩ hãy mang giáp bào và

đứng ra d àn trận, thật nhiều xạ thủ hãy

mang cung, kiếm và mộc che thân sẵn sàng chiến

đấu.

*

Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:

20. Rắn mặc giáp bào đủ bách quân,

Ðứng lên cùng giữ vững sa trường,

Ba tr ăm xạ thủ, sáu ng àn nữa

Trang bị mộc khiên với kiếm thần.

*

Vần kệ sau đây do Rắn chúa ngâm:

21. Bắn hạ bọn kia, trói chặt mau,

Chẳng tha mạng sống một tên nào,

Ðốt thành tro bụi trừ đo àn trưởng,

Như thế hoàn thành việc đ ã giao.

Bầy Rắn thần làm đúng như vậy. Sau đó chúng

chất đầy các tấm thảm từ c ành phương Bắc và mọi vật kia lên n ăm

trăm chiếc xe, rồi di chuyển đo àn xe và vị trưởng

đo àn lữ hành về Ba-la-nại, cất hết hàng

hóa vào nhà ngài và trở về nơi trú ngụ của loài Rắn.

*

Khi bậc Ðạo Sư đ ã chứng kiến việc

này, Ngài ngâm vần kệ khuyên giáo:

22. Vậy trí nhân nên thấy thiện hành,

Chẳng bao giờ để bản tâm th ành

Tôi đ òi nô lệ lòng tham dục,

Phá vỡ mục tiêu đối thủ m ình.

23. Bậc trí khi xem việc ác làm

Khổ đau bắt rễ tự l òng tham,

Ðoạn trừ tham dục và dây trói,

Phát nguyện sống đời thanh tịnh tâm.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa các thương nhân bị dục tham trấn áp, nên

đ ã bị hủy diệt tàn khốc, vậy các ông

đừng ch ìu theo lửa dục.

Rồi Ngài thuyết giảng các Sự Thật. Bấy giờ vào lúc kết thúc các Sự Thật,

các thương nhân kia đ ã

được an trú v ào Sơ quả Dự Lưu. Và Ngài

nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Linh-Xà vương, và Ta là vị

Trưởng đo àn lữ hành.

-ooOoo-

494. Chuyện đại vương

S àdhìna (Tiền thân Sàdhìna)

Việc lạ trên trần đ ã

được xem...,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một

đám nam cư sĩ giữ hạnh nguyện Trai giới.

Nhân dịp này, bậc Ðạo Sư bảo:

- Này, các cư sĩ, các trí nhân ngày xưa, nhờ công

đức h ành trì hạnh nguyện Trai giới mà

đ ã thân hành lên cõi trời và an trú ở

đó thật lâu d ài.

Rồi theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, vua Sàdhìna ở thành Mithilà, cai trị rất

đúng pháp. Tại bốn cổng th ành, giữa kinh

thành cùng cửa cung thất, ngài đều ra lệnh xây

sáu bố thí đ ường, và công đức bố thí của

ng ài làm chấn động khắp c õi

Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ). Mỗi ngày, ngài bố

thí sáu tr ăm ng àn

đồng tiền: ng ài giữ Ngũ giới, hành trì

hạnh nguyện các ngày Bồ-tát, còn dân trong kinh thành cũng theo lời khuyến

cáo của ngài bố thí và làm thiện sự, nên lúc mạng chung

đều tái sinh c õi Thiên.

Các vị Thiên tử khi ngồi tụ họp tại Thiện Pháp

đường của Sakka ( Ðế Thích) Thiên chủ,

đồng tán thán đời sống đạo hạnh v à công

đức của vua S àdhìna. Lời

đồn đại về vua n ày khiến các Thiên thần

khác ao ước được gặp mặt ng ài. Ðế Thích

Thiên chủ biết được tâm tư của các vị liền nói:

- Các hiền hữu ước ao diện kiến vua Sàdhìna phải ch ăng?

Các vị đồng thanh đáp phải, Thi ên chủ

ra lệnh cho thần Màtali:

- Khanh hãy đến điện Vejayanta (Tối thắng)

của trẫm, thắng ngựa v ào thiên xa và đi

đón vua S àdhìna lên đây.

Vị kia tuân lệnh và đi thắng ngựa v ào

thiên xa để xuống vương quốc Videha.

Ðó là một ngày tr ăng tr òn. Vào lúc

dân chúng dùng cơm chiều xong, đang ngồi nh àn

nhã trước cửa nhà, thần Màtali lái thiên xa song hành bên cạnh vầng tr ăng

đỏ. Dân chúng đồng reo lớn:

- Xem kìa, có hai mặt tr ăng tr ên

trời!

Nhưng khi họ thấy thiên xa vượt qua mặt tr ăng

v à tiến về phía hạ giới, họ lại kêu lên:

- Không phải mặt tr ăng, m à là chiếc

xe, hình như có vị Thiên tử nào đó. Ng ài

đang đem chiếc thi ên xa này với cả

đo àn ngựa thuần chủng, những linh vật ở

trong trí tưởng tượng , vậy xe đến đón ai đây?

Há không phải l à để đón đức vua của ta

sao? Phải lắm, đức vua của ta thật l à một minh quân chân chánh!

Trong nỗi vua mừng tột độ, họ chắp tay cung

kính vái ch ào và đứng l ên ngâm

vần kệ đầu:

1. Việc lạ trên trần đ ã

được xem

Làm cho dựng đứng tóc người l ên:

Vì mời Ðại đế Vi-đề quốc,

Phái xuống thiên xa tự cõi thiên.

Thiên sứ Màtali lái thiên xa xuống dần, trong lúc dân chúng chiêm bái với

vòng hoa và hương liệu, vị thần này lái ba vòng kinh thành hướng về phía

hữu. Sau đó vị ấy tiến đến cung môn, dừng xe

lại v à đứng y ên trước cửa sổ phía

tây, tỏ ý muốn đi l ên. Lúc bấy giờ là

ngày vua đích thân quan sát các bố thí đường, v à

đ ã ra lệnh cho

đám cận thần phân chia ra sao. Khi xong việc,

ng ài phát nguyện ngày Trai giới, và cả ngày cứ trôi qua như vậy. Ngay

lúc ấy, ngài đang ngồi tr ên một chiếc

ngai lộng lẫy, hướng ra cửa sổ phía đông, với

đám triều thần vây quanh, ng ài thuyết giảng về lẽ chân chánh và công

bình. Chính vào thời điểm n ày, Màtali

đến mời đức vua l ên ngự thiên xa, và khi

đ ã xong xuôi, thần cùng ra

đi với ng ài.

*

Bậc Đ ạo Sư ngâm các vần kệ sau

đây để giải thích vấn đề n ày:

2. Thiên sứ Mà-ta-li đại cường,

Vị thần điều ngự ấy vừa mang

Lời truyền đến tận Vi-đề quốc

Ngay tại kinh thành triệu quốc vương:

3. "Xin tấu Ðại vương, bậc Thánh quân,

Ngự trên xa giá để theo thần,

In-dra Thiên chủ cùng Thiên chúng

Tam thập tam thiên giới lẫy lừng,

Chư vị giờ này đang hội họp

Và đồng mơ tưởng đến hiền nhân".

4. Ðại đế S à-dhì ngước mắt lên,

Và liền ngự giá chiếc xe tiên,

Thần xa được cả ng àn thiên mã

Ðồng kéo ngài lên đến c õi thiên.

5. Chư Thiên chiêm ngưỡng đấng anh quân,

Thượng khách lên chơi, vội đón mừng:

"Ðại đế!" đồng hô lời chúc tụng,

"Thật là hạnh ngộ cuộc tao phùng!

Trên ngai vàng cạnh ngai Thiên chủ

An tọa xin mời đấng thánh nhân!"

6. Sak-ka chào đón chúa Vi-đề

Ngự trị kinh thành tại Mỹ-thi,

Thiên chủ ban ngài ngàn lạc thú,

Thỉnh ngài an tọa thật uy nghi:

7. "Giữa các đế vương ở c õi trần

Chào mừng Thánh thượng đến thi ên cung,

Ðại vương an trú cùng Thiên chúng,

Ðược phỉ ước nguyền đúng lệnh ban,

Xin hưởng lạc thiên đường bất tận

Trên trời Ðao lợi, cảnh thiên đ àng!"

Ðế Thích Thiên chủ ban tặng ngài một nửa kinh thành của chư Thiên rộng

mười ngàn dặm, nửa số hai mươi l ăm triệu Thi ên

nữ và nửa Cung điện Vejayanta. Ng ài ở

đó hưởng thọ cực lạc trong suốt bảy trăm năm

theo ước tính của lo ài người.

Rồi khi phước đức của ng ài

đ ã tận, theo cách ấy ở thiên giới, nỗi

bất mãn khởi lên trong lòng, ngài liền ngâm kệ nói lời này với Ðế Thích

Thiên chủ:

8. Ta hưởng, từ khi đến ngọc đường,

Ðàn ca, vũ khúc, nhạc du dương.

Nay ta chẳng thấy niềm hoan lạc,

Lâm mạng chung thời đến phải chăng?

Hay chính là vì lòng ám độn,

Làm ta sợ hãi, tấu Thiên hoàng?

Lúc ấy Thiên chủ Ðế Thích đáp lời ng ài:

9. Ðời ngài chưa hết, chẳng lâm chung,

Ngài chẳng cuồng si, hỡi Ðại nhân,

Song thiện nghiệp ngài nay đ ã tận,

Giờ công đức trước hưởng xong phần.

10. Song cứ ở đây, hỡi Ðại vương!

Bởi quyền tối thượng của ta ban:

Hưởng đi thi ên lạc cùng Thiên chúng

Tam thập tam thiên giới trú an.

Tuy nhiên bậc Ðạo Sư chối từ và đáp lại Thi ên

chủ:

11. Như lúc thiên xa đ ã giáng trần,

Hoặc khi phước lộc được d ành phần,

Chính là thọ hưởng niềm thiên lạc

Do bởi bàn tay khác thưởng ân.

12. Ta chẳng cầu mong nhận phước phần

Do bàn tay kẻ khác thi ân,

Chính nhờ thiện nghiệp phần ta tạo,

Thiện sự riêng ta đứng vững chân.

13. Ta sẽ ra đi tạo việc l ành,

Phát ban cả nước, khắp quần sinh,

Tuân theo giới hạnh và tu tập,

Ðiều phục thân tâm, quyết thực hành,

Người biết làm vầy là hạnh phúc,

Chẳng ăn năn hối tiếc phần m ình.

Nghe thế, Ðế Thích Thiên chủ liền ra lệnh cho Màtali:

- Này hiền khanh, hãy đi đưa vua Sadh ìna

về lại Mithilà và đặt đức vua xuống vườn ngự

uyển.

Vị Thiên thần tuân lệnh.

Ðức vua đến nơi, bước đi thơ thẩn trong vườn

ngự; người giữ vườn trông thấy ng ài, và sau khi hỏi ngài là ai, liền

mang tin ấy về tâu trình với đương kim ho àng

đế N àrada. Khi vua này biết tin tiên

đế trở về trần, liền ra lệnh cho người giữ vườn :

- Ngươi cứ đi trước v à sắp

đặt hai chiếc ngai, một d ành cho tiên

đế v à một dành cho trẫm.

Người ấy tuân lệnh. Sau đó đức vua Sadh ìna

hỏi:

- Ngươi soạn hai chiếc ngai vàng cho ai đây?

- Muôn tâu, một chiếc dành cho Hoàng thượng và một chiếc dành cho

đức vua của chúng thần.

Lúc ấy Đại đế S àdhìna bảo:

- Còn ai khác dám ngồi trước mặt ta chứ?

Rồi ngài ngự lên một chiếc ngai và đặt hai

chân l ên chiếc kia! Vua Nàrada đến gần,

sau khi đảnh lễ dưới chân ng ài, liền ngồi xuống một bên. Bấy giờ theo

truyền thuyết, vua này là vị vua thứ bảy trong dòng dõi chính thống của

ngài, và thời ấy, tuổi thọ của con người chỉ là một tr ăm

năm. C òn bậc Đại sĩ đ ã trường thọ

như thế là do công đức thiện nghiệp của ng ài.

Ngài cầm lấy tay vua Nàrada dạo bước quanh vườn ngự và ngâm ba vần kệ này:

14. Lãnh thổ là đây, tổ quốc ta

Máng tròn dẫn nước suối b ăng qua

Cỏ xanh bao phủ đầy nơi chốn

Khe nhỏ, lạch ngòi vẫn chảy ra

15. Các hồ diễm lệ lắng nghe vang

Khi đám hồng nga réo gọi đ àn

Bao đóa sen xanh chen lẫn trắng,

Cây hình đá biến mọc lan tr àn

Song người yêu cánh cùng ta trước,

Nay ở đâu, l òng ta muốn hỏi han?

16. Đây l à

điền thổ ruộng c ùng nương,

Đồng lúa lạc vi ên , chính cố hương,

Song chẳng thấy đâu người quyến thuộc,

Tưởng chừng sa mạc quá thê lương!

Nghe vậy vua Nàrada đáp :

- Tâu Hoàng tổ phụ, từ khi tổ phụ th ăng thi ên

giới đến nay đ ã bẩy tr ăm

năm trôi qua, giờ đây ho àng tôn là cháu bẩy

đời của tổ phụ, các vị quan cận thần của tổ phụ

đều đ ã hóa ra người thiên cổ. Nhưng đây

chính l à vương quốc của tổ phụ, hoàng tôn xin tổ phụ nhận lại

đất nước.

Đức vua đáp :

- Này Hoàng tôn Nàrada, ta không đến đây để

rồi l ên làm vua nữa đâu, m à ta

đến đây để l àm thiện sự và ta sẽ làm

thiện sự thôi.

Rồi ngài ngâm kệ như sau:

17. Ta đ ã nhìn cung

điện c õi trời

Huy hoàng chiếu sáng khắp muôn nơi,

Chư Thiên ở cõi trời Đao Lợi

Thiên chủ cùng ta diện kiến rồi.

18. Ta hưởng bao hoan lạc tuyệt trần,

Ngôi nhà thiên giới để ri êng phần

Tràn đầy tất cả điều tâm nguyện

Tam thập tam thiên của Ngọc Hoàng.

19. Ta ngắm xong và đ ã tái hồi

Để thi h ành thiện sự mà thôi

Và ta sẽ sống đời thanh tịnh,

Ta chẳng màng gì đến chiếc ngôi.

20. Đạo n ày không dẫn

đến đau buồn,

Chánh Đạo m à chư Phật chỉ

đường;

Đường đó giờ đây ta tiến bước

Là đường bậc Thánh vẫn theo luôn.

Bậc đại sĩ đ ã nói như vậy với Trí tuệ

Tối thắng của ngài và làm cô đọng tất cả ý nghĩ

qua các vần kệ tr ên. Sau đó vua N àrada,

một lần nữa lại thưa với ngài:

- Xin Hoàng tổ phụ nhận lấy quyền cai trị vương quốc.

Và ngài đáp :

- Này Hoàng tôn yêu quý, ta không thiết gì vương vị

đâu, song ta lại muốn phân phát trong v òng

bẩy ngày tất cả tài vật cần được bố thí trong

bảy năm qua.

Vua Nàrada lãnh ý, và làm như ngài yêu cầu, truyền chuẩn bị vô số của cải

để phân phát rộng r ãi.

Đức ti ên đế

bố thí trong bẩy ng ày xong xuôi, vào ngày thứ bảy ngài b ăng

h à và tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba.

*

Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại n ày,

Ngài bảo:

- Việc hành trì hạnh nguyện ngày Trai giới là bổn phận cần phải giữ gìn.

Và Ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Bấy giờ vào lúc kết thúc các Sự Thật,

một số nam cư sĩ đắc Sơ quả Dự Lưu, một số khác

đắc Nhị quả Nhất Lai. V à Ngài nhận diện Tiền thân:

-Vào thời ấy, Ànanda là vua Nàrada, Anuruñha (A Na Luật) là Sakha ( Đế

Thích) Thi ên chủ và Ta chính là vua Sàdhina.

-ooOoo-

495. Chuyện Mười Hạng Bà-La-Môn ( Tiền thân Dasa-Bràhmana)

Đại Đế Yud-dhi thật chánh chân .....

Chuyện này Bậc Đại Sư kể trong lúc trú tại

Kỳ Vi ên về một lễ vật cúng dường tối thượng.

Truyện này đ ã

được giải thích trong số 424. Tiền thân Aditta

của Chương VII. Ta biết rằng nh à vua trong lúc thực hiện việc cúng

dường này đ ã quan sát kỹ lưỡng n ăm

trăm vị Tỳ kheo với đức Phật l à vị thượng thủ và

đ ã dâng lễ vật lên các bậc Thánh cao

trọng nhất trong T ă ng chúng.

Sau đó Tăng chúng ngồi trong Chánh pháp

đường v à nói về công đức của vua ấy như

sau :

- Này Hiền hữu Tỳ kheo, vị vua này trong lúc dâng lễ vật tối thượng

đ ã cúng dường các vị

đủ đạo cao đức trọng.

Bậc Đạo Sư bước v ào và hỏi các vị bàn

luận gì trong lúc ngồi tại đây, các vị tr ình

với Ngài. Ngài bảo:

- Này các Tỳ kheo, thật không kỳ diệu gì ngày nay vua Kosala

đ ã là đệ tử

của một Đạo Sư như ta, lại cúng dường có phân biệt r õ ràng. Ngay các

bậc hiền trí xưa kia, trước khi đức Phật xuất

hiện ở đời, cũng đ ã cúng dường có phân biệt.

Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện qúa khứ.

*

Một thuở nọ trong quốc vương Kuru và kinh thành Indapatta, có vua Koravya

cai trị, thuộc dòng dõi Yuddhitthila. Còn quốc sư về thế sự cũng như thánh

sự của vua là vị đại thần mệnh danh Vidh ùra

(bậc Hiền Trí). Vua thực hành đại bố thí l àm

chấn động khắp c õi Diêm phù

đề (Ấn Độ), nhưng trong số những người thọ

hưởng các thí vật n ày không có ai là người giữ

đúng Ngũ giới, tất cả bọn chúng đều l à

độc ác tr ên phương diện làm người, nên

việc bố thí của vua không làm tâm ngài thỏa mãn. Ngài suy nghĩ:" Kết quả của

việc cúng dường có phân biệt thật là vĩ đại

thay". V à với lòng ước ao cúng dường các bậc có

đức độ cao cả, ng ài quyết

định hỏi ý kiến bậc hiền nhân Vidh ùra.

Vì thế khi quốc sư Vidhùra vào chầu vua, ngài mời vị này ngồi xuống và

đưa vấn đề ra hỏi vị n ày.

*

Để trả lời việc n ày, bậc Đạo Sư ngâm

vần kệ đầu. Phần sau l à phần vấn đáp

giữa nh à vua và Vidhùra:

1- Chúa thượng Yu-dhi thật chánh chân

Một hôm hỏi ý bậc hiền nhân:

"Vi-dhù, tìm các La môn thiện

Những bậc hiền nhân trí tuệ tràn.

2- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng như vầy, thiện hữu,

Để ng ày sau hái qủa an toàn.

Trí giả Vidhùra nói:

3- Thật khó tìm Hiền thánh thế này

La-môn trí đức đủ như vầy,

Những người giữ trọn tâm ly dục

Để thọ hưởng phần phẩm thực đ ầy.

4- Giữa đời mười loại B à la môn,

Xin hãy lắng nghe, tấu Đại Vương,

Trong lúc hạ thần phân biệt họ,

Thần xin nói rõ họ hoàn toàn:

5- Vài người mang túi xách trên lưng,

Củ, rễ chất đầy buộc thật căng,

Những kẻ góp gom cây cỏ thuốc

Tắm mình, tụng chú thuật, bùa thần.

6-Bọn họ như thầy thuốc, Đại vương,

Cũng đều được gọi B à la môn

Nay ngài biết loại này tường tận,

Ta có nên tìm hạng ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

7- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vidhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

8- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí Giả Vidhùra nói:

9- Bọn người đi trước lại mang chuông,

Trong lúc vừa đi họ réo vang,

Họ biết lái xe đầy khéo léo,

Thư từ thông điệp họ đều mang

10-Họ chẳng khác nào đám dịch nhân,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận,

Ta có nên tìm hạng ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

11- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

12- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

13- Với bình nước uống gậy cong cong,

Họ chạy theo kịp quốc vương,

Qua các thôn làng cùng thị trấn,

Trong khi theo đuổi lại ca rằng :

" Ta không đ i nữa, dù rừng, phố,

Cho đến khi Ho àng thượng cúng dường".

14- Họ quấy rầy các thuế nhân,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận,

Ta có nên tìm hạng ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

15- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

16- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

17- Móng dài, lông rậm cả tay chân,

Tóc bện và hôi thối miệng r ăng,

Bụi bặm bám đầy người bẩn thỉu,

Họ đi đường tựa bọn xin ăn.

18- Là bọn tiều phu! Tấu Đại vương !

Cũng đều được gọi B à la môn

Nay ngài biết loại này tường tận,

Ta có nên tìm hạng ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

19- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

20- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

21- Am-lạc, Vil-va, đ ào

đỏ hồng,

La-buj, xoài chín, vật chùi r ăng,

Thuốc cao, ván, điếu, đường, ong mật,

Nhiều thứ còn kia, họ bán hàng.

22- Chúa thượng, khác nào bọn lái buôn,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận,

Ta có nên tìm hạng ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

23- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

24- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

25- Những người làm ruộng hoặc đi buôn

Nuôi lắm đ àn dê ở trại chuồng,

Trao đổi cưới xin l àm sính lễ,

Bán bầy con gái, để mua v àng.

26- Giống bọn con lai đám tiện dân,

Cũng đều được gọi B à La Môn,

Nay ngài biết loại này tường tận

Ta có nên tìm loại ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

27- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

28- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

29- Bọn thầy cúng tế, đoán điềm h ên,

Thiến, lựa bò, dê để lấy tiền,

Dân chúng mời về, thường ở lại,

Có đầy thực phẩm đ ược dâng lên,

Nơi kia bò cái, bê, bò thiến,

Dê, lợn đều đem giết lắm phen.

30- Bọn họ như hàng thịt hạ tầng,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận

Ta có nên tìm loại ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

31- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

32- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

33- Bọn mang gươm, giáo, mộc che mình,

Tay lại cầm rìu tựa chiến binh,

Họ đứng trước đo àn thương khách nọ,

Sẵn sàng hướng dẫn đám du h ành.

34- Như mục phu, quân cướp bạo gan,

Cũng đều được gọi B à la môn ,

Nay ngài biết loại này tường tận

Ta có nên tìm loại ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

35- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

36- Những người đoạn ác nghiệp, ly tham,

Ao ước chư hiền thọ thức ăn,

Trẫm nguyện cúng dường người đức độ,

Chính mình sau hái quả an toàn.

Trí giả Vi-dhù nói:

37- Có bọn xây lều đặt bẫy giăng,

Bất kỳ nơi chốn ở trong rừng,

Bắt loại tôm, cá, cùng rùa, trạnh,

Mèo, thỏ, cắc kè, mọi thú hoang.

38- Tâu Đại vương, đây chính thợ săn,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận

Ta có nên tìm loại ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

39- Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

40-Chư vị đoạn tham dục, ác hạnh,

Để d ùng thực phẩm của triều

đ ình,

Trẫm nguyện dâng cúng chư hiền giả,

Để chính m ình sau gặt quả lành.

Trí giả Vi-dhù nói:

41- Lại có bọn ham chuộng bạc vàng,

Chịu nằm xuống dưới chiếu vương sang,

Để vua tắm rửa tr ên

đầu họ,

Trong lễ So-ma rảy tế đ àn.

42- Thợ cạo khác gì? Tấu Đại vương,

Cũng đều được gọi B à la môn,

Nay ngài biết loại này tường tận

Ta có nên tìm loại ấy ch ăng ?

Đại vương Koravya đáp :

43-Họ không chân chánh với danh xưng,

Phạm hạnh thanh cao, họ diệt vong,

Hãy kiếm, Vi-dhù, nhiều vị khác,

Tràn đầy trí tuệ với hiền lương.

44- Chư vị đoạn tham dục, ác h ành,

Để d ùng thực phẩm của triều

đ ình,

Trẫm nguyện dâng cúng người như vậy,

Để chính m ình sau gặt quả lành.

Như vậy sau khi miêu tả các loại Bà la môn chỉ mang hư danh mà thôi, bậc

Trí giả nói tiếp để mi êu tả các vị Bà la

môn theo đúng ý nghĩa cao cả nhất trong hai vần

kệ :

45-Song các La môn , Tấu Đại vương,

Những người đại trí tuệ, hiền lương,

Đoạn trừ mọi ác hạnh, tham dục,

Để thọ thức ăn được cúng dường.

46- Chư vị chỉ dùng một bữa ăn,

Chẳng bao giờ đụng rượu men nồng,

Đại vương biết r õ người như vậy,

Ta có nên tìm các vị không?

Khi vua nghe các lời này, liền hỏi:

- Này hiền hữu Vidhùra, các vị Bà la môn này xứng

đáng cúng dường tối thượng ở đời, hiện nay các

vị đang ở đâu ?

- Tâu Đại vương, ở tr ên dãy Tuyết sơn

xa xôi kia, trong hang núi Nanda.

- Vậy thì, này bậc trí giả, hãy dùng uy lực của ngài, mang các vị Bà la

môn ấy đến ngay đây cho trẫm.

Rồi trong nỗi hân hoan tột độ, vua ngâm vần

kệ n ày:

47- Quốc sư đem hết các La môn,

Thanh tịnh tràn đầy, trí chánh chơn,

Mời các Ngài, ngay Hiền sĩ hỡi,

Chần chờ gì nữa? Hãy lên đường !

Bậc Đại sĩ chấp thuận l àm theo lời

vua yêu cầu, và nói thêm:

- Bây giờ, tâu Đại vương, h ãy truyền

lệnh cho đánh trống khắp kinh th ành,

loan báo rằng toàn thành phải trang hoàng rực rỡ, toàn dân phải bố thí, và

hành trì ngày Trai giới, nguyện giữ mình đức

độ, v à chính Đại vương c ùng cả

triều đ ình cùng phát nguyện giữ ngày

Trai giới.

Còn chính ngài ngay từ tảng sáng, sau khi

điểm tâm xong, liền phát nguyện giữ ng ày Trai giới,

đến chiều, ng ài bảo

đem đến một giỏ hoa l ài. Rồi cùng vua,

đảnh lễ với năm phần thân thể sát đất v à

khi ngài vừa nhớ lại những công đức của các vị

Độc Giác Phật, ng ài vừa khấn vái lời này:

- Kính thỉnh n ăm trăm đức Độc Giác Phật đang

trú trong v ùng Bắc Tuyết Sơn, hang núi Nanda, ngày mai xin các Ngài

hạ cố hưởng thọ thực phẩm của triều dình.

Ngài thả tám nắm tay đầy hoa l ên

không gian, lập tức các hoa này rơi trên n ăm

trăm vị Độc Giác Phật, v ào đúng nơi các

ng ài đang an trú. Các ng ài ấy suy

xét và thấy ngay sự việc kia, liền nhận lời mời và bảo nhau:

- Này các Tôn Giả, chúng ta được vị hiền

nhân Vidh ùra mời đến, vị n ày

không phải người phàm tục đâu, ng ài có

hạt giống Phật trong mình, nên ngay trong kiếp này, ngài sẽ thành Phật.

Chúng ta hãy tỏ lòng kính mến đặc biệt với ng ài.

Bậc Đại sĩ hiểu các Ng ài

đ ã chấp thuận lời mời, bằng chứng là các

hoa kia không bay trở lại. Sau đó, ng ài

bảo:

- Tâu Đại vương, ng ày mai các vị

Độc Giác Phật sẽ đến, vậy h ãy lo cung

thỉnh các vị trọng thể và dâng lễ cúng dường.

Ngày hôm sau đức vua đón tiếp các Ng ài

vô cùng trọng thể, sửa soạn các bảo tọa để các

Ng ài ngồi trên một cái bệ uy nghi cao cả.

Các vị Độc Giác Phật ở Hồ Anotatta, đợi cho

đến lúc cảm thấy đói bụng, liền du h ành qua không gian và giáng hạ,

ngay sân chầu của hoàng cung. Vua cùng Bồ Tát

đầy l òng thành tín, đón lấy các b ình

bát từ tay các Ngài và thỉnh chư vị đi l ên

chiếc bệ đ ài hoa kia, mời an tọa, rảy

nước cúng dường lên tay chư vị, rồi phục vụ các Ngài các thực phẩm thượng

hạng đủ loại cứng v à loại mềm. Sau buổi

thọ thực, vua lại mời các Ngài đến ng ày

hôm sau và cứ thế trong bẩy ngày liền, dâng cúng các Ngài nhiều lễ vật, và

vào ngày thứ bẩy vua cúng dường đủ mọi vật

thiết. Lúc ấy chư vị nói lời t ùy hỷ với vua xong, liền bay qua không

gian trở về nơi trú ngụ cũ, còn các vật cúng dường cũng

đều bay theo các Ng ài.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo Sư bảo :

- Này các Tỳ Kheo, thật chẳng kỳ lạ gì việc vua Kosala nay là

đệ tử của Ta đ ã cúng dường Ta lễ vật tối

thượng, vì các bậc trí nhân ngày xưa ở thời chưa có

đức Phật, cũng đ ã làm như thế.

Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, Ànanda là vua, và bậc Trí giả Vidhùra chính là Ta.

-ooOoo-

496. Chuyện cúng thực phẩm

đúng cấp bậc

(Tiền thân Bhikkhà-Parampara)#

Ta trông ngài xứng đáng ngôi cao.....

Chuyện này Bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại

Kỳ Vi ên về một vị điền chủ.

Người ấy là một tín đồ mộ đạo, thường xuy ên

tỏ lòng cung kính trọng thể đức Như Lai v à

T ăng chúng. Một hôm ông suy nghĩ như sau :

"Ta thường xuyên tỏ lòng cung kính trọng thể

đức Phật l à ngôi báu và T ăng chúng l à

một ngôi báu nữa, bằng cách cúng dường thực phẩm thượng vị và y phục. Nay ta

muốn tỏ lòng cung kính trọng thể Pháp Bảo: Song làm cách nào

để cúng dường ngôi báu ấy ?"

Vì vậy ông đem nhiều v òng hoa thơm và

hương liệu, đi về phía Kỳ Vi ên,

đảnh lễ bậc Đạo Sư v à hỏi Ngài:

- Bạch Thế Tôn, ước nguyện của con là cúng dường Pháp Bảo, vậy làm sao

một người có thể thực hiện việc ấy?

Bậc Đạo Sư đáp :

- Nếu tâm nguyện của ông là cúng dường trọng thể ngôi Pháp Bảo thì ông

hãy cúng dường trọng thể cho Ànanda, vị Thủ kho Chánh Pháp

(Dhamma-Bhandàgàrika):

- Lành thay! Ông đáp v à xin hứa sẽ

thực hiện việc ấy.

Ông đ i mời Tôn giả Ànanda

đến viếng nh à mình, rồi hôm sau rước Tôn

giả về nhà với lễ nghi vô cùng huy hoàng trọng thể. Ông mời Tôn giả ngồi

trên một bảo tọa lộng lẫy và cúng dường Tôn giả vòng hoa thơm cùng hương

liệu rồi thiết đ ãi

đủ loại cao lương mỹ vị, lại dâng loại vải vóc

rất sang trọng vừa đủ cho ba y. Tôn giả liền suy nghĩ :"Vinh dự này

dành cho Pháp Bảo; nó không thích hợp với ta, mà thích hợp với vị Tướng quân

Chánh pháp (Dhamma-Senàpati)".

Thế là đặt thực phẩm v ào bình bát và

cầm vải vóc, Tôn giả đem đến tinh xá, tặng lễ

vật cho Tôn giả S àriputta. Tôn giả này cũng nghĩ như vậy: "Vinh dự

này dành cho ngôi Pháp Bảo, nó không thích hợp với ta, mà nó chỉ thích hợp

duy nhất với bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh

giác, đấng Pháp vương ". V à Tôn giả dâng nó lên

đấng Thập lực. Bậc Đạo Sư thấy không c òn

ai trên Ngài nữa, nên thọ hưởng thực phẩm và nhận số vải vóc

để l àm ba y.

Sau đó Tăng chúng b àn luận việc này

trong Chánh pháp đường :

- Này các hiền giả Tỳ kheo, thế là vị điền

chủ kia muốn tỏ l òng cung kính trọng vọng

đối với Chánh pháp n ên cúng dường Tôn

giả Ànanda là vị Thủ Kho Chánh pháp. Tôn giả này nghĩ mình chưa xứng

đáng với lễ vật ấy n ên trao lại vị Tướng

quân Chánh pháp. Tôn giả này cũng nghĩ mình không xứng

đáng n ên dâng lên

đức Như Lai. C òn

đức Như Lai, thấy không c òn ai trên

Ngài, biết rằng Ngài xứng đáng với lễ vật ấy ở

vị trí đấng Pháp vương, n ên Ngài đ ã

thọ hưởng thực phẩm và nhận số vải để l àm

ba y kia. Như vậy thực phẩm cúng dường đ ã

tìm được chủ nhân nhờ đi đến đúng người có

quyền thọ hưởng.

Bậc Đạo Sư bước v ào hỏi T ăng

chúng đang b àn luận gì khi ngồi ở đây.

Các vị tr ình với Ngài. Ngài bảo:

- Này các Tỳ kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên thực phẩm cúng dường

đến đúng v ào phần của người xứng

đáng bằng những cấp bậc tiến l ên tuần

tự, mà ngày xưa, trước thời đức Phật cũng thế.

Cùng với những lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thời, vua Brahmadatta trị vì rất chân chánh tại Ba La Nại, sau khi

đ ã đoạn trừ

các ác nghiệp v à hành trì Thập vương pháp. Vì thế, tòa án xử kiện của

vua trở nên trống rỗng, vua muốn tìm kiếm cho ra lỗi lầm của mình, cứ hỏi

han mọi người, bắt đầu với những người ở chung

quanh ng ài, nhưng không nơi nào, dù trong các hậu cung, trong kinh

thành hay các thôn làng lân cận, ngài tìm được

nguời nói một lỗi g ì cho ngài cả. Sau

đó, ng ài quyết định đi thăm d ò

dân chúng vùng quê. Vì thế, sau khi giao quyền trị nước cho các triều thần,

ngài đem vị Tế sư đi theo ng ài. Hai vị

cải trang du hành xuyên qua quốc độ K àsi;

tuy thế, ngài cũng không thấy ai nói về ngài vì một lỗi gì cả.

Cuối cùng , ngài đến một l àng ở biên

địa, ngồi ở một sảnh đường không có cổng v ào.

Thời đó, một vị điền chủ của l àng ấy là

một phú ông giầu có đến tám trăm triệu đồng

tiền, đi c ùng một đám t ùy tùng

đông đảo đến một bến tắm, thấy vua ngồi trong

sảnh đường kia với thân tướng cao sang v à sắc da vàng óng. Ông sinh

lòng yêu mến ngài, liền đi v ào sảnh

đường v à bảo:

- Hãy ngồi đây một lát.

Sau đó ông về nh à, bảo soạn sẵn

đủ loại thực phẩm thượng vị, rồi trở lại với

đám t ùy tùng đông đảo mang theo các b ình

bát đựng thức ăn.

Cùng lúc ấy, một vị tu khổ hạnh từ vùng Tuyết Sơn

đi xuống cũng ngồi xuống đó, vị n ày

đ ã chứng

được năm Thắng trí. V à một vị Độc Giác

Phật, cũng từ hang núi Nanda hạ sơn đến ngồi đó. Vị điền chủ kia đưa nước

cho vua rửa tay rồi dọn một đĩa thức ăn thượng hạng đủ loại gia vị thơm ngon

v à đặt trước mặt vua. Ng ài nhận

và trao cho vị Tế sư Bà la môn, vị Tế sư cầm lên trao cho nhà tu khổ hạnh.

Nhà tu khổ hạnh bước đến gần vị Độc Giác Phật,

tay trái cầm b ình đựng thức ăn, tay phải

cầm b ình nước, trước tiên rót nước cúng dường (như chuyện trước), rồi

đặt thức ăn v ào bát vị này. Vị ấy liền

ăn ngay, không mời ai c ùng chia phần với

mình hay xin phép gì cả.

Khi bữa xong, vị điền chủ suy nghĩ :

"Ta dâng thức ăn l ên

đức vua, ng ài trao cho vị Tế sư, vị Tế

sư trao cho vị tu khổ hạnh, vị tu khổ hạnh lại trao cho vị

Độc Giác Phật, v à vị

Độc Giác Phật đ ã thọ thực ngay mà không

xin phép ai nữa. Việc cúng dường này có ý nghĩa gì ch ăng?

Tại sao vị cuối c ùng thọ thực và không cần xin phép ai hay nhờ ai cho

phép? Ta sẽ hỏi lần lượt các vị này".

Rồi vị ấy lần lượt đến gần mỗi người, đảnh

lễ xong liền nói câu ấy v à được các vị

trả lời :

Phú ông hỏi:

1- Ta trông ngài xứng đáng ngôi cao,

Ngài đến từ cung điện xứ n ào,

Sa mạc vùng này hoang vắng quá,

Dáng hình ngài quá thật thanh tao.

2- Vì mến thương ngài, ta đ ã dâng,

Cao lương khéo chọn lựa vừa ăn :

Món cơm kia được t ài người khéo

Nấu đổ l ên trên món thịt hầm.

3- Thực phẩm ngài cầm lại chẳng ăn,

Ngài đem tặng vị B à la môn,

Lòng đầy cung kính, nay xin hỏi :

Việc mới làm mang ý nghĩa ch ăng ?

Đức vua đáp :

4- Sư trưởng ta đây thật nhiệt th ành,

Việc dù lớn nhỏ vẫn thi hành,

Nên ta phải tặng phần cơm cúng,

Xứng đáng Quốc sư, quá thật t ình.

Phú ông hỏi:

5- Dù vua cũng trọng Bà la môn

Xin nói, sao ngài lại chẳng ăn,

Một đĩa cao lương t ài nấu khéo,

Người đổ đầy tr ên món thịt ngon?

6- Ngài chẳng hiểu thông nghĩa cúng dường,

Song ngài đem tặng vị hiền nhân,

Với lòng kính trọng, nay xin hỏi,

Việc ấy ngài làm có nghĩa ch ăng ?

Tế sư đáp :

7- Ta có gia đ ình với vợ con,

Ta thường cư trú tại gia môn,

Dục tham vua chúa ta điều phục,

Tham dục riêng ta vẫn đám hồn.

8- Vói người khổ hạnh, bậc hiền nhân,

Xưa ở trong rừng vẫn trú thân,

Già cả, thực hành theo giáo lý,

Nên ta cầm thực phẩm đem dâng.

Phú ông hỏi:

9- Nay ta xin hỏi bậc hiền nhân,

Ở dưới da ngài lộ rõ gân,

Vói móng mọc dài, đầu tóc rối,

Cái đầu dơ bẩn lẫn h àm r ăng.

10- Ngài chẳng màng đời sống thế gian,

Hỡi người đơn độc trú rừng hoang,

Tôn sư nay có gì ưu thắng,

Mà phải đem lương thực cúng dâng ?

Vị khổ hạnh đáp :

11- Ta đ ào củ cải, tỏi, hành hoang,

Cỏ, lá, bạc hà, vẫn kiếm luôn,

Nhặt hạt cải đen, rung lúa dại,

Trải ra phơi nắng thật khô dòn.

12- Ngó sen, dược thảo, táo, chà là,

Am-lạc, mật ong, miếng thịt thừa,

Là của ta dành phần kiếm được,

Rồi làm thành món hợp cho ta.

13- Ngài không, lão nấu, lão nhiều hàng,

Ngài chẳng có chi, lão buộc ràng,

Thế sự bao điều, ng ài giải thoát,

Món cơm ngài hưởng đúng công bằng.

Phú ông hỏi:

14- Xin hỏi, ngồi kia bậc Trí hiền,

Mọi nguồn dục vọng thảy nằm yên,

Món cơm nấu khéo đầy ngon ngọt,

Có kẻ đem phần thịt đổ l ên.

15- Ngài nhận và ngon miệng uống ăn,

Chẳng mời ai đến để chia phần,

Đầy l òng kính trọng, nay xin hỏi:

Việc ấy ngài làm có nghĩa ch ăng ?

Độc Giác Phật đáp

16- Không nấu, cũng không bảo nấu dùm,

Nay không làm hại, trước không làm,

Vị kia biết rõ ta không của,

Ta quyết đoạn trừ mọi dục tham.

17- Tay phải vị kia nắm chiếc bình,

Thức ăn cầm phía trái b ên mình,

Cho ta món thịt hầm người đặt,

Trên bát cơm ngon thật tốt lành.

18- Chúng nhiều tài sản, lắm kim ngân,

Bổn phận là đem của phát phân,

Ai bảo người cho cũng thọ hưởng,

Ấy là thù địch, chớ phân vân.

Khi nghe những lời này, vị điền chủ vô c ùng

hoan hỷ ngâm hai vần kệ cuối cùng:

19- Thật là ta được một duy ên may

Hạnh ngộ quân vương ngự tới rày,

Thuở trước ta không hề biết rõ,

Cúng dường mang phước quá tràn đầy.

20- Đế vương với các B à la môn,

Trị nước mà tâm ác dục tràn,

Các trí nhân tìm cây quả dại,

Bậc tu hành giải thoát lòng tham.

Khi vị Độc Giác Phật thuyết giáo cho vị kia

xong, liền trở về c õi của Ngài và vị tu khổ hạnh cũng thế. Còn nhà

vua, sau vài ngày ở lại với vị điền chủ, cũng

trở về Ba la nại.

*

Khi bậc Đạo sư đ ã chấm dứt Pháp thoại

này, Ngài bảo:

- Này các Tỳ kheo, đây không phải l à

lần đầu ti ên thực phẩm

đến tay người xứng đáng, m à trước kia

cũng vậy.

Rồi Ngài nhận diện tiền thân:

- Vào thời ấy, người điền chủ đ ã tôn

trọng cúng dường Pháp là người điền chủ trong

chuyện n ày, Ànanda (A -nan) là vua, Sariputta (Xá lợi phất) là Tế sư

và Ta chính là vị tu khổ hạnh trên vùng Tuyết Sơn.