Chuyện Tiền Thân · Jātaka

460. Chuyện Thái Tử Yuvanjana (Tiền thân

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 51

Chuyện Thái Tử Yuvanjana (Tiền thân#

Jātaka group 51

460. Chuyện Thái Tử Yuvanjana (Tiền thân

Yuvanjana) Con xin đảnh lễ đấng

Quân vương..

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại sự Xuất thế của

Ngài.

Một ngày kia, các Tỷ-kheo tụ họp trong Chánh pháp

đường:

- Này Hiền hữu, một vị Tỷ-kheo bảo vị kia,

đấng Thập Lực trước kia hẳn có thể sống tại gia, có thể l àm một vị

Chuyển luân Thánh vương ở giữa Ðại thế giới đầy

đủ báu vật, vinh quang với bốn Thần lực si êu phàm,

được đám vương tử vây quanh hơn ng àn vị.

Tuy thế, Ngài đ ã từ bỏ mọi cảnh vinh

quang ấy khi Ngài nhận thấy mối nguy hiểm nằm trong tham dục. Nửa

đ êm, cùng với Channa (Xa-nặc), Ngài cỡi

vương mã Kanthaka (Kiền-trắc) của Ngài và ra

đi. Tr ên bờ sông Anomà, Dòng Sông Vẻ vang ấy, Ngài từ giã thế tục và

suốt sáu n ăm liền, Ng ài sống khổ hạnh ép

xác, sau đó Ng ài tự tu tập và chứng

đắc Chánh Ðẳng Giác.

T ăng chúng nói với nhau như vậy về công hạnh

của đức Phật. Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, trong lúc ngồi đây, các

ông đang nói về vấn đề g ì?

T ăng chúng thưa với Ng ài. Bậc Ðạo Sư

bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên

Như Lai làm đại sự xuất thế. Ng ày xưa,

Ngài đ ã từ bỏ ngai vàng ở vương quốc

Ba-la-nại rộng đến mười hai dặm.

Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, có một vị vua mệnh danh là Sabbadatta cai trị thành Ramma.

Kinh thành mà nay ta gọi là Ba-la-nại đ ã

được gọi l à Sarundhana trong tiền thân

Udaya số 458, cũng là Sudassana trong tiền thân Cullasutasoma số 525, hay là

Brahmavaddhana trong tiền thân Sonandana số 532, và là Pupphavati trong tiền

thân Khandahàla số 542. Còn trong tiền thân Yuvanjana này, nó lại có tên là

thành Ramma. Như vậy tên đó thay đổi theo nhiều

ho àn cảnh.

Thời ấy vua Sabbadatta có một ngàn vương tử, và ngài phong chức phó vương

cho Thái tử Yuvanjana.

Một sáng sớm kia, thái tử ngự lên vương xa lộng lẫy của chàng trong quang

cảnh cực kỳ uy nghi, chàng nhàn du trong vườn thượng uyển. Khắp các

đỉnh cây, ngọn cỏ, đầu c ành, trên các

mạng nhện gi ăng tơ qua các đầu ngọn lau, ch àng

thấy các giọt sương lủng lẳng như vô số xâu chuỗi ngọc trai. Chàng hỏi:

- Này hiền hữu quản xa, cái gì đây?

- Tâu điện hạ, đây l à chất lỏng rơi

xuống trong mùa lạnh, mà người ta gọi là sương mai.

Thái tử tiếp tục du ngoạn vui chơi trong ngự viên trọn ngày hôm

đó. Về chiều, khi ch àng quay lại lối cũ,

chàng không còn thấy hạt sương nào nữa. Chàng hỏi:

- Này hiền hữu quản xa, những hạt sương đâu

rồi? Nay ta không c òn thấy chúng nữa.

Vị kia đáp:

- Tâu điện hạ, khi mặt trời l ên cao,

sương tan hết và chìm xuống đất.

Nghe vậy, thái tử thất vọng bảo:

- Ðời người ta cũng được tạo th ành

chẳng khác gì các giọt sương mai trên ngọn cỏ. Ta cần phải thoát khỏi gánh

nặng bức bách của bệnh tật, tuổi già và chết chóc. Ta phải từ giã song thân

và rời thế tục.

Như vậy là do nhân duyên các giọt sương mai, chàng nhận thức ba cõi sinh

hữu (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) như thể

đang ở trong ngọn lửa cháy bừng. Khi ch àng về cung, chàng vào yết

kiến phụ vương trong Ðại pháp đ ình nguy

nga của ngài. Ðảnh lễ vua cha xong, chàng đứng

sang một b ên và ngâm vần kệ đầu để xin

phép vua cha được rời thế tục:

1. Con xin đảnh lễ đấng quân vương,

Giữa ngự quan, bằng hữu, đại thần,

Ho àng thượng, con mong rời thế tục,

Xin hoàng thượng chẳng chối từ con.

Kế đó vua ngâm vần kệ thứ hai để khuy ên

can chàng:

2. Con có mơ gì, hỡi Dũ-vân,

Cha ban tròn vẹn mọi cầu mong,

Nếu ai làm hại, cha che chở,

Con chớ làm tu sĩ ẩn thân.

Nghe thế, thái tử ngâm vần kệ thứ ba:

3. Chẳng có ai làm hại đến con,

Ước mơ con đạt được vuông tr òn,

Song con muốn kiếm nơi an trú,

Mà tuổi già không phá mỏi mòn.

Bậc Ðạo Sư ngâm nửa vần kệ để giải thích vấn

đề n ày:

4. Thái tử tâu vầy với phụ vương,

Vua cha liền phán bảo cùng con:

Nửa vần kệ sau do đức vua ngâm:

" Ðừng rời thế tục, này vương tử,

Dân chúng kinh thành thảy khóc thương".

Vương tử lại đáp vần kệ n ày:

5. Ðại đế, đừng l àm trẻ phải xa,

Cuộc đời không tục lụy ph ù hoa,

Con e say đắm nhiều tham dục

Sẽ hóa mồi ngon của tuổi gi à.

Khi nghe nói điều n ày, vua cha phân

vân do dự. Sau đó, mẫu hậu được tin:

- Tâu lệnh bà, thái tử đang xin pháp ho àng

thượng để xuất gia.

Bà hỏi:

- Ngươi nói gì thế?

Tin ấy khiến bà ngạt thở, liền ngự vào chiếc kiệu bằng vàng, bà bảo

đi nhanh đến đại pháp đường v à ngâm vần

kệ thứ sáu:

6. Mẹ van con đó, hỡi con thân,

V à mẹ mong con phải ở gần,

Mẹ muốn gặp con hoài, thái tử,

Con đừng rời bỏ chốn ph àm trần .

Khi nghe vậy, thái tử ngâm vần kệ thứ bảy:

7. Như đầu ngọn cỏ đọng hơi sương,

Khi mặt trời l ên rực ánh dương,

Cũng vậy là đời người thế tục,

Xin đừng cản bước, mẹ hiền thương.

Chàng nói vậy xong, bà vẫn van xin chàng mãi, với mục

đích ngăn cản ch àng. Sau

đó, bậc Ðại sĩ tâu với vua cha vần kệ

thứ tám:

8. Bảo người khiêng kiệu, hãy cùng nâng!

Ðừng để mẹ gi à cứ cản ng ăn

Con trẻ muốn đi v ào Thánh đạo,

Xa đời sinh diệt, tấu Minh quân!

Khi vua cha nghe con nói, ngài phán:

- Này ái hậu, hãy lên kiệu về cung thường lạc của ta mà an nghỉ.

Trước lệnh của vua, đôi chân vương hậu quỵ

xuống, rồi b à được đám cung nữ vây quanh

d ìu bà về. Khi bước vào hậu cung, đứng

nh ìn về phía đại pháp đường, b à b ăn

khoăn hỏi tin tức con m ình. Sai khi mẫu hậu

đi rồi, Bồ-tát lại xin phép vua cha lần nữa.

Vua không thể từ chối ch àng được, liền

phán:

- Này thái tử thân yêu, cứ làm theo ý nguyện của con và từ bỏ thế tục.

Khi vừa nghe cha chấp thuận điều n ày,

tiểu hoàng đệ của Bồ-tát l à vương tử

Yudhitthila, đến đảnh lễ vua cha, v à

cũng xin phép theo đời xuất gia như thế, vua

liền bằng l òng ngay.

Cả hai vị vương tử từ biệt vua cha và giờ

đây, sau khi từ bỏ mọi dục lạc thế gian, hai vị ra đi từ đại pháp đường giữa

đại chúng. Chánh hậu nh ìn theo bậc Ðại sĩ và than khóc:

- Thái tử đ ã từ giã thế tục, kinh

thành Ramma này sẽ trống rỗng.

Rồi bà ngâm đôi vần kệ:

9. Nhanh lên, cầu hạnh phúc, con ôi!

Ta chắc Ram-ma trống vắng thôi,

Ðại đế Sab-ba vừa chấp thuận,

Dũ-vân thái tử xuất gia rồi.

10. Thái tử, đại huynh giữa cả ng àn,

Hoàng nhi trông dáng thật như vàng,

Từ đây vương tử oai h ùng

đ ã

Ðắp chiếc y vàng bỏ thế gian.

Bồ-tát không đi ngay l ên

đường tu h ành. Không, trước tiên ngài

đến từ biệt song thân, rồi c ùng với tiểu

đệ l à vương tử Yudhitthila, ngài rời

kinh thành và bảo đám đại chúng đang theo sau

hai vị phải quay về, c òn hai vị tiến lên vùng Tuyết Sơn. Tại

đó, hai vị dựng l ên một thảo am ở một

chốn đầy an lạc v à hành trì cuộc

đời của bậc hiền nhân thanh tịnh tu tập thiền

định hướng thượng. Hai vị sống suốt đời bằng các củ, quả rừng rồi được sinh

l ên cõi Phạm thiên.

Vấn đề n ày

được giải thích qua vần kệ cuối c ùng

phát xuất từ trí tuệ tối thắng của đức Phật:

11. Vương tử Dũ-thi với Dũ-vân,

Sống đời thanh tịnh của hiền nhân,

Gi ã từ vương phụ và vương mẫu,

Chặt đứt l àm

đôi xích tử thần.

*

Khi bậc Ðạo Sư đ ã chấm dứt Pháp

thoại, Ngài bảo:

- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu

Như Lai từ bỏ vương quốc để đi theo đời tu h ành, mà ngày xưa cũng

đ ã làm như thế.

Rồi Ngài nhận diện tiền thân:

- Thuở ấy, song thân trong hoàng tộc ngày nay là vương phụ và mẫu hậu,

Ànanda là tiểu đệ Yudhitthila v à thái tử

Yuvanjana chính là Ta.

-ooOoo-

461. Chuyện Đại Vương

Dasaratha (Tiền thân Dasaratha)

Lak-kha hiền đệ lẫn Si-ta..,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một người

địa chủ có cha chết.

Khi người cha từ trần, lòng người ấy tràn ngập

đau buồn bỏ dở mọi công việc của m ình,

ông chìm đắm trong nỗi u sầu. V ào một

buổi sáng, bậc Ðạo Sư nhìn xuống thế gian, nhận thấy người ấy

đ ã đến thời

kỳ th ành thục để đắc quả Dự Lưu. Hôm ấy

khi đ ã đi khất thực tại Xá-vệ, v à

thọ thực xong, Ngài bảo các Tỷ-kheo lui về, rồi Ngài

đem theo một Tỷ-kheo trẻ, đi đến nh à

người ấy. Ngài chào ông và nói với ông trong lúc Ngài ngồi

đó bằng những lời ngọt ng ào như mật:

- Này cư sĩ, ông đang sầu muộn phải chăng?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Con đang buồn v ì

cha con mất!

Bậc Ðạo Sư bảo:

- Này cư sĩ, các bậc trí nhân ngày xưa hiểu rõ Tám pháp của thế giới này

( được v à mất, vinh và nhục, khen và chê,

lạc và khổ), nên khi cha mất, các ngài không thấy

đau buồn, d ù chỉ mảy may.

Rồi theo lời thỉnh cầu của ông, Ngài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, tại Ba-la-nại, một vị đại vương

mệnh danh Dasaratha, từ bỏ các ác đạo v à cai trị theo Chánh pháp.

Trong số mười sáu ngàn cung phi, vị chánh hậu sinh hạ hai vương tử và một

công chúa; thái tử được đặt t ên là Ràma

Pandita hay hiền giả Ràma. Vị thứ hai được đặt

t ên Lakkhana hay Cát Tường và tên công chúa là Sità hay Thanh Lương.

Theo thời gian chánh hậu qua đời. Lúc b à

từ trần, vua bị nỗi đau buồn xâm chiếm trong

một thời gian, nhưng khi được triều thần thúc giục, ng ài cử hành tang

lễ bà xong, lại phong cho một vi vương phi khác lên làm chánh hậu. Bà này

được vua hết sức sủng ái. Sau đó b à thụ

thai, được vua chăm sóc rất ân cần chu đáo v à

sinh hạ một hoàng nam, đặt t ên là vương

tử Bharata.

Vua rất yêu quý vương tử ấy và bảo chánh hậu:

- Này ái khanh, ta ban cho nàng một ân huệ, nàng hãy chọn

đi.

Bà nhận đặc ân tr ên, nhưng xin vua

cho bà hoãn lại sự lựa chọn ấy một thời gian. Khi vương nhi lên bảy tuổi, bà

đến yết kiến vua v à tâu:

- Tâu thánh thượng, ngài đ ã hứa ban

một đặc ân cho vương tử, con của thần thiếp,

giờ đây xin ng ài ban cho thần thiếp được

chăng?

- Ái khanh hãy chọn đi - Vua phán.

- Tâu thánh thượng - bà bảo - xin ban vương quốc này cho con thần thiếp.

Vua tỏ vẻ bất cần đối với b à:

- Lui ra ngay, này ác nữ nhân! Ngài phán một cách giận dữ. Hai vương nhi

của ta sáng rực như hai ngọn lửa hồng, ngươi muốn giết chúng

đi rồi đ òi ngai vàng cho con của ngươi

đấy chăng?

Bà hoảng sợ chạy về cung thất nguy nga của bà, rồi các ngày tiếp theo,

lại cố xin vua đặc ân ấy m ãi. Vua không

chấp thuận ban cho bà ân huệ ấy. Ngài nghĩ thầm: "Nữ nhân thường vong ân và

phản bội, ác phụ này có thể dùng chiếu chỉ giả mạo hay hối lộ gian trá

để sai giết các con ta". V ì vậy ngài cho

triệu hai con đến v à kể hết mọi việc cho

con nghe, rồi phán:

- Này hai vương nhi, nếu các con ở đây, chắc

tai họa có thể xảy ra cho các con. Vậy h ãy qua vương quốc bên cạnh

ta, hoặc vào rừng, rồi khi thân ta đ ã

được hỏa táng, h ãy trở về thừa kế vương

vị thuộc về gia tộc của các con.

Sau đó ng ài triệu các thầy tướng số

đến hỏi về thọ mạng của ng ài. Họ tâu

rằng ngài có thể sống thêm mười hai n ăm nữa.

Rồi ng ài bảo:

- Này các con, sau mười hai n ăm các con phải

trở về v à giương cao chiếc lọng của hoàng gia.

Hai vương tử hứa lời xong và vừa đi khỏi

cung điện vừa khóc lóc. Công nương Sit à nói:

- Ta cũng sẽ đi c ùng hai vương huynh.

Nàng vào từ biệt phụ vương, vừa ra đi vừa

khóc lóc.

Cả ba anh em lên đường giữa đám đông dân

chúng. Ba vị bảo dân chúng lui về, rồi tiến l ên cho

đến khi đi tận v ùng Tuyết Sơn. Tại

đó, ở một nơi có nước chảy nhiều, v à

thuận tiện để hái quả rừng, hai vị dựng am tu v à

sống tại đó bằng quả cây.

Trí giả Lakkhana và Sità nói với trí giả Rama:

- Ðại hiền huynh ở địa vị thân phụ của chúng

em, vậy xin ở lại trong am v à chúng em sẽ

đi hái quả về nuôi hiền huynh.

Chàng đồng ý. Từ đó hiền giả Rama ở tại nh à,

còn hai em cùng đi mang quả rừng về nuôi ch àng.

Ba vị sống tại đó như vậy v à nuôi

thân bằng quả rừng hoang dại, song vua Dasaratha héo mòn vì nhớ các con nên

từ trần vào n ăm thứ chín. Trong lúc cử h ành

tang lễ vua, hoàng hậu ra lệnh giương chiếc lọng phong vương cho con trai bà

là vương tử Bharata. Nhưng triều thần bảo:

- Các vị vương tử chúa tể của chiếc lọng này

đang ở trong rừng.

Nên đại chúng không cho phép việc ấy. Vương

tử Bharata lại bảo:

- Ta sẽ đi t ìm

đại vương huynh R àma trong rừng về và

giương chiếc lọng phong vương cho ngài.

Mang theo n ăm biểu tượng của vương quyền

(bảo kiếm, lọng trắng, vương miện, đôi h ài và cái quạt bằng lông

đuôi trâu rừng), ch àng lên

đường c ùng một

đo àn hộ tống

đầy đủ bốn đạo quân (voi, kỵ m ã, xe, bộ

binh), đến nơi ba vị đang trú ngụ. Không xa đó

mấy, ch àng ra lệnh cắm trại, rồi cùng vài triều thần

đi đến viếng v ùng ẩn am, vào lúc hiền

giả Lakkhana cùng Sità đ ã

đi v ào rừng.

Hiền giả Ràma đang ngồi ở cửa am, vô tư v à

thanh thản như một pho tượng bằng vàng ròng vững chắc. Vị vương tử

đến gần ng ài

đảnh lễ rồi đứng một b ên, kể cho ngài

nghe mọi việc xảy ra ở vương quốc, vừa quỳ xuống chân ngài cùng

đám triều thần vừa òa lên khóc nức nở.

Hiền giả Ràma không buồn cũng không khóc, tâm trí ngài không còn xúc

động nữa.

Sau khi Bharata đ ã hết khóc và ngồi

xuống, mãi đến chiều hai vị kia mới trở về với

mớ quả rừng. Hiền giả R àma suy nghĩ: "Hai em kia còn trẻ, chúng không

có trí tuệ tỉnh giác như ta. Nếu thình lình chúng

được nghe tin rằng phụ vương đ ã b ăng

h à, nỗi đau khổ sẽ lớn quá mức chúng

chịu đựng, ai biết được tim chúng chẳng tan nát ra? Vậy ta sẽ dụ chúng bước

xuống nước rồi t ìm phương tiện tỏ bày sự thật. "Rồi vừa chỉ cho hai

em một nơi ở phía trước có nước, ngài bảo:

- Các em đi ra ngo ài lâu quá, vậy

đây l à cách

để các em hối lỗi. H ãy bước xuống vũng nước kia và

đứng đó.

Rồi ngài ngâm nửa vần kệ:

1. Lak-kha hiền đệ, lẫn Si-t à,

Bước xuống ao kia cả đấy m à.

Chỉ một lời thế là đủ, hai vị bước xuống

nước v à đứng đó. Lát sau ng ài báo

tin cho hai em bằng cách ngâm nửa vần kệ tiếp:

Vương tử Bha-ra vừa nói rõ

Da-sa đại đế đ ã b ăng

h à.

Khi hai vị nghe tin vương phụ đ ã b ăng

h à, liền ngất xỉu. Ngài lập lại tin ấy, hai vị lại ngất xỉu,

đến lần thứ ba, hai vị vẫn ngất đi. Các triều

thần liền đỡ họ dậy v à đem họ ra khỏi

nước rồi đặt họ l ên đất khô ráo. Khi hai

vị đ ã được an ủi khuy ên lơn, cả

hai vẫn ngồi khóc lóc, kêu gào. Lúc ấy vương tử Bharata suy nghĩ: "Vương

huynh Lakkhana và vương tỷ Sità không thể nào ng ăn

nỗi sầu bi khi nghe tin phụ vương từ trần, song hiền giả R àma chẳng

than khóc kêu gào gì cả. Ta không biết nguyên nhân gì khiến vương huynh

chẳng sầu muộn. Ta sẽ hỏi xem".

Rồi chàng ngâm vần kệ thứ hai hỏi:

2. Cho biết, Rà-ma, bởi lực gì,

Gặp buồn, huynh lại chẳng sầu bi?

Lòng huynh sầu muộn không tràn ngập,

Dù được tin vương phụ mất đi!

Sau đó, R àma giải thích lý do ngài

không cảm thấy sầu bi bằng cách đáp lời:

3. Khi chẳng làm sao giữ vật nào,

Dù cho người ấy có kêu gào,

Vậy nên người trí đầy thông tuệ

Phải tự h ành mình bởi cớ sao?

4. Các đám thanh ni ên, kẻ trưởng

thành,

Người ngu cùng với bậc thông minh,

Giàu, nghèo, kết cuộc đều cầm chắc,

Phải chết từng người giữa chúng sinh.

5. Như ta đứng trước quả cây muồi,

Hay phát sinh niềm sợ quả rơi,

Cũng vậy phát sinh l òng sợ chết,

Với phàm nhân ở khắp muôn người.

6. Nhiều kẻ vừa trông thấy buổi mai,

Có khi chiều tối đ ã lìa

đời,

V à người được thấy khi chiều xuống,

Vừa mới sáng mai đ ã mất rồi.

7. Nếu người ngu dại hoặc cuồng đi ên,

Phúc lạc đổ dồn đến tự nhi ên

Khi nó tự hành bằng nước mắt,

Bậc hiền làm giống kẻ kia liền.

8. Cách này đây nó tự h ành mình,

Kẻ ấy gầy mòn lại tái xanh,

Nước mắt chẳng làm gì ích lợi,

Chẳng làm người chết được hồi sinh.

9. Như nh à cháy rực lửa đang hồng,

Ðược dập tắt liền với nước sông,

Người mạnh, người hiền, người có trí,

Những người hiểu giáo lý tinh thông,

Nỗi buồn đem rắc như bông vải,

Khi có cuồng phong thổi b ão bùng.

10. Một khi sinh vật phải lìa trần,

Một kẻ khác liền được thọ thân,

Kết hợp với nhiều dây trói buộc,

Có c ùng đặc tính một nguồn căn,

Phước phần mỗi kẻ đều t ùy thuộc

Vào những dây liên hệ buộc ràng.

11. Người mạnh, tinh thông lý nhiệm mầu,

Quán sát đời n ày lẫn kiếp sau,

Hiểu bản chất này chung của chúng,

Cho nên chẳng bị nỗi buồn rầu,

Khiến cho lòng trí mình dao động,

D ù có khổ đau đến độ n ào.

12. Vậy ta nên cống hiến song thân,

Phụng dưỡng các ngài phẩm vật dâng,

Ta sẽ bảo tồn di tích cũ,

Ấy là hành động của hiền nhân.

Trong các vần kệ này, ngài đ ã giải

thích tính Vô thường của vạn vật.

Khi hội chúng nghe Pháp thoại này của hiền giả Ràma làm sáng tỏ quy luật

Vô thường, họ đều ti êu tan mọi nỗi sầu

muộn. Sau đó vương tử Bharata kính ch ào

hiền giả Ràma và van xin ngài nhận lãnh vương quốc ở Ba-la-nại. Hiền giả

Ràma bảo:

- Này vương đệ, h ãy

đem Lakkhana v à Sità về với vương

đệ, v à chính các vương

đệ h ãy ch ăm

lo cai trị đất nước.

- Tâu chúa thượng, không được, xin chúa

thượng đảm nhận quốc độ.

- Này vương đệ, phụ vương đ ã ban lệnh

cho ta nhận lãnh quốc độ sau mười hai năm. Nếu

ta về bây giờ, ta sẽ không thi h ành lệnh vua ban. Vậy ba n ăm

nữa ta sẽ về.

- Thế ai sẽ trị nước trong thời gian này?

- Chính vương đệ.

- Tiểu đệ không muốn thế.

- Vậy thì cho đến khi ta về, đôi h ài

này sẽ làm việc đó.

Ràma bảo, rồi tháo đôi h ài rơm ra,

ngài trao chúng cho vương đệ. Thế l à ba

vị nhận lấy đôi h ài, từ tạ vị hiền nhân

và lên đường về Ba-la-nại c ùng với

đo àn người hộ tống

đông đảo.

Trong ba n ăm liền, đôi h ài ấy cai trị

vương quốc. Triều thần đặt chúng l ên

ngai, khi hội chúng xét xử một việc gì. Nếu vụ kiện

được xét xử sai, đôi h ài sẽ

đập v ào nhau. Và khi thấy dấu hiệu ấy,

sự việc kia được xét lại, đến khi việc phán xét

đúng đắn th ì đôi h ài nằm yên.

Khi thời gian ba n ăm ấy đ ã qua, bậc

trí nhân ra khỏi rừng, đi đến Ba-la-nại, v à

vào ngự viên. Các vương tử nghe tin ngài đến,

liền c ùng một đo àn hộ tống

đông đảo đi đến hoa vi ên, và phong Sità

lên làm chánh hậu, rồi làm lễ quán đảnh (rảy

nước thánh) cho cả hai. Khi cử h ành lễ quán

đảnh như thế xong, bậc Ðại Sĩ

đứng tr ên chiếc vương xa lộng lẫy với

một đám đông vây quanh tiến v ào kinh

thành, đi diễu quanh một v òng theo hướng

bên hữu, rồi ngự lên thượng lầu vĩ đại của cung

điện nguy nga Sucandaka kia, ng ài trị nước tại

đó rất chân chánh trong mười sáu ng àn n ăm,

v à về sau đi l ên cộng trú cùng

hội chúng của chư Thiên.

Vần kệ này từ trí tuệ tối thắng giải thích phần kết thúc câu chuyện:

Tr ăm năm nhân với sáu mươi lần,

Một vạn năm th êm, chuyện kể rằng

Dũng sĩ Rà-ma lên ngự trị,

Cổ ngài ba ngấn, hạnh phúc tràn

*.

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật.

Bấy giờ, lúc kết thúc các Sự Thật, người địa

chủ đ ã được an trú v ào Sơ quả (Dự

Lưu).

Rồi Ngài nhận diện tiền thân:

- Thời ấy, vua Suddhodana là vua Dasaratha, hoàng hậu Mahàmayà là mẫu

hậu, mẹ của Ràhula là Sità, Ànanda là Bharata và Ta chính là hiền giả Ràma.

-ooOoo-

462. Chuyện Vương Tử Samvara (Tiền thân Samvara)

Quả xưa thánh thượng đ ã tinh tường..,

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể lại trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

không giữ tinh tấn.

Chúng ta biết đây l à một thiện gia

nam tử ở Xá-vệ, sau khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết Pháp, người này từ bỏ thế

tục. Ðang khi hoàn thành mọi nhiệm vụ do các giáo sư và các vị giáo thọ

đề ra, người ấy vừa học thuộc l òng các

chi phần của Giới bổn Patimokka. Sau n ăm năm

ông nói:

- Khi nào ta đ ã

được chỉ dạy pháp môn nhập thiền định, ta sẽ v ào

an trú trong rừng.

Sau đó, ông từ gi ã các giáo sư, tiến

vào một làng ở biên địa trong vương quốc

Kosala. Dân chúng h ài lòng với cách ăn ở

của ông, n ên ông dựng am lá ở đó được

cung phụng đầy đủ. V ào mùa mưa, với nhiệt tâm tinh cần, nỗ lực phấn

đấu, ông cố gắng đạt đến thiền định trong v òng

ba tháng, song chẳng đạt được chút g ì từ

việc này cả. Sau đó ông suy nghĩ: "Quả thật ta

l à người đầy nhiệt tâm đối với các thế

gian pháp nhất trong bốn hạng người được bậc Ðạo Sư thuyết giảng. Ta

còn làm gì nữa với đời sống trong rừng?" Rồi

ông lại nghĩ thầm: "Ta sẽ trở về Kỳ Vi ên, trong lúc chiêm ngưỡng hảo

tướng của đức Như Lai v à nghe giọng Ngài

thuyết Pháp dịu ngọt như mật, ta sẽ sống cả đời

tại đó".

Thế là người ấy giảm sút lòng tinh tấn, và lên

đường lần hồi đi đến Kỳ Vi ên. Các giáo

sư và các vị giám hộ của ông, cùng bạn bè thân thuộc hỏi ông về nguyên nhân

trở về đây. Ông bảo cho các vị kia biết, đại

chúng đều ch ê trách ông về việc này và chất vấn ông tại sao lại làm

như vậy. Sau đó đại chúng dẫn ông đến yết kiến

bậc Ðại Sư.

- Này các Tỷ-kheo - bậc Ðạo sư hỏi - tại sao các ông dẫn một Tỷ-kheo

đến đây m à kẻ ấy không muốn?

T ăng chúng đáp:

- Tỷ-kheo này đ ã

đến đây v ì ông

đ ã giảm sút tinh tấn.

- Việc này có đúng như họ nói với Ta chăng?

Bậc Ðạo sư hỏi.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Người ấy đáp.

Bậc Ðạo sư bảo:

- Này Tỷ-kheo, tại sao ông không còn tinh tấn nữa? Ðối với một người yếu

kém và lười biếng, không có quả vị cao cả nào dành cho y trong giáo pháp

này, y cũng không thể đạt Thánh quả. Chỉ những

kẻ n ào nỗ lực tinh cần mới hoàn thành việc ấy

được. Ng ày xưa ông

đầy đủ dũng lực, lại dễ dạy bảo v à vì

thế dù là nhỏ tuổi nhất trong đám cả trăm vương

tử của vua Ba-la-nại, ông cũng đ ã chiếm

được chiếc lọng trắng nhờ tuân theo đúng lời giáo huấn của các bậc hiền

nhân.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, vị trẻ tuổi nhất

trong số một tr ăm vương tử của ng ài tên

là vương tử Samvara. Vua giao mỗi con trai ngài cho một vị cận thần

đảm trách c ùng với lời chỉ dẫn

để dạy mỗi người những môn học cần phải học

tập. Vị cận thần dạy cho vương tử Samavara l à Bồ-tát, ngài thật sáng

suốt, học rộng, làm tròn nhiệm vụ như người cha

đối với vương tử kia. Trong khi mỗi vị vương tử được giáo dục như thế, các

cận thần thường đem họ đến để vua cha thăm viếng. Ng ài ban cho mỗi vị

một thị trấn và truyền lệnh ra đi nhận chức.

Khi vương tử Samvara hoàn thành mọi việc học tập, chàng hỏi Bồ-tát:

- Thưa dưỡng phụ, nếu phụ vương đưa con đến

một thị trấn th ì con phải làm gì?

Ngài đáp:

- Này con, khi con được ban cho một thị

trấn, con phải từ chối v à tâu: "Tâu phụ vương, con là con út trong

nhà, nếu đi nữa th ì sẽ không còn ai dưới

chân phụ vương, nên con muốn ở lại nơi đang

sống đây dưới chân phụ vương thôi".

Rồi một ngày kia, khi vương tử Samvara đến

đảnh lễ ng ài và đang đứng một b ên,

vua hỏi chàng:

- Này vương nhi, con đ ã học tập xong

chưa?

- Tâu phụ vương, đ ã xong.

- Vậy con hãy lựa một thị trấn.

- Tâu phụ vương, nếu vậy thì quanh mình phụ vương sẽ trống vắng, vương

nhi xin ở lại dưới chân phụ vương, chứ không đi

đâu khác.

Vua rất hoan hỷ và bằng lòng ngay.

Sau khi chàng ở lại bêm mình vua cha, chàng hỏi Bồ-tát:

- Thưa dưỡng phụ, con phải làm gì nữa?

Ngài bảo:

- Hãy xin vua cha một ngự viên cũ.

Vương tử đồng ý v à xin một hoa viên

với số hoa quả trồng tại đó, ch àng kết

bạn cùng những người thế lực trong kinh thành. Chàng lại hỏi phải làm gì

nữa. Bồ-tát bảo:

- Hãy xin vua cha cho phép phân phát tiền của khắp kinh thành.

Chàng làm theo và không hề bỏ quên một người nào, chàng phân phát tiền

của khắp kinh thành. Chàng lại hỏi ý kiến Bồ-tát và sau khi xin vua cha chấp

thuận, chàng phân phát thực phẩm trong cung

điện, bọn nô tỳ, bầy ngựa v à quân lính, không sót nơi nào;

đối với sứ giả các nước ngo ài

đến, ch àng sắp

đặt nơi ăn chốn ở cho họ, ch àng ấn

định thuế má cho các thương nhân, mọi việc g ì

cần thu xếp, chàng đều l àm một mình cả.

Như vậy theo lời khuyên của bậc Ðại sĩ, chàng kết bạn với mọi người, cả

những người sống trong gia đ ình cho

đến những người không gia đ ình, mọi

người trong kinh thành, các triều thần của quốc

độ n ày cho đến đám ngoại nhân, nhờ sức

thu hút của ch àng kết hợp bằng hữu lại với chàng như thể một sợi dây

sắt: chàng được mọi người y êu mến thiết

thân.

Ðến khi vua lâm trọng bệnh trên vương sàng, triều thần hỏi ngài:

- Tâu chúa thượng, khi chúa thượng b ăng h à,

chúng thần sẽ trao chiếc lọng trắng cho ai?

Ngài đáp:

- Này các hiền khanh, các vương tử của ta

đều có quyền được chiếc lọng trắng, song các khanh h ãy trao nó cho

người nào làm hài lòng các khanh.

Vì vậy sau khi ngài b ăng h à, và khi

lễ tang đ ã

được cử h ành xong, vào ngày thứ bảy, quần thần tụ họp lại và bảo:

- Tiên vương ra lệnh cho chúng ta trao chiếc lọng trắng cho người nào làm

vừa lòng chúng ta. Vậy người mà tâm chúng ta hằng ao ước chính là vương tử

Samvara.

Cho nên đại chúng giương chiếc lọng trắng

che l ên đầu ch àng cùng với các

dây tua bằng vàng, và chàng được cả vương tộc

hộ tống l ên ngôi.

Ðại vương Samvara tuân thủ lời khuyên r ăn

của Bồ-tát n ên cai trị rất đúng Chánh

pháp.

Còn chín mươi chín vị vương tử hay tin vua cha từ trần và chiếc lọng

trắng đ ã giương lên cho vương tử

Samvara. Các vị bảo:

- Nhưng nó là em út trong nhà, chiếc lọng không thuộc về nó

được. Chúng ta h ãy giương chiếc lọng lên

cho vị huynh trưởng của chúng ta.

Họ đều tập họp mọi lực lượng lại, v à

gởi thư đến Samvara, buộc ch àng hoàn trả

chiếc lọng nếu không thì sẽ giao chiến, sau đó

các vị bao vây kinh th ành. Vua báo tin này với Bồ-tát và hỏi phải làm

gì bây giờ. Ngài đáp:

- Này đại vương, ng ài không nên gây

chiến với các vương huynh. Hãy chia bạc vàng của vua cha thành một tr ăm

phần, rồi chín mươi chín phần đến các vương huynh c ùng thông

điệp n ày: "Xin hãy nhận phần tài sản của

phụ vương vì tiểu đệ không muốn gây chiến với

các vương huynh".

Vua liền làm như thế.

Sau đo vị huynh trưởng, thái tử Uposatha,

triệu tập các vương tử kia lại bảo:

- Này các hiền đệ, không ai có khả năng

chiến thắng vị vua n ày được, v à

đây lại l à em út của ta. Mặc dù trước

đây, đó l à kẻ thù của ta, nay không phải

như vậy nữa, mà em ta gởi vàng bạc đến chúng

ta, không muốn gây chiến với chúng ta. Giờ đây chúng ta không thể n ào

cùng một lúc giương cao chiếc lọng lên cho mọi người

được, chúng ta h ãy giương lọng lên cho

một người thôi, hãy để một m ình em út ta

làm vua, vậy khi chúng ta gặp em ta, chúng ta sẽ giao trả vàng bạc của vương

tộc cho em ta, và trở về thị trấn của mình.

Sau đó tất cả các vị ấy ngưng việc vây h ãm

kinh thành và đi v ào trong thành, không

còn là thù địch nữa. Vua bảo triều thần ra ngh ênh

tiếp các vị và đại chúng đi đón các vương tử

ấy. Các vương tử c ùng đo àn tùy

tùng đông đảo đi bộ v ào, bước lên các

bậc thềm của cung điện, hết sức khúm núm trước

đại vương Samvara v à ngồi xuống một chỗ thấp. Còn vua Samvara ngự

trên ngai vàng dưới chiếc lọng trắng trông ngài thật uy nghi cao cả và rực

rỡ huy hoàng; bất cứ nơi nào ngài nhìn đến, đại

chúng đều rúng động to àn thân.

Thái tử Uposatha chiêm ngưỡng cảnh nguy nga lộng lẫy của

đại vương Samvara, nghĩ thầm: "Ta chắc phụ

vương ta biết r õ là vương tử Samvara sẽ làm vua sau khi ngài b ăng

h à, nên ngài đ ã ban cho chúng ta

các thị trấn mà chẳng cho vương đệ ta v ùng

nào cả". Sau đó ch àng ngâm ba vần kệ nói

với vua:

1. Quả xưa thánh thượng đ ã tinh

tường,

Bản chất tính tình của đại vương,

Ân đ ã ban nhiều vương tử khác,

Ðại vương lại chẳng được ban phần.

2. Chính l à vương phụ lúc sinh thời,

Hay lúc thành tiên, đến c õi trời,

Vì thấy lợi nhiều cho quốc độ,

N ên vương tộc đ ã thuận theo

lời.

3. Hãy nói lực gì, Sam-va-ra,

Ðại vương vượt hẳn cả hoàng gia,

Sao vương huynh lại không đo àn kết,

Ðể chiếm ngôi cao của đệ à?

Nghe vậy vua Samvara ngâm sáu vần kệ giải thích

đặc tính của ng ài:

4. Ta chẳng bao giờ miễn cưỡng dâng

Những gì xứng với đại hiền nhân,

Sẵn s àng ban tặng đầy trân trọng,

Ðảnh lễ, ta quỳ xuống dưới chân.

5. Ta chẳng tỵ hiềm, muốn học luôn

Mọi điều đức hạnh hợp công bằng,

Các hiền nhân dạy điều lương thiện

Trong ấy các ng ài thấy lạc hoan.

6. Ta vẫn thường nghe sự bảo ban

Của nhiều bậc trí, đại hiền nhân,

Tâm hồn ta hướng về lương thiện,

Ta chẳng coi thường lời dạy răn.

7. Voi chiến c ùng nhiều đạo m ã

xa,

Bộ binh và vệ sĩ vương gia,

Ta không hề bớt phần công nhật,

Mà trả tiền lương đủ mọi nh à.

8. Quý tộc danh gia vẫn đến hầu,

Quân sư t ài trí thật là cao,

Họ thường khen ngợi rằng lương thực,

Quả thật Ba-la-nại rất giàu.

9. Thịnh vượng như vậy, các lái buôn,

Từ nhiều quốc độ tới lui luôn,

Ta che chở chúng - N ày vương tử,

Sự thật, hiền huynh đ ã tỏ tường.

Thái tử Uposatha nghe kể rõ đức tính của vua

liền ngâm hai vần kệ:

10. Ðạo đức vượt hơn gia tộc m ình,

Và em cai trị thật công bình,

Sam-va tài trí càng cao trọng,

Phục lạc ban đều các đại huynh.

11. Vương huynh r ày bảo vệ kho tàng,

Vương đệ sau n ày sẽ vạn an,

Tránh khỏi quân thù như Ðế Thích

Mình vàng tránh các La-hầu-vương.

Vua Samvara tiếp đ ãi các vương huynh

rất trọng thể. Các vị ở lại cùng vua một tháng rưỡi, rồi bảo vua:

- Tâu đại vương, chúng thần muốn đi xem có

trộm cướp n ào đặt chân l ên lãnh

thổ của chúng thần ch ăng. Cầu mong triều đại n ày

được vạn vạn phúc!

Các vị ấy lại ra về lãnh thổ của mọi người. Còn vua theo lời dạy của

Bồ-tát, nên khi mạng chung, ngài đi l ên

cộng trú với hội chúng ở Thiên giới.

*

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài nói thêm:

- Này Tỷ-kheo, xưa kia ông đ ã theo

lời dạy bảo, tại sao nay ông lại không tiếp tục nỗ lực tinh cần?

Rồi Ngài thuyết giảng các Sự Thật. Bấy giờ, lúc kết thúc các Sự Thật, vị

Tỷ-kheo đ ã

được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).

Rồi Ngài nhận diện tiền thân:

- Thời ấy, Tỷ-kheo này là vua Samvara, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là thái tử

Uposatha, các vị trưởng lão và cao niên là các vương huynh kia, các

đệ tử của đức Phật l à

đám t ùy tùng của các vị ấy, và Ta chính

là vị cận thần đ ã khuyến giáo vua.

-ooOoo-

463. Chuyện Trí Giả Suppàraka (Tiền thân Suppàraka)

Những người kia mũi nhọn như dao..,

Chuyện này bậc Ðại Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về sự viên mãn của

trí tuệ tối thắng.

Một ngày nọ, chúng ta nghe kể rằng về buổi tối, các Tỷ-kheo

đang đợi đức Như Lai đến thuyết Pháp cho Tăng

chúng, v à trong lúc ngồi tại chánh pháp

đường, các vị nói với nhau:

- Này Tỷ-kheo, quả thật bậc Ðạo Sư có trí tuệ vĩ

đại! Trí tuệ quảng bác! Trí tuệ mẫn tiệp, Trí

tuệ linh hoạt! Trí tuệ tinh xảo! Trí tuệ uy ên thâm! Trí tuệ Ngài

đáp ứng đúng nơi đúng lúc! Trí bao la như thế

giới, như đại dương vô tận, như bầu trời trải rộng m ênh mông: khắp cả

xứ Diêm-phù- đề không một bậc trí nhân n ào

có thể sánh bằng đấng Thập Lực, như một đợt

sóng nổi l ên trên đại dương không thể

chạm đến bờ được, hoặc nếu chạm v ào bờ, sóng kia sẽ vỡ tan. Cũng vậy,

không một người nào có thể đạt đến trí tuệ bằng

đấng Thập Lự ïc, hoặc nếu kẻ ấy đến chân

bậc Ðạo Sư thì sẽ vỡ tan.

Bằng những lời ấy T ăng chúng tán thán Trí

tuệ tối thắng của đấng Thập Lục. Bậc Ðạo Sư bước vào, và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông đang nói g ì

trong khi ngồi đây?

T ăng chúng thưa với Ng ài. Ngài bảo:

- Không phải chỉ bây giờ Như Lai mới đầy đủ

trí tuệ. Ng ày xưa ngay khi trí tuệ chưa viên thành Chánh giác, Ngài

cũng đ ã sáng suốt thông minh. Mặc dù mù

lòa, Ngài cũng biết qua các dấu hiệu của đại

dương l à ở trong đại dương có chôn giấu

các loại ngọc n ày nọ.

Sau đó Ng ài kể một chuyện quá khứ.

*

Một thuở nọ một vị vua mệnh danh Bharu trị vì trong quốc

độ Bharu. Có một thị trấn b ên hải cảng

được đặt t ên là Bharukacha hay là Ðầm

Bharu. Vào thời ấy, Bồ-tát sinh ra trong gia đ ình

một thuyền trưởng ở tại đó, ng ài rất khả

ái, với làn da màu vàng nâu. Cha mẹ đặt t ên

ngài là Suppàraka-Kumàra.

Ngài lớn lên, xuất sắc khác thường, và ngay khi chỉ mới

được mười sáu tuổi, ng ài

đ ã hoàn toàn tinh thông nghệ thuật hàng

hải. Sau đó khi thân phụ mất, ng ài cầm

đầu đám thủy thủ v à miệt mài với nghề

hàng hải, ngài thật thông minh sáng suốt, khi ngài lên tàu rồi thì không hề

có chiếc tàu nào đến l àm hại

được.

Theo thời gian, ngài bị thương vì nước mặn nên

đôi mắt ng ài mất cả thị giác. Sau sự

kiện ấy, dù ngài là thuyền trưởng của đám thủy

thủ, ng ài không còn đeo đuổi sự nghiệp

thương m ãi nữa, mà quyết định về phục vụ

vua, ng ài đến yết kiến vua với mục đích

ấy, v à vua phong cho ngài chức hội thẩm

đánh giá các báu vật. Từ đó ng ài định

giá trị các voi báu, ngọc báu v à châu báu.

Một hôm, một con voi được đem tr ình

lên vua, da voi màu đá đen, n ên có thể

được l àm vương tượng. Vua liếc nhìn voi

rồi ra lệnh đem nó đi đến tr ình diện với

bậc trí giả. Quân hầu liền dẫn con vật đến gặp

ng ài. Ngài sờ tay lên khắp mình voi và bảo:

- Con voi này không xứng đáng l àm

quốc tượng. Nó có đặc tính của một con vật bị

dị tật ở phía sau. Khi voi mẹ sinh ra nó, đ ã không

đủ sức mang nó l ên vai, nên

để nó ngồi xuống đất, v ì vậy nó bị tật

nguyền ở chân sau.

Họ chất vấn những người đem voi đến, v à

bọn ấy trả lời rằng bậc trí giả đ ã nói

đúng sự thật. Khi vua nghe nói chuyện kia, l òng

rất hoan hỷ và ra lệnh ban cho bậc trí giả tám

đồng tiền v àng.

Một ngày khác, người ta đem một con ngựa

dâng l ên để l àm vương mã. Con vật

này cũng được dẫn đến bậc trí giả. Ng ài

lấy tay sờ khắp mình ngựa rồi nói:

- Con vật này không thích hợp để l àm

vương mã cho đức vua ngự. V ào ngày nó

sinh ra, ngựa mẹ chết đi, n ên do thiếu

sữa mẹ, nó không lớn lên đầy đủ.

Lời nói này của ngài cũng đúng sự thật nữa.

Khi nghe được chuyện ấy, vua rất đẹp ý, phán bảo đem tặng ng ài tám

đồng tiền nữa.

Vào một ngày khác, một chiếc xe được đem đến

để l àm vương xa. Vua cũng đưa xe n ày

đến ng ài. Ngài lấy tay rờ khắp xe và

bảo:

- Chiếc xe này được l àm bằng gỗ rỗng,

nên không thích hợp với đức vua.

Lời nói này của ngài cũng đúng như các lời

khác. Vua lại một phen h ài lòng khi nghe chuyện này, nên ban thêm cho

ngài tám đồng nữa. Một lần nữa có người đem

dâng vua một tấm thảm quý có giá trị lớn, vua liền đưa nó đến ng ài

như lần trước. Ngài sờ khắp tấm thảm, rồi bảo:

- Ở đây có một chỗ m à con chuột

đ ã cắn một lỗ.

Họ xem kỹ và thấy chỗ đó, liền tâu với vua.

Vua đẹp ý lại bảo cho ng ài tám đồng tiền

nữa.

Lúc bấy giờ bậc trí giả mới suy nghĩ: "Chỉ

được có tám đồng v àng để xem những việc

kỳ diệu như thế đấy. Ðây là món tiền tặng cho thợ hớt tóc, chắc hẳn

vua này là cậu bé thường hớt tóc! Tại sao ta phải phụng sự một vị vua như

thế chứ? Ta sẽ trở về nhà riêng của mình". Thế là ngài trở về hải cảng

Bharukaccha và sống tại đó.

Lúc ấy có vài thương nhân chuẩn bị một chiếc thuyền và

đang đi t ìm một thuyền trưởng. Họ suy

nghĩ: "Ngài Suppàraka thông minh kia là một bậc trí giả tài ba, có ngài trên

tàu thì không con tàu nào đến hại nữa. D ù

ngài mù lòa, bậc trí giả Suppàraka vẫn là người tuyệt hảo". Vì thế họ

đi đến ng ài và mời ngài làm thuyền

trưởng.

- Này các hiền hữu - ngài đáp - ta m ù

rồi, làm sao lái thuyền các bạn được?

- Thưa Tôn giả, quả ngài mù thật đấy - các

thương nhân bảo - song ng ài là người tài giỏi nhất.

Vị họ cứ n ăn nỉ ng ài mãi không ngớt

nên cuối cùng ngài chấp thuận.

- Như các bạn đ ã nói với ta - ngài

bảo - thì ta sẽ làm thuyền trưởng của các bạn.

Sau đó, ng ài bước lên chiếc thuyền

của họ.

Họ lái thuyền ra giữa đại dương. Suốt bảy ng ày

liền, thuyền đi không gặp rủi ro n ào,

rồi một ngọn gió trái mùa nổi lên. Thuyền trôi dạt bốn tháng trên vùng

đại dương hoang d ã, cho

đến lúc v ào

được một nơi gọi l à Biển Khuramàla (Bãi Dao nhọn hoắc). Tại

đây lo ài cá có thân như người với mõm

nhọn hoắc như lưỡi dao, nhào lộn dưới nước. Các thương nhân quan sát loài cá

này, vừa hỏi bậc Ðại Sĩ biển này tên gì, vừa ngâm vần kệ

đầu:

1. Ðám người kia mũi nhọn như dao,

Vừa nhảy lên cao, lại lộn nhào,

Hãy nói, Sup-pà, cho chúng bạn,

Biển này được biết với t ên nào?

Bậc Ðại sĩ nghe câu nói này, liền ôn lại trong trí các kiến thức thủy thủ

của ngài, rồi đáp qua vần kệ thứ hai:

2. Này các thương nhân cảng Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Ðây là biển cá Khu-ra đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua.

Lúc bấy giờ đại dương n ày có nhiều

kim cương. Bậc Ðại sĩ suy nghĩ rằng nếu ngài bảo chúng bạn

đây l à biển kim cương, họ sẽ làm chìm

tàu do lòng tham hốt nhiều kim cương. Vì thế, ngài không nói gì cả, song sau

khi đưa thuyền đến, ng ài lấy một sợi dây

thừng và thả lưới xuống như thể bắt cá. Với dây này, ngài

đ ã hốt được

một mớ kim cương v à dấu trong thuyền, rồi ngài lựa những thứ ít giá

trị qu ăng xuống biển.

Chiếc thuyền đi qua v ùng biển này,

đến một biển khác t ên là Aggimàla (Vùng

Lửa cháy). Biển này tỏa ra ánh sáng như thể một ngọn lửa

đang bừng cháy, như mặt trời đúng ngọ. Các

thương nhân hỏi han ng ài qua vần kệ:

3. Kìa đại dương như ngọn lửa hồng,

Như vầng nhật chiếu, bạn c ùng trông,

Sup-pa, xin nói cho bè bạn,

Tên gọi là gì chốn đại dương?

Bậc Ðại sĩ đáp lại họ qua vần kệ tiếp theo:

4. Này các thương nhân ở Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Ðây là biển cả Ag-gi đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua.

Bấy giờ biển này chứa đầy v àng, cũng

như trước, ngài lấy lên một mớ vàng và cất lên thuyền. Qua khỏi biển này con

thuyền đi đến một biển cả t ên là

Dadhimàla (Vũng Sữa đông), óng ánh như sữa tươi

hay sữa đông. Các thương nhân lại hỏi t ên của biển qua vần kệ:

5. Kìa biển trắng phau giống sữa tươi,

Trắng như nhìn vũng sữa đông rồi,

Sup-p à, xin nói cùng bè bạn,

Tên gọi là gì của biển khơi?

Bậc Ðại sĩ đáp lại chúng bằng câu kệ tiếp

theo:

6. Này các thương nhân ở Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Ðây là biển cả Da-dhi đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua.

Trong biển này có rất nhiều bạc. Ngài lấy bạc theo cách như trước, rồi

cất lên tàu. Chiếc thuyền đi qua biển n ày

và đến một đại dương t ên là

Nilavannakusamàla (Thảm cỏ Kusa), có hình dáng một thảm cỏ kusa

đen nhánh (cỏ cát tường) hay một cánh đồng lúa.

Các thương nhân lại hỏi t ên biển qua vần kệ:

7. Kìa, biển xanh như cỏ cát tường,

Tưởng như nhìn đám lúa n àng hương,

Sup-pà, hãy nói cho bè bạn,

Tên gọi là gì của đại dương?

Ngài đáp lời qua vần kệ tiếp theo:

8. Này các thương nhân xứ Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Ðại dương đây chính Ku-sa đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua .

Bấy giờ trong biển này có rất nhiều ngọc bích quý. Cũng như trước, ngài

lấy một mớ ngọc và cất trên thuyền. Qua khỏi biển này, con thuyền

đi đến một biển t ên gọi là Nalamàla (Bãi

Lau sậy), có hình dáng một bãi lau sậy hay một rừng tre. Các thương nhân hỏi

tên biển qua vần kệ:

9. Kìa đại dương như một khóm lau,

Khác n ào ta thấy rặng tre đâu,

Sup-p à, hãy nói cho bè bạn,

Biển cả này tên gọi thế nào?

Bậc Ðại sĩ đáp lại qua vần kệ sau:

10. Này các thương nhân xứ Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Biển n ày tên gọi Na-la đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua.

Bấy giờ biển này đầy san hô với m àu

khóm tre, ngài lại hốt một mớ đá quý n ày

và cất lên tàu.

Sau khi đi qua biển Nalam àla, các

thương nhân đến một biển có t ên là

Valabhàmukha (Lòng chảo). Ở đây nước rút đi v à

dâng lên một phía, và như vậy nước rút đi ở mọi

phía v à dâng lên trên các vách đá thẳng

đứng để lại một v ùng như thể cái hố sâu. Một

đợt sóng dâng tr àn lên một phía, khác

nào một bức tường: tai lại nghe một tiếng gầm thét khủng khiếp, tưởng chừng

làm thủng màng tai hoặc vỡ cả tim ra. Khi thấy cảnh này, các thương nhân

kinh hoảng và hỏi tên biển qua vần kệ:

11. Này nghe tiếng thét thật kinh hoàng,

Từ biển cả kia thật dị thường!

Hố thẳm, hãy nhìn nhiều đợt sóng

Dâng l ên dốc đứng tựa sườn non,

Sup-p à, hãy nói cho bè bạn,

Ðây gọi tên gì của đại dương?

Bồ-tát đáp lại qua vần kệ:

12. Này các thương nhân xứ Bhar-ka,

Ði tìm vàng bạc bán đường xa,

Va-la-bh à đại dương n ày

đó,

Thuyền của các người đ ã lạc qua.

Ngài nói tiếp:

- Này các hiền hữu, một khi thuyền vào trong biển Valabhàmukkhi này thì

không thể nào trở về được. Nếu thuyền n ày

vào đó, nó sẽ ch ìm và tan nát.

Bây giờ có cả bảy tr ăm mạng người tr ên

thuyền này, họ đều sợ chết; n ên họ

đồng thanh thốt l ên một tiếng kêu vô

cùng thảm thiết, chẳng khác nào tiếng kêu la của những kẻ

đang bị đốt cháy trong chốn địa ngục tận c ùng

(Vô gián Ðịa ngục). Bậc Ðại sĩ nghĩ thầm: "Trừ ta ra, không ai có thể cứu

mạng họ được. Ta quyết cứu họ bằng một lời thề

chân lý". Rồi ng ài nói lớn:

- Này các hiền hữu, hãy mau mau tắm cho ta bằng nước hương thơm, mặc y

phục mới cho ta, dọn ra một chén nước đầy v à

đưa ta đứng trước con thuyền.

Cả bọn vội làm như vậy. Bậc Ðại sĩ cầm chén nước

đầy bằng cả hai tay, v à

đứng trước mũi thuyền, thực hiện một lời nguyện

cầu chân lý trong khi ngâm vần kệ cuối c ùng:

13. Từ khi ta nhớ rõ về thân,

Trí tuệ đầu ti ên phát khởi dần,

Không một người nào ta sát hại,

Là điều ta đ ã biết tinh tường,

Nều lời cầu nguyện này chân chánh,

Mong ước thuyền về chốn vạn an.

Bốn tháng qua con thuyền đ ã du hành

trong những vùng biển xa xôi nay dường như được

ban cho thần lực si êu phàm, nên chỉ trong một ngày nó trở lại hải

cảng Bharukaccha, vào tận trên đất liền cho đến

khi dừng lại trước cửa nh à của vị thuyền trưởng kia, sau khi nhảy vọt

qua một khoảng chừng một ngàn một tr ăm cubit (1

cubit = 45cm). Bậc Ðại sĩ phân phát cho

đám thương nhân tất cả v àng bạc trân châu, san hô, kim cương và bảo:

- Số châu báu này là đủ cho các bạn rồi, vậy

đừng du h ành đường biển nữa.

Sau đó ng ài thuyết Pháp cho họ và

đến khi đ ã làm xong các việc bố thí và

các thiện sự suốt đời, ng ài

đi l ên cộng trú với hội chúng ở Thiên

giới.

*

Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo sư bảo:

- Này các Tỷ-kheo, ngày xưa Như Lai cũng rất thông thái như bây giờ vậy.

Rồi Ngài nhận diện tiền thân:

- Thời bấy giờ hội chúng của đức Phật l à

hội chúng thương nhân và Ta chính là Trí giả Suppàraka.