Chương X#
Phẩm Mười Bài Kệ#
439. Chuyện Bốn Cổng Thành (Tiền thân Catu-Dvàra)#
Thành sắt này xây bốn cổng cao...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phóng dật.
Các chi tiết câu chuyện đ ã
được n êu ra trong số 427, chuyện Tiền
thân đầu ti ên của Chương IX. Ở
đây, một lần nữa bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo
này:
Có đúng như Tăng chúng nói rằng ông bất tuân
giới luật?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Ngài bảo:
- Ngày xưa, cũng vì bất tuân lời dạy bảo của các bậc trí nhân, mà ông
phải nhận lấy một bánh xe sắc như dao cạo.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa vào thời đức Phật Kassapa
(Ca-diếp), tại th ành Ba-la-Nại có một thương gia làm chủ tài sản
đến tám trăm triệu đồng, nhưng chỉ sinh được
một trai t ên là Mittavindaka. Cha mẹ cậu này
đ ã đi v ào
hướng Dự Lưu, song cậu vẫn là một kẻ theo ác hạnh, không có lòng tin vào
Ðạo.
Về sau, khi cha cậu mất, mẹ cậu thay thế
điều h ành sản nghiệp ấy, bà bảo con như vầy:
- Này con, thân người khó được, vậy con h ãy
bố thí, tu tập công đức, giữ ng ày trai
giới và lắng tai nghe Pháp.
Cậu đáp lại:
- Này mẹ, không có chuyện bố thí, tu tập gì cả với con
đâu, đừng bao giờ nhắc chúng với con nữa, con
sống thế n ào thì ngày sau con theo nghiệp
đó.
Vào một ngày rằm tr ăng tr òn, khi cậu
cũng nói như trên, mẹ cậu đáp :
- Con ơi, hôm nay được d ành làm ngày
trai giới thanh tịnh. Vậy ngày nay con hãy phát nguyện giữ giới,
đi viếng tinh xá v à lắng nghe Pháp suốt
đ êm, rồi khi con trở về, mẹ sẽ cho con
một ngàn đồng tiền nhé.
Vì tham số tiền ấy, cậu bằng lòng ngay. Ngay khi
ăn sáng xong, cậu đi đến tinh xá, ở lại đó suốt
ng ày; song từ đầu hôm cho đến lúc canh t àn,
chẳng một lời Giáo pháp này lọt vào tai cậu cả. Cậu
đi nằm một nơi v à ngủ thẳng giấc. Ngày
hôm sau, từ tảng sáng, cậu rửa mặt và đi về nh à,
ngồi phịch xuống.
Bấy giờ, mẹ cậu nghĩ thầm: "Hôm nay, sau khi nghe Pháp, con ta sẽ về từ
sáng sớm, dẫn theo vị Trưởng lão đ ã
giảng Pháp". Vì thế, bà nấu cháo sẵn, với thức
ăn đủ loại cứng v à mềm, sửa soạn chỗ ngồi xong,
đợi con về. Khi b à thấy con
đi về một m ình, bà hỏi:
- Này con, sao con không đưa về vị Pháp sư?
- Mẹ ạ, chẳng có Pháp sư nào giảng cho con cả. Cậu
đáp.
Bà mẹ bảo:
- Thế thì con húp cháo này đi.
Cậu nói:
- Mẹ đ ã hứa cho con một ngàn
đồng tiền, mẹ ạ. trước ti ên mẹ hãy trao
tiền cho con, rồi sau đó con mới húp cháo.
- Húp cháo trước đi con, rồi con sẽ được
tiền kia m à.
Cậu bảo:
- Không được, con không muốn húp cháo cho
đến khi con được tiền kia.
Thế là bà mẹ đặt túi tiền một ng àn
đồng trước mặt cậu. Cậu liền húp cháo, xong cậu
lấy túi tiền một ng àn đồng đi l àm
công chuyện của cậu; và cứ thế về sau, chẳng bao lâu cậu kiếm
được hai triệu đồng tiền.
Lúc ấy, cậu chợt nghĩ ra rằng cậu muốn tậu lấy một con tàu rồi
đi l àm ăn
tr ên đó. Thế l à cậu sắm tàu, rồi
bảo mẹ:
- Mẹ à con có ý định đi l àm
ăn tr ên tàu này.
Bà mẹ đáp:
- Con là con độc nhất của mẹ, m à
trong nhà mình hiện có nhiều tài sản lắm rồi; còn biển cả lại
đầy nguy hiểm, con đừng đi.
Song cậu bảo:
- Con quyết ra đi, mẹ không thể cản con được
đâu.
Bà tiếp:
- Này, mẹ cứ muốn cản con đấy.
Rồi bà cầm lấy tay cậu, xong cậu hất tay bà ra khiến bà ngã xuống, và
trong chốc lát, cậu đ ã biến dạng, vội
lên đường.
Vào ngày tháng bảy, nhân vì có mặt Mittavindaka, con tàu cứ
đứng bất động tr ên biển sâu. Người ta
rút th ăm v à cả ba lần
đều trúng tay Mittavindaka. Thế l à họ
cho cậu một chiếc bè và nói:
- Ðừng để nhiều người phải chết chỉ v ì
một người này.
Rồi họ thả cậu trôi dạt trên đại dương, chỉ
thoáng chốc sau, con t àu ấy đ ã
lao nhanh vùn vụt trên biển.
Còn cậu trai trên chiếc bè trôi đến một đảo
kia. Tại đó, trong một cung điện bằng thủy tinh, cậu chợt thấy bốn ma nữ.
Trước kia, ma chúng thường phải chịu bảy ng ày
đau khổ v à hưởng bảy ngày hạnh phúc.
Ðược kết bạn với chúng, cậu thọ hưởng khoái lạc thần tiên. Rồi khi
đến thời chúng phải chịu khổ h ình, chúng
bảo cậu:
- Thưa công tử, chúng em sắp xa chàng bảy ngày, trong lúc chúng em
đi vắng, xin ch àng ở lại
đây v à đứng
lo buồn g ì cả.
Nói xong, chúng giã từ.
Song cậu trai, lòng đầy khát vọng, lại
ra khơi trên chiếc bè kia, và vượt đại dương,
đến một đảo khác, tại đây trong một cung điện bằng bạc, cậu thấy tám ma nữ
khác. Cứ như thế, cậu thấy tr ên một đảo
nữa mười sáu ma nữ trong một cung bằng ngọc, rồi tr ên một
đảo khác nữa, ba mươi hai ma nữ trong một cung
bằng v àng. Cũng như trước kia, với các ma nữ này, cậu hưởng thọ lạc
thú thần tiên, rồi khi chúng đi xa để chịu cực
h ình, cậu lại ra khơi lần nữa, lênh đ ênh
trên đại dương, m ãi cho
đến cuối c ùng cậu thấy một kinh thành có
bốn cổng lớn và hào lũy bao bọc. Người ta bảo
đó l à ngục Ussada (Ngục bằng sắt hay Thiết vi Ðịa ngục), nơi mà nhiều
chúng sinh bị đọa đầy, phải thọ l ãnh các
nghiệp báo của mình, song đối với Mittavindaka,
nó lại có vẻ như một kinh th ành tuyệt mỹ. Cậu suy nghĩ: "Ta muốn vào
th ăm kinh th ành kia và làm vua tại
đó.
Thế là cậu bước vào, vừa thấy một sinh linh
đang chịu khổ h ình phải mang một cái bánh xe sắc như lưỡi dao cạo,
song đối với Mittavindaka dường như bánh xe dao
tr ên đầu kẻ kia lại giống như đóa hoa
sen nở, năm v òng xiềng xích trên ngực gã nào khác chiếc áo choàng
rực rỡ sang trọng, dòng máu nhỏ giọt trên đầu g ã
như thể phấn bột gỗ chiên- đ àn
đỏ thắm ngát hương, c òn tiếng gã rên la
tựa tiếng ca êm dịu nhất trên đời. V ì
vậy cậu đến gần v à bảo:
- Này người kia, anh đ ã mang cái hoa
sen ấy lâu rồi, nay hãy đưa cho ta.
Người ấy đáp:
- Thưa ngài, nó không phải là hoa sen đâu, m à
nó là bánh xe sắc như dao cạo.
Cậu trai bảo:
- À, anh nói vậy vì anh không muốn đưa nó cho
ta đấy thôi.
Gã tội nhân khốn khổ kia liền suy nghĩ: "Ắt hẳn các nghiệp quá khứ của ta
đ ã tiêu trừ hết. Rõ ràng người này cũng
như ta đi đến đây v ì
đ ã đánh mẹ
nó. Ðược rồi ta sẽ cho nó đưa bánh xe
dao n ày". Gã liền bảo:
- Này đây, h ãy cầm lấy hoa sen.
Cùng với lời nói trên, gã thả bánh xe dao trên
đầu cậu, nó rơi xuống đỉnh đầu v à nghiến
sâu vào đó, lập tức, Mittavindaka biết ngay đó
l à bánh xe dao, cậu liền nói:
- Lấy bánh xe của anh lại!
Và cậu gào thét dữ dội trong cơn đau đớn,
song kẻ kia đ ã khuất dạng mất rồi.
Vừa lúc ấy, Bồ-tát cùng đo àn tùy tùng
đông đảo đang đi kinh lý qua ngục Ussada, v à
đến tận nơi ấy, Mittavindaka trông thấy ng ài,
vội kêu lên:
- Tâu thiên chủ, Thượng đế của chư Thi ên,
bánh xe này đang đâm thủng v à xé nát
đầu con như thể cái chầy nghiền nát mớ hột cải,
vậy con đ ã phạm tội ác gì?
Cậu vừa hỏi, vừa ngâm hai vần kệ này:
1. Thành sắt này xây bốn cổng cao,
Con nay mắc bẫy bước chân vào,
Chung quanh con, lũy hào bao bọc,
Con đ ã gây nên các nghiệp nào.
2. Giờ đây đóng chặt các th ành môn
Và bánh xe này hủy diệt con
Nào khác chim lồng, con bị bắt.
Tại vì sao vậy, tấu Thiên vương?
Lúc ấy Thiên chủ ngâm các vần kệ này để giải
thích vấn đề cho cậu r õ:
3. Ngài có ngày xưa chục vạn đồng,
Hai mươi lần nữa đấy, tôn ông,
Tuy nhi ên ngài vẫn không hề muốn
Tai lắng nghe bằng hữu nói n ăng.
4. Ng ài đ ã vội vàng vượt
đại dương
Chất đầy nguy hiểm dọc đường trường,
Nữ ma, bốn tám, ng ài th ăm viếng,
Mười sáu n àng, theo kế tám nàng.
5. Tiếp theo mười sáu, đến ba hai
Tận hưởng dục tham cứ miệt m ài,
Nay hãy nhìn đây đầy phần tặng thưởng
Bánh xe dục lạc ở đầu ng ài.
6. Ai đi đại lộ dục tham đầy,
Con lộ th ênh thang rộng lớn thay,
Vô độ, chúng không hề thỏa m ãn
Thì phần chúng đội bánh xe n ày.
7. Ai chẳng mong phân phát bạc vàng,
Chẳng cầu tìm Chánh đạo b ình an
Cũng không biết phải làm như vậy,
Phần bánh xe này chúng sẽ mang.
8. Hãy suy kết quả việc ngài làm
Gia sản ngài xem thật ngập tràn,
Ðừng ước làm tài chủ bất chính,
Thực hành điều bạn tốt khuy ên r ăn,
Về sau chẳng có bao giờ nữa
V òng bánh xe này đụng đến thân.
Nghe vậy, Mittavindaka tự nhủ: "Vị Thiên chủ này vừa giải thích thật
chính xác những việc ta làm. Chắc chắn ngài cũng biết
được mức độ trừng phạt ta". Rồi cậu ngâm vần kệ
thứ chín:
9. Vậy tấu Thiên vương, đến lúc n ào
Bánh xe này dính ở trên đầu?
Mấy ng àn n ăm nữa? XIn ng ài dạy,
Ðừng để con ho ài sức khẩn cầu.
Lúc ấy bậc Ðại sĩ tuyên bố vấn đề qua vần kệ
thứ mười:
10. Bánh xe này tiếp tục xoay vần,
Mà chẳng hiện ra vị cứu nhân
Nó dính đầu ng ài cho
đến chết,
N ày Mít-ta hỡi có nghe ch ăng?
Nói vậy xong Thiên chủ trở về cõi của Ngài, còn kẻ kia chìm vào cơn
đau đớn c ùng cực.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Tỷ-kheo phóng dật này là Mittavindaka, và Ta chính là
Thiên chủ.
-ooOoo-
440. Chuyện Hắc Hiền Giả (Tiền thân Kanha)#
Ðằng kia nhìn kẻ sắc đen tuyền..,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Kapilavathu (Ca-tỳ-la-vệ) trong Bồ- đề
Lâm (Rừng cây Ða), về một nụ cười.
Vào thời ấy, chuyện kể rằng bậc Ðạo Sư đang
du h ành cùng T ăng chúng trong Bồ-đề Lâm,
lúc chiều xuống, tại một chốn kia, Ng ài mỉm một nụ cười. Trưởng lão
Ànanda nói:
- Nguyên do gì, lý do gì khiến đức Thế Tôn
mỉm cười? Ðức Như lai mỉm cười không phải là không có duyên cớ. Vậy
ta muốn hỏi Ngài.
Thế là Tôn giả cúi đầu đảnh lễ cung kính hỏi
về nụ cười kia, bậc Ðạo Sư bảo:
- Ngày xưa, này Ànanda, có một bậc Hiền trí tên là Kanha
đ ã sống ở nơi
đây, chuy ên tâm thiền tịnh, và lạc thú
trong thiền định, n ên nhờ uy lực công
đức của ng ài mà cung của Sakka (Ðế
Thích), Thiên phủ phải rúng động.
Song vì câu giải thích nụ cười kia chưa được
r õ ràng lắm, nên theo lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão,
đức Phật kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, có một vị Bà-la-môn
không con cái, nhưng của cải lên đến tám mười
triệu đồng, vị n ày phát nguyện giữ giới
đức v à cầu tự. Trong lòng bà vợ vị Bà-la-môn này
đang mang thai Bồ-tát, sau đó do m àu da
đen của ng ài, vào ngày lễ
đặt t ên, cha mẹ chọn tên ngài là Kanha -
Kumàra tức Hắc nam tử
Ðến n ăm mười sáu tuổi, đầy vẻ uy nghi như
một bức tượng bằng ngọc quý, ng ài được
phụ thân đưa đến học ở Takkasil à, nơi
đây ng ài được dạy đầy đủ các môn văn học
nghệ thuật, xong trở về nh à. Sau đó cha
ng ài lại cưới cho ngài một cô vợ xứng
đôi vừa lứa. Dần dần theo thời gian, ng ài hưởng trọn gia sản của song
thân.
Bấy giờ một ngày kia, sau khi kiểm tra các kho báu,
đang lúc ngồi tr ên một bảo tọa lộng lẫy,
ngài cầm trong tay một cái đĩa bằng v àng,
đọc được tr ên
đĩa những h àng chữ do các bậc tiền nhân
ngài ghi lại: "Rất nhiều tài sản do vị này kiếm
được, rất nhiều tiền bạc do vị kia l àm ra v.v..." Ngài nghĩ thầm:
"Những vị tạo ra vàng bạc này bây giờ không còn nữa, song vàng bạc vẫn còn
đó; không ai có thể mang chúng theo khi ra đi
khỏi cuộc sống; ta không thể buộc v àng bạc thành một bó, rồi mang
theo mình qua thế giới khác.
Thấy rằng của cải liên hệ đến Năm Ác dục, c òn
phân phát bố thí của cải này là việc tốt đẹp
hơn; thấy rằng thân xác ph ù du này liên hệ với nhiều bệnh tật, còn tỏ
lòng cung kính và nhân từ với những vị đức hạnh
đem nhiều lợi lạc hơn; thấy rằng cuộc đời tạm bợ ph ù phiếm này chỉ
thoáng qua chốc lát, còn tinh tấn hành trì thiền
định l à phần cao cả hơn. Vậy thì những
vàng bạc phù phiếm này ta sẽ đem bố thí hết, v ì
làm như thế ta sẽ thọ hưởng phước đức hơn
nhiều."
Thế là ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, sau khi
xin đức vua thỏa thuận, ng ài bố thí rất hào phóng.
Ðến ngày thứ bảy, thấy vàng bạc vẫn không suy giảm, ngài suy nghĩ: "Vàng
bạc này có nghĩa gì đối với ta? Trong khi ta
chưa bị tuổi gi à chế ngự, ta muốn ngay bây giờ phát nguyện xuất gia
tu hành; ta quyết tu tập các Thắng trí và các Thiền chứng, ta quyết tái sinh
lên cõi Phạm Thiên". Thế là ngài ra lệnh mở các cửa lớn trong nhà ra, rồi
bảo gia nhân lấy của cải đem, bố thí rộng r ãi,
vứt bỏ nó như một vật bất tịnh, ngài đoạn trừ
các tham dục của nh ãn quan, và những tiếng khóc than cùng nước mắt
đông đảo của họ h àng quyến thuộc, ngài
ra đi từ kinh th ành,
đến tận v ùng Tuyết sơn.
Tại đó ng ài sống theo lối
độc cư, v à khi
đi t ìm một chốn an lạc
để trú thân, ng ài thấy nơi này, rồi
quyết định ở lại; chọn cây bầu l àm nơi
ăn chốn ở, ng ài sống tại
đó, ngủ ngay dưới gốc cây bầu ấy. Không bao giờ
cư trú trong l àng, ngài trở thành một người sống trong rừng, không
bao giờ ngài dựng chòi lá, mà chỉ ở dưới gốc cây này, ở ngoài trời, thường
an tọa, hoặc nếu ng ài muốn nằm thì chỉ
nằm trên mặt đất.
Ngài không dùng cái chày, mà chỉ dùng hàm r ăng
nghiền nát thức ăn, ng ài chỉ ăn những
thức ăn không nấu bằng củi lửa, không bao giờ một thứ hạt c òn vỏ lọt
vào miệng ngài, ngài chỉ ăn ng ày một lần
và chỉ ngồi ăn một lần. Tr ên mặt
đất, dường như ng ài
đ ã hòa cùng với tứ
đại l àm một, ngài sống hành trì giới
đức của bậc xuất gia khổ hạnh. Trong Tiền thân
ấy, như ta được biết, Bồ-tát rất thiểu dục.
Vì vậy chẳng bao lâu, ngài đạt các Thắng trí
v à các Thiền chứng (n ăm thần thông:
Abhinn à; và tám cấp thiền: Jhànà) và ngài sống nơi ấy trong hỷ lạc của
thiền định. Về trái cây rừng, ng ài không
đi đâu xa, khi trái cây mọc tr ên cây,
ngài ăn trái; v ào mùa hoa nở, ngài
ăn hoa; khi lá mọc, ng ài
ăn lá; khi không c òn lá nào ngài
ăn vỏ cây. V ào buổi sáng ngài thường hái
quả cây ấy, không bao giờ vì tham lam mà ngài
đứng dậy đi hái quả cây n ào khác. Ở nơi ngài ngồi, ngài dang tay ra
lượm các trái cây trong tầm tay, ngài ăn các
thứ trái cây đến tay ng ài, không phân biệt ngon dở .
Trong khi ngài tiếp tục tìm lạc thú như vậy, nhờ thần lực công
đức của ng ài, chiếc ngai hoàng thạch của
Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực lên (tương truyền chiếc ngai vàng này
nóng lên khi Ðế Thích Thiên chủ sắp mạng chung, hoặc lúc phước
đức của ng ài
đ ã tận diệt và kết thúc, hay khi có một
vị Ðại sĩ cầu nguyện, hay do công n ăng đức độ
của các Sa-môn, B à-la-môn đầy uy lực.)
Lúc ấy Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Kẻ nào muốn làm ta phải rời khỏi
ngai đây?" vừa nh ìn quanh, ngài thấy
trong rừng sâu, ở một nơi kia bậc Hiền nhân Kanha
đang sống nhờ nhặt trái rừng, ng ài biết
rằng đó l à một trí nhân hành trì khổ
hạnh cao độ, tất cả các căn đều được điều phục,
ng ài suy nghĩ: "Ta muốn đi đến gặp vị
ấy. Ta muốn bảo người thuyết Pháp thật cao giọng, v à sau khi nghe lời
giảng Pháp đem lại an lạc n ày, ta sẽ làm
người hoan hỷ một điều ước, v à sẽ làm
cho cây của người sinh quả không ngừng, rồi ta mới trở về
đây. "
Sau đó nhờ thần thông lực, Thi ên chủ
vụt xuống trần, đứng ngay sau lưng bậc Hiền
nhân, ng ài ngâm vần kệ đầu ti ên
để thử xem bậc Hiền trí kia có bực tức khi nghe
nhắc đến vẻ xấu xí của m ình ch ăng:
1. Ðằng kia, ngắm kẻ sắc đen tuyền,
Sống ở nơi n ày cũng đất đen,
Miếng thịt đang ăn đen xám xịt,
Tâm ta chẳng thích đáng người hiền
Hiền nhân Kanha nghe ngài nói vậy:
- Ai nói với ta đấy?
Và nhờ thần thông lực, ngài nhận ra đó l à
Ðế Thích Thiên chủ, nên vẫn không cần quay đầu
lại, ng ài đáp vần kệ thứ hai:
2. Dù toàn sắc đen, hỡi Ngọc ho àng,
Tâm ta chân chính Bà-la-môn,
Màu da chẳng lỗi, nhưng làm ác
Khiến kẻ phàm nhân đen tối luôn.
Và rồi sau đó, khi đ ã giải thích
nhiều loại lỗi lầm và chê trách những lỗi lầm đ ã
biến con người thành những kẻ đen tối, c ùng
ca ngợi công đức, ng ài thuyết giáo cho
Ðế Thích Thiên chủ, chẳng khác nào ngài làm mặt tr ăng
mọc l ên giữa bầu trời.
Ðế Thích Thiên chủ nghe bài thuyết Pháp, lòng vô cùng hoan hỷ, liền ban
tặng bậc Ðại Sĩ một điều ước v à ngâm vần
kệ thứ ba:
3. Nói n ăng khôn khéo, bậc La-môn,
Diễn đạt cao si êu, tối thắng luôn
Hãy chọn điều g ì ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Nghe vậy bậc Ðại Sĩ nghĩ thầm: "Ta biết thế nào rồi. Vị này muốn thử ta,
xem ta có giận dữ khi nói đến vẻ xấu xí của ta
không; n ên ngài chê bai màu da của ta, thức
ăn chốn ở của ta. Khi thấy rằng ta không giận,
th ì ngài vui vẻ, ban cho ta một điều
ước, chắc chắn ng ài tưởng ta hành trì cuộc sống này vì ước mong có
thần lực của Sakka Thiên chủ hay Phạm Thiên, vậy nay
để l àm ngài tin tưởng, ta sẽ chọn bốn
điều ước: ta ước được an tịnh, không sân hận
đối với kẻ xung quanh ta, không tham cảnh vinh quang của các vị xung quanh
ta, hay th èm muốn dục tình đối với các
vị xung quanh ta".
Suy nghĩ như vậy xong, để giải quyết mối
nghi hoặc của Thi ên chủ, bậc Hiền trí ngâm vần kệ thứ tư
đ òi bốn
điều ước n ày:
4. Thiên chủ Sak-ka của thế gian
Chọn điều hạnh phúc, lệnh ng ài ban,
Ta mong thoát khỏi lòng sân hận,
Ác độc, ti êu trừ mọi dục tham,
Tất cả bốn điều n ày hạnh phúc,
Ta thường mơ ước tận tâm can.
Lúc ấy, Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Hiền giả Kanha, khi chọn
điều ước đ ã chọn bốn
điềm an lạc không lỗi lầm. Bây giờ ta phải hỏi
ng ài về thiện ác liên hệ bốn điều n ày".
Rồi ngài hỏi bằng cách ngâm vần kệ thứ n ăm:
5. Ở trong ác dục với tham sân,
Này hãy nói đi, hỡi Ðạo nhân,
Ngài thấy điều g ì là bất thiện,
Trả lời ta nhé, hãy làm ơn.
- Vậy hãy nghe đây:
Bậc Ðại sĩ đáp lại v à cảm khái ngâm
bốn vần kệ này:
6. Ác ý được nuôi bởi hận sân,
Phát sinh từ nhỏ lớn l ên dần,
Nên lòng tràn ngập niềm đau xót,
V ì thế ta không muốn giận hờn.
7. Cứ vậy thông thường với ác nhân,
Trước tiên lời nói, chạm vào thân,
Kế đến đấm đá, rồi cây gậy,
Sau hết l òe ra mũi kiếm trần,
Khi có ác tâm, thường phẫn nộ,
Nên lòng ta chẳng muốn hờn c ăm.
8. Khi người, thúc dục bởi gian tham,
Lừa đảo tăng dần với dối gian,
Vội đuổi theo tiền t ài cướp bóc,
Vậy nên ta chẳng muốn tâm tham.
9. Trói chặt xiềng gông bởi dục tình,
Vẫn thường phát triển nảy sinh nhanh
Trong tim, làm xót xa đau nhức,
Ái dục, ta không muốn phận m ình.
Khi các câu hỏi đ ã
được giải thích xong, Ðế Thích Thiên chủ
bảo:
- Thưa Trí giả Kanha, nhờ ngài, các câu hỏi của ta
đ ã được
giải đáp êm đẹp với trí tuệ của một bậc
Giác Ngộ, ta rất hoan hỷ v ì ngài; bây giờ xin ngài chọn một
điều ước khác nữa.
Rồi Thiên chủ ngâm vần kệ thứ mười:
10. Nói n ăng chân chính, bậc La-môn,
Diễn đạt cao si êu, tối thắng ngôn,
Hãy chọn điều g ì ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Lập tức Bồ-tát ngâm kệ:
11. Sak-ka, Thiên chủ của trần gian,
Ngài bảo cho ta một đặc ân,
Mong chốn núi rừng ta ẩn náu,
Nơi nào ta trú ngụ đơn thân,
Bệnh không l àm hại niềm an tịnh,
Hoặc phá niềm thiền lạc vỡ tan.
Nghe vậy, Ðế Thích Thiên chủ suy nghĩ: "Khi chọn
điều ước, Hiền giả Kanha không chọn điều g ì
liên hệ đến thức ăn, m à những gì ngài
chọn đều li ên quan
đến đời sống tu h ành." Tâm càng hoan hỷ
hơn, Thiên chủ lại cho thêm một điều ước khác v à
ngâm kệ:
12. Nói n ăng thật khéo, bậc La-môn,
Diễn đạt cao si êu, tối thắng ngôn,
Hãy chọn điều g ì ngài ước nguyện,
Chọn theo mệnh lệnh của tâm hồn.
Và Bồ-tát, khi nói lên điều ước của ng ài,
đ ã thuyết Pháp trong vần kệ cuối:
13. Sak-ka, Thiên chủ của trần gian,
Ngài bảo cho ta một đặc ân,
Xin chẳng sinh linh n ào bị hại,
Vì ta, dù khẩu, ý hay thân.
Nơi nào cũng vậy, này Thiên chủ,
Lời nguyện này ta vẫn ước mong.
Như vậy trong sáu trường hợp, bậc Ðại sĩ lựa
điều ước, ng ài đều chỉ chọn những g ì
liên quan đến đời sống viễn ly. Ng ài
hiểu rõ thân người phải có bệnh và Ðế Thích chủ không thể trừ diệt c ăn
bệnh của thân nghiệp; Ðế Thích Thiên chủ cũng không thể rửa sạch cho
nhân thế trong ba cửa Thân, Khẩu, Ý. Mặc dù vậy, ngài vẫn chọn
điều ước ấy với mục đích thuyết Pháp cho vị Thi ên
chủ.
Sau đó Ðế Thích Thiên chủ làm cho cây
ấy sinh quả quanh n ăm, vừa chắp tay l ên
trán đảnh lễ ng ài vừa bảo:
- Xin Hiền giả an trú ở đây không bệnh tật.
Rồi ngài đi về c õi của ngài. Còn
Bồ-tát không bao giờ gián đoạn thiền định, n ên
về sau được sinh l ên Phạm thiên giới.
*
Sau khi chấp dứt Pháp thoại này, bậc Ðại Sư bảo:
- Này Ànanda, đây l à nơi Ta
đ ã an trú ngày xưa.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy Anuruddha (A-na-luật- đ à)
là Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ và Hiền giả Kanha chính là Ta.
-ooOoo-
441. Bốn Vị Giữ Trai Giới (Tiền thân Catu-Posathika)
(Chuyện tiền thân này sẽ được kể trong Tiền
thân Punnaka) (chưa được t ìm thấy)
-ooOoo-
442. Chuyện Bà La Môn Sankha (Tiền thân Sankha)#
La-môn Tôn-giả, bậc uyên thâm ...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể ở Kỳ Viên về tứ sự cúng dường.
Chuyện kể rằng ở thành Xá-vệ, có một nam cư sĩ, sau khi nghe
đức Như Lai thuyết Pháp, tâm rất hoan hỷ n ên
đ ã mời chư t ăng
v ào ngày hôm sau. Tại cửa nhà, ông dựng lên một cái rạp trang hoàng
lộng lẫy, rồi đi thưa tr ình rằng
đ ã đến giờ.
Bậc Ðạo Sư đến nơi với năm trăm vị
Tỷ-kheo theo hầu, v à ngồi trên bảo tọa lộng lẫy dành cho ngài. Vị cư
sĩ, sau khi đ ã dâng cúng các lễ vật sang
trọng lên hội chúng Tỷ-kheo với đức Phật l à
thượng thủ, lại mời t ăng chúng ng ày mai;
và cứ thế, trong bảy ngày liền, vị này mời T ăng
chúng đến cúng dường, v à vào ngày thứ bảy lại cúng dường những vật
dụng cần thiết. Trong buổi cúng dường này, ông tặng các
đôi h ài làm lễ vật
đặc biệt. Ðôi hài dâng lên
đức Phật trị giá một ng àn
đồng v àng. Hai
đôi h ài cúng hai vị Ðại
đệ tử (Xá-lợi phất v à Mục -kiền-liên)
trị giá n ăm trăm, c òn những
đôi trị giá hơn một trăm đồng d ành cho
các vị Tỷ-kheo khác.
Sau khi dâng cúng lễ vật đủ các thứ cần
thiết cho chư Tăng, ông ngồi xuống trước đức Thế Tôn c ùng với hội
chúng của Ngài. Sau đó bậc Ðạo Sư
đáp lời t ùy hỷ công
đức bằng một giọng vô c ùng êm dịu:
- Này gia chủ, thí vật của ông thật hào phóng biết bao, ông hãy hoan hỷ.
Ngày xưa, trước khi đức Phật ra đời, đ ã
có những người nhờ cúng dường một đôi h ài
lên một vị Ðộc Giác Phật mà kết quả việc bố thí
đó l à tìm được chỗ an trú tr ên
biển cả không có nơi an trú; và nay ông vừa cúng dường cho toàn thể hội
chúng của đức Phật mọi vật dụng cần thiết cho
mỗi Tỷ-kheo, th ì công đức biết bao, nếu
không phải l à lễ dâng hài này sẽ làm nơi an trú cho ông về sau?
Và theo lời thỉnh cầu của ông. Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, thành Ba-la-nại có tên là Molinì. Trong khi vua Brahamadatta
trị vì ở Molinì, một người Bà-la-môn tên là Sankha giàu có lớn,
đ ã xây bố thí trường ở sáu chỗ, một ở
mỗi cổng thành, một ở giữa thành và một ở cửa nhà ông. Hằng ngày ông bố thí
sáu tr ăm ng àn
đồng tiền v à cho các kẻ lữ hành cùng kẻ
ăn xin rất rộng r ãi.
Một ngày kia ông suy nghĩ: "Một khi kho của cải hết, ta không còn gì
để bố thí nữa. Vậy trong lúc kho chưa cạn, ta
muốn lấy con t àu đi đến xứ V àng
và sẽ mang của cải về". Thế là ông bảo đóng t àu,
chất đầy h àng hóa và khi từ biệt vợ con,
ông bảo:
- Bà và con hãy lo bố thí không ngừng cho
đến khi ta trở về.
Nói xong, ông cầm lấy dù, mang giày cùng gia nhân hướng mặt về hải cảng,
rồi đúng ngọ ông khởi h ành.
Vào lúc ấy một vị Ðộc Giác Phật trên đỉnh
núi Gandham àdana (Hương Sơn), đang nhập
định, thấy vị kia l ên đường t ìm
kiếm vàng liền suy nghĩ: "Một bậc Ðại sĩ đang
vượt biển để t ìm vàng. Có gặp gì trên biển cả gây trở ngại cho vị này
ch ăng? Rồi sẽ có. Nếu ông thấy ta, sẽ dâng ta
đôi gi ày và chiếc dù. và kết quả việc đi
cú ng dường này là ông sẽ tìm được nơi an
trú khi t àu đắm tr ên biển. ta
muốn giúp đỡ ông."
Vì thế bay qua không gian, Ngài hạ xuống, không xa chỗ kẻ lữ hành kia,
rồi tiến đến gặp ông, dẫm chân tr ên cát
nóng, nóng như thể một đống tro đang cháy bỏng
trong luồng gió dữ dội v à ánh mặt trời gay gắt. Vị Bà-la-môn nghĩ
thầm: "Ðây là cơ hội để tạo công đức, ta phải
gieo một hạt giống ng ày hôm nay tại chốn này". Lòng vô cùng hoan hỷ,
ông vội vã đi đến đảnh lễ Ng ài:
- Thưa Tôn-giả, - ông nói - xin Tôn giả vui lòng ra khỏi con
đường n ày trong chốc lát,
đến dưới gốc cây kia.
Sau đó, khi đến chỗ ngồi gốc cây, ông lau
phủi hết cát cho Ng ài, rồi trải thương y ra mời Ngài ngồi xuống, với
nước sạch thơm ngát, ông rửa chân Ngài, xoa dầu thơm ngào ngạt, và từ chân
của chính mình, ông rút ra đôi h ài lau
sạch, xoa dầu thơm xong, mang vào cho Ngài, cúng dường Ngài
đôi h ài cùng với chiếc dù, xin Ngài mang
hài và che dù trên đầu Ng ài khi ngài lên
đường. Vị Ðộc Giác Phật muốn làm ông vui
lòng nên nhận lễ vật, và trong khi vị Bà-la-môn chiêm ngưỡng Ngài
để tăng trưởng tín tâm, Ng ài bay lên về
lại núi Gandhmàdana.
Còn Bồ-tát với tâm đầy hoan hỷ, tiến ra hải
cảng v à lên thuyền.
Khi ra đến đại dương v ào ngày thứ
bảy, con thuyền nứt ra và họ không thể tát hết nước
được. Tất cả mọi người lo sợ cho mạng sống m ình,
đồng thanh k êu gào, mỗi người kêu cầu
một vị thần linh riêng của mình. Bậc Ðại Sĩ, chọn một người hầu, xoa dầu
khắp mình mẩy, ăn một đống đường mịn h òa
với bơ tươi cho thỏa thích, cho kẻ kia cùng ăn,
rồi ng ài leo lên cột buồm. Ngài bảo:
- Về hướng kia là kinh thành của ta.
Vừa chỉ tay về hướng ấy, vừa gạt bỏ nỗi sợ hãi về các loài rùa, cá, ngài
lặn mất cùng với gã gia nhân một khoảng xa chừng một tr ăm
năm mươi cubit (1 cubit = 45cm). Ðám người kia chết
đuối cả, c òn bậc Ðại Sĩ cùng gã gia nhân
bắt đầu tiến l ên trên biển cả. Trong bảy
ngày liền, ngài tiếp tục bơi. Ngay cả giờ phút ấy, ngài vẫn giữ trọn ngày
trai giới, súc miệng với nước mặn.
Lúc bấy giờ một nữ thần tên là Mani-Mekkhalà, nghĩa là Ngọc Ðới,
đ ã được
lệnh của Tứ Thi ên vương: "Nếu gặp tàu chìm, và tai họa xảy
đến cho người đ ã quy y Tam Bảo, hoặc
đầy đủ giới đức, hoặc phụng thờ cha mẹ, th ì
nàng phải lo cứu độ". V à
để bảo vệ cho các người như vậy, nữ thần an trụ
tr ên mặt biển. Nhờ thần lực của bà, bà không cần canh phòng trong
suốt bảy ngày ấy, song đến ng ày thứ bảy,
nhìn lướt trên mặt biển, bà thấy vị Bà-la-môn Sankha
đức độ kia, n ên suy nghĩ: "Kẻ
đằng kia đ ã bị rớt xuống biển,
đến nay l à ngày thứ bảy rồi, nếu ông
chết đi th ì ta mắc phải tội nặng lắm."
Vì thế sinh lòng lo lắng, bà vội đổ v ào
chiếc đĩa bằng v àng
đầy đủ mọi thức ăn thi ên giới, phi nhanh
như gió đến phía ng ài, rồi dừng lại
trước mặt ngài trên không và bảo:
- Này Bà-la-môn, ngài không ăn g ì
đ ã bảy ngày rồi, vậy
ăn thức n ày
đi.
Vị Bà-la-môn nhìn bà đáp:
- Cất thức ăn của n àng
đi, ta đang giữ giới ki êng
ăn.
Kẻ gia nhân của ngài không thấy nữ thần, mà chỉ nghe âm thanh nên nghĩ
thầm: "Vị Bà-la-môn này nói lảm nhảm, ta chắc vì cơ thể ngài yếu
đuối lại nhịn đói đ ã bảy ngày nên
đang đau đớn v à sợ chết, ta muốn an ủi
ngài." Và gã liền ngâm vần kệ đầu:
1. La-môn Tôn giả, bậc uyên thâm,
Tôn giả vốn đầy đủ thánh tâm,
Ðồ đệ Thánh sư, sao lại phải
Ho ài tâm vô cớ nói lầm bầm,
Trong khi chẳng có ai đây cả
Ðối đáp ngo ài tôi, lúc luận
đ àm?
Vị Ba-la-môn nghe gã, biết rằng gã không thấy vị thần kia, nên bảo:
- Này hiền hữu, không phải ta sợ chết đâu,
song đang có một vị khác ở đây để đ àm
đạo với ta đó.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Xuất hiện Thiên thần rực ánh quang,
Tặng ta tiên phạn để ta ăn,
Cao sang tr ên đĩa v àng bày sẵn
Ta đáp n àng "không" dạ lạc hoan.
Sau đó g ã ngâm vần kệ thứ ba:
3. Nếu như người thấy một Thiên thần,
Người hãy yêu cầu một đặc ân
Xin đứng chấp tay van vị ấy,
Cho hay Thi ên nữ hoặc phàm nhân?
- Bạn nói phải lắm - vị Bà-la-môn bảo.
Rồi ngài hỏi bằng cách ngâm vần kệ thứ tư:
4. Nương tử nhìn ta vẻ thiết thân,
Bảo ta: "Cần lấy thức này ăn",
Hỏi n àng cao cả đầy uy lực,
L à nữ nhi hay một nữ thần?
Vị nữ thần lấp tức ngâm hai vần kệ:
5. Ta, nữ thần uy lực đại cường,
Nơi n ày vội đến giữa tr ùng
dương,
Tràn đầy từ mẫn, tâm hoan hỷ,
V ì cứu ngài trong bước cuối đường.
6. Nh ìn đây thực phẩm, chốn an l ành,
Nhiều loại cỗ xe, đủ dáng h ình,
Cho ngài làm chủ quyền tất cả,
Những gì ao ước tự tìm mình.
Khi vừa nghe vậy, bậc Ðại sĩ suy nghĩ đắn
đo: " Ðây là nữ thần giữa đại dương - ng ài
tự nhủ - bà tặng ta vật này vật nọ. Cớ gì bà lại muốn
đem tặng chúng cho ta? Có phải v ì một
công đức n ào
đó của ta hay do quyền lực ri êng của bà
mà bà làm như thế? Ðược, ta sẽ hỏi." Và ngài chất vấn
điều n ày qua vần kệ thứ bảy:
7. Thưa, vậy tiên nương chính nữ hoàng,
Nắm quyền bao lễ vật nàng ban,
Mỹ nương yểu điệu, m ày thanh tú,
Nghiệp quả nào ta tạo đấy chăng?
Vị nữ thần nghe ngài hỏi, nghĩ thầm: "Vị Bà-la-môn này
đ ã hỏi thế, chắc vì ngài tưởng ta không
biết ngài đ ã làm việc lành nào. Ta muốn
nói ngay cho ngài rõ". Vì vậy bà đáp ng ài
qua vần kệ thứ tám:
8. Trên đường nóng bỏng kẻ đơn thân,
Khát nước, mệt nhừ, lại nhức chân,
Ng ài đ ã dừng, mang tài vật
cúng,
Ngày nay lễ ấy được hồng ân.
Lúc bậc Ðại Sĩ nghe thế, ngài nghĩ thầm: "Ô kìa giữa
đại dương khó vượt qua n ày, việc cúng
dường đôi h ài trở thành một
đại phước báo cho ta. Ôi việc dâng lễ vật l ên
một vị Ðộc Giác Phật thật tốt lành thay!" Rồi trong niềm
đại hân hoan, ng ài ngâm kệ thứ chín:
9. Xin chiếc thuyền bằng ván khéo xây,
Thuận buồm xuôi gió, chạy như bay,
Mà không thấm nước trên đường biển
Không thể d ùng xe cộ chốn đây,
Xin chở ta về Mo-lí gấp,
L àm sao vừa kịp đúng hôm nay.
Nữ thần rất đẹp ý khi nghe những lời n ày,
liền làm phép cho chiếc thuyền hiện ra, được l àm
bằng bảy báu vật, chiều dài tám tr ăm cubit (1
cubit = 45cm), chiều rộng sáu trăm cubit, chiều sâu hai mươi sải (sải=
1,82m). Có ba cột buồm bằng ngọc bích, dây buộc bằng v àng, cánh buồm
bằng bạc, các mái chèo và bánh lái đều bằng v àng
ròng cả. Trong thuyền, vị nữ thần chất đầy bảy
báu vật, rồi ôm lấy vị B à-la-môn đưa l ên
chiếc thuyền huy hoàng kia. Bà không chú ý đến
g ã hầu cận, song vị Bà-la-môn vẫn chia phần cho gã hưởng phước lành.
Gã sung sướng quá và nữ thần kia cũng ôm gã đặt
l ên thuyền nữa. Liền đó b à
đưa thuyền đến kinh th ành Molinì và sau
khi đ ã chất
đầy châu báu v ào kho nhà vị Bà-la-môn, bà trở về nơi an trú mình.
*
Bậc Ðạo Sư với Trí tuệ Tối thắng, đ ã
ngâm vần kệ cuối cùng:
10. Thần nữ hân hoan, hạnh phúc tràn,
Làm cho xuất hiện, chiếc thuyền thần,
Ðem San-kha với người hầu cận
Về đến kinh đô đẹp tuyệt trần.
Còn vị Ba-la-môn suốt đời ở nh à bố
thí thật rộng rãi không ngừng và giữ giới hạnh, nên khi mạng chung ngài cùng
các gia nhân đi l ên cộng trú với chư
Thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Bấy
giờ vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị cư sĩ ấy chứng
đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Uppalavannà (Liên Hoa sắc) là nữ thần, Ànanda là người hầu,
và Bà-la-môn Sankha chính là Ta.
-ooOoo-
443. Chuyện Trí Giả Tiểu Bồ Ðề (Tiền thân Culla-Bodhi)#
Ví thử người ta bắt quý nương...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một người tính hay nóng giận.
Người này, sau khi đ ã xuất gia, tu
tập, hành trì Giáo pháp đưa đến giải thoát, an
lạc trọn vẹn, lại không thể chế ngự cơn giận của m ình. Ông lòng
đầy bực tức, hiềm hận; song lại ít nói n ên
khi phẫn nộ, bị lôi cuốn vào cơn nóng giận, ông trở nên gay gắt chua cay và
khó dạy bảo. Khi nghe nói đến tính hay nóng
giận của ông, bậc Ðạo Sư cho gọi ông vào và hỏi có thật là ông hay
nổi giận như lời đồn chăng. Vị n ày
đáp:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn,
Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này Tỷ-kheo, tính nóng giận phải được chế
ngự, v ì một kẻ hành ác hạnh như vậy không thể nào có nơi an trú
được d ù trong
đời n ày hoặc
đời sau. Tại sao sau khi tu tập pháp môn giải
thoát của đức Phật tối thượng không có l òng sân giận, cớ gì ông lại
tự mình tỏ ra hay phẫn nộ? Các bậc trí nhân ngày xưa, ngay cả những vị hành
trì giáo pháp khác với chúng ta cũng đ ã
kềm chế được l òng phẫn nộ.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta lên ngôi ở Ba-la-nại, trong một thị trấn ở
xứ Kàsi có một vị Bà-la-môn rất giàu vàng bạc, gia sản
đồ sộ song lại không có con, n ên bà vợ
cầu mong con trai. Vào thời ấy Bồ-tát từ cõi Phạm thiên
đi xuống trần, nhập mẫu thai của b à, rồi
vào ngày lễ đặt t ên, cha mẹ chọn cho
ngài cái tên Bodhi-Kumàra hay là Nam tử Trí Tuệ. Khi ngài
đến tuổi khôn lớn, ng ài
đi đến Takkasil à, nghiên cứu
đủ các môn học thuật, v à sau khi về nhà,
dù ngài không muốn, cha mẹ ngài vẫn đi cưới một
thiếu nữ về l àm vợ ngài, từ một gia đ ình
cùng chung giai cấp với ngài. Nàng ấy cũng xuống cõi trần từ Phạm thiên
giới, có nhan sắc tuyệt thế, chẳng khác nào một vị tiên nữ. Cả hai vị trở
thành vợ chồng, song cả hai chẳng ai mong muốn chuyện
đó cả. Chẳng bao giờ có ai phạm v ào dâm
dục, cũng chẳng kẻ nào liếc mắt nhìn kẻ kia một cách say
đắm, ngay cả trong giấc ngủ, hai vị cũng không
hề bao giờ có h ành động tương tự, cả hai
vị đều sống thanh tịnh như thế.
Sau một thời gian, khi song thân đều mất cả,
ng ài lo việc tang lễ cho thi hài cha mẹ chu
đáo. Bậc Ðại Sĩ gọi vợ
đến, bảo n àng:
- Này quý nương, nàng hãy giữ lấy gia sản tám tr ăm
triệu đồng n ày và sống đời hạnh phúc.
- Không phải vậy đâu, m à
đó l à phần của phu quân.
Ngài bảo:
- Ta không cần vàng bạc, ta sẽ lên vùng Tuyết Sơn, trở thành một ẩn sĩ và
tìm nơi cư trú ở đó.
- Vậy thưa phu quân tôn quý, chỉ nam giới mới
được xuất gia tu h ành thôi ch ăng?
Ngài đáp:
- Không phải vậy, nữ giới cũng được.
- Vậy thì thiếp, cũng không muốn nhận lấy thứ chàng
đ ã phun khỏi miệng, vì thiếp cũng không
ham thích vàng bạc gì hơn chàng, thiếp cũng muốn thành ẩn sĩ như chàng.
- Này quý nương, tốt lành thay!
Rồi hai vị đem phân phát bố thí phần lớn t ài
sản và xuất gia. Ðến một vùng đất an lạc dựng
am thất ẩn sĩ, các ng ài sống bằng trái cây rừng mà các ngài kiếm
được, v à cứ sống như vậy mười n ăm
tr òn, song vẫn chưa chứng đắc Thiền định
của bậc Thánh.
Thế là sau một thời gian sống tại đó, hưởng
hạnh phúc của cuộc đời ẩn dật suốt mười năm liền, các ng ài ra
đi ngang qua v ùng quê
để t ìm muối và
đồ gia vị, v à thuận
đường đến Ba-la-nại liền v ào trú chân
trong vườn ngự uyển.
Bấy giờ, một ngày kia vua thấy người giữ ngự viên
đến dâng một món qu à trong tay, ngài
phán:
- Trẫm muốn liên hoan trong ngự viên, vậy hãy sắp xếp cho chỉnh tề.
Và khi hoa viên đ ã
được dọn dẹp sạch sẽ sẵn s àng, vua ngự
vào đó c ùng
đám cận thần hộ tống đông đảo.
Lúc đó cả hai vị ở tr ên một chỗ trong
ngự viên, an hưởng lạc thú của cuộc sống tu hành. Còn vua khi
đi ngang qua ngự vi ên, thấy hai vị ngồi
đó; v à khi mắt ngài chợt bắt gặp vị nữ
nhân diễm lệ khả ái kia, ngài say mê ngay. Lòng ngài rúng
động v ì khát vọng dục tình, ngài quyết
định hỏi n àng có liên hệ gì
đối với ẩn sĩ kia; n ên khi
đi đến gần Bồ-tát, vua hỏi ngay câu ấy. Bồ-tát
đáp:
- Tâu đại vương, nay n àng ấy chẳng có
liên hệ gì đối với ta cả; n àng chỉ cùng
chung đời sống tu h ành với ta thôi, song
trước kia ta còn sống ở chốn trần tục, thì nàng ấy
đ ã là vợ ta.
Nghe vậy, vua thầm nghĩ: "Như vậy, vị này bảo nữ nhân kia chẳng là gì
đối với ông cả, song khi c òn sống
đời thế tục, n àng ấy
đ ã là vợ ông. Ðược rồi, nếu ta dùng
vương quyền bắt lấy nàng thì ông làm gì được?
Cho n ên ta muốn chiếm nàng". Và vua vừa
đến gần vừa ngâm vần kệ:
1. Ví thử người ta bắt quý nương,
Mắt tròn, và cướp khỏi Tôn ông,
Người yêu ngồi đó đang cười nụ,
Ng ài sẽ làm gì, hỡi Ðạo nhân?
Bậc Ðại Sĩ ngâm vần kệ thứ hai để đáp câu
hỏi n ày:
2. Khi đ ã khởi lên, nó chẳng rời
Chẳng bao giờ nữa, suốt đời tôi,
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Dập tắt nó thời mới nhú thôi.
Bậc Ðại Sĩ trả lời như vậy, lớn tiếng như sư tử hống. Song nhà vua dù
đ ã nghe thế, vẫn không thể nào chế ngự
được con tim say đắm của m ình, do nỗi si
mê mù quáng, liền ra lệnh cho vị cận thần phải bắt nàng kia vào cung.
Vị cần thần tuân lệnh dẫn nàng đi, d ù
nàng đ ã thở than khóc lóc rằng làm ác
nghiệp phi pháp là thói thường của thế gian, còn Bồ-tát nghe tiếng nàng kêu
khóc, ngài chỉ nhìn một lần thôi, không nhìn nữa. Vì thế nàng bị
đưa v ào cung trong lúc
đang k êu gào thê thảm.
Vua xứ Ba-la-nại không còn chần chờ ở ngự viên nữa, mà nhanh chóng trở về
cung, triệu nàng đến chầu v à ban cho
nàng nhiều vinh dự cao sang. Song nàng bảo những vinh quang
đó chẳng có giá trị cả, v à chỉ
đời sống độc cư l à cao thượng thôi. Vua
thấy không thể dùng cách gì để chinh phục được
tim n àng, nên truyền giữ nàng trong một phòng biệt lập và bắt
đầu suy nghĩ: " Ðây là một người
đ àn bà khổ hạnh không màng mọi thứ vinh
quang này, và vị ẩn sĩ cũng không hề tỏ ra giận dữ khi người hầu bắt
đi một nữ nhân tuyệt mỹ như vậy. Song những ẩn
sĩ thường có mưu sâu lắm; chắc chắn ông đang lập mưu để hại ta. Ðược
rồi, ta muốn trở lại gặp ông và tìm hiểu tại sao ông vẫn ngồi
đó." V à thế là không thể ngồi yên
được, vua đi v ào ngự viên.
Lúc ấy Bồ-tát đang ngồi vá chiếc y. Vua chỉ
đi một m ình nên đến tận nơi, bước nhẹ nh àng
không gây tiếng động. Bồ-tát vẫn tiếp tục vá
áo, chẳng nh ìn đến vua. Vua nghĩ: "Người
n ày chẳng muốn nói gì với ta vì đang tức
giận đấy. Kẻ khổ hạnh n ày đúng l à
gã bịp bợm, trước tiên thét lớn: "ta không muốn
để l òng c ăm hận khởi l ên chút
nào, song nếu nó khởi lên, ta quyết dập tắt nó ngay lúc còn nhỏ nhoi", rồi
sau đó l òng c ăm
phẫn cứ đeo đẳng dằng dai n ên gã không muốn nói chuyện với ta
đó!". Với ý nghĩ n ày, vua ngâm vần
kệ thứ ba:
3. Ngài lớn tiếng khoe hay,
Chừng một lát trước đây,
Nay lặng thinh v ì giận
Ngài ngồi đó vá may.
Khi bậc Ðại Sĩ nghe thế, ngài hiểu vua tưởng ngài im lặng vì tức giận,
nên muốn tỏ ra là ngài không hề bị lòng phẫn nộ chi phối, ngài ngâm vần kệ
thứ tư:
4. Hễ lúc nào sinh khởi nó rồi,
Chẳng bao giờ nó chịu rời tôi,
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Tôi dập nó thời mới nhỏ nhoi.
Khi nghe những lời này, vua suy nghĩ: "Có phải người này nói
đến l òng sân hận hay
điều g ì khác nữa? Ta muốn hỏi ông cho
rõ". Rồi vua ngâm vần kệ thứ n ăm:
5. Gì đó m à không thể bỏ ngài,
Chẳng bao giờ hết, suốt trong đời?
Như cơn mưa lắng dần tro bụi,
Ng ài dập tắt gì lúc nhỏ nhoi?
Vị kia đáp:
- Thưa Ðại vương, như thế nỗi sân hận thường
đem lại nhiều đau khổ, nhiều tai hại, t àn khốc; nó chỉ vừa khởi lên
trong ta, song nhờ nuôi dưỡng lòng từ mẫn, ta đ ã
dập tắt được nó.
Rồi ngài ngâm các vần kệ sau để thuyết giảng
về nỗi khổ đau v ì hiềm hận:
6. Con người không nó, thấy minh quang,
Có nó, mù đui trước nẻo đ àng,
Nó khởi trong ta không thoát được,
Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
7. Ðiều gì làm thích thú cừu nhân,
Kẻ muốn tâm ta phải khổ buồn,
Phát khởi trong ta không thoát được,
Hận sân, nuôi dưỡng bởi si cuồng.
8. Cái điều, nếu nổi dậy trong m ình.
Che khuất người ta trước hạnh lành,
Ðã phát trong ta không thoát được,
Căm hờn, nuôi dưỡng bởi vô minh.
9. Ðiều làm tổn phước đức vô song,
Khiến kẻ bị lừa bỏ lập công,
M ãnh liệt, phá tan, đầy khủng khiếp,
Không rời ta nữa, ấy l à sân.
10. Ngọn lửa lên cao, sẽ lớn hơn,
Nếu mỗi nhiên liệu được khơi tr òn,
Bởi vì ngọn lửa lên cao mãi,
Nhiên liệu tự mình phải cháy luôn.
11. Cũng vậy trong tâm trí kẻ đần,
Người không có thể nhận chân ra rằng
Phát sinh phẫn nộ từ tranh c ãi
Bởi vậy thanh danh phải bại tàn.
12. Phẫn nộ nào t ăng tựa lửa hừng
Với mồi than củi cháy bừng bừng,
Như trăng nửa tháng đ êm trời tối,
Ðức hạnh tiêu hao, hủy hoại dần.
13. Người nào chế ngự được l òng sân,
Như lửa mà không có củi than,
Như tr ăng nửa tháng trời dần sáng,
Công đức người kia cứ m ãi t ăng.
Khi vua đ ã nghe bậc Ðại Sĩ thuyết
Pháp xong, lòng rất hoan hỷ, nên ra lệnh cho một cận thần
đi dẫn người đ àn bà
đến, v à mời vị ẩn sĩ vô sân kia cùng ở
lại với nàng trong ngự viên để an hưởng lạc thú
của cuộc sống độc cư v à vua hứa sẽ ch ăm
sóc bảo vệ cho hai vị như bổn phận của m ình. Sau
đó nh à vua xin hai vị tha thứ lỗi lầm và
kính cẩn từ tạ ra về. Thế là hai vị ấy ở lại
đó.
Dần dần về sau, người đ àn bà ấy từ
trần và sau khi nàng qua đời, vị ẩn sĩ trở về v ùng
Tuyết Sơn, tu tập các Thắng trí và các Thiền chứng, làm cho Tứ Vô lượng tâm
(bốn Phạm trú: Từ, Bi, Hỉ, Xả) sinh khởi trong lòng, nên ngài
được sinh v ào cõi Phạm thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Vào
đoạn kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo hay sân
hận kia đ ã được an trú v ào Tam
quả (Bất Lai).
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, mẫu thân của Ràhula (La-hầu-la) là nữ ẩn sĩ ấy. Ànanda là
vua kia và vị ẩn sĩ chính là Ta.
-ooOoo-
444. Câu Chuyện Hắc Nhân Dìpàyana (Tiền thân Kanhadìpàyana)
Bảy ngày tâm trí được thong dong...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo thối thất.
Hoàn cảnh này sẽ được giải thích trong Tiền
thân Kusa (số 531). Khi bậc Ðạo Sư hỏi lời
đồn ấy có đúng không v à vị Tỷ-kheo ấy
đáp l à
đúng, th ì ngài bảo:
- Này Tỷ-kheo, thuở xưa trước khi đức Phật
xuất hiện ở đời, các bậc trí nhân, ngay cả những vị h ành trì một nếp
tu tập không theo Chánh pháp, trong suốt hơn n ăm
mươi năm bước đi trong Thánh hạnh m à không thích thú nhiệt tâm, song
vì bản tính thận trọng khôn ngoan, nên không bao giờ nói cho ai hay biết là
các ông đ ã thối thất. Còn nay tại sao
ông đ ã hành trì Giáo pháp của Ta
đưa đến giải thoát, v à ông
đang đứng trước mặt một đức Phật Thế Tôn như
Ta, sao ông dám bộc lộ sự thối thất của ông trước bốn h àng
đệ tử? Tại sao ông không giữ được tính thận
trọng e d è?
Nói xong, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, trong quốc độ Vamsa, một vị vua
trị v ì tại Kosambi mệnh danh là Kosambika. Thời ấy có hai vị
Bà-la-môn ở một thị trấn kia, mỗi vị đều có t ài
sản tám tr ăm triệu đồng v à là bạn thân
thiết của nhau, cả hai ông, sau khi đ ã
nhận thức sự tai hại của tham dục, và đ ã
phân chia của cải ra để bố thí, liền từ bỏ thế
tục ngay giữa tiếng than khóc của nhiều người thân, khởi h ành về phía
Tuyết Sơn, dựng am ẩn sĩ ở đó cho m ình.
Tại chốn ấy trong n ăm mươi năm liền, hai vị
sống đời ẩn sĩ, nuôi thân bằng trái cây, củ rừng m à hai vị tình cờ
kiếm được; song các vị không thể n ào
chứng đắc Thiền định.
Sau n ăm mươi năm ấy đ ã trôi qua, các
vị đi du h ành qua vùng quê xin muối và
đồ gia vị, lại đến vương quốc K àsi.
Trong một thị trấn của quốc độ n ày có
một gia chủ tên là Mandavya, đ ã từng là
một thân hữu tại gia ngày trước của ẩn sĩ Dìpàyana. Hai vị liền
đi đến thăm ông Mandavya n ày; vừa trông
thấy hai vị, ông chủ nhà vô cùng thích thú, liền xây cho hai vị một am
tranh, cung cấp đầy đủ mọi loại vật dụng cần
thiết của cuộc sống ẩn sĩ. Hai vị ở đó ba bốn m ùa, rồi từ giã ông,
tiến về Ba-la-nại, tại đây hai vị v ào ở
trong nghĩa địa trồng to àn cây
Atimuttaka. Khi Dipàyana đ ã ở
đó một thời gian như ý muốn, ng ài trở về
nơi người bạn xưa lần nữa; còn Tôn-giả Mandavya, ẩn sĩ kia, vẫn ở chỗ cũ.
Lúc bấy giờ, một ngày kia có tên đạo tặc gây
cướp bóc trong thị trấn, v à trở về từ nơi ấy cùng một số của cải cướp
được. Các gia chủ, lính canh, chạy ra c ùng
la to "kẻ trộm" và kẻ trộm bị các người này
đuổi gấp, đ ã thoát thân qua một ống cống và trong lúc
đang chạy quanh gần nghĩa địa, g ã làm
rơi gói đồ ở cửa nh à lá của vị ẩn sĩ ấy.
Khi các chủ nhà thấy gói này, đồng k êu
to:
- À đồ khốn kiếp! Anh l à quân trộm
cướp ban đ êm, còn ban ngày anh
đi quanh quẩn giả dạng tu h ành.
Rồi vừa phỉ báng, vừa đấm đá, họ đem vị n ày
vào yết kiến vua.
Vua không bảo điều tra g ì cả mà chỉ
nói:
- Dẫn nó đi ra v à
đóng cọc v ào nó.
Họ đem ông đến nghĩa địa, đặt ông v ào
cái cọc bằng gỗ cây keo. Song cây cọc không chịu
đâm qua thân của vị ẩn sĩ, kế đó họ mang v ào
cái cọc khác, song cái này cũng không đâm thủng
ông, kế đó l à cái cọc sắt, cũng không thể
đâm thủng thân ông được. Ông tự hỏi h ành
động n ào trong quá khứ của mình
đ ã gây nên sự việc này, liền quan sát
quá khứ, trong tâm ông khởi lên tri kiến về các
đời trước, nhờ vậy nh ìn lại quá khứ, ông thấy những việc
đ ã làm từ lâu,
đó chính l à việc
đâm thủng một con ruồi tr ên một mảnh gỗ
mun.
Chuyện kể rằng trong một đời trước, ông l à
con trai một người thợ mộc. Một bữa nọ, cậu đi
đến chỗ người cha thường đốn cây v à cậu
đ ã dùng một mảnh gỗ mun đâm thủng một
con ruồi như thể đóng cọc v ào nó. Chính ông phát giác ra tội ác kia
vào giờ phút nguy kịch này. Ông nhận thức rằng không thể nào thoát khỏi ác
nghiệp cũ được, n ên bảo
đám quân hầu của vua:
- Nếu các ông muốn đóng cọc ta, h ãy
lấy cái cọc bằng gỗ mun.
Họ làm theo, và đóng cọc v ào vị ấy
xong, họ để lại một t ên quân canh giữ vị
ấy và ra đi.
Bọn lính canh từ một nơi ẩn nấp quan sát mọi việc xảy ra cho vị ấy. Lúc
bấy giờ, Dìpàyana suy nghĩ: "Ta đ ã gặp
đạo hữu của ta cách đây lâu rồi", liền muốn đi
t ìm bạn. Khi nghe tin bạn đ ã bị
đóng cọc treo l ên suốt ngày bên vệ
đường, ông liền đi đến đứng b ên bạn và
hỏi bạn đ ã làm gì.
- Chẳng làm gì cả. Vị ấy đáp.
Vị kia lại hỏi:
- Thế hiền hữu, ta chẳng thấy sân hận gì những kẻ
đ ã bắt ta, cũng chẳng hiềm hận vua;
chẳng có nỗi oán hờn nào trong tâm ta cả.
- Nếu quả vậy, thì bóng mát của một vị đức
độ như thế n ày cũng đủ đem lại an lạc
cho đời ta rồi.
Cùng với những lời này, ông ngồi xuống cạnh cây cọc. Từ thân của Mandavya
rơi xuống vài giọt máu trên thân người bạn. Vì chúng rơi xuống làn da vàng
óng và khô đi như thể các chấm đen tr ên
đó, khiến cho ông có t ên Kanha hắc nhân
Dìpàyana từ đó về sau. V à ông cứ ngồi
yên tại chỗ suốt đ êm.
Ngày hôm sau, bọn quân canh đến kể mọi
chuyện với vua, ng ài bảo:
- Ta đ ã hành
động quá hấp tấp.
Rồi vua vội vã đến nơi, hỏi D ìpàyana
chuyện gì đ ã khiến ông ngồi bên cây cọc.
Ông đáp:
- Tâu Ðại vương, thần ngồi đây để canh bạn.
Nhưng xin cho biết người n ày đ ã
làm gì, hay bỏ dở việc gì chưa làm, mà Ðại vương
đối xử như vậy?
Vua giải thích là vấn đề chưa được điều tra.
Vị kia đáp:
- Tâu Ðại vương, một vị vua phải hành động
cẩn trọng; một người thế tục phóng túng, ham m ê dục lạc là
điều không hay v.v...
Và ông còn khuyến cáo nhà vua thêm những việc tương tự như thế nữa.
Khi vua thấy Mandavya vô tội, ngài ra lệnh nhổ cọc lên. Nhưng dù bọn
chúng gắng hết sức, cũng không nhổ lên được.
Mandavya bảo:
- Tâu Ðại vương, thần phải chịu mang sự ô nhục này là do một lỗi lầm
đ ã phạm thời xa xưa, nên không thể nào
nhổ cọc ra khỏi thân này được. Song nếu
Ðại vương muốn cứu mạng thần, xin bảo đem đến
cái cưa, xẻ cái cọc ngang sát lớp da.
Vua bảo làm như thế; nên phần cây cọc nằm trong thân ông vẫn còn
đó. V ì chuyện kể rằng trước kia có lần
ông cầm một viên kim cương nhỏ đâm thủng ống
mật của một con ruồi nọ để nó khỏi chết, cho đến lúc nó tận số. Nhờ vậy ông
cũng không chết luôn. Chuyện kể như thế.
Còn nhà vua đảnh lễ hai vị ẩn sĩ, xin thứ
lỗi, rồi đem hai vị v ào trú ngụ trong ngự viên, và ch ăm
sóc hai vị tại chỗ ấy. Cũng từ đó, Mandavya được gọi l à "Mandavya
mang-cái-cọc", cứ sống ở nơi này gần gũi nhà vua. Phần Dìpàyana, sau khi
chữa lành vết thương cho bạn xong, lại trở về với bạn xưa là gia chủ
Mandavya. Khi gia nhân nhận thấy vị này đi v ào
am thất cũ, liền đi báo với gia chủ. Ông chủ
nghe tin l òng rất hoan hỷ, cùng với vợ con
đem nhiều hương liệu, tr àng hoa, dầu,
đường đi đến am thất, đảnh lễ D ìpàyana,
rửa chân và xoa dầu thơm cho vị này xong, đem
mời nước uống v à ngồi lắng nghe câu chuyện ẩn sĩ Mandavya
mang-cây-cọc.
Bấy giờ con trai của gia chủ là nam tử Yannadatta,
đang chơi đ ùa với quả cầu ở cuối mái
hiên. tại đó, có một con rắn trong một ổ kiến.
Trái cầu của cậu trai bị ném xuống đất, chạỵ tọt v ào lỗ kiến kia và
rơi nhằm con rắn. Vì không biết sự này, cậu thò tay vào lỗ. Con rắn tức giận
cắn tay cậu, khiến cậu ngã xuống bất tĩnh vì nọc
độc của rắn quá mạnh. Sau đó cha mẹ cậu thấy
con bi rắn cắn, liền nâng con dậy đem đến vị ẩn sĩ kia, đặt cậu nằm dưới
chân vị n ày và nói:
- Thưa Tôn giả, các bậc tu hành thường biết các cây thảo dược và bùa chú,
xin Tôn giả chữa trị cho con chúng tôi.
- Ta đâu biết g ì về thảo dược, ta
chẳng làm nghề y sĩ bao giờ.
- Thưa Tôn giả, ngài là bậc tu hành xin thương xót thằng bé này và thực
hiện một lời Nguyện cầu Chân thật.
- Ðược lắm - vị ẩn sĩ đáp - ta sẽ thực hiện
một lời Nguyện cầu Chân thật.
Rồi vừa đặt đặt l ên
đầu Yannadatta, ông vừa ngâm vần kệ đầu:
1. Bảy ngày tâm trí thật thong dong,
Thanh tịnh sống đời ước lập công,
Từ đó năm mươi năm ẩn dật,
Chú tâm ta bộc bạch lời chân;
Nơi đây ta sống d ù không muốn,
Lời thật này mong tạo phước ân,
Khiến nọc độc không c òn hiệu lực,
Cậu trai này sẽ tỉnh lên dần.
Chẳng bao lâu khi lời Nguyện cầu Chân thật này
được thực hiện, th ì chất
độc phóng ra từ ngực của Yannadatta v à
chui xuống đất. Cậu bé mở mắt nh ìn cha
mẹ và kêu:
- Mẹ ơi!
Rồi cậu quay người nằm im. Lúc ấy Hắc nhân Dìpàyana bảo người cha:
- Này, ta đ ã dùng hết khả n ăng
của ta, nay đến thời bạn d ùng khả n ăng
của m ình đi.
Người cha đáp:
- Vậy tôi sẽ thực hiện lời Nguyện cầu Chân thật.
Rồi vừa đặt tay l ên ngực con trai,
ông vừa ngâm vần kệ thứ hai:
2. Chẳng chút quan tâm vật cúng dường
Ta đem đ ãi mọi khách qua
đường,
Song người hiền trí chưa hề biết
Ta đ ã tự kiềm chế bản thân;
Dù bố thí, ta lòng miễn cưỡng,
Cầu mong lời thật tạo hồng ân,
Làm cho nọc độc th ành vô hiệu,
Thằng bé này đây được tỉnh dần.
Sau khi ông thực hiện lời Nguyện cầu Chân thật này, từ lưng cậu bé nọc
độc xuất ra v à chui xuống
đất. Cậu ngồi dậy, nhưng chưa thể đứng l ên
được. Lúc ấy người cha bảo người mẹ:
- Này phu nhân, ta đ ã dùng hết khả n ăng
của ta, bây giờ chính b à dùng n ăng lực
của m ình phát nguyện Lời Chân thật để l àm
cho con bà đứng l ên và
đi được.
Bà vợ đáp:
- Tôi cũng có một sự thật muốn nói ra, nhưng trước mặt quí vị tôi không
thể nói được.
Ông bảo:
- Này phu nhân, hãy dùng hết mọi phương cách làm cho con ta bình phục.
Bà đáp:
- Thế thì tốt lắm.
Và lời Nguyện cầu Chân thật của bà được đưa
ra trong vần kệ thứ ba:
3. Rắn nọ cắn con mới nãy giờ,
Nằm trong lỗ ấy hỡi con thơ,
Và cha con đó, n ày ta bảo,
Là một, trong tim mẹ hững hờ,
Mong sự thật này mang phươc đức,
Nọc tan, con trẻ tỉnh hồn mơ!
Chẳng bao lâu lời Nguyện Cầu Chân thật này
được thực hiện th ì tất cả nọc độc đều
tuôn ra v à chui xuống đất. Yannadatta
đứng dậy, to àn thân cậu đ ã
được tẩy sạch hết chất độc, n ên cậu bắt
đầu chơi đ ùa. Khi cậu bé
đ ã hồi tỉnh như thế xong, gia chủ
Mandavya hỏi về tâm tư của Dìpàyana qua vần kệ thứ tư:
4. Người ta xuất thế, trí quang minh,
Thuần thục, tâm không chút bất bình,
Trừ bạn Kan-ha, sao thối chất,
Chẳng mong tiến bước đạo tu h ành?
Ðể đáp lại lời n ày, vị kia ngâm vần
kệ thứ n ăm:
5. Xuất thế rồi quay lại cõi trần,
Chắc người ta nghĩ: "Kẻ ngu đần!",
Chính điều n ày khiến ta lùi bước,
Ta vẫn hành trì đạo Thánh nhân
Tuy vậy ta không c òn phát nguyện,
Ta theo Thánh đạo bởi nguy ên nhân:
Ðược lời khen ngợi từ người trí,
Là cách người hiền thiện trú thân.
Sau khi đ ã giải thích lối suy nghĩ
của mình như vậy xong, vị này hỏi Mandavya lần nữa qua vần kệ thứ sáu:
6. Nhà bạn đây như thể quán ăn,
Chứa đồ ẩm thực để cung dâng
La-môn, trí giả c ùng du khách,
Thỏa mãn cơn khao khát, đói l òng,
Xong sợ điều g ì gây tiếng xấu,
Nên lòng miễn cưỡng lại cho không.
Ðến lượt Mandavya giải thích ý tưởng mình qua vần kệ thứ bảy:
7. Giữ gìn Thánh hạnh các cha ông,
Là thí chủ ban phát rộng lòng,
Theo gót xưa, ta đầy cẩn trọng,
Sinh thời đường lối của gia tông,
Sợ m ình sẽ biến thành suy thoái,
Nên miễn cưỡng lòng vẫn biếu không.
Sau khi nói xong, Mandavya hỏi vợ qua vần kệ thứ tám:
8. Khi còn thiếu nữ trí ngây thơ,
Ta cưới bà về tự nhạc gia,
Bà chẳng bảo lòng ta lãnh đạm
L àm sao bà sống cả đời b à,
Không tình gắn bó, không thương mến,
Bà đ ã vì
đâu ở lại nh à,
Hỡi quí phu nhân đầy yểu điệu,
Sống đời lạnh lẽo thế c ùng ta.
Bà vợ đáp qua vần kệ thứ chín:
9. Chẳng phải là nề nếp cổ phong,
Cho người làm vợ lại thay chồng,
Chẳng bao giờ thế, nên tôi vẫn,
Giữ thói lề kia, kẻo ngại rằng
Tôi bị người xem là thoái hóa,
Chính niềm lo sợ tiếng đồn hung,
Khiến tôi ở lại v à chung sống
Chẳng có tình yêu, vẫn lạnh lùng.
Sau khi vừa nói điều n ày ra xong, một
ý nghĩ chợt đến với b à: "Nay ta
đ ã nói điều
bí mật kia với chồng ta rồi, cái điều bí mật chưa hề bao giờ được nói ra cả!
Chắc ch àng sẽ giận ta lắm; vậy ta muốn
được xin lỗi ch àng ngay trước mặt vị ẩn sĩ này vốn là bạn chân tình
của nhà ta!" Với mục đích tr ên, bà ngâm
vần kệ thứ mười:
10. Giờ đây thiếp lỡ nói rồi,
Những điều chẳng đáng n ên lời nói ra
Vì con, mong ước thứ tha,
Không gì hơn được mẹ cha nồng t ình,
Yan-na, con của chúng mình
Trước đây đ ã chết, hồi sinh bây giờ!
- Thôi phu nhân hãy đứng dậy đi - Mandavya
nói - tôi tha lỗi cho b à rồi. Từ nay bà
đừng vô t ình với tôi nữa; rồi tôi sẽ không bao giờ buồn phiền gì bà
đâu.
Còn Bồ-tát bảo Mandavya:
- Trong khi thu thập được nhiều của cải bất
chính, rồi bạn lại phân phát bố thí rộng r ãi, song không có lòng tin
rằng hành động ấy l à hạt giống an lành
mang lại dị thục quả, như thế là bạn sai lần
đấy. Trong tương lai, bạn h ãy tin tưởng vào công
đức của lễ vật bố thí, v à bạn hãy bố thí
cúng dường.
Vị gia chủ hứa làm như vậy, và đến phi ên
mình nói với Bồ-tát:
- Thưa Tôn giả, chính Tôn giả cũng sai lầm khi nhận lễ vật của chúng tôi
cúng dường trên bước đường Thánh hạnh m à
lòng không phát nguyện tu hành. Giờ đây để cho
hạnh nghiệp của Tôn giả mang lại nhiều phước quả dồi d ào, xin từ nay
về sau Tôn giả tiến lên trong Thánh đạo với l òng
an tịnh thanh thản và tràn đầy thi ên
lạc.
Rồi hai ông bà giã từ bậc Ðại sĩ và ra về.
Từ đó về sau, b à vợ thương yêu chồng
mình, gia chủ Mandavya giữ tâm thanh tịnh, đem
của cải bố thí với đầy đủ l òng tin; còn Bồ-tát xua tan hết lòng thối
thất, và tu tập các Thắng trí thiền định n ên
được sinh l ên cõi Phạm thiên.
*
Khi Pháp thoại này chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Bấy giờ
vào đoạn kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thối
thất đ ã được an trú v ào Sơ quả
(Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ànanda là gia chủ Mandavya; Visàkhà (Tỳ-cá-khư) là bà vợ,
Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Mandavya mang-cái-cọc, và Hắc nhân Dìpàyana chính
là Ta.
-ooOoo-
445. Chuyện Vua Ða (Tiền thân Nigrodha)#
Người ấy là ai, ta chẳng hay ...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Trúc Lâm về Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa).
Một bữa nọ, các Tỷ-kheo bảo vị này:
- Này hiền hữu Ðề-bà- đạt-đa, bậc Ðạo
sư cứu độ hiền hữu rất nhiều! Từ bậc Ðạo
Sư, hiền hữu đ ã thọ
đủ Tiểu giới v à Ðại giới; hiền hữu
đ ã học Tam Tạng là tiếng nói của
đức Phật; hiền hữu đ ã làm phát khởi
Thiền định trong tâm hiền hữu; vinh quang l à
lợi lạc của đấng Thập Lực thuộc về hiền hữu.
Nghe vậy vị này liền đưa l ên một cọng
cỏ và nói:
- Ta không thấy một điều lợi lạc n ào
mà Sa-môn Gotama đ ã tạo cho ta cả, dù
chỉ bằng cọng cỏ này.
T ăng chúng b àn tán việc ấy trong
Chánh Pháp đường. Khi bậc Ðạo Sư bước
vào, Ngài hỏi các vị ấy đang b àn luận
điều g ì trong lúc ngồi
đó. Các vị tr ình lên Ngài, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu, m à
từ lâu cũng như bây giờ, Ðề-bà- đạt-đa đ ã
vô ơn và phản bội thân hữu.
Rồi Ngài kể cho T ăng chúng một chuyện đời
xưa:
*
Ngày xưa một vị Ðại vương danh hiệu là Magadha (Ma-kiệt- đ à)
cai trị ở thành Ràjagaha (Vương xá) .
Một thương nhân trong thành ấy cưới về nhà cho con trai mình một cô vợ,
đó l à con gái của một thương nhân ở thôn
quê. Song nàng ấy không sinh sản gì. Theo thời gian, vì nguyên cớ
đó, l òng kính trọng
đối với n àng giảm
đi; cả nh à thường nói chuyện cho nàng có
thể nghe được như vầy:
- Khi có một người vợ không sinh sản trong nhà, con trai ta làm sao nối
dõi tông đường được?
Khi chuyện này cứ đến tai n àng mãi,
nàng tự nhủ: " được rồi, ta sẽ giả vờ mang thai
để đánh lừa họ".
Thế là nàng hỏi vú già tốt bụng của nàng:
- Ðàn bà có thai phải làm gì?
Và khi được chỉ bảo những điều cần l àm
để giữ g ìn thai nhi, nàng dấu kín thời
kỳ hành kinh của nàng, lại tỏ ý thích ăn các vị
chua mới lạ. V ào lúc tay chân bắt đầu to
l ên, nàng nhờ chúng bạn đập v ào
tay chân, và lưng cho đến khi chúng sưng phồng
l ên; dần dần nàng bó quanh người nàng bằng giẻ vụn và vải làm cho
thân thể có vẽ lớn dần; lại bôi đen hai đầu vú
n àng, và chỉ trừ bà nhũ mẫu ấy ra, chẳng ai
được phép ở b ên nàng lúc nàng tắm rửa.
Chồng nàng cũng tỏ ra ch ăm sóc n àng chu
đáo cho ph ù hợp với hoàn cảnh ấy.
Sau chín tháng trôi qua trong cảnh này, nàng tỏ ý muốn trở về nhà sinh
con trong nhà cha mẹ mình. Vì vậy nàng từ giã cha mẹ chồng, lên xe cùng một
số gia nhân từ bỏ thành Vương Xá lại đằng sau,
thẳng tiến l ên đường.
Lúc bấy giờ trước mặt nàng có một đo àn
xe ngựa đang du h ành, và lúc nào nàng
cũng đến v ào khoảng giờ
ăn điểm tâm ở địa điểm m à
đo àn xe kia vừa mới ra
đi. V ào một
đ êm kia, một người đ àn bà nghèo
khổ trong đo àn xe
đ ã hạ sinh một con trai dưới gốc cây
đa; v à nghĩ rằng nếu không có
đo àn xe ấy bà không thể
đi th êm
được nữa, song nếu b à sống, bà có thể nhận
được h ài nhi ấy, nên bà quấn nó lại,
để nó nằm dưới gốc cây đa. Vị thần cây n ày
s ăn sóc h ài nhi:
đó không phải l à một
đứa bé b ình thường, mà chính là Bồ-tát
đ ã xuất hiện ở
đời trong h ình thức ấy.
Vào giờ ăn sáng, đo àn lữ hành kia
đến nơi đó. C òn nàng ấy cùng nhũ mẫu của
nàng đi ri êng ra chỗ bóng mát của cây
đa để rửa ráy, chợt thấy h ài nhi có màu
vàng chói nằm đó. Lát sau, n àng gọi bà
nhũ mẫu bảo rằng mục tiêu của họ đ ã
đạt được rồi; n àng liền mở các lớp vải
quấn bụng ra, tuyên bố hài nhi ấy là con nàng và nàng vừa mới sinh ra nó.
Các kẻ hầu cận lập tức dựng lều để d ành
chỗ ở riêng cho nàng, và vô cùng hân hoan gởi một lá thư về thành Vương Xá.
Cha mẹ chồng nàng đáp thư lại rằng v ì
hài nhi đ ã ra
đời n ên nàng không cần phải trở về nhà
cha nàng nữa, mà hãy quay lui. Vì vậy nàng lập tức trở về Vương Xá. Và gia
đ ình chồng thừa nhận hài nhi ấy nên khi
hài nhi được đặt t ên, họ
đặt t ên nó theo chốn nó ra
đời, l à Nigrodha Kumàra hay Cậu bé Ða.
Cùng ngày hôm ấy cô con dâu của một thương nhân trên
đường về nh à cha ruột
để sinh con, đ ã cho ra
đời một bé trai dưới c ành cây nên họ
đặt t ên nó là Sakka Kumàra hay Cậu
Nhành. Và cùng ngày hôm đó, vợ của người thợ
may l àm việc cho thương nhân này lại sinh một con trai giữa
đống vải vụn của n àng, họ nên
đặt t ên nó là Pottika hay Chú bé Nhồi
bông.
Nhà đại phú thương cho đi t ìm hai hài
nhi ấy về, vì chúng sinh cùng một ngày với công tử Ða, và cho nuôi chúng với
nhau.
Các đứa trẻ lớn l ên, về sau
đi đến Takkasil à
để ho àn thành việc học tập. Cả hai nam
tử con các thương nhân nhận được hai ng àn
đồng để trả học phí cho thầy giáo, công tử
Ða bảo trợ việc học tập cho Pottika.
Khi việc học hành đ ã hoàn tất, các
ông từ giã thầy giáo và ra đi với ý định t ìm
hiểu phong tục dân quê, nên cứ ngao du mãi, vừa lúc
đến th ành Ba-la-nại, liền nằm xuống nghỉ
ngơi, trong một ngôi đền thờ.
Khi ấy vua Ba-la-nại đ ã b ăng
h à được bảy ng ày rồi. Có tiếng
trống lệnh loan báo khắp kinh thành rằng ngày mai sẽ có xe hoa hành lễ. Ba
người bạn ấy đang nằm ngủ dưới gốc cây, v ào
tảng sáng, Pottika thức dậy, vừa ngồi vừa xoa bóp chân cậu Ða. Có vài con gà
trống đang gáy tr ên cây ấy, con gà trên
đọt cây l àm rơi một cục phân trên con gà
ở gần gốc cây. Con này hỏi:
- Cái gì rớt trên ta thế này?
Con kia đáp:
- Xin tôn ông đừng giận, ta không cố ý l àm
như vậy.
- Thế chú tưởng thân ta là chỗ để chú thả
phân ra hay sao? Chú không biết giá trị của ta, điều ấy đ ã rõ quá!
Nghe vậy con gà kia đáp lại:
- Ô kìa, ngài cứ thịnh nộ mãi, dù ta đ ã
nói là ta không cố ý làm việc đó. Thế xin cho
biết giá trị của ng ài ra sao?
- Hễ bất kỳ ai giết ta ăn thịt sẽ được một
ng àn đồng tiền sáng nay. Ðó không
phải là điều đáng tự h ào hay sao?
- Úi chà! Úi chà! Gà kia đáp lại. Tự h ào
gì cái việc vặt vãnh ấy! Này, nếu cứ giết ta và
ăn mỡ của ta sẽ trở th ành vua ngay sáng nay. Còn nếu
ăn thịt ở bụng sẽ th ành
đại tướng; ai ăn thịt ở ức sẽ th ành quan
giữ ngân khố.
Pottika nghe lọt hết mọi chuyện này. Cậu suy nghĩ: "Một ngàn
đồng tiền...! Cái g ì
đây? Ðược làm vua là tuyệt nhất!"
Thế là nhẹ nhàng trèo lên cây, cậu nắm lấy con gà trống gáy trên
đọt cây, giết nó đi v à nướng gà trên
than hồng, đem mỡ g à cho cậu Ða, thịt
bụng cho cậu Nhành còn chính mình ăn thịt quanh
xương ức. Khi đ ã ăn xong, cậu bảo:
- Thưa công tử Ða, hôm nay ngài sẽ làm vua; thưa công tử Nhành, hôm nay
ngài sẽ làm đại tướng; c òn tôi sẽ làm
quan giữ kho báu.
Hai cậu kia hỏi làm thế nào biết được chuyện
ấy, cậu liền kể lại hết.
Vì vậy vào khoảng giờ ăn buổi cơm sáng trong
ng ày, ba cậu vào thành Ba-la-nại. tại nhà một vị Bà-la-môn, các cậu
được ăn một bữa cháo gạo, với bơ tươi v à
đường, rồi từ kinh th ành các cậu vào ngự
viên.
Cậu Ða nằm xuống một phiến đá, hai cậu kia
nằm b ên cạnh. Vừa lúc ấy dân chúng cử hành lễ rước xe hoa cùng với n ăm
biểu tượng của vương quyền (kiếm, lọng, miện, h ài, quạt) trên
đó. (Các chi tiết câu chuyện n ày sẽ
được tả trong câu chuyện Tiền thân Mah àjanaka,
số 539, tập VI). Vương xa tiến vào và dừng lại,
đứng sẵn s àng để các vị bước l ên.
"Chắc có một bậc Ðại nhân tài đức ở đây". Vi ên
quan tế lễ tự nhủ. Ông bước vào ngự viên, nhìn thấy cậu thanh niên này, rồi
giở lớp vải dưới bàn chân cậu để quan sát các
dấu hiệu tr ên đó. Ông bảo:
- Ô kìa, người này có số được l àm vua
toàn cõi Diêm phù- đề (Ấn Ðộ), chứ nói gì
chỉ một thành Ba-la-nại.
Và ông ra lệnh cho chuông trống, thanh la nổi lên.
Cậu Ða thức dậy ném tấm vải trùm mặt ra, liền thấy một
đám đông vây quanh cậu! Cậu quay nh ìn
quanh quẩn nằm im một lát rồi trở dậy ngồi xếp bằng
đôi chân...Vị tế sư quỳ xuống bảo:
- Tâu Thần nhân, vương quốc này thuộc về ngài.
- Ðược rồi, cứ như vậy. Cậu đáp.
Vị tế sư liền đặt cậu ngồi tr ên một
đống báu vật rồi l àm lễ quán
đảnh (rảy nước thánh), phong vương cho cậu.
Khi được phong vương như vậy rồi, vua ban
chức Ðại tướng cho bạn Nhành, rồi vào kinh thành trong cảnh uy nghi
trọng thể, còn Potika cũng đi v ào với
hai ông.
Từ ngày ấy trở về sau, bậc Ðại Sĩ cai trị rất
đúng pháp tại Ba-la-nại.
Một ngày kia chợt nhớ đến song thân, ng ài
bảo tướng Nhành:
- Này hiền hữu, ta không thể sống thiếu cha mẹ
được. Vậy h ãy
đem một đo àn người về tìm song thân ta.
Song tướng Nhành từ chối:
- Ðó không phải là việc của hạ thần. Ông bảo.
Sau đó ng ài bảo Pottika làm việc ấy.
Pottika tuân lệnh lên đường tiến về nh à
song thân của vua Ða, nói cho hai vị biết là con trai của họ
đ ã lên làm vua, và mong họ
đến ở với ng ài. Song họ từ chối, bảo
rằng họ đ ã có cả thế lực lẫn giàu sang
rồi, đầy đủ như vậy, họ không muốn đi nữa. Ch àng
cũng đi mời song thân tướng Nh ành
đến triều, nhưng họ cũng chỉ thích ở lại đấy
hơn; v à đến khi ch àng về mời
chính song thân mình, họ bảo:
- Chúng ta sống bằng nghề may vá, thế đủ
rồi, đủ rồi.
Và họ cũng từ chối như các người kia.
Vì chàng không đáp ứng nguyện vọng các vị l ão
thân, chàng đ ành trở về Ba-la-nại. Chàng
nghĩ rằng sẽ về và nghỉ ngơi cho đỡ mệt nhọc v ì
cuộc hành trình tại nhà vị Ðại tướng trước khi yết kiến vua Ða, liền
đến nh à kia. Chàng bảo người canh cổng:
- Xin báo cho Ðại tướng biết thân hữu Pottika
đến đây.
Người ấy tuân lệnh. Song tướng Nhành vẫn mang mối hiềm hận
đối với ch àng, vì tướng ấy bảo chàng kia
đ ã giao vương quyền cho thân hữu Ða thay
vì chính mình cho nên khi nghe lời nhắn này, tướng quân nổi cơn thịnh nộ:
- Thân hữu như vậy ư? Ai là thân hữu của nó? Nó chỉ là thằng thô tục, hạ
đẳng, ngu ngốc. H ãy tóm lấy nó ngay!
Thế là chúng đánh đá ch àng, nện nhừ
tử bằng chân cẳng, cùi chỏ một trận nên thân, rồi tóm cổ chàng quẳng ra
đường.
Chàng suy nghĩ: "Nhành được chức vụ
Ðại tướng nhờ ta, thế mà nay nó phản bội, độc
ác, đ ã đánh đập ta rồi quẳng ta ra
đường. Song c òn bạn Ða là bậc hiền nhân, biết ân nghĩa và lương
thiện, và ta sẽ đi gặp bạn ấy."
Thế là chàng đến cửa cung, đưa tin v ào
nhà vua rằng thân hữu của ngài là Pottika đang
chờ ở cửa.
Vua mời chàng vào, khi thấy chàng đến gần,
ng ài liền đứng dậy, tiến đến đón ch àng,
chào hỏi rất thân thiết; ngài ra lệnh cạo râu tóc và ch ăm
sóc ch àng chu đáo rồi trang điểm cho ch àng
bằng các loại ngọc vàng, đ ãi tiệc chàng
đầy đủ thức cao lương mỹ vị. Xong xuôi nh à
vua lại ân cần ngồi bên chàng hỏi th ăm song
thân m ình, chàng tường trình cho ngài biết hai vị
đó từ chối việc đến đây ở.
Lúc bấy giờ tướng Nhành thầm nghĩ:" Chắc Pottika sẽ phỉ báng ta vào tai
đức vua, song nếu ta đến b ên ngài, gã sẽ
không thể nói được." V ì thế chàng này
cũng đến đó. C òn Pottika, dù có Nhành
hiện diện, vẫn tâu với vua:
- Tâu chúa thượng, khi hạ thần mệt nhọc vì
đường xa, đ ã đến nh à tướng
Nhành, hy vọng nghỉ ngơi tại đó trước rồi đến
yết kiến ng ài sau. Song tướng Nhành bảo: "Ta chẳng biết gã
đó!" Rồi đối xử t àn tệ với hạ thần, và
tóm cổ hạ thần quẳng ra ngoài! Xin Chúa thượng tin lời hạ thần nói.
Cùng với các lời này, chàng ngâm ba vần kệ:
1. Người đó l à ai, ta chẳng hay,
Ai là thân phụ của người đây,
Nh ành còn hỏi: Nó là ai đó?
Ða hỡi, nghĩ sao trước việc này?
2. Ðầy tớ Nhành kia cứ y lời
Ðấm, thoi, tát, đánh khắp người tôi,
Rồi c òn chụp lấy tôi vào cổ,
Từ đó lôi tôi quẳng phía ngo ài.
3. Phản bội như vầy đối với tôi,
Chỉ người độc ác mới l àm thôi,
Vong ân bạc nghĩa là ô nhục,
Gã cũng bạn ngài, Chúa thượng ôi!
Nghe những lời này, vua Ða liền ngâm bốn vần kệ
4. Ta chẳng hề nghe, cũng chẳng hay
Một ai từng nói chuyện như vầy,
Xấu xa như bạn đang tường thuật,
Nh ành ấy vừa làm tại chốn đây.
5. Bạn c ùng ta, sống với Sàk-kha,
Ðồng bọn chí tình thưở đ ã qua,
Bạn đ ã giành phần cho mỗi một,
Hướng quyền vương tước, tặng hai ta,
Vinh quang ta được l à nhờ bạn,
Còn có gì nghi hoặc nữa mà.
6. Khi hạt ném trong ngọn lửa hồng,
Cháy rồi, hạt chẳng thể gieo trồng
Ta làm việc thiện cho người ác,
Cũng vậy, nó tàn lụi diệt vong.
7. Chúng chẳng như nhiều kẻ biết ơn,
Những người đức hạnh, bậc hiền lương,
Ðất lành, hạt chẳng hề qu ăng bỏ,
Như việc l àm cho các thiện nhơn.
Trong khi vua Ða ngâm kệ trên, tướng Nhành
đứng im tại chỗ. Sau đó vua hỏ i:
- Nào bạn Nhành, bạn có nhận ra anh chàng Pottika này không?
Gã đ ành câm lặng. Vua liền truyền xử
gã này qua những lời của vần kệ thứ tám:
8. Tóm tên hèn hạ bội ân này,
Tư tưởng nó đ à xấu ác thay,
Ðâm nó! Vì ta cho nó chết,
Nghĩa gì đời nó với ta đây?
Sau khi Pottika nghe nói vậy, liền suy nghĩ trong lòng: "Chớ nên
để kẻ ngu si n ày chết vì ta!" nên chàng
ngâm vần kệ thứ chín:
9. Ðại vương, mong mở lượng từ bi,
Thật khó tìm đời sống mất đi,
Chúa thượng dung tha cho nó sống,
Thần mong thằng khốn chẳng sầu chi .
Khi vua nghe vậy, ngài tha tội cho Nhành; và ngài muốn ban chức Ðại tướng
cho Potika, song chàng không nhận. Rồi vua phong chàng chức Chưởng khố, và
với chức vụ đó, ch àng xét xử các
đám thương nhân. Trước kia chẳng có chức vụ đó,
song chức vụ n ày tồn tại từ đây về sau.
Dần dần với thời gian, quan Chưởng khố Pottika được phước đầy đủ con trai
con gái, đ ã ngâm vần kệ cuối cùng để
giáo hóa các con:
10. Ta cần sống với Ni-gro-dha
Chẳng tốt gì hầu hạ Sà-kha,
Nếu phải sống cùng Nhành, đại tướng,
Th à nên chịu chết với vua Ða.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:
- Như vậy, này các Tỳ kheo, các ông thấy rằng trước kia Ðề bà
đạt đa cũng đ ã vô ơn bạc nghĩa rồi.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời đó, Ðề-bà- đạt-đa
l à Sàkha, Ànanda là Pottika, và Nigrodha chính là Ta.
-ooOoo-
446. Chuyện Cây Hành (Tiền thân kkala)#
Chẳng rau để luộc, cũng không h ành...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một cư sĩ phụng dưỡng cha mình.
Chuyện kể rằng người này tái sinh vào một gia
đ ình nghèo khó. Sau khi mẹ mất, chàng
thường dậy sớm vào buổi sáng và soạn t ăm xỉa
răng c ùng nước súc miệng, sau đó đi l àm
thuê hay cày ruộng ngoài đồng, ch àng
thường nấu cháo gạo nuôi cha theo phong cách phù hợp hoàn cảnh mình. Cha
chàng bảo:
- Này con, con phải làm mọi việc từ trong nhà ra ngoài
đường. Thôi để cha kiếm vợ cho con, n àng
ấy sẽ làm việc nhà thay con.
Chàng đáp:
- Thưa cha, nếu có đ àn bà
đến nh à này, họ sẽ không làm cha con ta
yên tâm được đâu. Xin cha đừng mơ tưởng chuyện
đó nữa. Khi cha c òn sống, con muốn phụng dưỡng cha, và khi cha từ
trần, con sẽ biết việc gì cần làm.
Song người cha đi kiếm về một cô gái, d ù
con mình không muốn, và nàng ấy lo ch ăm sóc
chồng v à cha chồng; tuy vậy, nàng là người hèn hạ. Lúc bấy giờ chồng
nàng hài lòng vì nàng đ ã s ăn
sóc cha ch àng, và bất cứ món gì chàng tìm
được để l àm nàng vui lòng, chàng
đều đem về cho n àng và nàng
đưa cho cha chồng. Rồi có lúc người đ àn
bà ấy suy nghĩ: "Bất cứ cái gì chồng ta kiếm
được đều đem cho ta, chứ không cho cha ch àng chút nào cả. Rõ ràng là
chàng chẳng quan tâm gì đến cha. Ta phải t ìm
cách gây xích mích giữa ông già và chàng, rồi ta sẽ
đuổi ông gi à ra khỏi nhà."
Vì thế từ đó, n àng bắt
đầu đem nước quá lạnh hoặc quá nóng cho ông l ão,
thức ăn th ì nàng bỏ muối quá nhiều hoặc
chẳng bỏ chút muối nào, cơm nàng nấu cứng ngắc hoặc mềm nhão; nàng cố làm
đủ mọi thứ như vậy để khi êu khích ông
lão. Rồi khi ông lão tức giận, nàng mắng lại:
- Ai hầu nổi một ông già như thế này?
Nàng vừa nói vừa gây chuyện ồn ào. Nàng khạc nhổ khắp mặt
đất rồi thức chồng n àng dậy và bảo:
- Xem kìa, cha chàng làm thế đó! Thiếp m ãi
van xin cha đừng l àm thế này thế nọ, mà
cha chỉ nổi giận. Hoặc cha chàng, hoặc thiếp phải
đi ra khỏi nh à này.
Lúc ấy người chồng bảo:
- Này nàng, nàng còn trẻ, nàng muốn ở đâu t ùy
ý, song cha ta đ ã già, nếu nàng không
thích ông cụ, thì nàng cứ đi khỏi nh à.
Lời nói ấy khiến nàng khiếp sợ. Nàng quỳ xuống chân ông lão xin ông thứ
lỗi và hứa từ nay sẽ không làm thế nữa, rồi lại bắt
đầu săn sóc ông l ão như trước kia.
Vị cư sĩ đáng trọng ấy trước ti ên quá
lo âu vì cách đối xử của n àng, nên bỏ
việc đến yết kiến bậc Ðạo Sư
để nghe thuyết Pháp, song khi n àng
đ ã hồi tâm, chàng lại
đến. Bậc Ðạo Sư hỏi tại sao chàng không
đến nghe Ng ài thuyết giảng bảy tám ngày
nay. Chàng kể lại mọi việc xảy ra. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Lần này, ông không chịu nghe vợ, và không đuổi
cha ra khỏi nh à, nhưng trong một đời quá
khứ, ông l àm theo lời vợ bảo, đ ã
đem cha ra bỏ trong một nghĩa địa v à
đ ào cho ông lão một cái hố. Vào thời kỳ
ông sắp giết cha, Ta được bảy tuổi v à
nhờ ta kể công đức cha mẹ v à cản ông
khỏi tội giết cha. Thời đó ông đ ã nghe
lời Ta, và nhờ việc s ăn sóc cha trong lúc ông l ão
còn sống mà ông được sinh l ên Thiên
giới. Thời ấy Ta đ ã thuyết giảng và báo
cho ông biết trước để đừng bỏ rơi cha khi sinh
v ào một đời khác; v ì duyên cớ này
nên ngày nay ông không chịu nghe theo lời người
đ àn bà kia bảo, và cha ông không bị giết hại.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của người ấy, Ngài kể một chuyện quá
khứ.
*
Ngày xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, trong một làng kia ở
Kàsi, một gia đ ình nọ có một con trai
duy nhất tên gọi Vasitthaka. Chàng này nuôi nấng cha mẹ, và sau khi mẹ mất,
chàng phụng dưỡng cha như đ ã tả ở phần
đầu. Nhưng có chỗ khác ở đây l à: Khi
người đ àn bà bảo: "Nhìn kia kìa! Cha
chàng làm thế đó, thiếp cứ m ãi van xin
cha chàng đừng l àm thế này thế nọ, cha
chỉ nổi giận", nàng lại nói tiếp:
- Này phu quân, cha chàng hung dữ, độc ác
lắm, v ì cứ mãi gây sự cãi vã. Một lão già lụ khụ như vậy, lại bị bệnh
hoạn giày vò, sắp chết đến nơi rồi, n ên
thiếp không thể ở cùng nhà với ông lão được.
Trước sau g ì ông lão cũng chết già thôi, vậy chàng hãy
đem ông l ão ra nghĩa
địa, đ ào hố ném ông vào và lấy cái cuốc
đập đầu ông đi; khi ông chết rồi h ãy xúc
đất lấp hố lại, v à
để mặc đó.
Cuối cùng, vì cứ nghe mãi những lời đinh tai
nhức óc, ch àng bảo:
- Này nàng ơi, giết người là việc hệ trọng, bằng cách nào ta có thể làm
thế được?
Vợ đáp:
- Thiếp sẽ chỉ cho chàng một cách.
- Vậy cứ nói đi.
- Nào, phu quân, rạng ngày mai, hãy đến nơi
cha ch àng ngủ, nói thật lớn với ông lão
để mọi người đều nghe được, rằng có một con nợ của cha ở một l àng kia
mà chàng đ ã
đến gặp, nhưng g ã không chịu trả tiền cho chàng. Nếu ông lão chết,
thì gã ấy chẳng bao giờ trả nợ nữa. Vậy hãy nói rằng hai cha con sẽ cùng lái
xe đến đó v ào buổi sáng, rồi
đến giờ đ ã
định, ch àng hãy cột đôi b ò vào
xe, đưa ông l ão
đến nghĩa địa. Khi ch àng
đến đó, h ãy chôn ông vào cái hố và la to
lên như thể chàng bị cướp giữa đường v à
bị thương, rồi gội đầu m à ra về.
Chàng bằng lòng làm theo lời bàn ấy và sắp sẵn chiếc xe bò lên
đường. Lúc bấy giờ người ấy có một con trai l ên
bảy tuổi, nhưng rất khôn ngoan và thông minh. Cậu bé nghe lọt những chuyện
mẹ nói, và nghĩ thầm: "Mẹ ta thật là một ác phụ,
đang cố thuyết phục cha ta giết ông nội. Ta
muốn ngăn cản cha ta khỏi tội giết người n ày."
Cậu ta liền chạy nhanh đến nằm cạnh ông nội.
V ào giờ phút người vợ dặn dò, Vasitthaka
đ ã sắp sẵn chiếc xe bò. Chàng bảo:
- Cha ơi, dậy đi, ta đi đ òi nợ.
Rồi chàng đặt cha ngồi v ào xe. Song
cậu bé ngồi vào xe trước tiên. Vasitthaka không thể cản con
được, n ên cùng
đem cậu đi ra nghĩa địa với họ. Sau đó, đem cha
gi à và con trai ra để ngồi ri êng
một nơi với chiếc xe, còn chàng bước xuống lấy cuốc và cái giỏ
đến một nơi, dấu m ình cho họ khỏi thấy
rồi bắt đầu đ ào một lỗ vuông lớn. Cậu bé
đi xuống theo cha v à làm như thể không
biết việc gì đang xảy ra, cậu ngâm vần kệ đầu
ti ên để mở lời:
1. Chẳng rau để luộc, cũng không h ành,
Chẳng bạc hà, cây để nấu canh,
Nếu chẳng cần, sao cha bới đất
Một m ình, trong nghĩa địa rừng xanh?
Rồi cha cậu đáp lại bằng cách ngâm vần kệ
thứ hai:
2. Ông nội già nua, quá yếu gầy,
Do nhiều bệnh hoạn, khổ tràn đầy,
Cha chôn ông nội trong mồ đó,
Cha chẳng muốn ông sống thế n ày.
Nghe thế, cậu bé đáp lại qua nửa vần kệ:
Cha cầu việc ấy, tội đ à gây,
Vì việc làm này độc ác thay!
Cùng với những lời trên, cậu bé chụp lấy cái cuốc từ tay cha cậu và bắt
đầu đ ào một hố khác không xa
đó mấy.
Cha cậu liền đến gần hỏi tại sao con đ ào
hố đó, cậu đáp lại bằng cách ngâm hết vần kệ
thứ ba:
3. Con sẽ thờ cha lúc tuổi già
Như cha đối xử với ông nh à,
Theo phong tục ấy trong gia tộc,
Con cũng chôn cha dưới hố mà.
Người cha đáp lại qua kệ thứ tư:
4. Thằng bé nói lời ác nghiệt thay,
Ông cha sao mắng mỏ như vầy!
Nghĩ rằng con trẻ rầy la bố,
Với bạn chí tình, tệ lắm đây!
Khi người cha nói vậy xong, cậu bé khôn ngoan ngâm ba vần kệ, một
để đáp lời v à hai
để l àm thành khúc thánh
đạo ca:
5. Con không tồi tệ hoặc hung tàn,
Con đối với cha, dạ thiết thân,
Nhưng việc n ày cha làm đại ác,
Sức n ào gỡ lại, nếu sai lầm?
6. Người ác ý làm, hỡi Vat-tha,
Hại người vô tội, mẹ cùng cha,
Ðến khi người ấy thân vong hoại,
Ðịa ngục phải vào, chắc chẳng xa.
7. Người dùng cơm nước, hỡi Vat-tha,
Ðem phụng dưỡng luôn mẹ với cha,
Người ấy đến khi thân hủy hoại,
Sẽ l ên Thiên giới hiển nhiên mà.
Người cha sau khi con thuyết giáo, liền ngâm vần kệ thứ tám:
8. Thấy con không tàn nhẫn, vong ơn,
Ðối với cha đầy dạ mến thương,
Chính bởi cha vâng lời của mẹ,
Ðịnh làm việc ác thật kinh hồn.
Khi nghe vậy, cậu bé bảo:
- Thưa cha, đ àn bà hễ khi làm việc ác
mà không bị khiển trách, thì còn tái phạm mãi. Vậy cha phải uốn nắn mẹ con
để cho mẹ sẽ chẳng bao giờ l àm lại một
việc như vậy.
Rồi cậu ngâm vần kệ thứ chín:
9. Vợ cha là ác phụ vô lương,
Bà đ ã sinh con, chính mẹ con,
Ta hãy đuổi b à ra khỏi cửa,
Sợ bà gây việc khác cha buồn.
Nghe lời đứa con khôn ngoan, Vasittha rất
hoan hỷ bảo:
- Nào ta đi co n!
Chàng lại ngồi vào xe bò với cha và con mình.
Lúc bấy giờ người đ àn bàn gây tội ác
ấy cũng sung sướng lắm vì tưởng rằng đ ã
tống được con người xui xẻo ra khỏi nh à
rồi. Nàng trét đầy phân b ò ướt trên sàn
và nấu một mẻ cháo gạo. Song khi nàng ngồi trông ra con
đường m à họ sẽ trở về, nàng thấy họ
đang tiến đến: "K ìa chàng ta
đ ã về, lại có lão già xui xẻo ấy nữa".
Nàng suy nghĩ, lòng đầy tức giận: "Hừ!
Ðồ vô dụng". Nàng la lớn:
- Sao, đem về cái của nợ ch àng
đ ã mang đi
vứt ấy à?
Vasittha không nói một lời, và mở tháo dây chiếc xe bò ra. Rồi chàng bảo:
- Cô nói gì thế?
Chàng đánh cho n àng một trận nên
thân, rồi chụp đầu n àng tống ra khỏi
cửa, cấm nàng đừng bao giờ đến l àm bẩn
cửa nhà chàng nữa. Rồi chàng tắm cho cha và con, chính chàng cũng tắm luôn,
và cả ba ngồi ăn cháo gạo. C òn người
đ àn bà độc
ác liền đến ở nh à khác vài ngày.
Sau đó cậu bé bảo cha:
- Cha ơi, về việc này mẹ con chưa hiểu đâu.
Bây giờ ta thử chọc tức b à ấy đi. Cha
tung tin trong l àng kia có cô cháu gái của cha, muốn s ăn
sóc cha, ông v à con, vì vậy cha định đem
cô ấy về, rồi cha lấy hoa tươi v à dầu thơm
để l ên xe, và cứ
đi quanh v ùng suốt ngày
đến tối mới về nh à.
Chàng làm theo như vậy. Những bọn đ àn
bà trong xóm nhà chàng đến bảo n àng:
- Chị có nghe nói chồng chị đ ã
đi kiếm một cô vợ khác ở một chỗ n ào
đó chăng?
Nàng kêu lên:
- Ôi thế là ta tàn đời rồi, chẳng c òn
chỗ nào dành cho ta cả!
Nhưng nàng muốn hỏi th ăm con n àng, vì
thế nàng vội vã đi t ìm con, sụp xuống
chân nó, kêu khóc lên:
- Trừ con ra, mẹ chẳng có nơi đâu nương tựa
nữa! Từ nay về sau mẹ cố quyết chăm sóc cha con v à ông nội như thể ch ăm
sóc ngôi bảo tháp tuyệt đẹp vậy. Cho mẹ v ào nhà lần nữa
đi con!
- Vâng thưa mẹ - Cậu đáp - Nếu mẹ không l àm
gì như trước thì con sẽ để mẹ v ào, thôi
mẹ hãy vui lên nào.
Và khi cha cậu về, cậu ngâm vần kệ thứ mười:
10. Bà vợ cha kìa, bạc ác thay,
Người sinh con trẻ, chính là đây,
Như voi được luyện rất thuần thục,
Cho trở lui, người tội lỗi n ày.
Cậu nói thế với cha xong, liền đi gọi mẹ cậu
v ào. Nàng làm lành với chồng và cha chồng xong, từ
đó tánh t ình thuần thục tràn
đầy đức độ chân chính, v à s ăn
sóc cả cha, chồng c ùng con chu đáo. Cả
hai vợ chồng cương quyết theo lời con khuy ên nhủ, chuyên bố thí và
làm các thiện sự, rồi được sinh l ên cộng
trú với Thiên chúng.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết
thúc các Sự Thật, người con hiếu thảo được an
trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ hai cha con và nàng dâu ấy cũng là những người này, còn cậu
bé khôn ngoan ấy chính là Ta.