422. Chuyện Quốc Vương Ceti (Tiền thân Cetiya)#
Công lý tổn thương gây hiểm họa...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc Tỷ-keo
Devadatta ( Đề-b à- đạt-đa)
bị quả đất nuốt sống.
Một ngày kia, T ăng chúng b àn luận
trong Chánh Pháp đường về cách Devadatta nói
dối như thế n ào rồi bị chìm sâu vào lòng
đất v à đọa v ào ngục Avìci (Vô
gián). Bậc Ðạo Sư bước vào và khi nghe đề t ài
thảo luận ấy, Ngài bảo:
- Ðây không phải lần đầu kẻ ấy ch ìm
sâu vào lòng đất.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi trong thời tối sơ khai, có vị vua mệnh danh Mahàsamata với
thọ mạng kéo dài một a-t ăng-kỳ (asnkheyya)
kiếp. Vị vương tử t ên Roja, vị này lại sinh con trai là Vararoja và
kế tiếp đó l à Kalyàna, Varakalyàna,
Uposatha, Mandhàtà, Varamandhàtà, Cara, Upacara, còn
được gọi l à Apacara.
Vua này trị vì quốc độ Ceti, ở kinh đô
Sotthivati, có đấy đủ tứ thần thông: vua có thể đi tr ên trời, hoặc
bay qua không gain, có bốn Thiên thần ở bốn phương bảo vệ vua với kiếm tuốt
trần, thân hình vua tỏa mùi hương chiên- đ àn,
và miệng vua tỏa mùi hương sen.
Thời ấy vị tế sư hoàng gia tên là Kapila. Em trai của vị Bà-la-môn này là
Korakalamba, được học chung thầy với vua. Thời
Apacara c òn là vương tử, đ ã hứa
sẽ phong Korakalamba làm tế sư hoàng gia khi nào mình lên ngôi.
Khi vua cha b ăng h à, vương tử lên
ngôi song không thể đưa Kapila ra khỏi chức vụ
tế sư ho àng gia được, v à khi tế
sư Kapila đến chầu vua, vua vẫn b ày tỏ
nhiều đặc ân đối với vị ấy. Vị B à-la-môn
ấy quan sát điều n ày và nhận xét rằng
một vị vua thường trị nước hoàn hảo nhất cùng với các quần thần
đồng tuổi tác, c òn chính ông có thể xin
cáo quan về làm ẩn sĩ, nên đ ã trình:
- Tâu Ðại vương, nay lão thần đ ã già
cả, lão thần có một con trai ở nhà, xin Ðại vương phong cho nó làm tế sư
hoàng gia và lão thần sẽ trở thành ẩn sĩ.
Ông được vua chấp thuận phong con trai m ình
làm tế sư hoàng gia, sau đó ông đến ngự vi ên
sống đời ẩn sĩ, đạt được các Thắng trí v à
ở gần con trai.
Còn Koralambaka cảm thấy c ăm hận anh m ình
vì ông đ ã không trao cho mình chức vị tế
sư khi trở thành ẩn sĩ. Một hôm, vua nói chuyện thân mật với Koralambaka:
- Này Koralambaka, Hiền hữu không làm tế sư hoàng gia ư?
- Tâu Ðại vương không, huynh trưởng của thần xếp
đặt việc ấy.
- Thế lệnh huynh chẳng trở thành ẩn sĩ rồi sao?
- Tâu vâng, song gia huynh đ ã
để chức vụ ấy cho con m ình.
- Thế thì hiền hữu hãy lo sắp xếp việc ấy.
- Tâu Ðại vương, thần không thể đặt gia
huynh qua một b ên rồi nhận lấy chức vụ do cha truyền con nối ấy.
- Nếu vậy, ta sẽ làm hiền hữu thành vị trưởng tế sư và vị kia làm phụ tá
cho hiền hữu.
- Tâu Ðại vương, bằng cách nào?
- Bằng cách nói dối.
- Tâu Ðại vương, thế Ðại vương không biết gia huynh là pháp thuật sư cao
cường có đại thần lực ư? Gia huynh sẽ d ùng
huyễn thuật đánh lừa Ðại vương, làm cho
bốn vị Thiên thần biến mất, rồi làm cho một mùi hôi thối xông ra từ thân thể
và miệng Ðại vương, lại làm cho Ðại vương rơi từ trời xuống
đất v à Ðại vương sẽ bị quả
đất nuốt sống, v ì thế Ðại vương không
thể hành động theo lời nói dối kia được đâu.
- Ðừng lo gì, ta sẽ sắp xếp việc này.
- Tâu Ðại vương, khi nào Ðại vương thực hiện
điều n ày?
- Vào thứ bảy kể từ đây.
Chuyện này lan truyền khắp kinh thành:
- Hoàng thượng sắp nói dối để l àm vị
trưởng thành phó và sẽ giao chức vụ cho vị phó. Lời nói dối là vật gì nhỉ,
nó màu xanh, vàng hay màu khác nữa?
Quần chúng suy nghĩ rất nhiều về việc này. Tương truyền
đó l à thời mọi người thế gian
đều nói thật, người ta không biết từ "nói dối"
nghĩa l à gì cả.
Con trai vị tế sư nghe chuyện này liền nói với cha:
- Thưa cha, dân chúng bảo đức vua sắp nói
dối để l àm cha thành con thứ rồi giao chức vụ của cha cho chú con.
- Này con, đức vua sẽ không thể nói dối để
tước đoạt địa vị n ày của ta đâu.
Ðức vua sắp thực hiện điều n ày vào ngày
nào?
Họ bảo ngày thứ bảy kể từ đây.
H ãy báo cho cha biết khi đến thời điểm
ấy.
Vào ngày thứ bảy, một đám đông tụ tập trong
sân chầu ngồi theo h àng hàng lớp lớp hy vọng thấy lời nói dối. Vị tế
sư trẻ đi báo tin cho cha. Vua chuẩn bị lễ phục
đầy đủ xong, xuất hiện ở khoảng không tr ên sân chầu giữa
đám đông.
Vị ẫn sĩ bay qua không gian, trải tọa cụ bằng da trước mặt vua, ngồi trên
đó giữa không gian v à hỏi:
- Tâu Ðại vương, có thật là Ðại vương muốn nói dối làm người em thứ thành
anh trưởng và giao chức vụ cho người ấy?
- Thưa Tôn sư, trẫm đ ã làm như vậy.
Sau đó, vị ẩn sĩ khuyến giáo vua:
- Tâu Ðại vương, lời nói dối là một cách phá hoại tàn khốc các
đức tính tốt đẹp, nó tạo tái sinh v ào
bốn ác đạo, một vị vua nói dối sẽ ti êu
diệt công lý, và vì phá hủy công lý, chính vua ấy cũng bị tiêu diệt.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Công lý tổn thương gây hiểm họa,
Sẽ đền b ù với giá tai ương,
Vậy đừng l àm tổn thương công lý,
Sợ hiểm nguy ào đến Ðại vương.
Ngài lại khuyến giáo vua nhiều hơn nữa:
- Tâu Ðại vương, nếu Ðại vương nói dối, bốn pháp thần thông sẽ biến mất.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Thần lực xa lìa kẻ vọng ngôn,
Miệng mồm hôi thối đáng kinh hồn,
Bước chân không vững trong trời đất,
Bất cứ kẻ n ào đáp dối gian.
Nghe vầy, vua lo sợ nhìn Korakalambaka. Vị ấy bảo:
- Tâu Ðại vương đừng sợ, thần đ ã
chẳng tâu Ðại vương như vậy từ đầu sao?
Và tiếp theo những lời lẽ tương tự như vây. Mặc dù
đ ã nghe Kapila nói như vậy, vua vẫn
tuyên bố câu xác định:
- Thưa Tôn sư, ngài là em thứ, còn Korakalambaka là anh trưởng.
Ngay lúc vua vừa thốt ra lời nói dối này, bốn Thiên thần bảo các vị không
muốn hộ trì một người dối trá như vậy nữa, liền ném kiếm dưới chân vua và
biến mất.
Miệng vua bốc mùi thối như trứng hư vỡ tung tóe và thân thể vua như ống
cống mở nắp. Rồi từ trên không rớt xuống, vua
đứng tr ên đất, như thế cả bốn thần lực
đều biến mất. Vị tế sư bảo:
- Tâu Ðại vương, đừng sợ, nếu Ðại
vương nói thật, thần sẽ phục hồi mọi sự cho Ðại vương.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ ba:
3. Lời thật cùng bao pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục được to àn phần,
Còn lời nói dối giam ngài mãi
Tại đất Ce-ti, đến tận c ùng.
Ngài lại nói:
- Tâu Ðại vương, hãy xem: Bốn thần lực của Ðại vương biến mất vì nói dối
lần đầu, xin Ðại vương suy xét lại, vì
bây giờ vẫn còn có thể phục hồi chúng.
Nhưng vua đáp:
- Ðại sư muốn đánh lừa trẫm về việc n ày.
Vừa nói dối lần thứ hai như vậy, vua liền bị lún ngay xuống
đất đến mắt cá chân.
Vị Bà-la-môn một lần nữa lại nói:
- Xin Ðại vương hãy suy nghĩ kỹ.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ tư:
4. Hạn hán vào thời phải đổ mưa,
V à mưa trút xuống lúc mùa khô,
Khi người nào cố tình gian dối,
Ðối đáp vọng ngôn để hại ta.
Rồi ngài lài nói thêm một lần nữa:
- Do Ðại vương nói dối, Ðại vương bị lún vào mặt
đất đến tận mắt cá chân, vậy xin đại vương suy
xét kỹ.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ n ăm:
5. Lời thật cùng bao Pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục được to àn phần,
Còn lời nói dối chôn ngài xuống
Tại đất Ce-ti m ãi tới cùng.
Nhưng lần thứ ba, vua nói:
- Tôn giả là em thứ và Korakalambaka là anh trưởng.
Vừa nói lời dối trá này, vua lại bị lún dần vào mặt
đất đến tận đầu gối. Một lần nữa, vị B à-la-môn
nói:
- Xin Ðại vương suy xét lại.
Rồi Ngài ngâm vần kệ:
6. Người lưỡng thiệt này, hỡi Ðại vương,
Cũng như con rắn lắm mưu gian,
Người nào vẫn cố tình lừa dối
Ðối đáp những lời chẳng thật chân.
7. Lời thật cũng bao pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục đươc to àn
phần,
Còn lời nói dối chôn ngài xuống
Tại đất Ce-ti m ãi chẳng ngừng.
Rồi Ngài còn nói thêm:
Ngay bây giờ mọi sự vẫn có thể được phục
hồi.
Vua chẳng quan tâm đến lời ng ài, vẫn
lặp lại lời nói dối lần thứ tư:
- Thưa Tôn giả, ngài là em thứ, và Korakalambaka là anh trưởng.
Vừa thốt lời này, vua bị chìm ngập đến tận
hông. Vị B à-la-môn lại bảo:
- Xin Ðại vương hãy suy nghĩ kỹ.
Rồi Ngài ngâm vần kệ:
8. Kẻ ấy như con cá, Ðại vương,
Sẽ không có lưỡi ở trong mồm,
Người nào vẫn cố tình gian dối,
Ðối đáp những lời lẽ vọng ngôn.
9. Lời thật c ùng bao pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục được to àn phần,
Còn lời nói dối chôn ngài xuống
Tại đất Ce-ti m ãi chẳng ngừng.
Lần thứ n ăm vua lặp lại lời nói dối, v à
ngay đó bị ch ìm sâu xuống tận rốn. Vị
Bà-la-môn một lần nữa kêu gọi vua xét kỹ và ngâm hai vần kệ:
10. Kẻ ấy chỉ sinh được gái thôi,
Sẽ không sinh được một con trai,
Kẻ n ào vẫn cố tình gian dối
Ðối đáp vọng ngôn ở giữa đời.
11. Lời thật c ùng bao pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục được to àn phần,
Còn lời nói dối chôn ngài xuống
Tại đất Ce-ti m ãi chẳng ngừng.
Vua cũng không quan tâm, cứ lặp lại lời nói dối lần thứ sáu và chìm xuống
tận ngực. Vị Bà-la-môn kêu gọi khẩn thiết một lần nữa và ngâm hai vần kệ:
12. Bầy con không ở với người kia,
Ở khắp mọi nơi chúng chạy xa,
Người vẫn cố tình ưa nói dối,
Ðáp lời hỏi với dạ gian tà.
13. Lời thật cùng bao pháp thuật thần,
Ðại vương hồi phục được to àn phần,
Còn lời nói dối chôn ngài xuống
Tại đất Ce-ti m ãi chẳng ngừng.
Do thận cận ác bằng hữu, vua xem thường các lời trên và nói dối lần thứ
bảy. Sau đó mặt đất há miệng ra v à lửa
địa ngục Av ìci bùng lên kéo vua xuống.
14. Chuyện kể bị truyền bởi trí nhân,#
Vị vua từng bước giữa không trung,
Chìm thân, bị nuốt vào lòng đất
Ngay đúng ng ày quy định số phần.
15. Vậy trí nhân không thể tán đồng
Dục tham xuất hiện ở trong l òng,
Người nào ly dục, tâm thanh tịnh,
Lời nói sẽ luôn giữ vững vàng.
Ðây là hai vần kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của
đức Phật.
Quần chúng kinh hãi bảo nhau:
- Quốc vương Ceti phỉ báng bậc hiền nhân và nói dối nên
đ ã bị đọa v ào
ngục Avìci.
N ăm vị vương tử của vua đến gặp vị B à-la-môn
và nói:
- Xin Tôn sư giúp chúng đệ tử.
Vị Bà-la-môn đáp:
- Phụ vương của các vị đ ã hủy diệt
Chân lý, nói dối và phỉ báng hiền nhân: do vậy ngài
đ ã vào hỏa ngục Avìci. Nếu công lý bị
hủy diệt, nó sẽ hủy diệt lại ta. Các vị không
được cư trú tại đây nữa.
Ngài lại bảo vị thái tử:
- Này Ðiện hạ thân yêu, Hãy rời kinh thành bằng cổng Ðông và tiếp tục
đi thẳng, ch àng sẽ thấy một vương tượng
toàn trắng nằm phủ phục, thân chạm vào mặt đất
ở bảy chỗ: hai ng à, vòi, và bốn chân. Ðó là dấu hiệu
để ch àng dựng kinh và cư trú tại nơi ấy.
Tên kinh đô ấy sẽ l à Hatthipura (Tượng
Thành)
Ngài bảo vương tử thứ hai:
- Ðiện hạ rời đây bằng cổng Nam v à
đi thẳng đến khi thấy một vương m ã thuần
bạch, đó l à dấu hiệu
để ch àng dựng kinh
đô v à cư trú tại nơi ấy. Kinh
đô ấy sẽ được gọi l à Assapura (Mã
Thành).
Ngài bảo vương tử thứ ba:
- Ðiện hạ rời đây bằng cổng Tây v à
đi thẳng tới khi thấy một sư tử có bờm, đó l à
dấu hiệu để ch àng dựng kinh
đô v à cư trú tại nơi ấy. Kinh
đô ấy sẽ được gọi l à Sìhapura (Sư
Thành).
Ngài bảo vị vương tử thứ tư:
- Ðiện hạ rời đây bằng cổng Bắc v à
đi thẳng cho đến khi thấy một bánh xe l àm
toàn bằng ngọc, đó l à dấu hiệu
để ch àng dựng kinh
đô v à cư trú tại nơi ấy. Kinh thành ấy
sẽ được gọi l à Uttarapancàla (Thượng
Luân Thành).
Ngài bảo vị vương tử thứ n ăm:
- Ðiện hạ không thể ở đây. Vậy h ãy
xây một đền thờ lớn trong kinh th ành
này, rồi đi về phía Tây bắc, v à
đi thẳng cho đến khi thấy hai ngọn núi đập v ào
nhau gây tiếng động "daddara", đó sẽ l à
dấu hiệu để ch àng dựng kinh
đô v à cư trú nơi ấy. Thành ấy sẽ
được gọi l à Daddarapura (Thành Daddara).
Cả n ăm vương tử đều ra đi, theo các dấu hiệu
kia dựng kinh đô v à an trú ở đó.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải l à
lần đầu Devadatta nói dối v à bị chìm vào
lòng đất.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy vua Ceti là Devadatta và Bà-la-môn Kapila là Ta.
-ooOoo-
423. Chuyện Uy Lực Dục Tham (Tiền thân Indriya)#
Người nào tuân lệnh dục tham...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự quyến rủ của
người vợ cũ đối với một Tỷ-kheo.
Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Sàvatthi (Xá-vệ) nghe giáo pháp của
bậc Ðạo Sư và nghĩ rằng thật khó cho một người tại gia có thể sống
đời Phạm hạnh hoà n toàn
đầy đủ v à thanh tịnh, nên ông quyết
định xuất gia tu h ành theo giáo lý cứu
độ để diệt tận khổ ưu. V ì thế ông
để lại t ài sản, nhà cửa cho vợ con, và
thỉnh cầu bậc Ðại Sư truyền giới xuất gia cho mình. Bậc Ðạo Sư chấp thuận.
Vì ông chỉ là Sa-di trẻ tuổi lúc khất thực cùng các vị giáo thọ, sư trưởng
và T ăng chúng lại đông, n ên ông không có
được ghế ngồi trong nh à cư sĩ hoặc trong
trai đường, m à chỉ có một ghế thấp nhỏ
hoặc ngồi ở dãy ghế dài cuối chỗ các Sa-di.
Thức ăn chỉ được múc vội v ã cho ông
bằng cái muỗng lớn: ông nhận món cháo tấm, các món cứng thì hôi hám hoặc hư
nát, hoặc các cọng rau đ ã khô héo, cháy
sém và phần ăn n ày không
đủ nuôi sống ông.
Ông liền đem các món ăn nhận được về cho
người vợ cũ m à ông đ ã rời bỏ.
Nàng cầm lấy bình bát, kính chào ông, đổ hết
các thứ ấy ra v à thay vào món cháo nấu thật ngon và cơm trộn sốt
cà-ri. Vị Tỷ kheo bị lòng ham thích các huơng vị ấy lôi cuốn nên không thể
rời vợ.
Nàng suy nghĩ rằng nàng sẽ thử thách tình cảm của ông. Một hôm, nàng bảo
một trai làng chải chuốt sạch sẽ và đến nh à
nàng ngồi cùng một đám người nh à của y
mà nàng đ ã mời, và nàng cho cả bọn
ăn uống v ài thứ . Cả bọn ngồi
ăn chơi thỏa thích. N àng lại bảo buộc
đôi b ò vào xe và chiếc xe
đợi sẵn s àng ở cửa nhà. Còn chính nàng
ngồi ở nhà sau nấu nướng bánh mứt.
Chồng nàng đi đến đứng ở cửa. Thấy vậy, một
l ão bộc trình bà chủ rằng có một Tỷ-kheo ở cửa. Nàng bảo:
- Hãy ra chào vị ấy và bảo vị ấy qua nhà khác.
Nhưng dù y đ ã làm vậy nhiều lần, y
thấy vị Tỷ-kheo vẫn đứng y ên nên y lại
trình bà chủ. Nàng bước ra, vén tấm rèm lên nhìn và kêu lớn:
- Ðây là cha bầy trẻ con tôi.
Nàng bước ra chào ông, vừa cầm lấy bình bát vừa mời ông bước vào, nàng
đem thực phẩm cúng dường. Khi ông đ ã
ăn xong, n àng lại kính lễ và nói:
- Thưa Tôn giả, nay Tôn giả là một bậc Thánh, trước kia chúng ta
đ ã luôn chung sống cùng nhau trong ngôi
nhà này. Song giờ đây, cuộc sống tại gia lại
không thể thiếu người chủ nh à, vì vậy chúng ta sắp dời qua nhà khác
và đi xa về v ùng quê. Xin Tôn giả hãy
nhiệt tâm làm thiện sự và tha thứ cho thiếp nếu thiếp làm
điều sai trái.
Trong một lúc, chồng cũ của nàng cảm thấy như thể trái tim tan vỡ! Rồi
ông đáp:
- Ta không thể rời nàng, xin nàng đừng đi. Ta
sẽ trở lại đời thế tục. H ãy đưa cho ta y
phục của người cư sĩ tại chỗ nọ, ta sẽ bỏ y bát v à trở về với nàng.
Nàng đồng ý ngay. Khi vị Tỷ-kheo về tinh xá,
trả bộ y bát lại cho vị giám hộ v à giáo thọ, và khi
được hỏi lý do, ông giải thích l à ông
không thể rời vợ và sắp trở lại đời thế tục. D ù
ông không muốn, các vị ấy vẫn dẫn ông đến bậc
Ðạo Sư và kể cho ngài nghe rằng ông thối thất và muốn trở về
đời thế tục. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Chuyện này có thật ch ăng?
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-
Ai l àm cho ông thối thất?
-
Vợ cũ của con.
Này Tỷ-kheo, nữ nhân ấy là nguyên nhân gây tác nghiệp của ông. Chính vì
kẻ ấy mà ngày xưa ông đ ã sa
đọa khỏi bốn cảnh giới Thiền định, v à
rất khốn khổ. Sau nhờ ta, ông được giải thoát
cảnh khổ v à tái tạo công n ăng Thiền định
m à ông đ ã mất.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh l àm con trai vị tế sư hoàng
gia và bà vợ vị ấy cũng là nữ nhân Bà-la-môn. Vào ngày ngài ra
đời, có l àn ánh sáng của binh khí lóe
sáng khắp kinh thành vì thế ngài được đặt t ên
Jotipàla (người hộ trì ánh sáng hay Hộ Minh).
Khi lớn lên, ngài học đủ mọi ng ành
nghề nghệ thuật tại Takkasilà và chứng tỏ tài n ăng
trước vua. Nhưng ng ài lại từ giã địa vị
của ng ài không báo cho ai biết, ngài ra
đi bằng cổng sau, v ào rừng trở thành vị khổ hạnh ở thảo am
Kavitthaka, được gọi l à Sakkadatiya.
Ngài chứng đắc Thiền định vi ên mãn.
Trong khi trú tại đó, h àng tr ăm
vị trí giả đến tham kiến hầu cận ng ài. Ngài
được một hội chúng đông đảo theo học v à
bảy đệ tử. Trong số ấy, trí giả S àlissara
rời thảo am Kavitthaka để đến xứ Surrattha v à
trú bên bờ sông Sàtodikà cùng hội chúng vài ngàn trí giả khác.
Mendissara cùng vài ngàn trí giả sống gần thị trấn Lambacùlaka trong quốc
độ của vua Pajaka.
Pabbata cùng vài ngàn trí giả sống trong một xứ ở miền rừng núi.
Kàladevala cùng vài ngàn trí giả sống trong núi rừng ở Avanti và Decan.
Kisavaccha sống độc cư ở gần kinh th ành
Kumbhavati, trong ngự viên của vua Dandaki.
Anusissa là thị giả của Bồ-tát ở chung với ngài.
Nàrada, em của Kàladevala độc cư trong thạch
thất giữa quốc độ Aranjara có nhiều núi non ở v ùng Trung thổ.
Bấy giờ không xa nước Aranjara có một thị trấn rất trù phú. Thị trấn này
có con sông cả, nơi nhiều đ àn ông
đến tắm. Dọc theo bờ, các kỹ nữ xinh đẹp thường
ngồi quyến rủ đám m ày râu.
Vị khổ hạnh Nàrada thấy một nàng kỹ nữ, đâm
ra si t ình, mất hết Thiền lực và héo mòn vì không
ăn uống g ì cả, cứ nằm dài trong lưới
tình trói buộc suốt bảy ngày liền. Vị huynh trưởng Kàladevata nhờ quan sát
biết nguyên nhân việc kia, liền phi hành qua không gian, vào biến
động. N àrada thấy vị ấy liền hỏi tại sao
đến đây. Vị ấy đáp:
- Ta biết Hiền đệ bị bệnh n ên
đến chăm sóc đệ đây.
Nàrada giả dối bảo vị ấy đi về:
- Ðại huynh chỉ nói chuyện không đâu, to àn
là hư vọng, hão huyền.
Nhưng vị kia từ chối ra đi v à còn
đem theo ba vị S àlissara, Mendissara và
Pabbatissara đến đó nữa. N àrada lại bảo
tất cả ra về theo cách trên.
Kàladevala liền bay đi t ìm Ðạo Sư
Sarabhanga và dẫn thầy đến đó. Khi bậc
Ðạo sư đến, ng ài thấy Nàrada
đ ã rơi vào lưới kềm tỏa của tham dục và
hỏi có đúng vậy không. N àrada
đứng l ên nghe lời ngài, kính lễ thầy và
thú nhận sự việc. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này Nàrada, ai rơi vào lưới tham dục sẽ suy tàn trong khổ
đau ở đời n ày và
đời kế bị tái sinh v ào
địa ngục.
Rồi Ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Người nào tuân lệnh dục tham,
Mất hai thế giới, đời t àn về sau.
Nghe vậy, Nàrada đáp:
- Bạch Tôn sư, mưu cầu tham dục là hạnh phúc. Tại sao Tôn sư lại gọi hạnh
phúc ấy là khổ đau?
Ðạo Sư Sarabhanya đáp:
- Vậy hãy nghe đây.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Hân hoan cùng với khổ đau
Vẫn thường dẫm bước l ên nhau chẳng ngừng,
Con từng thấy chúng chuyển luân,
Hãy tìm hạnh phúc thật chân nhiệm mầu.
Nàrada đáp:
- Bạch Tôn sư, khổ đau n ày thật khó
chịu đựng. Con không thể kham nhẫn nó được.
Bậc Ðại sĩ bảo:
- Này Nàrada, khi khổ đau đến cần phải chịu
đựng.
Rồi Ngài ngâm vần kệ thứ ba:
3. Người nào kham nhẫn đối đầu
Gian lao nhiếp phục khổ sầu bao phen,
L à người vững mạnh tiến lên
Niết-bàn, cực lạc, dứt phiền não xưa.
Song Nàrada vẫn đáp:
- Bạch Tôn sư, hạnh phúc của dục tình là hạnh phúc tối cao, con không thể
nào rời bỏ nó được.
Bậc Ðạo Sĩ bảo:
- Không thể vì bất cứ lý do gì mà ta từ bỏ Giới hạnh.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ tư:
4. Con đừng phá hủy ti êu ma
Quãng đời Thanh hạnh, sa đ à công n ăng,
Chỉ v ì dục vọng tham sân
Cầu mong lợi dưỡng, đau buồn nhỏ, to.
Sau khi Ðạo Sư Sarabhanga đ ã tuyên
thuyết Chánh pháp qua bốn vần kệ, trí giả Làladevala muốn khuyến giáo tiểu
đệ liền ngâm vần kệ thứ năm:
5. Biết đời phiền lụy lo âu,
Thức ăn uống phải phát cho nhiều người.
Chẳng ham tích trữ tiền t ài,
Chẳng sầu khi chúng hết thời tiêu tan.
Vần kệ thứ sáu do bậc Ðạo Sư ngâm phát xuất từ Trí tuệ Tối Thắng của Ngài
liên hệ đến lời khuyến giáo của Devala đối với
N àrada:
6. De-va Trí giả Hắc nhan
Giờ đây khuy ên nhủ khôn ngoan nhất
đời:
Ta không hề thấy có người
Kém hơn kẻ chịu vâng lời dục tham.
Sau đó Thánh giả Sarabhanga cảnh báo:
Này Nàrada hãy nghe đấy: kẻ n ào trước
tiên không muốn làm những gì đáng l àm,
về sau sẽ kêu khóc than van như chàng trai đi v ào
rừng thuở xưa.
Rồi Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
Ngày xưa trong một thị trấn ở thành Kàsi có một thanh niên Bà-la-môn,
đẹp trai, mạnh khỏe, lực lưỡng như voi. Ch àng
suy nghĩ: "Tại sao ta phải nuôi cha mẹ bằng cách làm ruộng, hoặc phải lấy vợ
sinh con, hoặc làm các thiện sự nọ kia? Ta chẳng muốn nuôi ai hoặc làm thiện
sự gì cả, mà ta chỉ muốn vào rừng nuôi bản thân bằng cách s ăn
nai".
Thề rồi với n ăm thứ vũ khí, ch àng vào
Tuyết Sơn giết nai ăn thịt rất nhiều. Ở v ùng
Tuyết Sơn chàng thấy một thung lũng rộng lớn tứ bề có núi bao bọc, bên cạnh
bờ sông Vidhavà, chàng liền sống ở đó với thịt
thú săn được v à nấu trên than hồng. Chàng lại suy nghĩ: "Ta sẽ không
được khỏe mạnh m ãi
đâu, khi ta gi à yếu, ta sẽ không phiêu
bạc trong rừng. Nay ta muốn bắt nhiều loại thú hoang vào trong thung lũng
này, làm cổng rào lại và chẳng cần phải lang thang trong rừng nữa, ta cũng
sẽ giết chúng và ăn thỏa thích". V à
chàng đ ã làm như vậy.
Thời gian trôi qua, chính điều ấy phải xảy
ra, mọi thực tế của cuộc đời xuất hiện, ch àng không còn sức
điều khiển nổi tay chân, ch àng không thể
đi lại tự do đây đó, ch àng không thể tìm
được thức ăn uống, thân thể gầy g ò khô
héo như một bóng ma, lộ rõ mọi nếp nh ăn nheo
khắp m ình như mặt đất m ùa nắng.
Chàng trở nên dị tướng, nh ăn nheo, r ã
rời và vô cùng khổ sở.
Cũng như chàng kia, theo thời gian, vua nước Sìvi, mệnh danh là Sìvi, ước
mong hưởng món thịt rừng nướng trên than hồng trong rừng già, liền giao phó
quốc độ cho các đại thần, đem theo năm món vũ
khí, đi v ào rừng s ăn thịt nai để ăn. Vừa
lúc vua đến chỗ ấy liền thấy người kia. D ù sợ hãi, vua cũng cố thu
hết can đảm hỏi người kia l à ai. Chàng
đáp:
- Tâu Chúa công, tôi là một bóng ma đang
hưởng nghiệp quả do tôi đ ã tạo. Thế Chúa công là ai?
- Ta là vua nước Sìvi.
- Tại sao Chúa công đến đây?
- Ðể ăn thịt nai.
- Tâu Ðại vương, tôi đ ã trở thành con
ma trên đất v ì tôi
đ ã đến đây
với mục đích ấy.
Rồi chàng kể đầy đủ chi tiết câu chuyện của
ch àng và để giải thích nỗi bất hạnh của
m ình, chàng ngâm các vần kệ cuối cùng:
7. Chính tôi đây, hỡi Quân vương,
Khác n ào giữa chốn đấu trường địch
quân,
Công lao, nghề nghiệp, t ài n ăng,
Vợ con, nh à ở bình an một thời,
Ðã tiêu tan hết cả rồi,
Tôi mang nghiệp quả ngay đời thế gian.
8. Giờ tôi tồi tệ muôn v àn
Không người quyến thuuộc, lang thang không nhà.
Từ đời chân chánh lạc xa,
Tôi như một cái bóng ma đọa đ ày.
9. Nay tôi phải sống cảnh này
Vì tôi tạo khổ não thay vui mừng.
Quanh tôi như đám lửa bừng,
Tôi không cảm thấy trong l òng hân hoan.
Cùng với các vần kệ ấy, chàng nói thêm:
- Tâu Ðại vương, do ham muốn dục lạc tôi đ ã
tạo khổ đau cho nhiều lo ài khác và trở
thành bóng ma ngay tại đời n ày. Xin Ðại
vương đừng gây ác nghiệp, xin h ãy trở về
kinh đô của Ðại vương và thực hành thiện
sự, bố thí cùng các phước nghiệp khác.
Nhà vua làm theo lời ấy và hoàn thành con
đường l ên Thiên giới.
Vị khổ hạnh xúc động v ì lời tường
thuật của Ðạo Sư Sarabhanga về câu chuyện trên. Vị ấy
được cảm hóa, rồi sau khi kính lễ Tôn sư v à
được ng ài tha thứ, nhờ các pháp môn chân
chánh, vị ấy tái tạo n ăng lực Thiền định đ ã
mất. Ðạo sư Sarabhanga không cho phép đệ tử ở
lại đó nữa v à đưa vị ấy c ùng ngài
về thảo am xưa.
*
Sau Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Lúc kết thúc các Sự
Thật, vị Tỷ-kheo thối thất đ ã
được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy Nàrada là Tỷ-kheo thối thất này, Sàlissara là Sàriputta
(Xá-lợi-phất), Mendissara là Kassapa (Ca-diếp), Kaccàna (Ca-chiên-diên),
Anusissa là Ànanda (A-nan), Kisavaccha là Moggallàna (Mục-kiền-liên) và Đạo
Sư Sarabhanga chính là Ta.
-ooOoo-
424. Chuyện Ngọn Lửa#
Đốt Cháy (Tiền thân Àditta)
Thứ gì ta cứu thoát ra...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, về lễ vật cúng dường
vô thượng. Lễ vật cúng dường tối thắng này được
mi êu tả đầy đủ trong tập Sớ giải Kinh
Mah àgovindasutta (số 19, Trường bộ II)
Ngày hôm sau lễ cúng dường ấy, T ăng chúng b àn
luận trong Chánh Pháp Ðường:
- Này các Hiền giả, vua Kosala sau khi xem xét kỹ,
đ ã tìm được
phước điền chính đáng v à cúng dường lễ vật cao trọng lên Hội chúng do
đức Phât đứng đầu.
Bậc Ðạo Sư đến v à
được kể lại đề t ài câu chuyện trong lúc
các vị ngồi đây, Ng ài bảo:
- Này Tỷ-kheo, không lạ gì việc nhà vua, sau khi quan sát kỹ,
đ ã cúng dường
đại lễ vật v ào phước
điền vô thượng ở đời, các trí nhân ng ày
xưa cũng đ ã cúng dâng lễ vật như thế sau
khi quan sát kỹ.
Rồi Ngài kể một câu chuyện ngày xưa.
*
Ngày xưa vua Bharata trị vì tại Roruva trong quốc
độ Sov ìra. Vua thực hành Thập phương
pháp, thu phục nhân tâm bằng Tứ nhiếp pháp, đối
xử với quần chúng như cha mẹ đối với con, ban phát rộng r ãi cho người
nghèo, lữ hành, khất thực và những người đến
cầu xin. Chánh hậu của ng ài là Samuddavijayà
đầy trí tuệ thông thái.
Một hôm ngài nhìn quanh các bố thí đường và suy nghĩ: "Tặng vật của ta
đều bị đám tham lam vô dụng ngốn ngấu cả. Ta
không thích như vậy. Ta muốn cúng dường những vị Ðộc Giác Phật
đức hạnh xứng đáng lễ vật tối thượng. Các vị
hiện sống ở v ùng Tuyết Sơn. Ai sẽ đem
các vị ấy về đây theo lời thỉnh cầu của ta v à ta sẽ nhờ ai lãnh sứ
mạng này?"
Ngài nói chuyện với hoàng hậu, bà đáp:
- Tâu Chúa thượng, không nên quan tâm lo lắng. Cứ gửi hoa
đi, nhờ uy lực lễ vật cúng dường xứng đáng của
ta, nhờ đức độ v à lòng thành tín của ta, ta sẽ thỉnh cầu vị Ðộc Giác
Phật, và khi các vị đến, chính ta sẽ cúng dường
lễ vật c ùng các món cần thiết.
Vua đồng ý. Ng ài ra lệnh
đánh trống khắp kinh th ành rằng tất cả
dân chúng trong thành phải giữ giới, còn chính ngài và toàn thể hoàng gia
đều giữ mọi phận sự của ng ày trai giới,
thực hành đại bố thí.
Ngài truyền đem đến một chiếc hộp bằng v àng
đựng đầy hoa l ài, từ hoàng cung bước
xuống và đứng giữa triều đ ình. Tại
đó ng ài phủ phục với n ăm
phần chạm xuống đất, đảnh lễ về phương Ðông và tung vãi nắm hoa cùng
những lời nguyện:
- Ðệ tử đảnh lễ các Thánh giả ở phương
Ðông, Nếu đệ tử có chút công đức n ào,
xin các vị tỏ lòng từ bi thâu nhận các lễ vật này.
Vì không có các vị Ðộc Giác ở phương Ðông, nên hôm sau không vị nào
đến.
Ngày thứ hai, ngài lại đảnh lễ phương Tây,
nhưng cũng không ai đến.
Ngày thứ ba, ngài lại đảnh lễ phương Bắc, v à
sau khi đảnh lễ, ng ài tung bảy nắm hoa
cùng lời nguyện:
- Ước mong các vị Ðộc Giác ở vùng Tuyết Sơn thâu nhận các lễ vật cúng
dường này.
Các hoa ấy bay đi xa rơi tr ên mình n ăm
vị Ðộc Giác Phật ở động Nandam ùla.
Sau khi quan sát, các vị hiểu rằng quốc vương đ ã
thỉnh cầu các vị, vì thế các vị gọi bảy vị trong số
đó lại bảo:
- Này các Tôn giả, vua thỉnh cầu các vị, xin hãy bày tỏ
đặc ân cho ng ài.
Các vị Ðộc Giác Phật này du hành qua không gian và hạ xuống hoàng môn.
Khi thấy các vị, vua hân hoan đảnh lễ, mời các
vị thượng lầu, tỏ l òng tôn kính trọng thể và cúng dường các lễ vật.
Sau buổi thọ thực, ngài lại mời các vị hôm sau và cứ thế
đến ng ày thứ n ăm,
vua thiết đ ãi suốt sáu ngày. Vào ngày thứ bảy, ngài chuẩn bị cúng
dường mọi vật dụng cần thiết, sắp đặt bảo tọa v à
cẩm đôn chạm v àng rồi
đặt trước bảy vị Ðộc Giác các bộ ba y
cùng các món ăn cần thiết của đời Thánh nhân.
Quốc vương cùng hoàng hậu trân trọng cúng dường các thứ này sau buổi thọ
thực và đứng cung kính đảnh lễ. Ðể phát
biểu lời tùy hỷ công đức, vị Trưởng l ão
của hội chúng ngâm hai vần kệ:
1. Thứ gì ta cứu thoát ra
Lửa đang đốt cháy nh à ta rụi dần,
Những gì sót lại sau cùng
Sẽ còn đó m ãi riêng phần ta thôi.
2. Thế gian bừng cháy khắp nơi
Sanh, già, bệnh, chết làm mồi lửa nhanh,
Cứu mình bằng các thiện hành,
Cúng dường bố thí để d ành thật chân.
Như vậy, bằng cách bày tỏ niềm hoan hỷ, vị Trưởng lão khuyến giáo vua
tinh cần giữ đức hạnh. Sau đó vị ấy bay l ên
không gian, xuyên thủng qua góc nhọn của cung
điện v à hạ xuống động Nandam ùla.
Các vật dụng cần thiết đ ã
được cúng dường đều bay l ên theo vị ấy
và hạ xuống động. C òn toàn thân quốc
vương và hoàng hậu tràn đầy niềm hoan hỷ.
Sau khi vị ấy ra đi, sáu vị kia lần lượt nói
lời t ùy hỷ công đức qua mỗi vần kệ:
3. Người nào bố thí chánh nhân
Kiên cường dõng lực, tinh cần tịnh tâm,
Vượt dòng nước lũ Ma vương,
Ðạt nơi an trú kim đường c õi thiên.
Vị thứ ba:
4. Thiện hành nào khác trận tiền
Trước vài địch thủ, chạy liền ba quân.
Cúng dường với cả tín tâm
Ðời sau hưởng lạc là phần ngài thôi.
Vị thứ tư:
5. Người cho làm đẹp ý trời,
Khôn ngoan xứng đáng l àm vơi nhọc nhằn
Cúng dường mang quả hưng long,
Cũng như hạt giống gieo vùng phì nhiêu.
Vị thứ n ăm:
6. Ai không hề nói lắm điều,
Tránh l àm ác nghiệp hại nhiều chúng sinh,
Người đời gọi yếu, ch ê khinh,
Chính vì sợ hãi giữ mình thanh lương.
Vị thứ sáu:
7. Tạo nên phước nghiệp thông thường
Tái sinh nhân thế, quân vương oai quyền.
Phước nhiều đạt đến c õi thiên,
Công n ăng tối thượng đắc miền Tịnh Cư.
Vị thứ bảy:
8. Phước là bố thí đem cho,
Tuy nhi ên Giáo pháp lợi to muôn phần,
Xưa nay chứng tỏ bao lần,
Nhờ đây bậc trí đạt to àn Lạc an.
Sau đó các vị ra đi c ùng với các vật
dụng cần thiết đ ã
được cúng dường .
Còn vị Ðộc Giác Phật thứ bảy, trong lời tùy hỷ công
đức ấy, tán thán Niết-b àn bất diệt với
vua và giáo hóa ngài một cách cẩn trọng xong, liền trở về cảnh cũ như
đ ã nói trên. Quốc vương và hoàng hậu
thực hành bố thí suốt đời n ên
đ ã hoàn thành con
đường l ên thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo sư bảo:
- Như vậy các bậc trí thời xưa bố thí cúng dường có phân biệt.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy các vị Ðộc Giác Phật đắc Niết-b àn,
Samuddavijayà là mẫu thân Ràhula (La-hầu-la) và vua Bharata chính là Ta.
-ooOoo-
425. Chuyện Những Sự Kiện Không Thể Xảy Ra (Tiền thân Atthàna)#
Làm sao lặng sóng Hằng Hà...,
Bậc Ðạo sư kể lại chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo
thối thất.
Bậc Ðạo sư hỏi vị ấy:
- Này Tỷ-kheo, có thật là ông đang thối
thất?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Vì duyên cớ gì?
- Vì uy lực của dục tham.
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân thật vô ơn, phản bội, không
đáng tin cậy. Ng ày xưa, các bậc trí
không làm thỏa mãn một nữ nhân thậm chí đ ã
cho kẻ ấy một ngàn đồng tiền mỗi ng ày.
Một hôm không nhận được ng àn
đồng tiền, kẻ ấy đ ã sai người lôi cổ họ
quẳng ra ngoài. Nữ nhân là loài bạc nghĩa thế
đấy. Ông đừng rơi m ình vào uy lực của dục tham vì duyên cớ ấy nữa.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, vương tử Brahmadatta và
công tử Mahàdhana, con của một phú thương ở Ba-la-nại, là bạn thân thiết
cùng chơi với nhau và được giáo dục trong nh à
một vị thầy. Vương tử lên ngôi khi vua cha b ăng
h à và con vị phú thương vẫn ở gần vua mới.
Tại Ba-la-nại có một kỹ nữ sang trọng kiều diễm
đang thời hưng thịnh. Con trai vị phú tặng n àng
một ngàn đồng tiền mỗi ng ày, và thường
xuyên hưởng lạc với nàng. Khi cha mất, chàng thừa kế tài sản và
địa vị của cha, nhưng cũng không rời bỏ n àng
mà vẫn tiếp tục cho nàng một ngàn đồng tiền mỗi
ng ày.
Một hôm chàng đi chầu vua v ào buổi
chiều. Trong lúc chàng đ àm
đạo với vua, mặt trời lặn v à tối dần.
Khi rời cung, chàng nghĩ: "Không còn thời giờ
để về nh à rồi trở lại nữa, ta cứ đi
thẳng đến nh à kỹ nữ ấy". Vì thế chàng bảo
đám hầu cận ra về v à
đi thẳng v ào nhà một mình.
Khi thấy chàng đến, n àng hỏi xem
chàng có đem ng àn đồng tiền không.
- Này ái nương, hôm nay ta ra trễ quá nên ta chỉ bảo
đám hầu cận đi hết, chứ ta không về nh à,
ta chỉ đến đây một m ình, nhưng ngày mai
ta sẽ trao tặng nàng hai ngàn đồng tiền.
Nàng suy nghĩ: "Nếu ta tiếp đón ch àng
hôm nay, chàng sẽ đến tay không các ng ày
khác nữa và thế là ta mất dần của cải. Vậy ta không muốn tiếp chàng hôm nay
nữa."
Vì thế nàng bảo:
- Thưa công tử, thiếp chỉ là một kỹ nữ, thiếp không ban
đặc ân cho ai m à không có một ngàn
đồng, vậy công tử h ãy
đem tiền lại đây.
- Ái nương ơi, ta sẽ tặng nàng gấp đôi số
tiền ấy ng ày mai đây.
Và chàng cứ van xin nàng như vậy mãi.
Nàng kỹ nữ ra lệnh cho các nữ tỳ:
- Ðừng để người ấy đứng đó m à nhìn
ta. Hãy lôi cổ y kéo ra ngoài và đóng cửa lại.
Họ làm theo lời nàng. Chàng suy nghĩ: "Ta đ ã
cho nàng tám tr ăm triệu đồng tiền, tuy thế chỉ
một ng ày ta đến tay không, n àng
đ ã bảo chúng nắm cổ ta tống ra ngoài. Ôi
nữ nhân thật là độc ác, vô sĩ, vong ân, phản
bội!"
Do vậy chàng quan sát mãi về ác hạnh của nữ nhân cho
đến khi ch àng thấy chán ngán, ly tham và
bất mãn với cuộc đời thế tục. Ch àng suy
nghĩ: "Tại sao ta phải sống đời thế tục? Ta
muốn xuất gia hôm nay v à thành người khổ hạnh".
Do vậy chàng không trở về nhà nữa cũng không yết kiến vua nữa, chàng rời
kinh thành đi v ào rừng. Chàng dựng thảo
am bên bờ sông Hằng, cư trú tại đó như một ẩn
sĩ khổ hạnh, đắc Thiền định vi ên mãn và sống bằng củ quả rừng.
Vua nhớ bạn vắng mặt lâu ngày và đ òi
bạn vào chầu. Khắp kinh thành ai cũng biết rõ cách nàng kỹ nữ
đối xử với ch àng nên họ tâu vua vấn
đề ấy v à thêm:
- Tâu Ðại vương, người ta bảo thân hữu của Ðại vương vì tủi nhục
đ ã không trở về nhà, mà
đ ã trở thành vị khổ hạnh sống trong
rừng.
Vua truyền đưa n àng kỹ nữ vào, và hỏi
nàng xem chuyện nàng đối xử với thân hữu ng ài
có thật như vậy ch ăng. N àng thú nhận.
- Này nữ nhân bạc ác kia, hãy mau đến nơi
Hiền hữu ta ở v à đưa ch àng về
đây. Nếu không l àm
được việc ấy, ngươi phải bị mất mạng đấy.
Nghe lệnh vua, nàng sợ hãi, vội lên xe ra khỏi kinh thành cùng
đo àn tùy tùng
đông đảo. N àng
đi t ìm nơi an trú và nghe lời
đồn, n àng
đến đó kính lễ v à cầu xin:
- Bạch Tôn giả, xin hãy tha thứ lỗi lầm thiếp
đ ã phạm trong lúc mù quáng ngu si. Thiếp
quyết không tái phạm nữa.
- Ðược lắm, ta tha thứ cho nàng, ta không giận nàng
đâu.
- Nếu Tôn giả tha thứ cho thiếp, xin hãy lên xe cùng thiếp. Chúng ta cùng
trở về kinh thành và ngay khi vào thành, thiếp xin dâng ngài mọi tiền tài
trong nhà thiếp.
Khi nghe vậy, ngài đáp:
- Này cô nương, ta không thể đi với cô nương
bây giờ đâu, nhưng khi n ào những chuyện chưa từng xảy ra trên
đời n ày sẽ xảy ra thì có lẽ ta sẽ
đi.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Làm sao lặng sóng Hằng hà
Như hồ sen nọ, sơn ca trắng ngần,
Cây đ ào sinh trái cau vân,
Thì điều như thế họa chăng có l à!
Nhưng nàng lại nói:
- Mau lên, thiếp sắp đi rồi.
Ngài đáp:
- Ta sẽ đi.
- Khi nào?
- Vào thời như vầy như vầy.
Ngài đáp v à ngâm các vần kệ còn lại:
2. Bao giờ có đủ lông r ùa
Kết thành ba tấm áo đưa ta d ùng
Vào thời đông giá lạnh l ùng,
Thì điều như thế họa chăng có l à!
3. Bao giờ r ăng muỗi nhô ra
N àng xây cái tháp thật là khéo thay,
Tháp kia không thể chuyển lay,
Ðiều này chắc có cơ may, họa là!
4. Bao giờ sừng thỏ mọc ra,
Nàng làm thang đứng thật l à khéo thay,
Bậc thang trèo đến tận mây,
Th ì điều n ày có cơ may, hỡi
nàng!
5. Bao giờ chuột nhắt leo thang
Cùng nhau ăn hết mặt trăng sáng ngời.
Ðem La-hầu xuống mặt trời,
Thì điều n ày hẳn có thời xảy ra!
6. Khi đ àn ruồi uống từng vò
Rượu nồng đầy đủ, tự do reo mừng
Ẩn m ình trong đám than bừng,
Th ì điều như thế họa hoằn xảy ra!
7. Khi bầy lừa khéo điểm tô
Môi hồng, mặt trắng l àm trò khéo thay
Trổ tài múa hát thật hay,
Ðiều này hẳn có cơ may, hỡi nàng!
8. Bao giờ quạ, cú từng đ àn
Cùng nhau tụ họp luận bàn riêng tư,
Tỏ tình âu yếm chuyện trò,
Ðiều này có thể xảy ra, hỡi nàng!
9. Bao giờ nhặt lá trên ngàn
Từng cây rừng xuống kết làm dù che
Chống mưa ồ ạt tứ bề,
Có cơ xảy đến điều kia, hỡi n àng!
10. Khi đ àn chim sẻ cố mang
Tuyết Sơn đủ vẻ huy ho àng hùng anh,
Ngậm trong chiếc mỏ xinh xinh,
Họa may có thể sự tình xảy ra!
11. Khi chàng trai nhẹ đẩy đưa
Chiếc thuyền buồm vượt biển xa ng àn trùng
Với lòng can đảm anh h ùng,
Ðiều này chắc hẳn mới mong, hỡi nàng!
Như thế bậc Ðại Sĩ ngâm mười một vần kệ nêu rõ những sự kiện không thể
xảy ra. Nàng kỹ nữ nghe xong, xin được ng ài
tha thứ và trở về Ba-la-nại. Nàng trình bày mọi việc với vua và xin tha
mạng, vua liền ân xá cho nàng.
*
Sau pháp thoại, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, nữ nhân thật là vô ơn, phản bội như thế.
Rồi ngài tuyên thuyết các Sự Thật. Khi kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
thối thất đ ã
được an trú v ào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy vua là Ànanda và vị khổ hạnh chính là Ta.
-ooOoo-
426. Chuyện Con Báo (Tiền thân Dìpi)#
Bác ơi, bác có được khang an...,
Bậc Ðạo sư kể lại chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một con dê cái.
Một thời Trưởng lão Moggallàna ở trong một am thất có một cửa, trong một
vùng đất được r ào và núi
đồi bao bọc. Lối đi có mái che của nh à
gần cửa ấy. Một vài mục tử nghĩ rằng hàng rào ấy là chỗ tốt cho
đ àn dê, nên họ lùa dê vào
đó v à sống thoải mái.
Một hôm họ đến v ào buổi chiều
đem cả bầy d ê
đi. Nhưng có một con d ê cái
đ ã lang thang quá xa không thấy bầy dê
ra đi, v à bị bỏ lại một mình. Sau
đó khi nó ra đi, một con báo thấy nó, muốn ăn
thịt b èn đứng b ên cửa của hàng
rào. Dê cái nhìn quanh và thấy con báo. "Báo
đứng đó v ì muốn giết ta và ăn thịt", D ê
suy nghĩ: "Nếu ta quay đầu bỏ chạy, ta sẽ mất
mạng. Vậy ta phải can đảm l ên". Rồi dê giương
đôi sừng, v ùng chạy thẳng trước mặt báo
với tất cả dũng lực. Dê thoát được móng vuốt
báo, d ù con báo rung mình vì nó tưởng sẽ chụp
được d ê. Rồi chạy hết tốc lực, con dê
bắt kịp cả đ àn.
Vị Trưởng lão quan sát cách các súc vật ấy
đối xử với nhau. Hôm sau vị ấy đi tr ình
đức Như Lai:
- Bạch Thế Tôn, con dê cái đ ã
đạt được một kỳ công nhờ có sẵn mưu lược v à
thoát được con báo.
Bậc Ðạo sư đáp:
- Này Moggallàna, lần này con báo không bắt
được d ê, nhưng ngày xưa báo đ ã
giết dê dù dê kêu lớn, rồi ăn thịt nó.
Và theo lời thỉnh cầu của Tôn giả Moggallàna, Ngài kể một chuyện
đời xưa.
*
Ngày xưa có thời Bồ-tát được sinh v ào
một làng ở quốc độ Magadha (Ma-kiệt-đ à),
trong một gia đ ình giàu. Khi lớn lên,
Ngài từ bỏ tham dục và sống đời tu h ành,
đạt được Thi ền
định vi ên mãn. Sau khi sống rất lâu ở
Tuyết Sơn, ngài đến Rajag àha (Vương Xá)
để t ìm muối và dấm, rồi về cư trú trong
thảo am ngài đ ã dựng trong một thung
lũng có rào chắn.
Giống như phần duyên khởi, các mục tử lùa bầy dê ra
đi v à cũng như trên, một hôm, khi một dê
cái đi ra chậm hơn bầy kia, một con báo đợi sẵn
ở cửa, nghĩ cách ăn thịt nó. Khi con D ê thấy con Báo, nó suy nghĩ:
"Ðời ta tàn rồi, bằng một mưu kế nào đó ta phải
dụ nó v ào cuộc chuyện trò vui vẻ ân cần
để l àm dịu lòng nó và cứu mạng ta". Vừa
đứng từ xa bắt đầu nói chuyện thân thiện với con báo, D ê ngâm vần kệ
đầu:
1. Bác ơi, bác có được khang an,
V à bác lâu nay mạnh khỏe ch ăng?
Mẹ cháu nhắn đưa lời kính hỏi,
Cháu mong c ùng bác kết thân bằng!
Nghe vầy, Báo suy nghĩ: "Con bé này muốn
đánh lừa ta bằng cách gọi ta l à 'bác', nó không biết ta hung dữ ra
sao cả". Vì thế Báo ngâm vần kệ thứ hai:
2. Cô dẫm đuôi ta đấy, bé D ê,
Và làm ta phải bị đau gh ê,
Tưởng rằng nhờ gọi ta là "bác"
Cô được tự do để trở về!
Khi nói vậy, Dê đáp:
- Thưa bác, xin đừng nói như vậy.
Và nó ngâm vần kệ thứ ba:
3. Tôi đi phía trước mặt, thưa ng ài,
Ngài vẫn ngồi kia đối diện tôi,
Ðuôi của ngài nằm sau phía ấy,
Làm sao tôi lại dẫm lên đuôi?
Báo đáp:
- Này Dê cái, cô nói gì vậy? Có nơi nào lại không có
đuôi của ta trải ra chứ?
Và nó ngâm vần kệ thứ tư:
4. Suốt cả trong toàn bốn đại châu,
Với sông hồ biển núi non cao,
Ðuôi ta trải rộng ra cùng khắp,
Sao cẳng Dê không dẫm nó nào?
Khi nghe vầy, Dê cài nghĩ: "Con ác thú này không bị lời ngon ngọt quyến
rủ. Vậy ta sẽ đáp lại nó như một kẻ th ù".
Rồi Dê ngâm vần kệ thứ n ăm:
5. Ta biết đuôi ông ác thật d ài,
Vì ta đ ã
được báo tin rồi,
Anh em cha mẹ đều khuy ên bảo
Lúc trước ta bay bổng giữa trời!
Báo lại nói ;
- Ta biết cô đ ã bay giữa trời. Nhưng
khi cô đến, cô đ ã làm hỏng miếng mồi của
ta bằng cách đáp xuống ấy!
Rồi Báo ngâm vần kệ thứ sáu:
6. Bóng dáng cô Dê ở giữa trời
Bay qua không khí ấy mà thôi,
Ðã làm kinh sợ đ àn nai nọ,
Vì thế mồi ta bị hỏng rồi!
Nghe vầy, Dê sợ chết không còn có thể tìm cớ nào khác nữa, liền kêu lớn:
- Bác ơi, xin đừng phạm một việc ác độc như
thế, xin tha mạng cháu đi.
Nhưng dù Dê kêu lớn, Báo vẫn chụp vai nó, giết chết và
ăn thịt D ê.
7. Chính Dê kêu lớn để cầu ân,
Song máu thịt kia mới thoả l òng,
Dã thú chụp Dê vào cổ họng;
Ác nhân không tỏ chút ân cần.
8. Kẻ ác không sao biết tỏ ra
Ân cần, chánh hạnh, tránh đường t à,
Nó thù ghét những người lương thiện,
Thượng sách là nên xáp lá cà!
Ðây là hai vần kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng của
đức Phật.
Một vị Thánh nhân khổ hạnh chứng kiến tất cả câu chuyện của hai con thú
này.
*
Sau Pháp thoại, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, con Dê cái và con Báo là con Dê cái và con báo bây giờ, và vị
Thánh nhân khổ hạnh chính là Ta.