407. Chuyện#
Đại Hầu Vương (Tiền thân Mah àkapi)
Chính thân ngài đ ã bắt ngang cầu khỉ...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về các thiện nghiệp
đối với thân quyến. Ho àn cảnh chuyện này
sẽ xuất hiện trong tiền thân Bhaddasàla, số 444.
T ăng chúng bắt đầu b àn luận trong
Chánh pháp đường, bảo nhau:
- Ðức Phật Toàn Giác đ ã làm nhiều
thiện sự đối với thân quyến.
Khi Bậc Ðạo Sư hỏi T ăng chúng v à
được tr ình bày
đề t ài trên, Ngài
đáp:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu
Như Lai l àm thiện nghiệp đối với thân
quyến.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai
loài khỉ. Khi lớn lên, ngài có vóc dáng oai nghi lực lưỡng và cường tráng,
cùng sống với một đ àn tám mươi ngàn con
khỉ ở Tuyết Sơn.
Gần bờ sông Hằng có một cây xoài (nhiều người khác bảo là cây
đa) với nhánh chồi tỏa bóng mát v à lá
rậm rạp như một đỉnh núi. Trái xo ài ngọt
có mùi hương và vị tuyệt diệu, to bằng các bình nước. Trái từ một cành rơi
xuống đất, từ một nhánh khác rơi xuống sông
Hồng, từ hai nhánh khác rơi v ào gốc cây.
Trong lúc ăn xo ài cùng với loài khỉ,
Bồ-tát nghĩ thầm: "Một ngày kia tai họa sẽ xảy
đến cho ta do trái xo ài rơi xuống nước".
Vì thế không để lại trái xo ài nào
trên cành cây mọc trên bờ sông, ngài bảo bọn chúng
ăn hết hoặc ném bỏ hoa đúng m ùa ngay từ
khi nụ hoa mới nhú bằng hột đậu.
Tuy thế, một xoài chín nằm kín trong một tổ kiến, nên cả tám mươi ngàn
con khỉ không trông thấy, rớt xuống dòng sông và mắc vào cái lưới ở phía
trên vua Ba-la-nại lúc ấy đang tắm sông vui đ ùa
với một tấm lưới ở trên và một tấm ở dưới.
Khi vua đ ã vui
đ ùa suốt ngày và sắp ra về lúc chiều
tối, bọn người đánh cá đang kéo lưới l ên,
trông thấy trái cây, nhưng không biết loại gì, liền
đem dâng vua, vua hỏi:
- Trái gì thế?
- Tâu Ðại vương, chúng thần không biết.
- Thế ai biết?
- Tâu Ðại vương, các người kiểm lâm.
Vua truyền gọi bọn người kiểm lâm và khi nghe họ bảo
đó l à trái xoài, vua lấy dao cắt nó ra,
rồi trước hết bảo bọn kiểm lâm ăn xo ài,
sau đó chính nh à vua cũng
ăn xo ài. Hương vị xoài chín thấm nhuần
khắp toàn thân vua. Do lòng ham muốn hương vị câu thúc, vua hỏi bọn kiểm lâm
cây ấy ở đâu, v à khi nghe rằng cây ấy ở
trên bờ sông về hướng Tuyết Sơn, vua truyền ráp các chiếc bè lại và chèo
ngược lên thượng nguồn của sông theo lộ trình
được đám kiểm lâm hướng dẫn. Số ng ày đi
đường chính xác l à bao nhiêu không được
n êu ra.
Theo thời gian, họ đến nơi ấy, v à bọn
kiểm lâm trình vua:
- Tâu Ðại vương đó l à cây xoài.
Vua dừng bè lại và cùng đám quần thần đông
đảo đi bộ đến nơi, rồi truyền trải s àng tọa ngay dưới gốc cây, vua
nằm ngủ sau khi đ ã
ăn xo ài và hưởng
đủ mọi thứ hương vị tuyệt hảo. Khắp mọi phía
quân lính canh gác cẩn thận v à nhóm lửa lên. Khi mọi người
đ ã ngủ yên, Bồ-tát cùng bầy khỉ
đến đó lúc nửa đ êm.
Tám mươi ngàn con khỉ chuyền từ cành nọ sang cành kia
ăn xo ài. Vua tỉnh giấc thấy bầy khỉ,
liền đánh thức quân hầu v à gọi
đám xạ thủ đến bảo:
- Hãy bao vây loài khỉ đang ăn xo ài
để chúng không thoát được, rồi bắn cả đi. Ng ày
mai ta muốn ăn xo ài với thịt khỉ.
Ðám xạ thủ tuân lệnh, đồng đáp:
- Muôn tâu, được lắm.
Rồi họ bao vây cả cây với cung tên sẵn sàng.
Bầy khỉ thấy họ, sợ chết vì chúng không thể trốn
được, liền nhảy đến Bồ-tát v à thưa:
- Tâu Ðại vương, các xạ thủ đang vây quanh
cây v à bảo: "Ta sẽ bắn chết loài khỉ lang thang trộm cắp này". Chúng
con phải làm gì bây giờ?
Chúng vừa đứng vừa run rẩy.
Bồ-tát bảo:
- Ðừng sợ, ta sẽ cứu mạng các con.
Vừa an ủi bầy khỉ như vậy xong, ngài leo lên một cành mọc thẳng
đứng, rồi đi qua một c ành khác dài về
phía sông Hằng, xong lại nhảy vọt về cuối cành ấy, vượt qua một tr ăm
tầm cung v à hạ xuống một bụi cây trên bờ.
Khi xuống đến nơi, ng ài
đánh dấu khoảng cách v à nói: "Ðó là
khoảng cách ta đ ã vượt qua". Rồi cắt một
đọt tre sát gốc, lột vỏ v à nói:
- Phần này sẽ được buộc v ào cây ấy,
và phần kia sẽ ở trên không.
Khi tính hai chiều dài như vậy, ngài quên phần buộc vào thắt lưng mình.
Ngài cầm đọt tre buộc một đầu v ào thân
cây trên bờ sông Hằng và phần kia vào thắt lưng, sau
đó nhảy vọt qua khoảng cách một trăm tầm cung
ấy với tốc độ của mây bay theo gió cuốn.
Do không tính phần tre buộc vào thân mình, ngài không tới tận cây ấy. Vì
vậy ngài lấy hai tay nắm chặt cành cây và ra hiệu cho cả
đ àn khỉ:
- Cầu chúc các con may mắn, qua nhanh lên, bước trên lưng ta mà
đi dọc theo cây tre.
Cả tám mươi ngàn con khỉ trốn thoát được
theo cách ấy, sau khi cung kính đảnh lễ Bồ-tát, xin phép ng ài ra
đi.
Thời ấy Devadatta (Ðề-bà- đạt-đa) l à
một con khỉ trong đ àn kia tự nhủ: "Ðây
là cơ hội để ta thanh toán kẻ th ù".
Vì thế vừa trèo lên cây, nó nhảy vọt và ngã trên lưng Bồ-tát. Tim Bồ-tát
như muốn vỡ nát, vô cùng đau đớn. Sau khi gây ra nỗi đau
khổ thống thiết cho ng ài như vậy, nó liền bỏ
đi, chỉ c òn Bồ-tát một mình.
Lúc ấy vua tỉnh giấc thấy rõ mọi việc bầy khỉ
đ ã làm cùng Bồ-tát, vua lại nằm xuống
suy nghĩ: "Con vật này không kể đến tính mạng m ình,
đ ã cứu thoát cho cả
đ àn bình an".
Khi trời sáng, vua hoan hỷ về Bồ-tát, lại suy nghĩ: "Giết hại chúa khỉ
này thật không phải đạo, ta muốn đem nó xuống v à
s ăn sóc nó". V ì vậy vua quay bè xuống
sông Hằng và dựng một cầu cao ở đó để Bồ-tát
nhảy xuống nhẹ nh àng, truyền đem tấm y v àng
phủ trên lưng ngài và tắm rửa ngài trên sông, cho ngài uống nước
đường, lau thân thể ng ài thật sạch và
tẩm dầu thơm đ ã lọc kỹ cả ngàn lần, sau
đó trải một tấm da đ ã
được thoa dầu l ên sàng tọa và
đặt ng ài nằm ở
đó, c òn vua ngồi ở một chỗ thấp hơn.
Và vua ngâm vần kệ đầu:
1. Chính thân ngài đ ã bắt ngang cầu
khỉ
Cho cả đ àn trốn thoát
được b ình an,
Này khỉ kia, ngài với chúng họ hàng,
Hay bọn chúng là gì ngài đó vậy?
Nghe lời này, Bồ-tát ngâm các vần kệ khuyến giáo vua:
2. Tâu Ðại vương, tôi trông nom bọn ấy,
Là Hầu vương, tôi làm chủ cả đ àn,
Khi bọn kia đầy rẫy nỗi kinh ho àng
Vì các vị, lòng lo buồn đau đớn.
3. Tôi nhảy qua một trăm tầm cung lớn
Ðược trải dài trên vị trí nằm ngang,
Rồi khi tôi đ ã buộc khúc tre non
Thật vững chắc ở quanh sườn tôi đó,
4. Muốn đến cây như vầng mây b ão tố
Ðược cuồng phong thổi bạt cực kỳ nhanh,
Song mất đ à, tôi chỉ
đến đầu c ành,
Cầm lấy nó, bàn tay tôi thật vững.
5. Khi tôi nằm trên cây treo lơ lửng
Buộc chặt vào cành với khúc tre non,
Bầy khỉ kia đ ã bước cả lưng còm,
Giờ đây chúng được an to àn thoát nạn.
6. Tôi không sợ nỗi đau v ì thiệt mạng,
Dẫu giam cầm tôi cũng chẳng đau buồn.
Khi b ình an hạnh phúc với cả đ àn,
Xưa bọn chúng, tôi đ ã từng cai trị.
7. Một ví dụ dành cho ngài, Ðại đế,
Nếu ng ài mong học Ðạo lý Chánh chân:
Niềm an vui hạnh phúc của toàn dân,
Cùng quân đội, v à kinh thành, chiến
mã,
Ðối với ngài đều thiết thân tất cả,
Nếu ng ài mong trị nước thật an bình.
Bồ-tát giáo huấn vua như thế xong liền từ trần. Vua gọi các
đại thần đến truyền lệnh cho Hầu vương được thọ
hưởng tang lễ như một quốc vương. Rồi vua truyền bảo đám phi tần:
- Các nàng hãy đưa Hầu vương ra tận nghĩa
địa với tư cách l à đo àn tùy tùng
của Hầu vương, mặc y đỏ, x õa tóc xuống
và cầm đuốc trong tay.
Các đại thần l àm dàn hỏa táng với một
tr ăm xe củi.
Sau khi đ ã chuẩn bị tang lễ của
Bồ-tát theo nghi thức vua chúa, họ đem xương sọ
của ng ài đến tr ình vua. Vua
truyền xây một đền thờ ở tại địa điểm hỏa táng
Bồ-tát, l àm lễ đốt đuốc v à dâng
hương hoa cúng dường. Vua lại truyền khảm vàng vào xương sọ, nâng nó lên cao
trên đầu ngọn giáo v à
đặt tại cổng th ành rồi cúng dường hương
hoa khi vua đến Ba-la-nại. Sau đó truyền lệnh
cho cả kinh th ành trang hoàng thật trang nghiêm, nhà vua làm lễ suy
tôn-xá lợi suốt bảy ngày.
Khi đ ã nhận phần xá-lợi và dựng
đền thờ trong th ành, vua
đến đó cúng dường hương hoa suốt đời.
Ðược an trú vào lời dạy của Bồ-tát, vua chuyên tâm bố thí cùng làm nhiều
thiện sự khác và cai trị chân chánh nên về sau tái sinh thiên giới.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật và nhận diện
tiền thân:
- Thời ấy vua là Ànanda, đ àn khỉ là
Hội chúng này và Hầu vương chính là Ta.
-ooOoo-
408. Chuyện Người Thợ Gốm (Tiền thân Kumbhakàra)#
Cây xoài ta thấy ở rừng xanh...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc khiển trách
lỗi lầm. Hoàn cảnh câu chuyện xuất hiện trong tiền thân Pàniya, số 459.
Thời ấy tại Xá-vệ có n ăm trăm người bạn c ùng
xuất gia tụ tập, an trú tại Tinh xá trên con Ðường Lát Vàng (tức Kỳ Viên),
lại khởi lên dục tưởng lúc nửa đ êm. Bậc
Ðạo Sư quan sát các đệ tử ba lần ban đ êm
và ba lần ban ngày, tức sáu lần suốt ngày đ êm,
như chim dẻ cùi ấp trứng, như bò yak gìn giữ cái
đuôi, như b à mẹ ch ăm
sóc đứa con y êu quý, như người chột canh chừng con mắt còn lại. Vì
vậy Ngài khiển trách ngay khi lỗi lầm vừa sinh khởi. Nửa
đ êm hôm ấy Ngài quan sát Kỳ Viên và biết
tâm tư của chúng T ăng, Ng ài suy nghĩ:
"Nếu lỗi lầm này t ăng trưởng giữa Tăng chúng,
nó sẽ hủy hoại đời Phạm hạnh đưa đến Thánh quả. Ta muốn khiển trách lỗi lầm
n ày ngay bây giờ và nêu rõ đời Phạm
hạnh".
Thế rồi Ngài rời Hương Phòng và gọi Tôn giả Àanda, truyền Tôn giả triệu
tập chư T ăng tại đó đến họp lại v à Ngài
ngồi xuống sàng tọa đ ã soạn sẵn cho
đức Phật. Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, sống dưới sức chi phối của các dục tưởng là không chân
chánh; nếu tham dục t ăng trưởng sẽ gây họa lớn
như một địch thủ. Mỗi Tỷ-kheo phải khiển trách một lỗi lầm d ù nhỏ
nhặt. Các trí nhân ngày xưa thấy rõ ngay cả mọi duyên cớ thật nhỏ, nên
đ ã khiển trách mọi dục tưởng khi vừa mới
khởi sinh, do vậy đ ã
đắc quả Ðộc Giác Phật.
Nói xong, ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh v ào một gia
đ ình thợ gốm ở ngoại ô Ba-la-nại. Khi
lớn lên, ngài thành gia chủ có một con trai, một con gái và nuôi dưỡng vợ
con với nghề gốm của ngài.
Thời ấy tại vương quốc Kalinga, trong kinh thành Dantapura, quốc vương
mệnh danh Karandu đang dạo chơi với quần thần
đông đảo trong ngự vi ên, chợt thấy ở cổng vườn một cây xoài nặng trĩu
quả ngọt.
Từ trên lưng voi, vua đưa tay ra hái một ch ùm
xoài, sau đó v ào ngự viên ngồi trên bảo
tọa ăn xo ài và ban vài trái cho những kẻ
được ân sủng. Từ khi vua hái xo ài,
đám triều thần, B à-la-môn, gia chủ nghĩ
rằng người khác cũng nên làm như thế, họ hái xoài xuống và
ăn trái cây ấy. Sau đó họ đến nhiều lần tr èo
cây lấy gậy đập v ào làm gãy cành lá tả
tơi, họ ăn xo ài và cũng không chừa lại
những trái chưa chín.
Vua vui chơi trong ngự viên suốt ngày mãi tận chiều,
đi ngang qua tr ên vương tượng, ngài bước
xuống khi thấy cây xoài và đến gốc cây nh ìn
lên, suy nghĩ: "Sáng này cây tươi đẹp với c ành
nặng trĩu quả, nhưng đám người ngắm cảnh không
thỏa m ãn; nay, nó đứng kia không c òn
tươi đẹp nữa v ì trái cây
đ ã bị phá nát và rớt xuống hết rồi".
Vua lại nhìn sang một cây kia không có trái và suy nghĩ: "Cây xoài này
tươi tốt vì không sinh trái khác nào núi trọc chứa
đầy châu báu. Cây kia v ì sinh trái nên
đ ã gặp tai họa: Ðời sống tại gia cũng
giống như cây có trái, đời xuất gia giống như
cây không trái, người gi àu tiền hay sợ hãi, người nghèo khó chẳng sợ
gì. Ta cũng chỉ muốn như cây không trái kia".
Như vậy lấy cây sinh trái làm chủ đề, ng ài
đứng dưới gốc cây, quan sát Ba đặc tính: Vô
thường, Khổ, Vô ng ã và đạt Tuệ giác; ng ài
đắc quả Ðộc Giác Phật, liền suy nghĩ:
"Từ nay thai tạng đ ã xa rời ta, tái sinh
trong Ba cõi đ ã
đoạn tận, các cấu uế của v òng luân hồi
sinh tử đ ã
được thanh tịnh, biển nước mắt đ ã khô cạn, thành xương khô
đ ã sụp đổ,
ta không c òn tái sinh nữa". Ngài đứng uy
nghi như thể được trang điểm mọi thứ ngọc v àng.
Sau đó các đại thần bảo:
- Tâu Ðại vương, ngài đứng đ ã quá
lâu.
- Ta không phải Ðại vương, ta là Ðộc Giác Phật.
- Tâu Ðại vương, các Ðộc Giác Phật không giống ngài.
- Thế thì các vị ấy ra sao?
- Râu tóc các ngài được cạo sạch, các Ng ài
khoác y vàng, không còn lưu luyến gia đ ình
bộ tộc, các ngài như mây trôi theo gió cuốn hay mặt tr ăng
thoát khỏi thần R àhu, và các Ngài an trú trên Tuyết Sơn, ở
động Nandam ùla. Tâu Ðại vương, các Ngài
Ðộc Giác Phật là như vậy.
Ngay lúc ấy vua đưa tay l ên sờ
đầu lập tức các dấu hiệu của một gia chủ biến
mất, v à các dấu hiệu của một Sa-môn xuất hiện:
Bộ ba y, bình bát, với kim may,
Lưỡi dao cạo, đồ lọc nước, dây đai
L à tám món một Sa-môn cần có.
Tám món cần thiết của một Sa-môn như chúng vẫn thường
được gọi, đ ã dính chặt vào thân Ngài.
Ðương trên không, Ngài thuyết Pháp cho quần thần rồi bay qua bầu trời
đến sơn động Nandam ùla trên miền thượng
Tuyết Sơn.
Trong quốc độ Candahar ở kinh th ành
Takkasilà, vị vua mệnh danh Naggaji ngự trên thượng lầu, giữa vương sàng,
thấy một nữ nhân đeo v òng ngọc trên một
tay, đang xay hương liệu gần đó, vua suy nghĩ:
"Các v òng ngọc này không cọ xát hoặc kêu leng keng khi rời nhau", và
cứ ngắm nghía nàng ấy mãi. Sau đó, n àng
ấy đặt chiếc v òng từ tay phải sang tay
trái và dùng tay phải thu góp hương liệu rồi bắt
đầu xay tiếp. Chiếc v òng trên tay trái
chạm vào chiếc vòng kia gây tiếng động.
Vua quan sát hai chiếc vòng cọ xát vào nhau, gây âm thanh, liền suy nghĩ:
"Vòng ấy khi để ri êng không chạm vào vật
gì cả, nay đụng v ào vòng thứ hai gây
tiếng động, khi hai ba chiếc v òng chạm
nhau tạo thành tiếng ồn lớn. Nay ta trị thần dân ở hai quốc
độ Cashmere v à Candahar, ta cũng cần
phải ở riêng như chiếc vòng độc nhất để tự trị
chứ không trị kẻ khác nữa". Như vậy lấy việc cọ xát hai chiếc v òng
làm chủ đề, trong lúc ngồi đó, vua nhận thức Ba
đặc tính tr ên và đạt Tuệ giác, đắc quả
Ðộc Giác Phật. Phần cuối câu chuyện cũng như trên.
Trong quốc độ Videha, tại th ành
Mithilà, quốc vương mệnh danh Nimi, sau buổi
điểm tâm, được các triều thần chầu quanh m ình,
đứng nh ìn xuống
đường phố qua cửa sổ ho àng cung mở rộng.
Một con diều hâu sau khi chụp được miếng thịt
từ chợ, đang bay vụt tr ên không. Một vài con kên kên và các thứ chim
khác, vây lấy diều hâu mọi phía, liên tiếp lấy mỏ mổ vào, lấy cánh
đập v à lấy chân
đạp con kia để d ành miếng thịt. Không
chịu để cho chúng giết, diều hâu đ ành
thả miếng thịt, một chim khác chụp ngay lấy, và bọn chúng lại mổ con kia như
trước. Vua thấy bầy chim, suy nghĩ: "Ai lấy miếng thịt, khổ
đau đến với kẻ ấy; ai bỏ miếng thịt, hạnh phúc
đến với kẻ ấy. Ai hưởng năm dục lạc, khổ đau đến với kẻ ấy; ai bỏ năm dục
lạc, hạnh phúc đến với kẻ ấy. Nay ta có mười sáu ng àn cung nữ, ta cần
phải sống trong hạnh phúc sau khi từ bỏ n ăm dục
lạc như diều hâu bỏ miếng thịt".
Quan sát việc này với trí tuệ, ngay khi đứng
tại đó, vua nhận thức ba đặc tính tr ên, chứng
đắc Tuệ giác v à thành
đạt vi ên trí của quả Ðộc Giác Phật. Phần
cuối cũng như trên.
Trong vương quốc Uttarapãncàla, tại kinh thành Kampilla, vị vua mệnh danh
Dummukha, sau buổi điểm tâm, được trang điểm
các món châu báu v à quần thần vây quanh,
đứng nh ìn xuống sân chầu qua cửa sổ. Vào lúc ấy, có người mở cửa
chuồng bò. Các bò đực từ trong chuồng đang chạy
theo một con b ò cái, một con bò đực lớn
với cái sừng nhọn chợt thấy một con đực khác chạy đến, liền ghen tức lấy
sừng nhọn đâm v ào hông con kia. Do bị húc quá mạnh, nó
đổ ruột ra ngo ài chết ngay tại chỗ. Vua
thấy cảnh này, suy nghĩ: "Mọi loài từ súc vật trở lên
đều chịu khổ đau v ì lòng dục, con bò này
vì lòng dục phải chịu chết. Mọi loài khác đều
bị tham dục gây phiền lụy. Ta cần bỏ hết mọi tham dục l àm phiền lụy
mọi loài".
Như vậy trong lúc đang đứng, vua nhận thức
Ba đặc tính tr ên, chứng đắc Tuệ giác v à
thành đạt Vi ên trí của quả Ðộc Giác
Phật. Phần cuối cũng như trên.
Sau đó, một hôm, bốn vị Ðộc Giác
Phật, xét thấy đến thời đi khất thực liền rời
động Nandam ùla, sau khi chùi sạch r ăng
bằng cách nhai cau tại hồ Anotatta, v à sau khi
đ ã hoàn tất mọi nhu cầu vệ sinh xong,
các vị mang y bát dùng thần thông bay lên không, lướt qua các
đám mây ngũ sắc, rồi hạ xuống không xa một
ngoại ô của Ba-la-nại.
Tại một địa điểm tiện lợi, các vị khoác y,
cầm b ình bát đi v ào vùng ngoại ô
khất thực cho đến khi dừng lại trước cửa nh à
Bồ-tát. Bồ-tát thấy các vị lòng hoan hỷ mời vào nhà ngồi trên chỗ
đ ã soạn sẵn, ngài rót nước cung nghênh
và đ ãi các món thượng vị
đủ loại cứng v à mềm. Sau
đó ngồi một b ên, ngài kính chào vị
trưởng thượng và nói:
- Thưa Tôn giả, đời tu h ành của ngài
quả thật tốt đẹp, các căn của Ng ài thật
an tịnh, làn da của Ngài thật trong sáng. Chủ
đề suy tư g ì đ ã khiến Ngài khởi
đầu đời sống tu h ành và xuất gia?
Cả bốn vị liền đáp:
- Tôi trước kia có tên như vậy, làm vua ở tại kinh thành nọ trong quốc
độ kia...
Ðại khái như thế và theo cách này mỗi vị lần lượt ngâm vần kệ nêu nguyên
nhân giã từ thế tục của mình:
1. Cây xoài ta thấy ở rừng xanh,
Ðen rậm, cao to, trái trĩu cành,
Vì trái, con người đ à phá gãy,
Lòng ta chính thế muốn cầm bình.
2. Vòng sáng nhờ tay thợ nổi danh,
Người đeo một chiếc chẳng âm thanh,
Chiếc kia va chạm gây huy ên náo,
Vì thế lòng ta muốn chiếc bình.
3. Ðàn chim xâu xé vật cô thân,
Ðơn độc mang theo miếng thịt ăn,
Chim bị đánh đau v ì miếng thịt,
Lòng ta chính thế muốn ly trần.
4. Bò đực ki êu c ăng
giữa đám b ò
Vươn lưng, khỏe đẹp, bước chân ra,
Chết v ì lòng dục: sườn đâm mạnh,
Do vậy l òng ta muốn xuất gia.
Bồ-tát nghe mỗi vần kệ đều nói:
- Tốt lành thay, thưa Tôn giả, chủ đề của Ng ài
thật thích hợp.
Và như vậy ngài tán thán mỗi vị Ðộc Giác Phật. Sau khi nghe các vị thuyết
Pháp, ngài trở nên chán ngán đời sống tại gia.
Khi các vị ra đi, sau buổi điểm tâm, ng ài
ngồi thư thái, gọi vợ lại bảo:
- Này hiền thê, bốn vị Ðộc Giác Phật rời bỏ vương quốc trở thành Sa-môn
nay sống không lỗi lầm, không chướng ngại, hưởng niềm cực lạc của
đời tu h ành. Trong lúc ấy ta phải tìm kế
sinh nhai qua ngày. Ta còn phải làm gì với đời
gia chủ nữa? Xin n àng nuôi các con và ở lại nhà.
Rồi ngài ngâm hai vần kệ:
5. Vua Ka-ran-du xứ Ka-lin-ga,
Vua Nag-gà-ji xứ Gan-dhà-ra,
Vua Dum-mu-kha xứ Pan-cà-la,
Ðại đế Ni-mi xứ Vi-de-ha,
Tất cả các ng ài rời bảo tọa,
Sống không lầm lỗi, giã từ nhà.
6. Các ngài trông dáng tựa Thiên thần,
Chẳng khác nào vầng lửa sáng bừng,
Ta cũng muốn ra đi tiến bước
Xa l ìa mọi vật thế nhân mong.
Nghe lời ngài, bà vợ đáp:
- Này phu quân, từ khi thiếp nghe Giáo pháp của các vị Ðộc Giác Phật,
thiếp cũng không muốn ở trong nhà nữa.
Và bà ngâm kệ:
7. Thời cơ thiếp biết chính là đây,
Chẳng có Ðạo Sư hơn các ngài,
Chàng hỡi, thiếp mong xuất thế nữa,
Như con chim được thoát b àn tay.
Bồ-tát nghe lời bà nói liền yên lặng, Bà vợ nôn nóng xuất gia tu hành
trước ngài, và đang muốn đánh lừa ng ài,
liền giả vờ nói:
- Này phu quân, thiếp sắp ra hồ nước, chàng hãy ch ăm
nom các con.
Rồi bà cầm chiếc bình như thể đi đến đó v à
bà đi thẳng đến các vị ẩn sĩ ngoại th ành
xin truyền giới xuất gia. Bồ-tát không thấy bà trở về,
đ ành phải tự tay ch ăm
sóc các con.
Về sau chúng lớn khôn hơn một chút và tự chúng có thể hiểu biết
đôi chút, ng ài muốn dạy chúng nấu cơm,
nên ngài thường nấu một ngày cơm hơi cứng và sống, một ngày cơm hơi sống,
một ngày cơm chín, một ngày cơm nhão, một ngày không có muối, một ngày quá
nhiều muối. Bầy trẻ nói:
- Cha ơi, hôm nay cơm chưa chín, hôm nay cơm nhão, hôm nay không có muối,
hôm nay quá nhiều muối.
Bồ-tát đáp:
- Ðúng vậy, các con thân yêu.
Rồi Ngài suy nghĩ: "Các con nay đ ã
biết cơm nào sống, cơm nào chín, cơm nào có muối, cơm nào không: thế là
chúng có thể sống riêng đời chúng rồi. Ta cần
phải xuất gia". Sau đó, ng ài đưa chúng
đến gặp đám thân quyến xong, ng ài liền xuất gia tu hành, cư trú ở
ngoại thành. Một hôm vị nữ tu khổ hạnh đi khất
thực ở Ba-la-nại thấy ng ài, liền kính chào và nói:
- Thưa Tôn giả, tôi chắc tôn giả đ ã
giết bầy trẻ rồi.
Bồ-tát đáp:
- Ta không giết bầy trẻ, khi chúng có thể tự mình biết việc, ta mới xuất
gia. Còn bà đ ã không quan tâm
đến chúng v à vui lòng với việc xuất gia
trước ta.
Rồi ngài ngâm vần kệ cuối cùng:
8. Thấy con biết mặn, nhạt khi ăn,
Cơm sống, chín, ta đ ã bước chân,
Nay để y ên ta, người một nẻo,
Ta cùng theo Giáo pháp chân nhân.
Khuyến giáo vị nữ tu khổ hạnh như vậy xong, ngài từ giã bà. Bà nhận lời
khuyến giáo ấy, kính bái Bồ-tát và đi đến một
nơi vừa ý.
Sau ngày ấy, hai vị không bao giờ gặp lại nhau. Bồ-tát chứng
đắc Thắng trí được tái sinh l ên Phạm
thiên giới.
*
Sau Pháp thoại, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Khi các Sự thật kết
thúc, n ăm trăm Tỷ-kheo đắc Thánh quả (A-la-hán.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy con gái là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), con trai là Ràhula
(La-hầu-la), nữ tu sĩ là mẫu thân Rahula và nhà khổ hạnh ấy chính là Ta.
-ooOoo-
409. Chuyện Vua Dalhadhamma (Tiền thân Dalhadhamma)#
Chính con khuân vác tự ngày xanh...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại rừng Ghosita (Cù-sư-la) gần
Kosambi (Kiều-thưởng-di) về Bhaddavatika, con voi cái của vua Udena.
Bấy giờ cách con voi này được trang điểm v àng
ngọc và dòng họ vua Udena sẽ xuất hiện trong tiền thân Màtanga, số 497. Một
hôm con voi này ra ngoại thành sáng sớm gặp đức
Phật được Thánh chúng vây quanh, trong vẻ oai nghi tối thượng của một bậc
Giác Ngộ, đang v ào thành khất thực, nó quỳ xuống chân
đức Như Lai, than khóc v à cầu khẩn Ngài:
- Bạch Thế Tôn, bậc toàn tri kiến, vị cứu khổ toàn thế giới, khi con còn
trẻ và có khả n ăng l àm việc, vua Udena,
một vị minh quân đ ã thương yêu con và
bảo: "Ðời sống của ta cùng vương quốc và Hoàng hậu
đều nhờ nó tất cả". Rồi ng ài ban cho con
đại vinh hiển bằng cách trang điểm mọi thứ v àng
ngọc, ngài truyền trát chuồng voi với đất trộn
hương liệu, treo các đồ vật có m àu sắc rực rỡ chung quanh, thắp
đ èn với dầu thơm,
đặt dĩa trầm xông tại đó, ng ài lại
truyền đặt một chậu bằng v àng tại chỗ
con đại tiện, cho con đứng tr ên thảm màu
và cho con ăn to àn cao lương thượng vị
của vua. Nay con đ ã già và không làm
việc được nữa, n ên ngài tước bỏ mọi
đặc ân ấy, con sống bơ vơ khốn khổ không ai bảo
vệ chăm sóc, chỉ ăn to àn quả ketaka trong rừng, con chẳng có nơi
nương tựa nào nữa. Xin Thế Tôn nói cho vua Udena nghĩ lại các công
đức của con v à phục hồi mọi vinh quang
cũ cho con".
Bậc Ðạo Sư bảo:
- Con hãy đi về, rồi ta sẽ nói với vua phục
hồi mọi vinh quang cũ cho con.
Sau đó ng ài
đi đến cửa ho àng cung.
Vua mời đức Phật v ào, thiết
đ ãi trọng thể tất cả hội chúng theo hầu
đức Phật.
Khi buổi thọ thực đ ã xong, Bậc Ðạo Sư
nói lời tùy hỷ công đức v à hỏi:
- Thưa Ðại vương, con voi Bhaddavatikà đâu
rồi?
- Bạch Thế Tôn, trẫm không biết.
- Thưa Ðại vương, sau khi ban vinh hiển cho
đám nô tỳ, ng ài tước bỏ mọi ân huệ lúc chúng già là không phải
đạo, vậy cần tỏ l òng biết ân chúng.
Bhaddavatikà nay đ ã già, mòn mỏi vì tuổi
tác và không được ai bảo vệ, chỉ sống bằng trái
cây ketaka trong rừng. Ðại vương để cho
nó bơ vơ như vậy lúc gi à yếu là không hợp lý.
Rồi kể các công đức của con voi Bhaddavatik à,
Ngài bảo:
- Ðại vương hãy phục hồi mọi vinh quang cũ của nó.
Xong Ngài ra đi. Vua l àm theo lời
Ngài. Cả kinh thành truyền tin rằng vinh quang cũ của con
voi đ ã được
phục hồi nhờ đức Phật kể lại mọi công đức của nó.
Việc này được Tăng chúng biết v à chư
vị bàn luận trong lúc hội họp. Bậc Ðạo Sư bước vào và khi nghe
đây l à đề t ài
của các vị, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu
Như Lai l àm cho nó được phục hồi mọi
vinh quang cũ bằng cách kể các công đức của nó.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa có một vị vua mệnh danh Dalhadhamma cai trị tại Ba-la-nại. Thời
ấy Bồ-tát thọ sanh vào gia đ ình một
đại thần, khi lớn l ên, ngài phục vụ nhà
vua.
Ngài được vua ban nhiều vinh hiển v à
đứng địa vị một đại thần quan trọng nhất trong
triều. Vua có một con voi cái rất dũng m ãnh lực lưỡng. Nó
đi một trăm dặm một ng ày, làm mọi phận
sự sứ thần của vua, khi ra trận nó chiến đấu
oanh liệt, dẫm nát quân th ù. Vua bảo:
- Con voi này thật hữu ích đối với ta.
Rồi vua ban cho nó mọi thứ trang điểm v à
vinh quang giống như vua Udena ban cho Bhaddavatikà ngày nay. Sau
đó khi nó gi à yếu, vua tước hết mọi
đặc ân tr ên.
Từ đó nó không được ai bảo vệ v à chỉ
sống bằng các thứ cỏ lá trong rừng. Một hôm các loại
đồ gốm sứ trong cung vua không đủ d ùng,
vua truyền thợ gốm lại và phán:
- Ðồ gốm không đủ d ùng.
- Tâu Ðại vương, tiểu thần không có bò kéo xe
để mang phân b ò về nung
đất sét.
Vua nghe chuyện, liền phán:
- Con voi cái của ta đâu rồi?
- Tâu Ðại vương, nó đang phi êu bạt
tùy ý.
Vua bảo đem nó cho người thợ gốm:
- Từ nay ngươi buộc nó vào xe rồi đưa đi chở
phân.
Người thợ gốm đáp:
- Tâu Ðại vương, tốt quá.
Rồi gã làm theo lời dặn. Một hôm ra ngoại thành, voi cái chợt thấy Bồ-tát
đi đến, liền quỳ xuống chân ng ài vừa
than khóc vừa nói:
- Thưa Tể tướng, thời con còn trẻ, đức vua
xem con rất hữu dụng v à ban con đại vinh
hiển, nay con gi à yếu, ngài tước bỏ mọi
đặc ân v à không còn nghĩ đến con nữa,
con không được ai bảo vệ v à chỉ sống bằng cỏ lá trong rừng, gặp cảnh
khốn cùng thế này ngài lại đem con cho người
thợ gốm buộc v ào xe chở phân; trừ Tể tướng ra, con không còn nơi
nương tựa nào cả, chính Tể tướng đ ã biết
mọi công lao con phục vụ đức vua, xin ng ài
cho con được phục hồi mọi vinh hiển đ ã
mất.
Rồi voi cái ngâm ba vần kệ:
1. Chính con khuân vác tự ngày xanh,
Như vậy đức vua đ ã thỏa tình?
Vũ khí con mang đầy trước ngực
Xông pha chiến trận, bước h ùng anh.
2. Con đ ã lập nên lắm chiến công,
Ðức vua giờ hẳn có quên ch ăng
Bao lần phục vụ nhiều công trạng
Như đ ã định cho các sứ thần?
3. Nay con cô độc, quá bơ vơ,
Chắc chắn mạng chung đ ã đến giờ,
Phục vụ cho nh à người thợ gốm,
Con đ ành làm vật kéo phân dơ!
Bồ-tát nghe chuyện, liền an ủi nó và bảo:
- Thôi đừng buồn khổ nữa, ta sẽ đi tr ình
đức vua v à phục hồi vinh dự cho con.
Vì thế khi vào thành, ngài đi đến chầu vua
sau buổi điểm tâm v à bắt đầu câu chuyện,
ng ài bảo:
- Tâu Ðại vương, có phải con voi cái mang tên kia
đ ã ra trận chiến tại những nơi nọ với
các vũ khí buộc đầy ngực; rồi ng ày khác
nó lại mang quốc thư ở cổ đi cả trăm dặm l àm
sứ giả cho Ðại vương, và Ðại vương ban cho nó nhiều vinh hiển ch ăng,
nay nó đâu rồi?
- Trẫm đ ã giao nó cho người thợ gốm
chở phân bò.
Bồ-tát liền đáp:
- Có hợp đạo lý chăng, tâu Ðại vương,
khi giao nó cho người thợ gốm buộc vào xe chở phân?
Rồi để khuyến giáo, ng ài ngâm bốn vần
kệ:
4. Do ích kỷ tham vọng cá nhân,
Người ta ban phát mọi vinh quang,
Như ngài đối với con voi nọ,
Ném bỏ như nô lệ yếu t àn.
5. Khi người quên hết các huân công.
Thiện sự ngày xưa hưởng trọn phần,
Mọi việc mà lòng đang dự tính
Ng ày sau chắc hẳn phải suy vong.
6. Khi người ghi nhớ các công ơn
Thiện sự ngày xưa hưởng trọn phần,
Mọi việc mà lòng đang dự tính
Ng ày sau chắc hẳn sẽ thành công.
7. Ta nói điều chân lý trọn l ành,
Cho thần dân tụ tập chung quanh:
Phải luôn ghi nhớ công ơn cũ,
Thiên giới dành phần sống hiển vinh.
Với lời khởi đầu n ày, Bồ-tát giáo hóa
toàn thể dân chúng đang tụ tập ở đó. Nghe vậy
vua ban cho con voi gi à mọi hiển vinh cũ, và về sau
được an trú v ào lời dạy của Bồ-tát, vua
bố thí cùng thực hành nhiều thiện sự khác nên
được sinh l ên cõi thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, voi cái là Bhaddavatikà, vua là Ànanda, vị
đại thần chính l à Ta.
-ooOoo-
410. Chuyện Voi Con Somadatta (Tiền thân Somadatta)#
Bước sâu vào tận trong rừng...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên, về một Trưởng lão già
cả.
Chuyện kể rằng vị Trưởng lão này truyền giới cho một Sa-di làm
đệ tử, phụng sự vị ấy nhưng chẳng bao lâu lâm
bệnh nặng qua đời. Trưởng l ão đi quanh
quẩn khóc than k êu gào vì cái chết của
đệ tử.
Thấy vậy T ăng chúng bắt đầu b àn tán
trong Chánh pháp đường:
- Này các Hiền giả, vị Trưởng lão già cả này cứ lang thang kêu khóc vì
một Sa-di chết, chắc hẳn vị ấy đ ã quên
pháp môn quán tưởng về mạng chung.
Bậc Ðạo Sư bước vào và khi nghe đề t ài
câu chuyện, Ngài bảo:
- Náy các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu
người n ày khóc người kia chết.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vị ở Ba-la-nại, Bồ-tát là Sakka Thiên
chủ. Một Bà-la-môn giàu tiền của, trước sống ở Ba-la-nại, sau giã từ thế tục
và trở thành ẩn sĩ khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, nhặt củ quả rừng
để ăn.
Một hôm đi t ìm quả rừng, ông thấy một
chú voi con, liền đem về thảo am. Ông xem nó
như thể con m ình gọi tên nó là Somadatta, nuôi nấng ch ăm
sóc nó v à cho nó ăn cỏ lá. Con voi lớn
dần trở th ành to lớn, song một hôm nó ăn
quá nhiều n ên phát bệnh vì bội thực. Vị khổ hạnh
đem nó v ào thảo am và
đi t ìm quả rừng. Song trước khi ông trở
về, con voi đ ã chết. Khi
đem về mớ quả, vị khổ hạnh suy nghĩ: "Các ng ày
khác con ta vẫn đón ta, sao không thấy hôm nay?
Con ta bị việc g ì ch ăng?". Thế l à
ông than khóc và ngâm vần kệ đầu:
1. Bước sâu vào tận trong rừng,
Nó thường vẫn đến đón mừng ta ngay,
Nhưng sao chẳng thấy hôm nay,
Voi con đi lạc chẳng hay lối về?
Cùng với lời than khóc này, ông thấy con voi nằm cuối lối
đi có mái che, liền ôm ngang cổ nó v à
ngâm vần kệ thứ hai tiếc thương nó:
2. Chính voi vừa chết nằm kia
Như búp m ăng bị cắt l ìa nát thân,
Voi nằm dưới đất ng ã l ăn,
Con voi ta đ ã lìa trần, than ôi!
Ngay lúc ấy Sakka Thiên chủ quan sát cõi trần, suy nghĩ: "Vị khổ hạnh này
từ giã vợ con để tu h ành, nay lại than
khóc con voi mà ông gọi là con, ta muốn đến
thức tỉnh ông v à làm cho ông suy nghĩ lại".
Vì thế ngài xuất hiện trước thảo am, đứng tr ên
không và ngâm vần kệ thứ ba:
3. Sầu thương vật đ ã chết rồi,
Hỡi người khổ hạnh sống đời độc cư,
Thoát dây tục lụy, xuất gia,
Giờ đây phát bệnh tâm tư buồn phiền!
Nghe lời này, vị khổ hạnh ngâm vần kệ thứ tư:
4. Nếu người bầu bạn thú hiền,
Thưa ngài Ðế Thích ở trên cõi trời,
Buồn phiền vì mất bạn chơi,
Tuôn dòng nước mắt sẽ vơi nỗi sầu!
Thiên chủ Sakka liền ngâm vần kệ khuyến giáo ông.
5. Người đời lắm kẻ ước ao
Mỗi khi vật mất, k êu gào tiếc thương,
Thôi đừng khóc nữa, trí nhân,
Thánh hiền vẫn bảo ho ài công thôi mà.
6. Nếu nhờ nước mắt tuôn ra
Chúng ta có thể vượt qua tử thần,
Thì ta quyết phải hợp quần
Ðể mà cứu mọi vật thân nhất đời!
Nghe lời Thiên chủ nói, vị khổ hạnh nghĩ lại và
được an ủi, b èn lau nước mắt và ngâm các
vần kệ cuối cùng tán thán Thiên chủ:
7. Ví như ngọn lửa sáng ngời
Ðổ thêm bỏ sữa cháy hoài thật cao,
Ðược vòi nước lạnh tưới vào,
Ngài vừa dập tắt nỗi sầu của ta.
8. Lòng ta nhức nhối xót xa
Vì tên sầu não xuyên qua kinh hoàng,
Ngài đ à chữa trị vết thương,
Và ngài hồi phục đời thường cho ta.
9. Mũi t ên vừa được nhổ ra,
L òng ta tràn ngập an hòa vui tươi
Lắng nghe Thiên chủ nhủ lời,
Ta không còn phải chơi vơi khổ sầu.
Các vần kệ này đ ã
được ngâm ở tiền thân Migapotaka, số 372.
Sau khi khuyến giáo vị khổ hạnh, Sakka trở lại cõi của ngài.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, voi con là Sa-di, vị khổ hạnh là Trưởng lão già cả này và
Sakka Thiên chủ chính là Ta.
-ooOoo-
411. Chuyện Vua Susìma (Tiền thân Susìma)#
Tóc ta đen nhánh từ ng ày xưa...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại sự Xuất thế.
T ăng chúng lúc ấy đang ngồi trong Chánh pháp
đường tán thán Ðại sự Xuất thế của đức
Phật. Khi thấy đây l à chủ đề của các vị,
Ng ài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không lạ gì ngày nay ta lại làm Ðại sự Xuất thế và giã
từ thế tục, khi Ta đ ã thực hành các công
hạnh viên mãn (Ba-la-mật) trong hàng tr ăm ng àn
kiếp, mà ngày xưa Ta cũng từ bỏ ngai vàng tại quốc
độ K àsi rộng ba tr ăm
dặm v à làm Ðại sự Xuất thế.
Và vì vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát nhập mẫu thai của
bà vợ vị tế sư hoàng gia. Trong ngày sinh ra ngài, hoàng hậu cũng sinh một
con trai.
Vào ngày lễ đặt t ên, bậc Ðại Sĩ
được gọi l à Nam tử Susìma, và hoàng nam
được đặt t ên Vương tử Brahmadatta.
Vua thấy đôi trẻ c ùng sinh ra một
ngày nên truyền đưa Bồ-tát giao cho nhũ mẫu c ùng
nuôi chung với vương tử. Cả hai trẻ lớn lên tươi
đẹp như các Thi ên tử trên trời.
Cả hai đều học đủ mọi ng ành nghệ
thuật ở Takkasilà và trở về nhà. Vương tử trở thành phó vương, cùng
ăn uống, sống chung với Bồ-tát. Lúc vua cha
băng h à, hoàng tử lên làm vua, ban cho Bồ-tát mọi vinh hiển và phong
chức tế sư hoàng gia.
Một hôm tân vương truyền trang hoàng cả kinh thành, rồi
được tô điểm rực rỡ như Sakka Thi ên chủ,
vua tham dự đám rước quanh kinh th ành,
ngự trên vai vương tượng chẳng khác nào bảo tượng Eràvana của Thiên chủ,
trong niềm tự hào cùng với Bồ-tát ngồi phía sau trên lưng voi. Mẫu hậu nhìn
ra từ cửa sổ trông thấy hoàng nam và chợt thấy vị tế sư sau lưng vua khi
ngài từ đám rước trở về. B à
đâm ra si t ình ngài, liền
đi v ào hậu cung nghĩ thầm: "Nếu ta không
chiếm được ch àng, ta sẽ chết tại
đây". V ì thế bà bỏ
ăn uống v à cứ nằm tại
đó.
Vua không thấy mẹ liền hỏi th ăm, khi nghe b à
bị bệnh, vua đến hỏi thăm v à cung kính
hỏi bà bị bệnh gì. Bà không nói vì hổ thẹn. Vua liền ngự lên ngai, truyền
chánh cung hoàng hậu đi t ìm hiểu xem
thái hậu bị bệnh gì.
Hoàng hậu đến, vừa hỏi thăm, vừa vuốt ve
lưng mẫu hậu. Nữ nhân thường không dấu nhau các chuyện bí mật, v ì thế
chuyện bí mật kia được tiết lộ. Ho àng
hậu liền đi tr ình vua. Vua bảo:
- Ðược rồi, ái khanh đi an ủi mẫu hậu, ta sẽ
tôn vị tế sư l ên làm vua và mẫu hậu lên làm chánh hậu của ngài.
Hoàng hậu liền đến an ủi thái hậu. Vua
truyền mời vị tế sư đến kể lại vấn đề:
- Này Hiền hữu, hãy cứu mạng mẹ ta, khanh sẽ làm vua và mẹ ta sẽ lên làm
chánh hậu, còn ta sẽ làm phó vương.
Vị tế sư đáp:
- Không thể được.
Song cứ bị khẩn cầu mãi, ngài bằng lòng và vua tôn ngài lên làm vua, mẫu
hậu làm chánh hậu và chính mình làm phó vương. Tất cả mọi người
đều sống h òa hợp, song Bồ-tát khô héo
dần giữa cuộc sống tại gia. Ngài từ bỏ mọi dục lạc và hướng về
đời tu h ành.
Chẳng còn màng các lạc thú trần gian, ngài
đi đứng nằm ngồi như t ù nhân bị giam lỏng hay con gà trống trong lòng
son. Chánh hậu suy nghĩ: "Hoàng thượng tránh mặt ta, ngài
đi đứng nằm ngồi một m ình, giờ
đây ng ài vẫn tươi trẻ, còn ta
đ ã già và có tóc bạc. Giả sử ta kể cho
ngài nghe chuyện ngài đ ã có tóc bạc,
khiến cho ngài tin chuyện ấy và đến bầu bạn với
ta chăng?"
Một hôm, làm như thể lau đầu vua, b à
nói:
- Hoàng thượng sắp già rồi đấy, có sợi tóc
bạc tr ên đầu ho àng thượng!
- Hãy nhổ nó ra và đặt v ào tay trẫm.
Hoàng hậu nhổ một sợi tóc, nhưng lại ném nó
đi v à đặt v ào tay ngài một sợi
tóc bạc của bà. Khi thấy nó, nỗi sợ chết khiến mồ hôi
đổ ra chảy xuống trán ng ài, dù vầng trán
bóng láng như một phiến vàng, ngài tự nhủ mình: "Này Susìma, ngươi
đ ã già cỗi ngay tuổi thanh xuân, suốt
bấy lâu nay ngươi chìm sâu vào vũng bùn dục lạc như thể con heo vùng quê lặn
lội trong đầm lầy dơ bẩn, ngươi không thể xa
rời b ùn nhơ được. H ãy rời bỏ tham
dục, và sống đời khổ hạnh ở v ùng Tuyết
Sơn. Nay đ ã
đến thời xuất gia rồi". C ùng với ý tưởng này, ngài ngâm vần kệ
đầu:
1. Tóc ta đen nhánh tự ng ày xưa
Vẫn mọc quanh vần trán của ta,
Bạc trắng giờ đây, lưu ý nhé:
Ðến thời tu tập giã từ nhà.
Như thế Bồ-tát ca tụng đời tu h ành,
nhưng hoàng hậu thấy bà đ ã làm cho ngài
rời bỏ bà chứ không phải yêu thương bà, nên lòng sợ hãi, bà muốn cản trở
ngài sống đời xuất gia, bằng cách ngâm hai vần
kệ ca tụng dung sắc ng ài:
2. Tóc bạc thiếp đây, chẳng phải ch àng,
Từ trên đầu thiếp mới đưa sang,
V ì chàng, thiếp nói điều hư vọng,
Xin lượng thứ cho lỗi thiếp l àm.
3. Trông chàng tươi đẹp, dáng thanh tân
Như một cây non trẻ giữa xuân,
H ãy trị nước nhà, cười với thiếp,
Ðừng tìm việc của tuổi thu đông!
Nhưng Bồ-tát đáp:
- Này hoàng hậu, bà đang nói đến những việc
phải xảy đến: Khi tuổi tác chín muồi, tóc đen n ày phải ngã màu bạc
như vôi, ta thấy sự biến hoại của xác thân theo n ăm
tháng lúc đến tuổi l ão thành, từ công nương cho
đến mọi người khác, d ù có dịu mềm như
tràng hoa sen xanh, sáng đẹp như v àng
ròng, và say sưa với niềm kiêu hãnh về tuổi xuân rực rỡ của mình. Này hoàng
hậu, đó l à kết thúc
đáng sợ của mọi lo ài hữu tình.
Hơn nữa, muốn trình bày chân lý với oai lực của một vị Phật, ngài ngâm
hai vần kệ:
4. Ta thường trông thiếu nữ xuân thì,
Uyển chuyển như cành lả lướt kia,
Kiêu mạn vì hình dung diễm lệ,
Mọi người say ngắm bước chân đi.
5. Cũng chính n àng kia, ta ngắm trông
(Trải qua đ ã tám, chín mươi n ăm)
Run run chân bước, tay cầm gậy,
Thân thể c òng như ngọn liễu rung.
Trong vần kệ này bậc Ðại Sĩ nêu rõ nỗi khổ
đau của dung sắc v à giờ đây ng ài
tuyên bố nỗi bất mãn của ngài với đời tại gia:
6. Những ý tưởng này ta xét luôn,
Tư duy vẫn đến giữa đ êm
đơn,
Ðời người thế tục ta không chuộng,
Ðúng lúc tu hành phải bước chân.
7. Dục lạc trong đời sống thế nhân
L à nơi hèn yếu để nương thân,
Trí nhân cắt đứt, theo đường khác,
Bỏ dục lạc đầy đủ lực h ùng.
Như vậy trong khi tuyên bố các lạc thú lẫn khổ
đau của tham dục, ng ài giảng bày chân lý
với vẻ kỳ diệu của bậc Giác Ngộ, rồi ngài truyền
đi mời thân hữu của ng ài
đến nhận lại vương quốc: ng ài từ giã
vinh quang và quyền lực giữa tiếng than khóc vang rền của thân bằng quyến
thuộc, rồi trở thành bậc hiền nhân khổ hạnh ở vùng Tuyết Sơn, và về sau
chứng đắc Thi ên
định, ng ài
được tái sinh l ên cõi Phạm thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật và
đem lại nguồn nước bất tử cho nhiều người, rồi
Ng ài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, chánh hậu là mẫu thân Ràhula, vua là Ánanda và vua Susìma
chính là Ta.
-ooOoo-
412. Chuyện Thần Cây Bông Vải (Tiền thân Kotisimbalì)#
Ta mang thân xác của xà vương...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc khiển trách
lỗi lầm. Hoàn cảnh đưa đến chuyện n ày sẽ
xuất hiện trong tiền thân Pannna (không tìm
được).
Vào dịp này Bậc Ðạo Sư nhận thấy n ăm trăm
Tỷ-kheo sống trong Tinh xá tr ên Con Ðường Lát Vàng (Kỳ Viên)
đang bị dục tưởng chi phối, liền tập hợp Tăng
chúng lại v à bảo:
- Này các Tỷ-kheo, cần phải hoài nghi nơi nào
đáng ho ài nghi, lỗi lầm vây phủ con
người như rễ cây đa hay những cây tương tự mọc
quanh các cây khác. Cũng vậy, ng ày xưa một vị thần trú trên
đỉnh cây bông vải thấy một con chim thả phân có
các hột cây đa nằm giữa các c ành cây bông vải, sinh lòng lo sợ rằng
nơi trú ẩn của mình sẽ bị tàn phá vì chúng.
Và do vậy Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là Thần cây trú
trên ngọn cây bông vải. Một chúa chim thần cánh vàng, Kim sí
điểu vương, biến h ình dài một tr ăm
năm mươi dặm, rồi rẽ nước đại dương bằng trận cuồng phong do đôi cánh đập
mạnh, nó chụp lấy đuôi một vua rắn thần N àga dài một ngàn trượng,
khiến cho xà vương phải nhả hết mọi vật đ ã
ngậm trong miệng, xong nó liền bay lên theo các ngọn cây về phía cây bông
vải.
Xà vương suy nghĩ: "Ta sẽ làm cho nó thả ta ra
để ta đi". V ì vậy rắn thành dán sát
đầu v ào cây
đa v à quấn quanh cây thật chặt. Do sức mạnh của chú chim thần và thân
xác khổng lồ của xà vương, cây đa bị bật gốc.
Song x à vương vẫn không rời cây đa. Chúa
chim thần mang cả x à vương lẫn cây đa
đến cây bông vải kia, đặt rắn thần l ên thân cây, mổ bụng ra
ăn thịt mỡ. Sau đó nó ném xác rắn xuống biển.
Bấy giờ trên cây đa có con chim nhỏ bay l ên
khi cây đa bị ném bỏ, rồi đậu tr ên một
cành cây cao gần cây bông vải. Thấy con chim, Thần cây liền run rẩy toàn
thân vì sợ hãi, và suy nghĩ: "Con chim này sẽ thả phân nó rơi trên thân ta,
rồi một cây đa hay cây sung sẽ mọc l ên
và lan tràn khắp thân cây, thế là nơi trú ẩn của ta sẽ bị phá hoại". Lúc ấy
cây bông vải rung chuyển tận gốc vì cơn kinh hãi của Thần cây. Kim sí
điểu vương thấy cây rung chuyển như vầy, liền
ngâm đôi vần kệ hỏi lý do:
1. Ta mang thân xác của xà vương
Cùng với thân ta lớn dị thường,
Thân rắn kia dài ngàn trượng chẵn,
Song cây không chuyển động kinh ho àng.
2. Nay mang chim nhỏ bé ti ti
So với ta đây chẳng sá chi,
Cây lại run ho ài vì sợ hãi,
Hỡi cây bông vải, lý do gì?
Sau đó Thần cây ngâm bốn vần kệ giải thích
lý do:
3. Thịt mỡ ngài xơi, hỡi Ðiểu vương,
Trái cây là thức của chim muông,
Hạt đa, sung, với bồ-đề nữa,
Nếu mọc, to àn thân ta chết luôn!
4. Hạt ấy về sau sẽ mọc cây,
Rồi che phủ cả hết thân này,
Ta không còn có cây nào nữa
Vì bị chúng che kín phủ đầy.
5. Một khi cây đ ã lớn lên nhanh,
Rễ mạnh quanh thân, rậm rạp cành,
Chứng tỏ hạt do chim tích trữ
Mang mầm hủy hoại đến cho m ình.
6. Loại cây mọc bám sẽ chôn thây
Ngay cả cây rừng vĩ đại n ày,
Vì vậy, Ðiểu vương, ta rúng động
Khi ta lo sợ thấy như vầy.
Nghe lời thần cây, điểu vương ngâm vần kệ
cuối c ùng:
7. Phải kinh hãi việc đáng kinh ho àng,
Hiểm họa đến thân phải hộ ph òng,
Bậc trí lặng nhìn hai thế giới,
Nếu gây kinh hãi, phải rời chân.
Nói vậy xong, điểu vương d ùng sức
mạnh đẩy con chim nhỏ ra khỏi cây ấy.
*
Sau Pháp thoại, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật bắt
đầu bằng những lời: "Cần phải ho ài nghi
nơi nào đáng ho ài nghi". Khi các Sự thật
kết thúc, n ăm trăm vị Tỷ-kheo được an trú v ào
Thánh quả (A-la-hán).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, Sàriputta là Ðiểu vương và Ta chính là Thần cây.
-ooOoo-
413. Chuyện Người Ch ăn#
D ê Dhùmakàri (Tiền thân Dhùmakàri)
Một hôm minh đế Yu-dhi-la...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về
đặc ân của Ðại vương Kosala
đối với một người khách lạ.
Chuyện kể rằng có thời vua không dành đặc ân
cho các v õ tướng cũ vẫn đến chầu vua như
thường lệ, m à lại ban vinh dự và tỏ lòng hiếu khách
đối với những người mới yết kiến lần đầu. Thời
ấy vua đi chinh chiến ở một tỉnh bi ên
địa bị quấy phá. Nhưng các v õ tướng cũ của vua không muốn giao chiến
vì nghĩ rằng những võ tướng mới được hưởng đặc
ân sẽ chiến đấu v à đám người mới n ày
cũng không muốn chiến đấu v ì nghĩ rằng
những vị tướng cũ sẽ làm việc ấy. Do vậy quân phiến loạn thắng trận.
Vua biết thất bại của mình là do sai lầm mình
đ ã mắc phải khi ban ân huệ cho bọn người
mới, liền trở về thành Xá-vệ. Vua quyết định
hỏi đức Thế Tôn Ðại Trí xem mình có phải là ông vua duy nhất chịu
thất bại vì lý do kia ch ăng. Bậc Ðạo Sư
đáp:
- Thưa Ðại vương, Ðại vương không phải là trường hợp duy nhất, vua chúa
ngày xưa cũng bị bại trận vì đ ã ban
đặc ân cho đám người mới.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa tại thành Indapattana, ở quốc độ
Kuru, có vị vua ngự trị mệnh danh l à Dhananjaya, thuộc dòng họ
Yudhithila. Bồ-tát được sinh v ào gia
đ ình vị tế sư của vua. Khi lớn lên, ngài
học tập mọi nghệ thuật ở Takkasilà. Sau ngài trở về Indapattana và khi thân
phụ từ trần, ngài trở thành vị tế sư hoàng gia kiêm cố vấn của vua về thế sự
cũng như thánh sự. Danh hiệu của ngài là bậc Trí nhân Vidhùra.
Vua Dhananjaya coi thường các võ tướng cũ của mình và ban
đặc ân cho các người mới. Sau đó vua đi chinh
chiến ở một tỉnh bi ên thùy có loạn; nhưng cả
đám v õ tướng cũ lẫn võ tướng mới
đều không muốn giao chiến, mỗi phe đều nghĩ
rằng phe kia sẽ chăm lo việc ấy. Do đó vua bại trận.
Khi trở về Indàpattana, vua nhận xét rằng sự thất bại ấy là do
đặc ân m à mình
đ ã dành cho
đám người mới. Một hôm vua suy nghĩ: "Có phải ta l à vị vua duy nhất
từng bại trận vì ban ân huệ cho đám người mới,
hay cũng có nhiều kẻ khác c ùng chung số phận này trước kia? Ta muốn
hỏi bậc Trí nhân Vidhùra". Vì thế vua đưa lời
chất vấn Trí nhân Vidh ùra khi ngài đến
yết kiến vua tại triều đ ình.
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ nêu rõ lý do lới chất vấn của vua:
1. Một hôm minh đế Yu-dhi-la,
Hỏi bậc Trí nhân Vi-dh ù-ra:
"Hiền hữu Bà-la-môn có biết
Tim ai sầu thống thiết hơn ta?"
*
Nghe vậy, Bồ-tát đáp:
- Tâu Ðại vương, nỗi sầu của ngài chỉ là
điều nhỏ nhặt. Ng ày xưa, một Bà-la-môn ch ăn
d ê tên gọi Dhùmakàri nuôi một đ àn
dê lớn, và làm chuồng cho chúng ở trong rừng. Vị ấy
đốt lửa xông khói v à sống bằng sữa dê
tại đó để chăm sóc đ àn dê.
Khi thấy một bầy nai da vàng óng ả chợt đến,
ông lại sinh l òng thương mến chúng và xao lãng bầy dê, ông tỏ hết
lòng quý trọng bầy nai. Vào mùa thu, bầy nai lại di chuyển về vùng Tuyết
Sơn. Trong lúc bầy dê chết dần như thế, bầy nai cũng khuất dạng sau rặng
núi. Do quá khổ não, ông mắc bệnh xanh xao võ vàng và từ trần. Ông
đ ã bày tỏ
đặc ân với đám nai mới v à phải chết vì chịu buồn khổ thống thiết hơn
Ðại vương cả tr ăm ng àn lần.
Ngài liền ngâm vần kệ nêu rõ trường hợp này:
2. Bà-la-môn có một bầy dê,
Dòng họ Va-si sang trọng kia,
Ðốt lửa ngày đ êm luôn bốc khói,
Sống đời an lạc chốn sơn kh ê.
3. Ngửi mùi khói bốc, một bầy nai
Do bị nhặng đeo quấy rối ho ài,
Tìm chỗ trú khi mưa gió đến,
Gần nh à mục tử Dhu-ma-kai.
4. Bầy nai giờ được mọi y êu thương,
Dê chẳng được ai thiết ngó ng àng,
Ði lại tự do không bảo hộ,
Cho nên chúng phải bị suy tàn.
5. Song nay nhặng đ ã bỏ khu rừng,
Thu đến, m ùa mưa chấm dứt luôn,
Nai phải đi t ìm bao
đỉnh núi,
C ùng khe suối chảy ở trên nguồn.
6. Mục tử thấy nai đ ã bỏ
đi,
Cả bầy d ê cũng chết nằm kia,
Bệnh sầu não đến l àm mòn mỏi
Da dẻ ngày thêm một tái tê.
7. Vậy người nào bỏ mặc thân bằng,
Lại gọi người xa lạ thân thiết
Như lão Dhu-ma-kai mục tử,
Một mình, dòng lệ đắng cay tuôn.
Ðấy là câu chuyện do bậc Ðại Sĩ kể lại để an
ủi vua. Vua được an ủi, l òng rất hoan hỷ liền ban tặng ngài nhiều
châu báu. Từ đó trở đi, vua b ày tỏ ân
sủng đối với to àn dân, làm nhiều thiện
sự công đức n ên
được sinh l ên cõi Thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vua xứ Kuru là Ànanda, Bà-la-môn Dhùmakàri là vua Pasenadi
(Ba-tư-nặc), nước Kosala, và bậc Trí nhân Vidhùra là Ta.
-ooOoo-
414. Chuyện Người Tỉnh Thức (Tiền thân Jàgara)#
Ai thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một cư sĩ. Ðó là
một đệ tử đ ã
đắc Nhập lưu Ðạo.
Một hôm ông khởi hành từ Xá-vệ cùng với một
đo àn xe đi theo đường rừng. Ðến
một nơi có cảnh đẹp v à nước chảy, người
trưởng đo àn buộc xe ngựa lại, sửa soạn
thức ăn đủ loại cứng mềm v à tạm ở lại
đó. Mọi người nằm xuống ngủ rải rác khắp nơi. C òn
vị cư sĩ cứ đi v òng quanh gốc thân cây
cạnh người trưởng đo àn. Lúc ấy n ăm
trăm t ên cướp dự định cướp đo àn
xe. Cầm đủ mọi khí giới trong tay, chúng bao
vây đo àn xe và chờ đợi. Khi thấy người
cư sĩ đang đi dạo, chúng đứng đợi để bắt đầu đánh phá lúc ông đi ngủ. Nhưng
ông cứ đi lại suốt đ êm. Ðến tảng sáng, bọn cướp ném vũ khí cùng gậy
đá chúng đ ã lượm, rồi bỏ
đi v à bảo:
- Này ông trưởng đo àn lữ khách, ông
làm chủ tài sản này vì ông đ ã
được cứu mạng nhờ người kia tỉnh thức thật tinh
chuy ên: Ông cần phải suy tôn ông ấy.
Mọi lữ khách thức dậy đúng giờ, thấy đám khí
giới gậy đá do bọn cướp ném bỏ, liền b ày tỏ lòng cung kính, biết ơn
vị cư sĩ vì hiểu rằng họ sống được l à
nhờ ông.
Vị cư sĩ ấy đến nơi đ ã
định, l àm công việc xong, trở về Xá-vệ
và đến Kỳ Vi ên: tại
đó ông đến yết kiến v à
đảnh lễ đức Như Lai cung kính v à ngồi
dưới chân Ngài, rồi do lời Ngài yêu cầu, ông kể mọi chuyện cũ. Bậc Ðạo Sư
bảo:
- Này cư sĩ, không phải chỉ riêng ông tạo
được công đức đặc biệt lớn nhờ tỉnh thức v à hộ phòng, mà các bậc trí
ngày xưa cũng đ ã làm như vậy.
Và theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ. Ngài kể một chuyện
đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh v ào một gia
đ ình Bà-la-môn . Khi lớn lên ngài học
tập đủ mọi nghệ thuật ở Takkasil à và trở
về nhà sống đời gia chủ.
Sau một thời gian, ngài rời bỏ nhà và trở thành ẩn sĩ. Chẳng bao lâu ngài
đắc các Thiền chứng v à sống tại vùng
Tuyết Sơn, ngài chuyên tâm đi v à
đứng, ng ài chỉ kinh hành suốt
đ êm chứ không ngủ.
Một vị Thần cây ở cuối lối đi của ng ài
hoan hỷ nhìn thấy ngài như vậy và ngâm vần kệ
đầu:
1. Ai thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ?
Ai ngủ khi bao người khác dậy rồi?
Ai l à người hiểu câu đố của tôi?
Ai có thể giải đáp tôi điều đó?
Bồ-tát nghe lời vị Thần cây, liền ngâm vần kệ này:
2. Ta thức tỉnh khi nhiều người đang ngủ,
Ta ngủ khi bao người khác dậy rồi,
Ta l à người hiểu câu đố của ng ài,
Ta có thể giải đáp ng ài
điều đó.
Vị Thần cây ngâm vần kệ hỏi lại câu này:
3. Sao ngài thức khi nhiều người đang ngủ?
V à ngủ khi bao kẻ khác dậy rồi?
Làm sao ngài hiểu câu đố của tôi?
V à giải đáp điều n ày ngay lập
tức?
Bồ-tát giải thích vấn đề n ày:
4. Có nhiều kẻ vẫn quên rằng giới đức
Nằm ở trong sự tiết dục điều thân,
Vậy bao người đang ngủ giấc mơ m àng,
Còn ta thức, hỡi Thần cây cổ thụ.
5. Tham, sân, si của số người nào đó
Ðã không còn hiện hữu ở trong lòng,
Vậy các người kia đ ã tỉnh giấc nồng,
Ta còn ngủ, hỡi Thần cây cổ thụ!
6. Vậy ta thức khi nhiều người đang ngủ,
V à ngủ khi bao kẻ khác tỉnh rồi,
Vậy là ta hiểu câu đố của ng ài,
Và giải đáp lại lời ng ài rồi
đó.
Khi Bậc Ðại Sĩ đ ã giải
đáp lời n ày, vị Thần rất hoan hỷ và ngâm
vần kệ tán thán:
7. Lành thay ngài tỉnh thức khi người ngủ,
Và ngủ khi bao người khác tỉnh rồi!
Lành thay ngài hiểu câu đố của tôi,
Lời giải đáp của ng ài bao tốt đẹp!
Như vậy sau khi tán thán Bồ-tát, vị Thần cây trở vào nơi an trú của mình
trên cây.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vị thần cây là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) và nhà khổ hạnh
chính là Ta.
-ooOoo-
415. Chuyện Phần Cháo Cúng Dường (Tiền thân Kummasàpinda)#
Cúng dường chư Phật quý cao thay...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Hoàng hậu Mallikà
(Mạt-lợi).
Nàng nguyên là con gái của vị trưởng nghiệp
đo àn bán vòng hoa, cực kỳ diễm lệ và hiền thục. Khi nàng
được mười sáu tuổi, trong lúc đi đến vườn hoa c ùng
các thiếu nữ khác, nàng mang theo ba phần cháo sữa chua trong giỏ hoa. Khi
nàng rời thành phố, nàng trông thấy đức Thế Tôn
v ào thành, tỏa hào quang rực rỡ và được
Tăng chúng vây quanh, n àng đem cúng
dường Ng ài ba phần cháo ấy.
Bậc Ðạo Sư đưa bát của ng ài ra nhận
cháo. Nàng đảnh lễ chân đức Như Lai v à
lấy niềm hoan hỷ ấy làm chủ đề Thiền quán, n àng
đứng sang một b ên. Bậc Ðạo Sư mỉm cười,
nhìn nàng. Tôn giả Ànanda tự hỏi tại sao đức
Như Lai mỉm cười v à hỏi Ngài vấn đề n ày.
Bậc Ðạo Sư nói lý do:
- Này Ànanda, cô gái này hôm nay sẽ trở thành chánh hậu của vua Kosala do
phước báo ba phần cháo này.
Còn cô gái tiếp tục bước đến vườn hoa. Ngay
chính hôm ấy vua Kosala giao chiến với vua Aj àtasattu (A-xà-thế) và
thất bại phải đ ào tẩu. Trong khi
đang đi ngựa, vua nghe tiếng n àng hát
rất hấp dẫn liền thúc ngựa vào khu vườn. Công
đức của cô gái đ ã đến thời chín muồi, v ì
thế khi thấy vua, nàng không chạy trốn mà đi
đến cầm lấy dây cương nơi mũi ngựa. Vua ngồi tr ên lưng ngựa hỏi nàng
đ ã có chồng chưa. Khi nghe nàng
đáp chưa, ông xuống ngựa v à
đang mệt mỏi v ì nắng gió, ông nằm nghĩ
chốc lát trên đ ùi nàng. Sau
đó ông đưa n àng lên ngựa, cùng
đạo quân h ùng hậu
đi v ào thành,
đưa n àng
đến tận nh à riêng.
Chiều hôm ấy vua phái một vương xa trong cảnh vô cùng vinh quang lộng lẫy
đến rước n àng từ nhà nàng về
đặt l ên một bảo tọa
đầy châu báu, l àm lễ quán
đảnh (rảy nước thánh l ên
đầu) cho n àng và phong nàng làm chánh
hậu. Từ đó trở đi, n àng trở thành hoàng
hậu thân thiết tận tụy được vua sủng ái, n àng
có đầy đủ năm vẻ y êu kiều của nữ nhi,
lại có đủ đám nô tỳ trung th ành và nàng
lại là một tín nữ được nhiều hồng ân của chư
Phật. Cả kinh th ành loan tin rằng nàng
được mọi vinh hoa ấy l à vì nàng cúng dường Bậc Ðạo Sư ba phần cháo.
Một hôm T ăng chúng bắt đầu thảo luận trong
Chánh pháp đường:
- Này các Hiền giả, Hoàng hậu Mallikà cúng dường
đức Phật ba phần cháo, v à do phước báo
này, ngay chính hôm ấy bà được l àm lễ
quán đảnh phong ngôi ho àng hậu: Công
đức chư Phật thật vĩ đại dường n ào.
Bậc Ðạo Sư bước vào, hỏi chuyện và khi được
biết đề t ài thảo luận của T ăng chúng, Ng ài
bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không lạ gì nàng Mallikà trở thành chánh hậu của vua
Kosala nhờ cúng dường đức Phật Chánh
Ðẳng Giác ba phần cháo mà thôi, vì cớ sao? Ðó là nhờ
đại hồng ân của chư Phật: Các trí nhân ng ày
xưa cúng dường các vị Ðộc Giác Phật cháo không có muối hay dầu nữa, song nhờ
thế trong đời sau đạt được vinh quang của đế
vương tại K àsi rộng ba tr ăm dặm.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh v ào một nhà nghèo. Khi lớn lên
ngài tìm kế sinh nhai bằng cách làm công cho một nhà giàu. Một hôm ngài mua
bốn phần cháo ở cửa tiệm và suy nghĩ: "Cái này vừa
đủ để ta ăn sáng". Rồi ng ài ra làm việc
ngoài đồng. Khi thấy bốn vị Ðộc Giác
Phật đang v ào Ba-la-nại khất thực, ngài
suy nghĩ: "Ta có bốn phần cháo này, giả sử ta
đem cúng dường các vị đang đến Ba-la-nại khất thực?". V ì thế ngài
đi đến đảnh lễ các vị v à nói:
- Thưa các tôn giả, con hiện đang cầm bốn
phần cháo, con xin cúng dường các vị, mong các vị nhận lấy để cho con được
phước đức đem lại an lạc lâu d ài về sau.
Thấy các vị nhận lời, ngài liền rải cát và sắp
đặt bốn chỗ ngồi, đặt các c ành khô lên
đó v à mời chư vị Ðộc Giác Phật ngồi theo
thứ tự. Ngài lấy rổ lá đem nước đến, rót nước
cúng dường, v à đặt bốn phần cháo v ào
bốn bình bát vừa đảnh lễ cung kính vừa thưa:
- Thưa các tôn giả, ước mong nhờ phước báo này con sẽ không sinh vào nhà
nghèo nữa, ước mong đây sẽ l àm nhân
duyên cho con đắc quả vị Chánh Giác.
Các vị Ðộc Giác Phật dùng cháo xong, nói lời tùy hỷ công
đức v à trở về
động Nandam ùla. Khi kính chào các vị,
Bồ-tát cảm thấy niềm hoan hỷ được tiếp xúc các
Ðộc Giác Phật, và sau khi các vị đ ã
khuất dạng, ngài đ ã
đi l àm công việc, ngài vẫn nhớ các vị
mãi cho đến lúc mạng chung. Nhờ phước báo n ày,
ngài tái sinh vào mẫu thai của chánh hậu thành Ba-la-nại. Ngài
được đặt t ên Vương tử Brahmadatta.
Từ lúc mới biết đi chập chững, nhờ năng lực
nhớ lại những việc l àm trong đời trước,
ng ài thấy rõ như thể soi bóng mình vào tấm gương sáng, rằng ngài tái
sinh vào hoàn cảnh này do ngài đ ã cúng
dường bốn phần cháo lên các vị Ðộc Giác Phật khi ngài là một tôi tớ
đi l àm thuê tại chính kinh thành này.
Khi lớn lên, ngài học tập mọi môn nghệ thuật ở Takkasilà. Khi ngài trở về
nhà, vua cha vô cùng hoan hỷ về các thành tựu của ngài nên phong ngài làm
phó vương. Sau đó khi vua cha băng h à,
ngài lên ngự trị quốc độ. Rồi kết hôn với công
chúa tuyệt sắc của vua Kosala v à phong nàng ngôi chánh hậu.
Vào ngày đại hội giương chiếc Lọng trắng che
l ên ngài, quần thần trang hoàng kinh thành như thể một kinh thành
thiên giới. Ngài dự đám rước quanh th ành
phố rồi ngự lên thượng lầu được trang ho àng
lộng lẫy, sau đó bước đến đ ài cao an tọa
trên ngai vàng có lọng trắng giương phía trên.
Khi ngồi đó, ng ài nhìn xuống nhìn
thần dân đang đứng chầu, một phía l à
triều thần, phía kia là các Bà-la-môn và gia chủ sáng rực trong vẻ
đẹp muôn m àu sắc, một phía khác nữa là
quần chúng cầm tặng vật đủ loại trong tay, kế
đến l à đo àn nữ nhạc vũ công gồm
cả mười sáu ngàn nàng chẳng khác đo àn
tiên tụ tập đông đủ tr ên Thiên
đ ình.
Nhìn mọi vẻ huy hoàng làm say mê lòng người như thế, ngài nhớ lại
đời trước của m ình và suy nghĩ: "Chiếc
lọng trắng kết tràng hoa bằng vàng và chân trụ bằng vàng khối này, bằng ngàn
con voi và cỗ xe này, và cả lãnh thổ rộng lớn của ta
đầy ngọc v àng châu báu, tài sản, mễ cốc
đủ loại, các nữ nhân như ti ên nữ trên
trời, mọi cảnh vinh quang này đều thuộc ri êng
về phần ta thôi, đó l à do công
đức cúng dường bốn vị Ðộc Giác Phật bốn
phần cháo: Ta hưởng được tất cả mọi sự n ày
nhờ đó".
Như vậy trong khi nhớ lại hồng ân của chư Ðộc Giác Phật, rõ ràng ngài
đ ã tuyên dương công
đức của ng ài trong
đời trước. Ý tưởng ấy l àm toàn thân ngài
tràn ngập hoan lạc. Niềm hoan lạc thấm tận tâm can khiến ngài ngâm vang hai
vần kệ đầy cảm hứng ngay giữa quần thần:
1. Cúng dường chư Phật quý cao thay,
Người bảo đừng xem rẻ việc n ày,
Ðem tặng cháo dù không có muối
Cho ta phước báo lớn như vầy.
2. Ngựa, voi cùng với đám trâu b ò,
Vàng, bạc, thóc ngô, cả nước nhà,
Ðám mỹ nữ hình dung yểu điệu,
Cúng dường đem quả đến tay ta.
Như vậy trong niềm hỷ lạc, Bồ-tát ngâm khúc hoan ca gồm hai vần kệ nhân
ngày lễ giương chiếc Lọng trắng. Từ đó về sau,
chúng được xem l à khúc ca được quốc
vương ái mộ v à mọi người đều hát điệu
ấy, từ các vũ nữ, vũ công, nhạc sĩ, cung nhân, thị vệ, cho đến dân chúng v à
ngay cả đám quần thần trong triều.
Sau một thời gian, chánh hậu mong muốn biết ý nghĩa bài hát, song bà
không dám hỏi bậc Ðại Sĩ. Một hôm nhà vua đẹp ý
v ì một đức tính của b à, liền
phán:
- Này ái hậu, ta muốn ban cho nàng một điều
ước, h ãy nhận đặc ân ấy.
- Tâu hoàng thượng, tốt lành thay thiếp xin nhận
đặc ân ấy.
- Ái hậu muốn ta ban gì, voi ngựa hay thứ nào khác?
- Tâu hoàng thượng, nhờ ân sủng của hoàng thượng, thiếp không thiếu gì
cả, thiếp không cần các thứ ấy. Song nếu hoàng thương ban cho thiếp một
đặc ân, xin h ãy nói cho thiếp biết ý
nghĩa khúc ca của ngài.
- Này ái hậu, nàng cần gì đặc ân ấy? H ãy
nhận thứ khác đi.
- Tâu hoàng thượng, thiếp không cần một thứ nào khác cả. Ðó là
đặc ân thiếp muốn nhận.
- Ðược rồi, này ái hậu, ta sẽ nói điều ấy,
nhưng không phải đó l à điều bí mật nói
ri êng với nàng, mà ta muốn gióng tiếng trống khắp kinh thành
Ba-la-nại rộng mười hai dặm này, ta muốn dựng ngôi
đ ình bằng ngọc ngay tại cung môn và
đặt một chiếc ngai bằng ngọc tại đó, rồi ta sẽ
ngồi đó giữa quần thần, B à-la-môn, cùng mọi người khác gồm cả mười
sáu ngàn nữ nhân, và kể chuyện ấy.
Bà tuân lệnh. Vua truyền làm mọi việc như trên, rồi ngự lên ngai giữa
đại chúng như Sakka Thi ên chủ giữa chư
Thiên. Hoàng hậu phục sức đủ mọi thứ nữ trang
ngọc v àng, đặt một kim đôn, ngồi b ên
cạnh ở một vị trí thích hợp, rồi đưa mắt nh ìn
vua, bà thưa:
- Tâu hoàng thượng, xin hãy giảng giải cho thiếp biết ý nghĩa khúc hoan
ca mà ngài thường hát trong niềm hỷ lạc, như thể làm cho mặt tr ăng
xuất hiện tr ên bầu trời.
Rồi bà ngâm vần kệ thứ ba:
3. Hoàng thượng đầy vinh hiển, chánh chân,
Khúc ca ng ài hát đ ã bao lần,
Trong niềm hoan lạc đầy tâm trí,
Cho thiếp đặc ân biết ngọn nguồn.
Bậc Ðại Sĩ ngâm bốn vần kệ nêu rõ ý nghĩa khúc ca:
4. Chính tại thành này, kiếp trước đây,
Ở trong ho àn cảnh khác ngày nay,
Ta là tôi tớ cho người khác,
Làm mướn, song đức hạnh thẳng ngay.
5. Một hôm rời tỉnh để l àm công,
Bốn Ðạo Sư kia, ta chợt trông
Dáng điệu ly tham v à tĩnh lặng,
Thiện toàn trong Giới luật tu thân.
6. Tư tưởng ta quy ngưỡng Phật- đ à,
Khi chư vị nghỉ dưới cây già,
Chấp tay đảnh lễ, ta đem đến
Th ành kính cúng dường món cháo hoa.
7. Thiện nghiệp tạo nên phước đức d ày,
Quả thành ta gặt được giờ đây:
Vinh hoa phú quý đời vương giả,
Quốc độ do ta cai trị n ày.
Khi hoàng hậu nghe bậc Ðại Sĩ giảng giải đầy
đủ th ành quả của thiện nghiệp ngài, bà hân hoan
đáp:
- Tâu Ðại vương, nếu ngài nhận thấy rõ các thành quả của bố thí như vậy,
từ nay về sau xin ngài nhận một phần cơm và
đừng ăn cho đến khi n ào chính ngài đ ã
cúng dường thực phẩm lên các vị Sa-môn Bà-la-môn chân chánh.
Rồi hoàng hậu ngâm vần kệ tán thán Bồ-tát:
8. Hãy ăn, khi nhớ cúng dường rồi,
Chuyển bánh xe chân chánh khắp nơi:
Ho àng thượng tránh xa điều bất chánh,
Cầm quyền chân chánh nước non ng ài.
Bậc Ðạo Sĩ ngâm vần kệ chấp nhận lời hoàng hậu:
9. Ta vẫn tạo riêng một lối đường,
Bước theo đạo lộ chánh chân luôn,
Nơi người hiền thiện thường đi đến,
Ðẹp mắt ta nhìn các Thánh nhân.
Sau khi nói xong, ngài nhìn dung sắc Hoàng hậu và bảo:
- Này mỹ hậu, ta đ ã kẻ
đủ mọi thiện nghiệp ta l àm
đời trước, song giữa đám nữ nhân n ày
không ai sánh kịp nàng về dung sắc và vẻ kiều diễm khả ái.
Rồi ngài ngâm vần kệ:
10. Ái hậu như tiên nữ cõi trời,
Trông nàng rực rỡ vượt bao người,
Vậy nhờ thiện nghiệp nào đưa đến
Phước báo dung quang quá tuyệt vời?
Sau đó ho àng hậu ngâm vần kệ nêu
phước nghiệp đ ã tạo trong kiếp quá khứ:
11. Thiếp vốn nô tỳ một quý nương
Ở hoàng cung của Am-ba-vương,
Thiếp chuyên tâm thực hành khiêm tốn,
Ðức hạnh và tu tập thiện ngôn.
12. Rồi một ngày kia thiếp cúng dường
Phần cơm vào bát một Sa-môn,
Tâm tư thiếp ngập tràn từ ái,
Nghiệp ấy quả này, tâu Ðại vương!
Theo đây, ho àng hậu cũng biết chính
xác và kể lại đời trước của m ình.
Như vậy cả hai vị đ ã công bố các
nghiệp quá khứ xong, từ ngày ấy hai vị truyền lệnh xây sáu bố thí
đường tại bốn cổng th ành, giữa kinh
thành và tại cung môn, rồi để khích lệ to àn
cõi Diêm-phù- đề (Ấn Ðộ), hai vị thực
hành đại bố thí, giữ các giáo đức v à các
ngày trai giới, nên lúc mạng chung được tái
sinh c õi thiên.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, hoàng hậu là mẫu thân Ràhula và vua chính là Ta.
-ooOoo-
416. Chuyện Cận Thần Parantapa (Tiền thân Parantapa)#
Lo sợ kinh hoàng trong trí ta...,
Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về âm mưu của Tỷ-kheo
Devadatta định giết Ng ài.
T ăng chúng b àn luận tại Chánh pháp
đường:
- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo Devadatta dự
định giết đức Như Lai, vị ấy đ ã thuê bọn xạ thủ, ném
đá tr ên núi xuống, thả voi say Nàgàgiri
và dùng nhiều phương tiện diệt đức Như Lai.
Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi đề t ài thảo
luận của các vị lúc ngồi đây. Khi các vị tr ình
bày xong, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu
các kẻ ấy dự định mưu sát ta. Song kẻ ấy không đủ khả năng thậm chí l àm
ta lo sợ, mà chỉ tạo khổ đau cho bản thân m ình
thôi.
Và do vậy Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh l àm vương tử của chánh hậu.
Khi lớn lên, ngài học tập đủ mọi nghệ thuật ở
Takkasil à và biết được thần chú hiểu
tiếng k êu của súa vật. Sau khi lời thầy dạy
đầy đủ, ng ài trở về Ba-la-nại. Phụ vương
phong ngài chức phó vương, nhưng dù vua đ ã
làm như vậy, vua lại mong mỏi giết hại ngài và thậm chí không muốn nhìn thấy
ngài nữa.
Thời ấy, một chó rừng cái đem hai chó con v ào
kinh thành theo một đường cống ban đ êm,
lúc mọi người đều nghỉ ngơi. Trong cung của Bồ
Tát cạnh tư thất ng ài, có c ăn ph òng
dành cho một người khách, kẻ ấy đ ã cởi
giầy ra và đặt tr ên sàn nhà bên chân
mình rồi nằm trên tấm ván, nhưng chưa ngủ.
Bầy chó con đói v à kêu khóc. Mẹ chúng
bảo theo giọng chó rừng:
- Này các con đừng l àm ồn, có một
người trong phòng kia, có một người trong phòng kia
đ ã cởi giầy ra và
đặt tr ên sàn nhà. Ông ta
đang nằm tr ên tấm ván nhưng chưa ngủ.
Khi ông ta ngủ rồi, mẹ sẽ đến lấy đôi giầy cho
các con ăn.
Nhờ thần chú, Bồ-tát hiểu tiếng chó rừng và rời phòng mình, mở cửa sổ
gọi:
- Ai ở trên đó?
- Tâu Ðiện hạ, thần là một lữ khách.
- Thế giày của ông đâu?
- Tâu, ở trên sàn.
- Hãy lấy giày treo lên.
Nghe lời này, chó mẹ nổi giận với Bồ-tát. Một hôm nó lại vào thành theo
cách trên. Hôm ấy có kẻ say rượu bước xuống nước trong một hồ sen, rồi té
vào đó chết ch ìm. Kẻ ấy có hai chiếc áo
đang mặc tr ên người, một ngàn
đồng tiền để ở áo trong v à một chiếc
nhẫn trên ngón tay.
Bầy chó con lại kêu khóc đ òi
ăn. Mẹ chúng bảo:
- Im đi các con, có một người chết trong hồ
sen n ày, ông ta có nhiều của cải như vậy mà
đang nằm trong hồ sen, mẹ sẽ cho các con ăn
thịt ông ta.
Bồ-tát nghe tiếng chó, mở cửa sổ ra hỏi:
- Ai trong phòng kia?
Một người thức dậy thưa:
- Chính tiểu thần.
- Hãy đi lấy bộ áo, ng àn
đồng tiền v à chiếc nhẫn trên người
đang nằm chết ở hồ sen đằng kia v à làm
cho xác chìm xuống để nó khỏi nổi l ên
mặt nước.
Người kia tuân lệnh làm theo. Chó rừng liền tức giận ngài:
- Hôm trước ngài cản trở các con tôi ăn đôi
gi ày, hôm nay ngài lại cản chúng tôi ăn
xác chết. Ðược lắm, vào ngày thứ ba kể từ
đây, một địch vương sẽ đến bao vây kinh th ành,
phụ vương ngài sẽ truyền ngài ra trận, họ sẽ chặt
đầu ng ài. Tôi sẽ uống máu từ cổ ngài cho
hả giận: ngài tự biến mình thành kẻ thù của tôi, vậy tôi quyết chí trả thù.
Như vậy chó cái vừa sủa vừa nhục mạ Bồ-tát. Rồi nó
đem các con đi.
Vào ngày thứ ba, vị địch vương đến bao vây
kinh th ành. Vua bảo Bồ-tát:
- Này con thân yêu, hãy ra trận.
- Tâu phụ vương, con đ ã thấy trước
một điềm báo hiệu. Con không thể đi v ì
sợ rằng con sẽ mất mạng.
- Ngươi sống chết có nghĩa gì đối với ta?
Ði ngay!
Bậc Ðại Sĩ tuân lệnh. Cùng đem đám gia nhân
theo, ng ài tránh cổng thành nơi địch
vương đang đón quân v à đi ra bằng một
cổng khác ng ài đ ã mở sẵn. Khi
ngài ra đi, cả kinh th ành như thể bị bỏ
trống vì mọi người cùng theo ngài. Ngài đóng
quân ở một khoảng đất rộng v à chờ đợi.
Vua suy nghĩ: "Phó vương của ta đ ã bỏ
trống kinh thành và chạy trốn với tất cả quân sĩ của ta, còn kẻ thù
đang nằm quanh kinh th ành. Ta chỉ là kẻ
chết rồi".
Nghe vua cha đ ã
đ ào tẩu, Bồ-tát vào thành,
đánh bại địch vương v à chiếm lại quốc
độ. Vua cha lúc ấy dựng lều lá b ên bờ
sông, sống bằng củ quả rừng. Vua và tế sư thường
đi t ìm trái cây. Còn cận thần Parantapa
ở lại với hoàng hậu trong lều. Hoàng hậu lúc ấy
đang có thai với vua, nhưng v ì thường sống chung với Parantapa nên bà
phạm tà hạnh với y.
Một hôm bà bảo với y:
- Nếu đức vua biết, ch àng và thiếp
đều không sống được đâu. Vậy h ãy giết
ngài đi.
- Bằng cách nào chứ?
- Ngài thường bảo chàng mang kiếm và áo tắm lúc ngài
đi tắm, vậy h ãy
đem ng ài đi
xa người hộ vệ tại nơi tắm, rồi chặt đầu ng ài và lấy kiếm chặt thân
ngài thành nhiều khúc xong chôn xuống đất.
Y đồng ý. Một hôm vị tế sư đ ã
đi ra t ìm quả rừng, ông
đ ã trèo lên một cây to gần nơi vua tắm
và đang hái trái. C òn vua muốn tắm nên
ra bờ suối cùng Parantapa mang thanh kiếm và áo tắm của vua.
Lúc vua sắp tắm, Parantapa muốn giết vua nhân dịp vua không có người hộ
vệ, liền nắm cổ vua và nhấc kiếm lên. Vua sợ chết thét lớn. Vị tế sư nghe
tiếng kêu và từ trên cây ông thấy rõ Parantapa
đang ám sát vua, nhưng ông cũng quá kinh ho àng vội từ cành cây trụt
xuống ẩn mình vào bụi rậm.
Parantapa nghe tiếng sột soạt lúc ông trụt xuống, nên sau khi giết vua và
chôn xác xong, y suy nghĩ: "Có tiếng gì sột soạt từ cành cây trụt xuống gần
đây, kẻ n ào vậy?". Nhưng không thấy ai,
y tắm rửa và ra về.
Sau đó vị tế sư bước ra khỏi chỗ ẩn. Nay
biết vua đ ã bị chặt khúc và chôn trong cái hố, ông tắm rửa và vì lo
cho sinh mạng của mình, ông giả mù khi trở về lều.
Parantapa thấy ông, liền hỏi việc gì đ ã
xảy ra cho ông. Ông giả vờ không nhận biết y và nói:
- Tâu Ðại vương, tiểu thần trở về với đôi
mắt đ ã mù. Tiểu nhân đ ã
đứng cạnh một tổ kiến trong rừng đầy rắn v à
hơi thở của một con rắn độc n ào
đó đ ã xông vào người tiểu thần.
Parantapa nghĩ vị tế sư đang nói chuyện với
y như thể nói với vua v ì ông không biết gì nữa, nên yên tâm bảo:
- Này vị Bà-la-môn, đừng lo, ta sẽ chăm sóc
ng ài.
Rồi y vừa an ủi ông vừa cho ông nhiều quả rừng.
Từ đó chính Parantapa đi kiếm trái cây. Về
sau ho àng hậu sinh được một ho àng
tử. Khi hoàng tử lớn lên, một hôm bà nói chuyện với Parantapa vào lúc tảng
sáng nhân dịp ngồi nhàn nhã:
- Có ai thấy chàng lúc giết vua ch ăng?
- Không ai thấy ta cả, nhưng ta nghe tiếng
động của vật g ì trụt xuống từ bụi cây nọ, ta không biết
đó l à người hay vật. Tuy thế, bất cứ lúc
nào trong lòng ta nổi lên mối lo sợ cũng đều do
duy ên cớ bụi cây sột soạt kia.
Rồi y ngâm vần kệ đầu nói chuyện với b à:
1. Lo sợ, kinh hoàng trong trí ta
Phát sinh ngay cả chính bây giờ
Ðều do thuở ấy người hay vật
Lay động bụi cây ở chốn kia.
Hai người ấy tưởng vị tế sư đ ã ngủ,
nhưng ông đang thức v à nghe họ nói
chuyện.
Một hôm, khi Parantapa đ ã
đi v ào rừng hái trái, vị tế sư nhớ
đến b à vợ Bà-la-môn của mình, lại ngâm
vần kệ thứ hai để than thân:
2. Nhà vợ thân yêu ở cạnh đây,
Nhớ thương l àm dạ tái tê thay,
Như Pa-ran hiện đang gầy ốm
V ì sợ lá cành rung động cây.
Hoàng hậu hỏi ông đang nói g ì thế.
Ông đáp:
- Thần chỉ suy nghĩ trong dạ mà thôi.
Nhưng một ngày khác, ông lại ngâm vần kệ thứ ba:
3. Nhà vợ ở Ba-la-nại thành,
Thiếu nàng, ta héo hắt thân mình,
Như Pa-ran hiện đang xanh tái
V ì sợ bụi cây rúng rẩy cành.
Một ngày khác nữa ông lại ngâm vần kệ thứ tư:
4. Mắt nàng đen nhánh sáng long lanh,
Giọng nói, nụ cười mỉm tuyệt xinh,
Hồi tưởng l àm ta tê tái dạ
Như Pa-ran sợ động cây c ành .
Theo thời gian, hoàng tử ấu thơ lớn dần đến
mười sáu tuổi. Lúc ấy vị B à-la-môn làm một cây gậy, cùng
đi với cậu đến chỗ tắm v à mở mắt ra
nhìn. Hoàng tử hỏi:
- Này vị Bà-la-môn, ông không mù à?
- Ta không mù, nhưng nhờ cách này ta đ ã
cứu mạng mình. Thế cậu có biết ai là thân phụ cậu không?
- Ta biết chứ.
- Người kia không phải là cha cậu đâu. Cha
cậu l à vua ở Ba-la-nại, người kia chỉ là kẻ hầu cận của hoàng gia, y
đ ã thông gian với mẹ cậu và giết cha cậu
tại chỗ này, rồi chôn xác đây.
Nói vậy xong, ông kéo bộ xương lên chỉ cho hoàng tử thấy. Hoàng tử tức
giận hỏi:
- Thế ta phải làm gì bây giờ?
- Cứ đối xử với kẻ kia như cách y đối xử với
cha cậu.
Rồi ông trình bày mọi việc cho hoàng tử và trong vài ngày, dạy cho hoàng
tử cách dùng kiếm. Sau đó, một hôm ho àng
tử cầm kiếm và áo tắm, rồi bảo:
- Cha ơi, chúng ta đi tắm nhé.
Parantapa đồng ý ra đi với cậu. Khi y bước
xuống nước, ho àng tử cầm chỏm tóc y bằng tay trái và kiếm trong tay
phải, bảo:
- Ngay tại đây, ngươi đ ã nắm chỏm tóc
cha ta và giết ngài trong lúc ngài thét lên. Vậy ta cũng sẽ làm thế với
ngươi.
Parantapa sợ chết, gào thét lên và ngâm hai vần kệ:
5. Chắc tiếng động kia đến với ngươi
Kể cho ngươi những chuyện xưa rồi:
Chắc người thuở nọ rung c ành lá
Ðã đến kể ngươi chuyện thiếu thời.
6. Ý tưởng đi ên rồ đến với ta
Ðã cho ngươi biết chuyện bây giờ:
Ngày xưa làm chứng, người hay vật,
Ở đó v à rung cổ thụ mà.
Kế tiếp, hoàng tử ngâm vần kệ cuối cùng:
7. Chính ngươi đ ã giết phụ vương thân
Cùng với lời lừa phản dối gian,
Ngươi dấu thây ngài trong bụi ấy,
Giờ đây ngươi phải chịu kinh ho àng.
Nói vậy xong, cậu đâm y chết tại chỗ, v ùi
thây vào đó v à lấy cành cây phủ lên. Sau
đó rửa sạch kiếm v à tắm xong, cậu trở
lại lều lá. Cậu kể cho vị tế sư nghe cách cậu đ ã
giết Parantapa và khiển trách mẹ cậu xong, cậu lại hỏi khi cả ba trở về
Ba-la-nại:
- Chúng ta sẽ phải làm gì bây giờ?
Bồ-tát phong hoàng đệ l àm phó vương,
rồi thực hành bố thí và nhiều thiện sự khác, về sau mạng chung ngài tái sinh
lên Thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Devadatta là vua cha và Ta chính là vua con.