Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-031 · 286. Chuyện Con Heo Liên C ăn

Jātaka group 31 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-031
Số MN31
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

Chương
III (tiếp
theo)

286. Chuyện Con Heo Liên C ăn#

(Tiền thân S àlùka)
Chớ ganh với món Liên căn...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên, về sự cám dỗ của một cô gái mập.
Các tình tiết sẽ được trình
bày trong chuyện Callanàrada Kassapa, số 477. Bậc Ðạo Sư hỏi
Tỷ-kheo ấy có thật đã yêu không, Tỷ-kheo ấy thưa vâng.
Ngài hỏi:
- Yêu ai?
- Yêu cô gái mập.
Bậc Ðạo Sư dạy:
- Này Tỷ-kheo, cô kia chính là mối
họa của ông. Xưa kia cũng như bây giờ, ông đã trở thành
đồ ăn cho đám đông vì đám cưới cô ấy.
Thế rồi, do yêu cầu của các Tỷ-kheo,
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là một con bò đực, tên là Ðại
hồng mao, có một con bò em nó là Tiểu hồng mao. Cả hai con
đều làm việc cho một gia đình kia.
Trong gia đình này có một cô gái
dậy thì, được một gia đình kia hỏi xin cưới. Gia đình
cô gái có một con heo tên là Sàlùka hay Liên căn đang được
nuôi mập tròn để làm tiệc trong ngày đám cưới. Con heo
thường nằm ngủ trong chuồng.
Một hôm Tiểu hồng mao bảo anh:
- Này anh, chúng ta làm việc cho
gia đình này, giúp họ sinh sống. Thế mà họ chỉ cho chúng
ta ăn cỏ và rơm; trong khi ấy, họ lại cho con heo kia ăn bột
gạo với sữa, còn cho nó ngủ trong chuồng. Thử hỏi nó
làm gì cho họ chứ?
Ðại hồng mao bảo em:
- Này em, chớ thèm thứ bột gạo
pha sữa ấy của con heo. Người ta muốn làm thịt con heo
nhân ngày đám cưới của tiểu thư nhà ta đấy. Hãy chờ
vài ngày nữa, em sẽ thấy nó bị lôi ra khỏi chuồng, bị
giết chết, bị xẻ ra từng miếng và bị khách khứa ăn thịt
cho mà coi.
Nói xong, Ðại hồng mao sáng tác
hai bài kệ đầu:
Chớ ganh với món Liên căn,
Ðồ ăn của nó là phần tử vong,
Rạ rơm kia, hãy bằng lòng,
Dài lâu cuộc sống, riêng phần của em.
Chẳng bao lâu khách quen sẽ tới,
Chuyện trò vui, cười nói này kia,
Liên căn sẽ bị chặt ra,
Với mồm há bẹp thật là đáng thương.
Ít ngày sau, khách dự lễ cưới
đến. Sàlùka bị giết để làm tiệc. Cả hai con bò thấy
số phận heo như vậy, nghĩ rằng rơm rạ của riêng chúng
nó vẫn là thứ tốt nhất.
*
Bậc Ðạo Sư với Trí tuệ Toàn
hảo, đọc bài kệ tiếp để giải thích sự việc:
Thấy Liên căn trăm đường tội
nghiệp
Bị chặt rời, mõm bẹp phơi bày,
Ðôi bò mới tỏ nói lời này:
Rạ rơm thô thiển tốt may hơn nhiều.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và ở phần kết thúc về Tứ
Ðế, vị Tỷ-kheo kia đắc quả Dự Lưu.
Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ cô gái mập mạp kia vẫn
là một trong cả hai chuyện. Tỷ-kheo bị ái nhiễm kia là
Sàlùka, Ànanda là Tiểu hồng mao, còn chính ta là Ðại hồng
mao.
-ooOoo-

287. Chuyện Chê Bai Lợi Nhuận (Tiền#

Thân Làbha-Garaha)
Kẻ cuồng si, kẻ chuyên lời phỉ
báng.
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bằng hữu của Trưởng
lão Xá-lợi-phất.
Tỷ-kheo này đến chào Trưởng lão
rồi ngồi xuống một bên, hỏi Trưởng lão nói cho biết
làm cách nào để được lợi nhuận, làm sao để ông ta
thâu được y phục vật dụng v.v... Trưởng lão đáp:
- Này Hiền hữu, có bốn cách khiến
cho một người thành công trong việc đạt lợi nhuận. Người
ấy phải từ bỏ lòng khiêm tốn, phải từ bỏ hội chúng,
phải làm ra vẻ điên khùng dù mình chẳng điên khùng, người
ấy phải nói ngang ngược; người ấy phải cư xử như phường
múa hát; người ấy phải dùng lời ác độc ở khắp nơi.
Trưởng lão giảng cách thức khiến
người thu đạt nhiều như vậy. Vị Tỷ-kheo kia không đồng
ý với cách này và bỏ đi. Trưởng lão đến thuật chuyện
cùng bậc Ðạo Sư. Ngài dạy:
- Ðây không phải là lần đầu
tiên vị Tỷ-kheo kia chê bai lợi nhuận. Trước kia ông ta cũng
đã chê bai như thế.
Rồi do yêu cầu của Trưởng lão,
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi
lên mười sáu tuổi ngài đã tinh thông ba bộ kinh Vệ-đà
và mười tám học thuật. Ngài trở thành vị thầy lừng
danh, dạy dỗ một đám năm trăm thanh niên. Một thanh niên
kia mới học đạo, một hôm đến hỏi thầy:
- Những người này đạt lợi nhuận
như thế nào?
Vị thầy trả lời:
- Con ạ, có bốn cách thâu lợi
nhuận cho những người này.
Rồi ngài đọc bài kệ thứ nhất:
Kẻ cuồng si, kẻ chuyên lời phỉ
báng,
Kẻ tinh ranh như những bọn phường chèo.
Kẻ nói ác, đều thu lợi thật nhiều,
Châm ngôn ấy, giữa đám người điên loạn.
Sau khi nghe lời thầy dạy, người
học trò bày tỏ sự phản đối của mình về việc thâu lợi
nhuận bằng hai bài kệ sau:
Hổ thẹn thay kẻ nào
Thâu đạt lợi danh vào
Bằng hủy diệt tàn hại,
Bằng tội lỗi gắt gao.
Trong tay một bình bát,
Theo cuộc đời không nhà
Còn hơn theo kiếp sống
Tham lam và ác tà.
Chàng thanh niên ca ngợi đặc tính
cuộc đời đạo hạnh như thế; rồi ngay sau đó, trở
thành một ẩn sĩ, và ước mong của bố thí bằng cách
chính đáng. Chàng tu tập thiền định cho đến khi tái sanh
vào cõi Phạm thiên.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, vị Tỷ-kheo phản đối
lợi nhuận là người thanh niên kia, còn thầy của người
ấy chính là Ta.
-ooOoo-

288. Chuyện Xâu Cá (Tiền thân#

Macch-Uddàna).
Nào ai tin được chuyện này...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về một thương gia không thật thà.
Các tình tiết câu chuyện như đã
kể ở trên.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong gia đình của một điền chủ.
Khi lớn lên, ngài trở thành một
người giàu có. Ngài có một em trai. Khi người cha mất, hai
anh em quyết định sắp đặt công việc của cha. Thế rồi
họ đến một làng kia, nơi đây họ được trả một ngàn
đồng. Trên đường về, trong lúc chờ thuyền bên sông, họ
lấy cơm bới ra ăn. Bồ-tát ném phần thức ăn vào sông Hằng
cho cá và cúng dường công đức ấy cho vị thần sông. Nữ
thần rất vui lòng tiếp nhận việc này vì nó làm tăng thêm
thần lực của bà và khi nghĩ đến sự gia tăng năng lực,
bà biết được việc đã xảy ra, Bồ-tát cởi áo ngoài để
trên cát rồi nằm xuống ngủ.
Người em có tính gian tham. Anh ta
muốn lấy tiền của Bồ-tát và giữ cho riêng mình. Thế
là anh gói một gói đá trong giống như gói tiền rồi cất
cả hai gói.
Hai anh em lên thuyền. Khi thuyền
ra giữa sông, người em làm bộ ngã vào mạn thuyền rồi cố
ý để rơi cái gói đá ra khỏi thuyền. Thực ra anh ta đã lầm
vì đó chính là gói tiền.
- Anh ơi! - anh ta la lên - gói tiền
rơi mất rồi. Làm sao đây?
Người anh trả lời:
- Chúng ta biết làm sao được? Thôi
việc gì đã qua thì cho qua luôn, đừng nghĩ tới nó nữa!
Nhưng vị thần sông nghĩ rằng bà
thực quá vui mừng được nhận sự cúng dường và được
gia tăng năng lực nên bà quyết định giữ gìn của cải
cho người anh. Do thần lực, bà khiến một con cá miệng rộng
nuốt lấy gói tiền và bà giữ gìn con cá cẩn thận.
Khi kẻ gian tham kia về nhà khoái
chí về thủ đoạn đã gây cho anh mình, nhưng khi mở gói ra
chỉ thấy có sỏi đá mà thôi! Lòng héo hắt, anh ngã vật
xuống giường, nằm ôm lấy ván!
Bấy giờ, mấy ngư ông vừa quăng
một mẻ lưới. Do năng lực của vị thần sông, con cá kia
rơi vào lưới. Các ngư ông đem nó về phố bán. Người ta
hỏi giá bao nhiêu.
- Một ngàn đồng bảy hào đấy!
Các ngư ông trả lời.
Ai cũng cợt nhạo:
- Kia kìa một con cá với giá một
ngàn đồng! Họ cười ầm lên.
Các ngư ông mang con cá đến cửa
nhà Bồ-tát và hỏi ngài có mua cá không.
Ngài hỏi:
- Giá bao nhiêu đấy?
- Xin trả bảy hào để lấy cá.
Họ đáp.
- Các ông đòi những người khác
bao nhiêu chứ?
- Nếu là những người khác thì
chúng tôi đòi một ngàn đồng bảy hào. Nhưng ngài chỉ phải
trả bảy hào thôi. Họ đáp:
Bồ-tát trả bảy hào để lấy cá,
rồi giao cá cho vợ. Bà vợ mổ cá ra và thấy gói tiền.
Bà gọi Bồ-tát. Ngài nhìn vào nhận ra các dấu vết và biết
đó là gói tiền của chính mình. Ngài tự nghĩ: "Các ngư
ông này đòi hỏi những người khác phải trả với giá một
ngàn đồng bảy hào, còn ta, vì một ngàn đồng này vốn
là của ta nên họ thuận cho ta chỉ trả bảy hào thôi! Nếu
một ai khác không hiểu sự việc này thì không gì có thể
làm cho người ấy tin được!" Rồi ngài đọc bài thứ
nhất:
Nào ai tin được chuyện này
Mấy con cá nọ giá ngay ngàn đồng,
Ta đây chỉ bảy hào con,
Mong gì mua được cá tròn một dây?
Ðọc xong bài, Bồ-tát lấy làm lạ
tại sao ngài tìm lại được số tiền ấy. Ngay khi ấy, vị
thần sông bay ẩn mình trên không và nói:
- Ta là thần sông Hằng đây.
Ngài đã cho bọn cá ăn phần còn thừa và đã cúng dường
công đức cho ta, do đó ta đã giữ gìn của cải cho ngài.
Rồi bà đọc một bài kệ:
Người cho lũ cá ăn
Cúng dường ta có phần,
Ta ghi công đức ấy
Và đạo tâm vẹn toàn.
Thế rồi nữ thần kể lại thủ
đoạn gian manh của người em. Bà còn nói thêm:
- Hắn nằm kia, lòng héo hon sầu
khổ. Chẳng có lợi lộc gì dành cho kẻ gian lận. Ta mang lại
cho ngài sở hữu của riêng ngài, đừng để cho mất đi, đừng
đem cho đứa em gian tham kia. Hãy giữ tất cả cho mình.
Rồi bà đọc tiếp bài kệ thứ
ba:
Tâm địa xấu, dối lừa, trộm
cắp,
Gạt anh em mong đạt gia tài;
Ác tâm nào gặp vận may,
Quỉ thần chẳng chút tỏ bày kính tâm.
Vị thần nói như vậy, vì không
muốn cho kẻ gian lận xấu xa kia được nhận tiền. Nhưng Bồ-tát
nói:
- Không thể như thế được.
Và ngài liền gửi cho em năm trăm
đồng.
*
Sau khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và ở phần kết thúc Tứ Ðế,
thương gia kia đắc quả Dự Lưu. Thề rồi bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Bấy giờ người em là thương
gia không thật thà kia, còn người anh chính là Ta.
-ooOoo-

289. Chuyện Mong Ước Khác Nhau (Tiền#

thân Nàna-Chanda)
Chúng tôi chung sống một nhà...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về việc Tôn giả Ànanda nhận một vật
phẩm giá trị.
Các tình tiết câu chuyện sẽ
được diễn tả trong số 456. Tiền thân Junha, Chương Mười
một.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra làm con trai của chánh hoàng hậu.
Ngài lớn lên và được giáo dục tại Takkasilà, rồi lên
ngôi vua sau khi phụ vương mất. Một giáo sĩ của hoàng gia
bị bãi chức đang sống rất nghèo khổ trong một ngôi nhà
cũ kỹ.
Một đêm kia, nhà vua giả trang vi
hành trong thành phố để xem xét tình hình. Một đám trộm
cướp xong việc, ghé đến uống rượu trong một quán, rồi
ra về mang thêm một tí rượu đựng trong một cái bình.
Chúng rình thấy vua đang đi trên đường liền la lớn:
- Này anh là ai?
Chúng quật ngài xuống, giật lấy
chiếc áo choàng, rồi lượm bình lên và đi, đồng thời
mang ngài theo.
Vị Bà-la-môn nói trên bấy giờ
đang đứng ngoài đường xem thiên văn. Ông nhìn sao, biết
được vua đang rơi vào tay bọn bất lương, liền gọi vợ,
bà vội chạy đến hỏi việc gì. Ông bảo:
- Bà nó ạ, đức vua của chúng
ta đã rơi vào tay bọn đối nghịch!
Bà vợ nói:
- Sao thưa ông, ông tính thế nào
với nhà vua đấy?
- Các Bà-la-môn của ngài sẽ lo
việc ấy.
Vua nghe như thế rồi đi được một
đoạn, ngài năn nỉ bọn vô lại:
- Thưa các ông, tôi là một kẻ
nghèo khó, các ông hãy lấy áo của tôi mà tha cho tôi đi.
Ngài cứ năn nỉ như vậy mãi, cuối
cùng bọn chúng thương hại và thả ngài ra. Ngài để ý chỗ
ở của hai vợ chồng kia, bèn quay trở lại.
Bấy giờ, vị Bà-la-môn nói với
vợ:
- Bà nó ạ, đức vua đã thoát khỏi
tay bọn đối nghịch kia rồi.
Vua nghe hết việc này cũng như
trước kia. Rồi vua trở về cung điện.
Sáng mai, vua cho gọi các vị
Bà-la-môn của ngài và hỏi họ:
- Quí vị có xem thiên văn không?
- Thưa Ðại vương, có.
- May hay rủi thế?
- Thưa Ðại vương, may.
- Không có mây mờ hay nguyệt thực
chứ?
- Không, tâu ngài, không có.
Vua phán:
- Ði kiếm đem về cho ta thầy Bà-la-môn
ở chỗ nhà kia... Vua chỉ chỗ cho họ.
Thế là họ kiếm đem về vị giáo
sĩ già kia. Bấy giờ vua hỏi ông ta:
- Thưa thầy, đêm hôm qua thầy
có xem thiên văn không?
- Vâng, tâu Ðại Vương, thần có
xem.
- Có mây mờ hay nguyệt thực nào
không?
- Thưa Ðại vương có. Ðêm hôm
qua, ngài rơi vào tay những kẻ nghịch và một lúc sau ngài
thoát ra được.
Nhà vua phán:
- Phải như vậy mới đúng là một
chiêm tinh gia.
Ngài bèn đuổi các Bà-la-môn kia
và bảo vị lão sư ấy rằng ngài rất bằng lòng rồi ban
ông ta một ân huệ. Ông xin phép được về hỏi ý kiến
gia đình và vua chấp thuận.
Thầy Bà-la-môn về gọi vợ, con
trai, con dâu và cô tớ gái đến và đặt vấn đề với họ:
- Vua ban cho ta một điều ước. Vây
ta phải xin gì?
Bà vợ đáp:
- Theo tôi, ông hãy xin một trăm
con bò sữa.
Người con trai, tên Chatta nói:
- Theo con, hãy xin một chiếc xe
được kéo bởi những con ngựa nòi trắng thực đẹp.
Và người con dâu:
- Còn theo con, hãy xin đủ thứ
trang sức, bông tai có gắn ngọc và vân vân...
Rồi đến cô tớ gái (tên là
Punnà):
- Theo con, hãy xin một bộ cối
chày và một cái rổ sàng thóc.
Còn thầy Bà-la-môn ước được
hưởng hoa lợi của một ngôi làng. Thế rồi, ông trở lại
chầu nhà vua. Ngài muốn biết vợ ông có được hỏi ý kiến
không, ông đáp:
- Tâu Ðại vương, có. Nhưng mọi
người được hỏi ý đều không ai đồng ý với nhau.
Rồi ông đọc hai bài kệ sau:
Chúng tôi chung sống một nhà,
Ý này ý nọ chia ra mỗi người!
Trăm bò sữa, ý vợ tôi;
Còn tôi thì muốn một ngôi làng giàu;
Trai ưa ngựa kéo xe sau;
Hoa tai gắn ngọc, mong cầu gái kia;
Punnà bé nhỏ, nữ tỳ
Nói rằng nàng muốn cối đi cùng chày!
Vua phán:
- Ðược rồi! Tất cả đều được
như ý.
Rồi ngài đọc bài kệ sau:
Hãy cho người vợ trăm bò;
Người chồng tốt bụng được cho ngôi làng;
Hoa tai ngọc tặng cô nàng;
Xe đôi ngựa kéo gởi chàng trai kia;
Còn cô giúp việc trong nhà
Trao cho chày cối - Thế là thỏa chung.
Thế là vua đã làm thỏa nguyện
thầy Bà-la-môn ấy và ban cho cả danh vọng lớn lao. Vua còn
ban lệnh từ nay về sau ông được tham dự vào các công việc
của vua và giữ ông bên cạnh làm cố vấn riêng cho ngài.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, Bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ thầy Ba-la-môn kia
là Ànanda, còn vị vua chính là Ta.
-ooOoo-

290. Chuyện Thử Thách Giới Đức#

(Tiền thân S ìla-Vĩmamsa)
Cho rằng đạo hạnh đáng yêu...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về một Bà-la-môn thử nghiệm thanh danh của
mình.
Các tình tiết đưa đến câu chuyện
và ngay cả câu chuyện ở đây đều giống như ở Tiền thân
Silavimamsa, số 86.
*
Khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại,
vị giáo sĩ của vua quyết định thử nghiệm thanh danh của
mình về đức hạnh. Trong hai ngày đầu, ông đều mỗi ngày
lấy một đồng tiền do người coi kho giữ. Vào ngày thứ
ba, ông bị đưa đến trình vua vì bị kết tội ăn cắp. Dọc
đường, ông chú ý đến mấy người bắt rắn đang làm cho
rắn múa. Vua hỏi tại sao ông làm một việc như vậy. Thầy
Bà-la-môn trả lời:
- Ðể thử nghiệm thanh danh của
tôi về đức hạnh.
Rồi nói tiếp:
Cho rằng Ðức hạnh đáng yêu
Người ta tôn quí bao nhiêu trên đời.
Xem kia! Rắn độc chết người,
Bảo rằng nó tốt, chẳng đòi chết ngay.
Tôi nay bảo, khắp đầy trần thế
Ðức hạnh là tôn quí đáng yêu:
Kẻ nào đạo đức vẫn nêu
Con đường đạo quả bước theo mãi hoài.
Tình thân thiết, sáng ngời chúng bạn
Rồi đến khi số tận mạng chung,
Kẻ nào tích đức sẵn sàng
Cõi trời, kẻ ấy được phần tái sinh.
Sau khi thuyết giảng về cái đẹp
của đức hạnh bằng ba bài kệ trên, giáo sĩ Bà-la-môn ấy
nói tiếp:
- Tâu Ðại vương, gia đình tôi
đã hiến dâng cho ngài bao nhiêu thứ: tài sản của cha tôi,
của mẹ tôi và cả những gì mà tôi đã có: điều ấy chẳng
bao giờ dứt. Còn tôi đây, tôi đã lấy mấy đồng tiền
kia trong kho báu chỉ để thử nghiệm giá trị của riêng
tôi. Bây giờ tôi thấy rằng thọ sanh dòng dõi, huyết thống
và gia đình chẳng có giá trị gì trên đời này và chỉ
có đức hạnh là tốt nhất. Tôi muốn sống đời Phạm hạnh,
xin ngài cho phép tôi được như vậy!
Giáo sĩ cứ năn nỉ mãi, cuối
cùng vua đành chấp thuận. Thế là ông lìa bỏ thế gian lui
vào dãy Hy-mã-lạp Sơn (Tuyết Sơn) để sống Phạm hạnh,
tu tập các Thắng trí và các Thiền chứng cho đến khi tái
sanh vào cõi Phạm thiên.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vị giáo sư thử
nghiệm thanh danh về đức hạnh kia chính là Ta.
-ooOoo-

291. Chuyện Cái Bát Thần (Tiền#

thân Bhadra-Ghata)
Kẻ vô dụng một lần được bát...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về một người cháu của Trưởng giả Cấp
Cô Ðộc.
Người này đã hoang phí số tài
sản kế thừa là bốn trăm triệu đồng vàng. Anh ta đến
thăm người chú Cấp Cô Ðộc và được Trưởng giả cho một
ngàn đồng để làm vốn mua bán. Anh ta tiêu xài hết số tiền
rồi lại đến Trưởng giả. Lần này anh được cho năm
trăm đồng. Tiêu xài hết xong, anh lại đến và lần này
chú anh chỉ cho anh hai bộ quần áo vải thô. Thế là khi anh
đã hết luôn hai bộ quần áo kia và đến xin thêm một lần
nữa thì bị chú anh tóm cổ ném ra cửa. Anh ta chẳng còn ai
giúp đỡ, sau đó đã ngã xuống bên một xó đường và chết.
Người ta kéo anh ra rồi ném ở đấy.
Ông Cấp Cô Ðộc đến kể với
đức Phật về các sự việc đã xảy ra cho cháu ông, bậc
Ðạo Sư bảo:
- Làm sao ông mong làm thỏa mãn một
kẻ chính Ta ngày xưa cũng không thể làm thỏa mãn dù rằng
Ta đã cho anh ta một cái Bát Ước.
Rồi do yêu cầu của Trưởng giả,
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là con của một thương gia giàu
có. Sau khi cha mất, ngài thay cha quán xuyến mọi việc. Trong
nhà của ngài có chôn một kho tàng bốn trăm triệu đồng.
Ngài có một con trai độc nhất. Bồ-tát bố thí, hành thiện
cho đến khi chết và tái sanh làm Thiên chủ Ðế Thích
(Sakha).
Con trai của Bồ-tát làm một cái
rạp ngoài đường để ngồi uống rượu cùng với đám bạn
bè tụ tập quanh anh ta. Anh trả một ngàn đồng cho bọn làm
trò chạy nhảy, nhào lộn, bọn ca sĩ, vũ công, suốt ngày
ăn nhậu, trác táng. Anh rong chơi đây đó, chỉ đòi đàn địch
múa ca, mãi mê theo đám bạn thô lỗ, chìm đắm trong thói
nhàn cư lười biếng. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn
ngủi, anh đã tiêu xài cả kho tàng bốn trăm triệu đồng,
hết cả mọi sở hữu, của cải, đồ đạc rồi trở nên
nghèo khó cực khổ đến độ phải lang thang rách rưới tả
tơi.
Thiên chủ Ðế Thích, trong lúc
suy xét, biết rõ anh ta nghèo khổ như thế nào. Do lòng thương
con thúc đẩy, ngài cho anh ta một cái Bát Ước và dặn:
- Con ạ, hãy giữ gìn, chớ làm vỡ
cái bát này. Bao lâu con còn giữ được nó thì tài sản của
con sẽ không cạn được. Vì vậy, hãy giữ gìn nó cẩn thận!
Nói xong, ngài quay về trời.
Sau đó, anh chàng kia chỉ lấy
bát uống rượu chứ chẳng làm gì cả. Một hôm, trong lúc
say sưa, anh ném Bát lên không cho nó rơi xuống mà bắt lấy.
Thế rồi có lần anh bắt hụt, Bát rơi xuống đất vỡ tan
tành! Thế là anh lại trở nên nghèo khó, rách rưới tả
tơi đi khắp đây đó cầm bát ăn xin rồi cuối cùng ngã xuống
một bờ tường rồi chết.
Khi kể xong chuyện này, bậc Ðạo
Sư đọc tiếp:
Kẻ vô dụng một lần được bát,
Lòng muốn gì, Bát tất thỏa ngay,
Bao lâu còn giữ Bát này,
Tiền tài luôn vẫn còn đầy cho anh.
Trong một lúc ngông nghênh say khướt,
Anh làm tan Bát phước lành rồi!
Lõa lồ, rách rưới tả tơi,
Kẻ rồ tội nghiệp sống đời đắng cay.
Kẻ nào có gia tài đồ sộ
Nhưng hưởng đời, tiết độ chẳng hay,
Phút giây tàn mạt! - cũng tày
Anh chàng khờ khạo vỡ ngay Bát thần.
*
Với Trí tuệ Toàn hảo, bậc Ðạo
Sư đọc các bài kệ trên, rồi nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, người cháu của Cấp
Cô Ðộc là anh chàng vô lại đã đành vỡ cái Bát phước
lành kia, còn chính Ta là Ðế-Thích.
-ooOoo-

292. Chuyện Vua Quạ Supatta (Tiền#

thân Supatta)
Ở nơi đây, thành Ba-la-nại...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về việc Trưởng Lão Xá-lợi-phất dâng
tặng bà Bimbàdevi một bữa cơm trộn bơ tươi và cá hồng.
Các tình tiết câu chuyện cũng giống
như ở số 281. Tiền thân Abbhantara đã kể trước đây. Ở
đây, vị Tỷ-kheo-ni bị đau bao tử. Tôn giả La-hầu-la đến
thuật chuyện với Trưởng lão. Trưởng lão bảo La-hầu-la
ngồi ở phòng đợi rồi ngài đến nhà vua, được cúng cơm,
cá hồng và bơ tươi. La-hầu-la mang cơm ấy cho vị Tỷ-kheo-ni,
mẹ ông. Khi bà dùng xong món ăn ấy thì bệnh dứt ngay. Vua
sai người đi dò xem, rồi từ đó luôn luôn bảo đem cúng dường
bà món ăn ấy.
Một hôm, các Tỷ-kheo bắt đầu
bàn tán trong Pháp đường:
- Này Hiền hữu, Tướng quân
Chánh pháp đã làm thỏa lòng vị Tỷ-kheo-ni ấy với món
ăn như thế kia.
Bậc Ðạo Sư bước vào, hỏi
các Tỷ-kheo đang bàn tán chuyện gì. Khi được thuật lại,
Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải
là lần đầu tiên Xá-Lợi-Phất đã tặng mẹ của La-hầu-la
món bà cần; trước kia, vị ấy cũng đã làm như thế.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là một con Quạ, lớn lên trở
thành vị lãnh đạo của tám mươi ngàn con quạ, tức là
Vua Quạ (Ô vương), tên Supatta hay Hoàng Dực (Cánh vàng). Vợ
chánh của vua Quạ tên là Suphassã hay Nhu Hòa; vị Ðại tướng
là Sumukho, Mỹ Chủy (Mỏ đẹp). Vua Quạ sống với đàn
tám mươi ngàn con gần Ba-la-nại.
Một hôm, vua Quạ và vợ đi kiếm
ăn bay qua bếp của nhà vua. Người đầu bếp của vua vừa
làm xong một số đĩa thức ăn gồm đủ các loại cá. Ông
chưa đậy các đĩa vì muốn để như thế một lát cho nguội.
Ô hoàng hậu ngửi thấy mùi thơm của thức ăn và khao khát
được một miếng. Nhưng hôm đó nàng chẳng nói gì.
Thế nhưng đến ngày hôm sau, khi
Vua Quạ đến rủ vợ đi ăn thì nàng bảo:
- Hãy đi một mình! Thiếp đang quá
thèm muốn một thứ!
- Thứ gì vậy?
- Thiếp muốn ăn một ít đồ ăn
của nhà vua và vì không thể có được nên thiếp sắp chết
đây.
Vua Quạ ngồi xuống và suy nghĩ.
Mỹ Chủy đến gần vua và hỏi xem vua đang buồn về việc
gì. Vua Quạ kể lại sự việc.
-Ồ-, sẽ được ngay mà!
Quạ Tướng quân bảo thế, rồi
nói thêm để cả hai được yên tâm:
- Hôm nay các ngài cứ ở đây, thần
sẽ đi kiếm đồ ăn về.
Thế rồi, Quạ Tướng quân họp
đàn Quạ lại và kể lại mọi việc cho chúng.
- Nào chúng ta hãy đi lấy thứ
ấy!
Rồi tất cả cùng bay đến
Ba-la-nại. Quạ Tướng quân cắt đặt từng nhóm quạ đậu
đó đây gần nhà bếp để trông chừng, còn nó cùng với
tám tên giỏi nhất, ngồi trên mái bếp. Trong khi chờ thức
ăn của vua được dọn ra, nó ra lệnh cho chúng:
- Khi người kia mang thức ăn đi,
ta sẽ làm cho ông ta để rơi các cái đĩa xuống. Một khi
đã làm như thế là xem như đời ta tàn rồi. Vậy thì bốn
đứa trong bọn phải mổ và ngậm cơm đầy miệng, còn bốn
đứa kia ngậm cá rồi bay về dâng cho vua và hoàng hậu của
ta ăn; các ngài có hỏi ta đâu thì bảo rằng ta sắp về tới.
Người đầu bếp bấy giờ đã
làm xong nhiều thức ăn cao lương móc vào đòn gánh và đem
tới phòng của vua. Khi ông băng qua sân, Quạ Tướng ra hiệu
cho bọn tùy tùng rồi bay đâm vào ngực ông, tấn công bằng
những cái vuốt trương ra, bằng chiếc mỏ nhọn như mũi
thương, nó mổ vào chóp mũi và bằng hai bàn chân nó khóa
chặt hai hàm của ông ta.
Nhà vua đang đi dạo ở tầng trên,
khi nhìn ra cửa sổ lớn trông thấy con quạ đang làm như thế,
liền gọi người đầu bếp:
- Này, thả mấy cái đĩa xuống và
bắt lấy con quạ!
Người kia liền thả đĩa xuống
rồi nắm chặt con quạ.
- Ðến đây! Vua kêu lên.
Thế là các quạ kia tha hồ ăn, rồi
mổ lấy phần còn lại như đã được dặn dò và mang đi.
Sau đó cả bọn quạ tụ tập lại và ăn phần dư thừa. Tám
con quạ giỏi nhất kia mang đồ về cho Quạ Vua và hoàng hậu.
Thế là cơn thèm khát của Nhu Hòa lắng xuống.
Người hầu mang bữa ăn kia đem
con quạ đến trình vua.
- Này Quạ! - Vua bảo - Ngươi tỏ
ra chẳng kính trọng gì ta! Ngươi đã làm vỡ mũi người hầu
của ta! Ngươi đã liều lĩnh ném đi cả cuộc sống của
ngươi! Ðiều gì khiến ngươi đã làm như thế?
Quạ trả lời:
- Tâu Ðại vương! Vua của tôi sống
gần Ba-la-nại, tôi là chánh tướng quân của ngài. Vợ
ngài (tên Nhu Hòa) quá khao khát muốn nếm thử đồ ăn của
Ðại vương. Vua của tôi nói cho tôi biết bà ấy đang thèm
muốn thứ gì và liền đó tôi quyết hy sinh đời mình. Giờ
đây, tôi đã gởi thức ăn về cho hoàng hậu rồi, nguyện
ước của tôi đã trọn. Ðó là lý do khiến tôi đã hành
động như thế.
Về để giải thích sự việc đó,
nó đọc ba bài kệ sau đây:
Ở nơi đây, thành Ba-la-nại,
Tâu Ðại vương, có vị Quạ Vua,
Tên Hoàng Dực, với đàn kia,
Tám mươi ngàn quạ đều là thần dân.
Nhu Hoàng hậu muôn phần mơ ước:
Bà khát khao có được bữa cơm,
Cá kia riêng của Ðại vương
Bắt tươi nấu chín vừa mang lên bàn.
Xin xem tôi như hàng sứ giả,
Vua tôi sai nên đã đến đây.
Kính Vua, tôi tỏ lòng này,
Mũi người kia bị tôi gây đau phiền.
Nghe thế, vua liền nói:
- Ta đây đã ban danh vọng lớn
lao cho lắm người, nhưng không thể khiến họ thân thiết
được. Ngay cả việc ban các tặng vật như toàn thể một
ngôi làng đi nữa, ta cũng chẳng tìm thấy một kẻ dám hy
sinh mạng sống cho ta. Thế mà con vật này, vốn chỉ là một
con quạ, lại hy sinh đời mình cho vua của nó. Nó rất cao cả,
nhu hòa, thiện hảo.
Rất đẹp lòng vì các tình nết
tốt của Quạ, vua tặng nó một cái lọng trắng để tỏ lòng
sùng ái trân trọng. Quạ chỉ lễ bái vua về tặng vật
kia, rồi lại ca ngợi đức hạnh của Hoàng Dực, vua nó.
Nhà vua cho mời Hoàng Dực tới,
nghe các lời giáo huấn của Vua Quạ rồi gửi cho vợ chồng
Vua Quạ thức ăn của chính ngài, còn về phần bọn quạ
kia thì mỗi ngày ngài đều sai nấu thực nhiều cơm để
cho chúng. Chính ngài đi theo lời giáo huấn của vị Bồ-tát,
che chở mọi loài sinh vật và hành thiện. Những lời giáo
huấn của Quạ Hoàng Dực được ghi nhớ suốt bảy trăm
năm.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua là Ànanda, tướng
quạ là Xá-lợi-phất, còn vua quạ Supatta chính là Ta.
-ooOoo-

293. Chuyện Thân Hư Hoại (Tiền#

thân Kàya-Vicchinda)
Bị cơn bệnh trầm kha quật xuống...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Kỳ Viên về một người đàn ông kia sống tại
Xá-vệ.
Ông ta bị bệnh hoàng đản và
các thầy thuốc bảo rằng đây là trường hợp không hy vọng
chữa khỏi được. Vợ con ông không biết ai có thể chữa
lành bệnh cho ông. Ông ta tự nghĩ: "Nếu ta được lành
bệnh ta sẽ sống đời tu hành".
Thế rồi vài ngày qua, sau khi
dùng một thứ gì đó, ông thấy khá rồi được lành bệnh.
Bấy giờ ông đến Kỳ Viên và xin gia nhập Giáo đoàn. Ông
được bậc Ðạo Sư truyền tiểu giới (Sa-di) và đại giới
(Tỷ-kheo) rồi ít lâu sau, ông chứng Thánh quả.
Sau đó, một hôm các Tỷ-kheo bàn
tán với nhau trong Pháp đường:
- Này Hiền hữu, người kia bị bệnh
hoàng đản và thệ nguyện rằng nếu lành được bệnh sẽ
sống đời Phạm hạnh. Ông ta đã làm như thế và giờ đây
đã đắc Thánh quả.
Bậc Ðạo Sư bước vào, hỏi
các Tỷ-kheo đang ngồi đây với nhau bàn tán chuyện gì. Sau
khi họ thuật lại, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ
riêng người ấy đã làm thế. Xưa kia, các trí giả, khi
được lành bệnh, cũng sống đời Phạm hạnh rồi được
phần lợi cho riêng mình.
Rồi ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài
lớn lên rồi bắt đầu thu góp của cải: nhưng ngài lại mắc
bệnh hoàng đản. Các thầy thuốc cũng không thể làm gì
cho ngài được, vợ ngài và cả gia đình cũng hết cả hy vọng.
Ngài định rằng nếu được lành bệnh Ngài sẽ sống đời
tu hành. Thế rồi ngài dùng một thứ gì đó, cảm thấy khỏe
rồi lành bệnh. Ngài ra đi lên dãy Hy-mã-lạp Sơn (Tuyết
Sơn) và trở thành một ẩn sĩ. Ngài tu tập các Thắng trí
và các Thiền chứng rồi an trú trong thiền lạc.
Ngài tự nghĩ: "Từ lâu nay,
ta chưa hề được hạnh phúc lớn lao như thế này!" Rồi
ngài nói lên niềm cảm hứng:
Bị cơn bệnh trầm kha quật xuống,
Ta nằm dài đau đớn sầu bi.
Thân ta chóng héo tàn đi
Như hoa trên đất khô vì nắng kia.
Cao sang cũng như là hèn nhục,
Tinh khiết cùng vẩn đục như nhau.
Kẻ nào mù quáng biết đâu
Tưởng vùng hư thối là mầu đẹp tươi.
Thân bệnh hoạn này thời đáng thẹn
Quá thối hư, bất tịnh mà thôi.
Kẻ cuồng si hễ biếng lười,
Lang thang khắp lối, cõi trời chẳng sinh.
Bậc Ðạo Sĩ diễn tả bằng nhiều
cách tính chất của bất tịnh và của đau khổ thường hằng,
rồi chán chê thân xác và tất cả những thành phần của
nó, ngài suốt đời tu tập Bốn Vô lượng tâm cho đến khi
tái sanh vào cõi Phạm thiên.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Lúc ấy nhiều vị Tỷ-kheo
đắc quả Dự Lưu v.v... Rồi bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền
thân:
- Bấy giờ, Ta chính là vị ẩn sĩ
ấy.
-ooOoo-

294. Chuyện Con Chim Ăn#

Trái Đ ào
(Tiền Thân Jambu-Khàdaka)
Ai đó ngồi cây đào đỏ hồng...,
Chuyện này được bậc Ðạo Sư
kể tại Trúc-Lâm về Ðề-bà-đạt-đa và Kokàlika.
Bấy giờ, khi Ðề-bà-đạt-đa bắt
đầu mất vật phẩm cúng dường và thanh danh, Kokàlika đi từ
nhà này sang nhà khác bảo:
- Trưởng lão Ðề-bà-đạt-đa là
dòng dõi Sơ tổ Hoàng đế, thuộc hoàng tộc Okkàka, là
hàng quý tộc đích truyền, đặc tài về mọi kinh điển,
sung mãn thần thông, nói năng ngọt ngào, là một luật sư
thiên hảo. Hãy cúng dường Trưởng lão, hãy giúp đỡ ngài!
Kokàlika ca ngợi về Ðề-bà-đạt-đa
bằng những lời như thế. Mặt khác Ðề-bà-đạt-đa lại
ca ngợi Kokàlika như sau:
- Kokàlika vốn thuộc một gia đình
Bà-la-môn ở phía Bắc, ông sống đời tu hành, thâm nhập
kinh điển, là một luật sư có tài. Hãy cùng dường ông
ấy, hãy giúp đỡ ông ấy.
Họ đi khắp nơi, người này ca
ngợi người kia như thế để được nhận đồ ăn của từng
nhà. Một hôm, các Tỷ-kheo bắt đầu bàn tán chuyện ấy
trong Pháp đường:
- Này Hiền hữu, Ðề-bà-đạt-đa
và Kokàlika đi khắp nơi ca ngợi đức hạnh của nhau trong
khi họ chẳng có đức hạnh gì cả, và cứ thế, họ kiếm
được lương thực.
Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi
các Tỷ-kheo đang ngồi bàn tán việc gì. Nghe họ thuật lại,
Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải
lần đầu tiên các người ấy nhận được lương thực bằng
cách ca ngợi nhau. Xưa kia, họ cũng đã làm như thế.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát là một Thần cây trong một khu rừng hồng
đào (Diêm-phù) kia. Một con Quạ cái kia đậu trên cành cây
của ngài và bắt đầu ăn quả. Một con Chó rừng đến, nhìn
lên và theo dõi quạ. Nó tự nghĩ: "Nếu ta nịnh tên
này thì có lẽ ta sẽ được ăn vài quả đấy!" Vì thế
để nịnh Quạ, nó đọc bài kệ đầu:
Ai đó ngồi cây đào đỏ hồng,
Giọng ca thanh lịch rót vào lòng,
Dáng nàng uyển chuyển như công múa
Và vẫn ngồi yên, vẫn lặng không!
Quạ lấy làm tự mãn, trả lời
bằng bài kệ thứ hai:
Kẻ nào gia thế cao sang
Mới khen kẻ khác là hàng quý cao.
Chàng cùng mãnh hổ khác nào,
Ðến đây! Ăn thứ tôi trao tặng chàng!
Ðọc xong bài kệ, Quạ rung cành
cho vài trái rơi xuống. Bấy giờ vị Thần của cây chứng
kiến hai con vật đang ăn, sau khi nịnh hót ve vãn nhau như thế,
liền đọc bài kệ thứ ba:
Quân nói dối, ta đây rõ quá!
Tên Quạ kia, tên Chó rừng kia,
Chuyên ăn xác chết thối tha,
Nịnh nhau qua lại nghe ra om sòm!
Ðọc xong bài kệ, vị thần cây
liền hóa ra một hình thù hung tợn đuổi cả hai con vật
kia đi.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, con Chó rừng là Ðề-bà-đạt-đa,
con Quạ là Kokàlika, còn vị Thần cây kia chính là Ta.
-ooOoo-

295. Chuyện Loài Hạ Liệt (Tiền#

Thân Anta)
Như chàng bò mộng, tấm thân
ông...,
Ðây là một chuyện nữa do bậc
Ðạo Sư kể tại cùng một nơi, về cùng những người ấy
và các tình tiết câu chuyện cũng giống như trên đây.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát là Thần một cây thầu dầu mọc ở gần
một ngôi làng kia. Ở trong làng, có một con bò già bị chết.
Người ta kéo xác bò và ném vào rừng cạnh cổng làng. Một
con Chó rừng đến ăn thịt xác ấy. Thế rồi, một con Quạ
cái đến đậu trên cây. Khi thấy Chó rừng, Quạ tìm cách
nịnh hót xem có thể được một vài miếng thịt xác bò
kia để ăn không. Vì vậy nó đọc bài kệ thứ nhất:
Như chàng bò mộng, tấm thân
ông,
Sinh hoạt như sư tử mạnh hùng,
Vinh hiển thay ông, vua các thú!
Ðừng quên một miếng tặng tôi cùng.
Nghe thế, Chó rừng đọc bài kệ
thứ hai:
Những ai gia thế trọng cao
Mới ca ngợi đúng kẻ nào quí sang.
Cổ cô giống cổ chim công.
Quạ ơi, bay xuống mà dùng thịt đây.
Vị Thần cây thấy như vậy liền
đọc bài kệ thứ ba:
Loài thú hèn nhất, là Chó rừng,
Trong loài chim, Quạ bét sau cùng,
Thầu dầu hạ liệt nhất loài mộc,
Ba thứ chung đây, tối hạ tầng!
*
Khi kể xong Pháp Thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Ðề-bà-đạt-đa là
con Chó rừng kia, Kokàlika là con Quạ, vị Thần cây ấy là
Ta.
-ooOoo-

296. Chuyện Biển Cả (Tiền Thân#

Samudda).
Trên sóng biển ai bay qua đó...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại
Kỳ Viên về Trưởng Lão Upananda.
Vị Tỷ-kheo này là kẻ ăn uống
quá thô bạo, bao nhiêu cũng không đủ cho ông được, dù cả
vài xe thực phẩm cũng chẳng thỏa lòng ông. Trong thời an cư
mùa mưa, ông thường sống tại nhiều trú xứ, nơi thì ông
để giày dép, nơi thì ông để gậy, nơi thì ông để bình
nước, còn ông lại ở một nơi khác. Khi đến viếng một
tinh xá ở một vùng quê và thấy các Tỷ-kheo đã đủ sẵn
các đồ dùng, ông bắt đầu giảng về bốn loại Sa-môn
tri túc rồi lấy y phục của họ; khiến họ lượm đồ rách
trong đống rác mà dùng; khiến họ dùng bát đất, cho ông
những cái bát kim loại của họ và bất cứ bát nào mà
ông thích. Thế rồi ông bỏ các thứ ấy vào một xe rồi
mang chúng về Kỳ Viên.
Một hôm các Tỷ-kheo bắt đầu bàn
tán trong Pháp đường:
- Này Hiền hữu, Upananda thuộc bộ
tộc Thích-ca là một kẻ ăn bạo, một Tỷ-kheo tham lam, đi
thuyết pháp cho người ta rồi mang về đầy cả một xe vật
dụng của Tỷ-kheo!
Bậc Ðạo Sư bước vào và muốn
biết các Tỷ-kheo đang ngồi bàn tán việc gì. Họ thuật
chuyện xong, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, trước kia thuyết
giảng về hạnh tri túc, Upananda đã sai lầm rồi! Trước nhất
ta phải tiết độ trong tham ái của ta rồi mới ca ngợi đức
hạnh của kẻ khác:
Trước tiên an định phần mình
Rồi sau giảng dạy, khỏi thành
nhiễm ô.
Bậc Ðạo Sư trích lời kệ trên
từ Kinh Pháp cú số 158 và quở trách Upananda, rồi dạy tiếp:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải
là lần đầu tiên Upananda tham lam. Xưa kia ông ta đã nghĩ rằng
ngay cả nước biển cũng cần được tiết kiệm kia.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị Thần biển. Có một con Quạ
nước bay qua biển. Nó vừa bay đây đó, vừa la lên cố ngăn
chặn các bầy cá, các đàn chim:
- Ðừng uống quá nhiều nước
biển đấy! Phải giữ gìn nước biển chứ!
Thấy nó như vậy, vị Thần biển
đọc bài kệ đầu:
Trên sóng biển ai bay qua đó?
Ai cố công cản trở thủy loài,
Ngăn đàn cá lội ngoài khơi,
Sợ rằng biển cả sẽ vơi dần dà?
Quạ nghe thế liền trả lời bằng
bài kệ thứ hai:
Trên thế giới người ta vẫn nói
Rằng tôi đây uống mãi chẳng vừa,
Ra công uống hết biển kia
Làm cho biển chúa giang hà cạn khô.
Nghe thế, Thần biển đọc bài kệ
thứ ba:
Dù biển cả có vơi dần nước,
Cũng lại đầy cùng một ngày thôi,
Nào ai làm biển được vơi?
Uống vào nước ấy kể thời thấm chi!
Nói vậy rồi, Thần hiện thành
hình một hình thù dữ tợn và đánh đuổi con Quạ nước
đi.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Upananda là con Quạ
nước, còn vị Thần kia chính là Ta.
-ooOoo-

297. Chuyện Dục Tình Nhảm Nhí#

(Tiền Thân Kàma-Vìlapa)
Chim ơi, bay ở trên trời...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại
Kỳ Viên về một Tỷ-kheo đau khổ vì thương nhớ người vợ
trước kia của ông.
Các tình tiết câu chuyện được
diễn tả ở số 147. Tiền thân Puppharatta, và câu chuyện
quá khứ sẽ được kể ở số 423. Tiền thân Indriya.
*
Người ấy bị xiên sống trên cọc
như vậy. Trong lúc bị treo, anh ta nhìn lên và thấy một con
Quạ đang bay qua không gian. Chẳng quản gì đến nổi đau đớn
thống thiết, anh gọi con Quạ để gửi lời nhắn nhủ đến
cô vợ thân yêu của mình bằng ba bài kệ sau:
Chim ơi, bay ở trên trời,
Chim mang cánh nọ, cao vời xa bay.
Vợ tôi, đùi đẹp lắm thay,
Nhắn dùm nàng, đã lâu rày phải chăng?
Nàng đâu biết tới đao, thương,
Giận hờn, nàng hẳn lắm đường so đo.
Việc kia, tôi sợ, tôi lo,
Chứ không do bị treo giò nơi đây!
Áo hoa sen, tôi nay bỏ lại,
Cùng ngọc ngà trên gối nằm kia.
Lụa Ba-la-nại mượt mà,
Ðể nàng thỏa ý cửa nhà giàu sang.
Anh ta than thở như vậy rồi chết.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Và ở phần kết thúc về Tứ
Ðế, vị Tỷ-kheo ái nhiễm đắc quả Dự Lưu.
Bấy giờ, bậc Ðạo Sư nhận diện
Tiền Thân:
- Người vợ thời trước là người
vợ bây giờ; còn vị Thần chứng kiến sự việc ấy là
Ta.
-ooOoo-

298. Chuyện Trái Sung (Tiền Thân#

Udumbara)
Sung đã chín trên cây ngon đẹp...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại
Kỳ Viên về một Tỷ-kheo sống ẩn dật ở biên địa một
ngôi làng nọ.
Trú xứ an lạc này nằm trên một
phiến đá phẳng tại một gò đất được quét dọn sạch
sẽ, có đủ nước để dùng, gần làng, tiện cho việc đi
vào làng khất thực và tiện cho người thân đến biếu thực
phẩm. Một Tỷ-kheo kia trên đường đi ghé lại nơi ấy. Vị
Trưởng lão sống tại đó tiếp rước người mới đến
theo đúng bổn phận của chủ nhân. Ngày hôm sau, Trưởng lão
mang theo người bạn mới đi khất thực. Người ta cúng dường
thực phẩm cho họ và mời họ hôm sau đến nữa. Vị Tỷ-kheo
mới đến này, sau vài ngày sống như vậy, liền nghĩ cách
đuổi vị Tỷ-kheo kia đi để chiếm lấy chỗ ẩn cư nọ.
Một hôm ông ta đến thăm vị
Trưởng lão và bảo:
- Này Hiền giả, có bao giờ Hiền
giả đến tham bái đức Phật chưa?
-Ồ -, chưa, Hiền giả! Vì không
có ai coi sóc túp lều của tôi, nếu không thì tôi đã đến
lâu rồi!
-Ồ -, tôi sẽ coi sóc túp lều
trong khi Hiền giả đến tham bái đức Phật.
Trưởng lão nghe nói thế liền ra
đi sau khi căn dặn người làng hãy lo chăm sóc vị Tỷ-kheo
kia cho đến khi ông trở về. Vị Tỷ-kheo mới đến ấy bày
mưu gièm pha Trưởng lão bằng cách nói xa gần đến mọi tật
xấu của Trưởng lão với dân làng.
Vị Trưởng Lão đi viếng bậc Ðạo
Sư rồi quay trở về. Nhưng vị Tỷ-kheo mới đến không cho
ông ghé lại chỗ ở kia nữa. Trưởng lão phải kiếm một
chỗ khác để trú ẩn và sáng hôm sau, ông vào làng khất
thực. Nhưng người làng lại từ chối cúng dường ông nữa.
Ông ta buồn nản quá, liền quay trở về Kỳ Viên và kể hết
đầu đuôi cho các Tỷ-kheo nghe. Họ bắt đầu bàn tán việc
ấy trong Pháp đường:
- Này Hiền hữu, Tỷ-kheo kia đã
đuổi Tỷ-kheo nọ ra khỏi trú xứ của vị này để rồi
chiếm lấy cho riêng mình!
Bậc Ðạo Sư bước vào, và muốn
biết các Tỷ-kheo đang bàn tán việc gì. Họ kể chuyện cho
Ngài nghe. Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải
là lần đầu tiên người nọ đuổi người kia ra khỏi trú
xứ của vị này.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát là một Thần cây ở trong rừng. Bấy giờ
là mùa mưa, mỗi lần mưa thường kéo dài tới bảy ngày. Một
con Khỉ nhỏ bé mặt đỏ sống trong một cái hang đá,
tránh được mưa. Một hôm, nó đang ngồi trước cửa hang,
khô ráo và rất sung sướng. Bấy giờ một con Khỉ mặt
đen to lớn, ướt đầm đìa, rã rời vì lạnh, nhìn thấy
nó, rồi tự nghĩ: "Làm sao ta có thể đuổi anh bạn kia
để sống trong hang của nó nhỉ?" Thế rồi nó trương
bụng ra, làm như thể mới được ăn no một bữa thịnh soạn,
nó dừng lại trước con Khỉ kia và đọc bài kệ đầu:
Sung đã chín trên cây ngon đẹp,
Khỉ nhà ta được dịp no nê.
Cùng ta đến đó ăn đi,
Bạn ơi, nào phải sợ gì đói đâu?
Khi mặt đỏ nghe thế liền tin
ngay. Nó muốn có những trái cây ấy để ăn. Vì vậy nó ra
đi, săn đây, kiếm đó, vẫn chẳng thấy trái cây nào. Thế
là nó quay trở về, và bấy giờ con Khỉ mặt đen đã ngồi
trong hang rồi! Khỉ mặt đỏ quyết đánh lừa con kia, nên
đến trước nó đọc bài kệ thứ hai:
Hạnh phúc thay kẻ nào cảm phục
Và tôn sùng những bậc niên cao,
Tôi đây hạnh phúc làm sao!
Bao nhiêu trái ấy ăn vào thỏa thuê!
Con Khỉ lớn nghe vậy liền đọc
bài kệ thứ ba:
Người Hy Lạp gặp nhau sinh chiến,
Khỉ gặp nhau, ngửi chuyện mưu xa,
Dù cho trẻ nọ tinh ma,
Ðời nào lừa bắt chim già được đâu.
Thế là con Khỉ mặt đỏ đành bỏ
đi.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Tỷ-kheo chủ túp lều
kia là con Khỉ nhỏ, kẻ đến lấy phần kia là con Khỉ đen
lớn, còn vị Thần cây chính là Ta.
-ooOoo

299. Chuyện Ẩn Sĩ Komàya-Putta (Tiền#

Thân Komàya)
Lúc trước đây ngươi thường
nghịch phá...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại
Pubbàràma (Ðông Viên), về một số Tỷ-kheo có tư cách thô
lỗ cộc cằn.
Các Tỷ-kheo này ở tầng bên dưới
phòng của bậc Ðạo Sư. Họ cứ đem bàn tán những gì nghe
thấy được rồi cãi cọ mắng nhiếc nhau. Bậc Ðạo Sư gọi
Trưởng lão Moggallàna (Mục-kiền-liên) đến và sai đi làm
cho họ biết kinh hãi. Trưởng lão bay lên trên không rồi chạm
vào nền nhà bằng ngón chân to lớn của ông làm rung động
tới cả bờ xa nhất của đại dương. Các Tỷ-kheo ấy sợ
chết, vội chạy cả ra ngoài.
Các Tỷ-kheo bắt đầu biết tư cách
thô lỗ của những kẻ ấy, một hôm đem ra bàn trong Pháp
đường:
- Này Hiền hữu, có một số Tỷ-kheo
đã ẩn cư vào ngôi nhà cứu độ này, lại là những kẻ
thô lỗ cộc cằn; họ không thấy sự vô thường, khổ và
vô ngã của cuộc đời và cũng chẳng làm bổn phận của họ.
Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi
các Tỷ-kheo đang ngồi bàn tán việc gì. Nghe thuật chuyện
ấy, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải
là lần đầu tiên họ thô lỗ cộc cằn. Trước kia họ
cũng đã như thế.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là con trai của một Bà-la-môn
trong một ngôi làng kia. Người ta gọi tên ngài là
Komàyaputta. Ít lâu sau, ngài bỏ nhà đi tu tập trong dãy
Hy-mã-lạp Sơn (Tuyết Sơn). Có mấy vị khổ hạnh hời hợt
đã làm am ẩn dật tại vùng ấy, nhưng họ chẳng dùng phương
tiện để phát khởi Thiền định. Họ kiếm trái cây trong
rừng để ăn rồi suốt ngày cứ cười đùa chọc ghẹo
nhau. Họ có một con Khỉ cung cách cũng thô lỗ như họ, cứ
mãi làm cho họ vui bằng cách nhăn mặt và nhảy nhót nhào lộn.
Sau một thời gian dài sống nơi
ấy, họ lại đến với dân làng để kiếm muối và các đồ
gia vị. Khi họ đi rồi, Bồ-tát đến sống ở trú xứ của
họ. Con Khỉ lại diễn các trò đùa cho ngài vui như với những
người kia. Bồ-tát búng tay chế nhạo nó và cho nó một
bài học:
- Kẻ nào sống với những vị khổ
hạnh tinh tấn tu tập thì phải có phẩm cách thích hợp, phải
có thiện ý trong hành động và phải chuyên tâm quán tưởng.
Sau đó con Khỉ luôn giữ phẩm hạnh
tốt và cư xử đúng đắn.
Thế rồi Bồ-tát ra đi. Các vị
khổ hạnh kia lại trở về mang theo muối và các đồ gia vị.
Nhưng con Khỉ không còn diễn trò đùa cợt nữa. Họ hỏi:
- Sao thế anh bạn? Sao bạn lại
không chơi đùa như bạn vẫn thường làm?
Một người trong bọn đọc bài kệ
thứ nhất:
Lúc trước đây người thường
nghịch phá
Trong lều cùng ẩn giả chúng ta,
Hãy làm trò khỉ như xưa,
Thành người đức hạnh chẳng vừa lòng đây!
Nghe thế, Khỉ đọc bài kệ thứ
hai:
Ko-mà-ya, bậc thầy trí tuệ,
Tôi đã nghe lời lẽ tuyệt vời.
Tôi nay đã khác xưa rồi,
Giờ đây suy tưởng tôi thời noi theo.
Thế rồi người ẩn sĩ đọc bài
kệ thứ ba:
Nếu hạt kia người gieo trên đá,
Dù trời mưa, hạt chả nên cây.
Dù người Tuệ Giác tròn đầy,
Suy tư ngươi chẳng mảy may được nào.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, Ngài
tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo này
là các ẩn sĩ hời hợt kia, còn Komàyaputta chính là Ta.
-ooOoo-

300. Chuyện Chó Sói (Tiền Thân#

Vaka)
Chó Sói nọ chuyên bắt sống thú
...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại
KỳViên về tình bạn xưa cũ.
Các tình tiết giống như trong bộ
Luật tạng (Vinaya Ðại phẩm) đây chỉ là phần trích.
Tôn giả Upasena bấy giờ tu được
hai năm, dẫn theo một Tỷ-kheo cùng trong tinh xá, mới tu được
một năm, đến tham bái bậc Ðạo Sư. Người ấy bị bậc
Ðạo Sư quở trách rồi lui về. Sau đó, ông đạt Thiền quán
đắc Thánh quả, với hạnh tri túc và các đức tính khác
và đã thực hiện Mười ba pháp tu tập của một Sa-môn,
ông dạy chúng cho các bằng hữu. Khi Thế Tôn an cư ba tháng,
ông cùng các Tỷ-kheo đồng trú bị đức Phật quở trách
trước tiên vì nói sai và làm không đúng, nhưng lần sau
được bậc Ðạo Sư khen với những lời này:
- Từ nay, hễ Tỷ-kheo nào muốn
viếng thăm Ta thì cứ để cho họ đến, miễn là họ thực
hiện Mười ba pháp tu tập của một Sa-môn.
Ðược khích lệ như vậy, ông trở
về thuật chuyện cho các Tỷ-kheo ấy. Sau đó, các Tỷ-kheo
ấy đều theo đúng các hạnh nguyện trước khi đến tham bái
bậc Ðạo Sư.
Thế rồi khi bậc Ðạo Sư hết
thời kỳ an cư, các Tỷ-kheo liền vứt bỏ các quần áo
rách cũ và mặc y phục sạch sẽ. Khi bậc Ðạo Sư cùng tất
cả hội chúng Tỷ-kheo đi quanh các phòng để xem xét, Ngài
chú ý tới đồ rách rưới kia đang rải rác đây đó, liền
hỏi tại sao. Nghe họ kể lại, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, việc hành trì
của các vị ấy chẳng được lâu dài, cũng giống như việc
con chó Sói giữ ngày trai giới.
Rồi Ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ
Ba-la-nại, Bồ-Tát sinh làm Thiên chủ Sakka (Ðế Thích). Bấy
giờ có một con Chó Sói sống trên một phiến đá cạnh bờ
sông Hằng. Nước lũ mùa đông tràn tới, vây quanh phiến đá.
Con Chó Sói nằm trên phiến đá, chẳng có gì để ăn và cũng
chẳng có cách nào để kiếm đồ ăn cả. Nước cứ dâng
lên, và Chó Sói tự nghĩ: "Ðây chẳng có đồ ăn, cũng
chẳng có cách gì kiếm được đồ ăn. Ta nằm đây, chẳng
biết làm gì cả. Tốt hơn ta nên giữ ngày trai giới (Bồ-tát).
Thế là nó quyết định giữ ngày trai giới. Nó nằm xuống,
trang trọng quyết giữ giới luật. Ðế Thích trong lúc suy
xét thấy sự quyết định yếu đuối của con sói. Ngài tự
nghĩ: "Ta sẽ quấy phá con Sói kia". Rồi ngài hóa
thành một con Dê rừng, tới đứng gần cho con Sói trông thấy.
" Ðể hôm khác rồi ta giữ
ngày trai giới!" Sói nghĩ vậy khi nhìn thấy dê. Nó đứng
lên và vồ lấy Dê. Nhưng Dê liền nhảy tránh nên Sói
không chộp được nó. Sói thấy rằng nó không thể bắt
con vật kia được, nó chẳng biết làm gì hơn đành quay trở
về, nằm xuống lại và tự nghĩ: "Ðược rồi, dù sao
ngày trai giới của ta vẫn không bị phá".
Bấy giờ, Ðế Thích, do thần lực
bay lên không và nói:
- Quá thiếu cương quyết như
ngươi thì làm sao giữ được ngày trai giới? Ngươi đã
không biết ta là Ðế Thích và ngươi đã muốn một bữa thịt
dê!
Sau khi chế nhạo, khiển trách
Sói xong, Ðế Thích quay về thiên giới
Chó Sói nọ chuyên bắt sống
thú
Làm bữa ăn với máu thịt kia.
Một lần phát thành nguyện ra,
Giữ ngày trai giới quyết là chẳng sai.
Thần Ðế Thích biết ngay chuyện ấy
Hóa thành dê đến đấy thử coi.
Sói kia khát máu vồ mồi,
Hạnh liền ném mất, quên lời nguyện ngay.
Người trên thế gian này cũng vậy,
Ðịnh việc mà chẳng thấy sức mình,
Sai đường mục đích chẳng thành,
Như khi Sói nọ thấy hình Dê kia.
*
Khi kể xong Pháp thoại này, Ngài
liền nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ chính ta là Ðế
Thích.
-ooOoo-
Đầu
trang | Mục
lục | 01 | 02 | 03
| 04 | 05 | 06 | 07
| 08 | 09 | 10
| 11 | 12 | 13
| 14