PHẨM ASADISA#
181. CHUYỆN HOÀNG TỬ VÔ ÐỊCH (Tiền thân Asadisa)#
Vị thiện xạ, hoàng tử...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về cuộc xuất gia vĩ đại.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Như
Lai mới thực hiện cuộc xuất gia vĩ đại. Thuở xưa, Như Lai cũng đã từ bỏ
vương vị và xuất gia.
Nói vậy xong, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát làm con Hoàng hậu được sanh an toàn, và trong ngày đặt
tên, được gọi là hoàng tử Asadisa (Vô Ðịch). Khi hoàng tử bắt đầu biết chạy,
vị hữu tình khác có công đức cũng nhập thai làm con hoàng hậu, được sanh ra
an toàn, và trong ngày đặt tên, được gọi là hoàng tử Brahmadatta (Phạm Thọ).
Khi được mười sáu tuổi, Bồ-tát đi Takkasilà,
học ba tập Vệ-đà và mười tám tài nghệ với một sư trưởng có danh tiếng nhiều
phương. Trong nghề bắn cung, Bồ-tát là vô địch. Học xong Bồ-tát trở về
Ba-la-nại.
Khi vua mệnh chung, vua có di chúc tôn thái
tử Asadisa làm vua và hoàng tử Brahmadatta làm phó vương. Sau khi vua băng
hà, thái tử Asadisa từ chối vương vị và nói:
- Ta không muốn vương vị.
Và Brahmadatta được làm lễ quán đảnh. Bồ-tát
không cần danh vọng, không muốn gì hết. Trong khi người em trị nước, Bồ-tát
sống như một ông hoàng. Những người hầu cận vu cáo Bồ-tát với vua:
- Thái tử Asadisa muốn chiếm vương quốc.
Vua tin lời nói của họ, tâm tư bị mê hoặc,
sai người đi bắt Bồ-tát. Một người hầu Bồ-tát báo cho ngài biết tin này.
Bồ-tát tức giận em, liền đi đến một nước khác và báo tin cho vua này biết
rằng có một người bắn cung đang đứng đợi trước hoàng môn. Vua hỏi:
- Kẻ ấy muốn bao nhiêu tiền lương?
- Mỗi năm, một trăm ngàn đồng.
- Ðược, hãy đưa kẻ ấy đến.
Khi Bồ-tát đến yết kiến và đứng chầu, vua
hỏi:
- Khanh là người bắn cung?
- Thưa vâng, tâu Ðại vương.
- Lành thay, hãy phục vụ ta.
Từ đấy trở đi Bồ-tát phục vụ nhà vua. Nhưng
các người bắn cung cũ lấy làm bất mãn, vì lương của Bồ-tát quá cao.
Một hôm vua đi đến ngự uyển, tại chỗ đó dưới
gốc xoài được dựng lên một lều vải trước bàn thạch dùng làm nghi lễ. Vua nằm
trên sàng tọa lộng lẫy dưới gốc cây xoài, nhìn lên thấy một chùm xoài trên
ngọn cây và suy nghĩ: "Không thể leo cây để hái chùm xoài quá cao", liền cho
gọi các người bắn cung đến và nói:
- Các khanh có thể dùng mũi tên cắt đứt chùm
xoài này và làm nó rơi xuống không?
Họ đáp:
- Tâu Ðại vương, làm việc này không khó gì
đối với chúng thần. Ðại vương đã thấy tài nghệ chúng thần nhiều lần trước
rồi. Người bắn cung mới tới nhận tiền lương nhiều hơn chúng thần, xin hãy
bảo kẻ ấy bắn rơi chùm xoài.
Vua truyền Bồ-tát đến và hỏi:
- Khanh có thể bắn rơi chùm xoài ấy không?
- Thưa vâng, tâu Ðại vương. Nếu được chọn
chỗ đứng, thần có thể.
- Chỗ đứng nào?
- Chỗ đứng tại tọa sàng mà Ðại vương nằm!
Vua bảo dời tọa sàng và nhường chỗ cho
Bồ-tát.
Bồ-tát không có cung tầm tay, nhưng thường
nai nịt nó trong bộ áo sát thân, do vậy cần phải có cái lều để thay quần áo.
Vua ra lệnh mang lều vải và cắm lều. Rồi Bồ-tát đi vào trong lều, cởi tấm
vải trắng đã mang trên mình, rồi mặc một áo đỏ sát da, buộc dây nịt và khoác
một áo cánh ngang hông màu đỏ.
Từ một cái túi, Bồ-tát lấy ra một cây kiếm
được tách rời từng mảnh, ráp chúng lại và đeo vào phía bên trái. Kế đó ngài
mang một áo giáp bằng vàng, đeo ống tên sau lưng, lấy ra cái cung lớn bằng
sừng dê được làm bằng nhiều mảnh. Bồ-tát lắp chúng lại, buộc dây cung đỏ như
màu san hô, đội một chiếc khăn trên đầu, lấy móng tay quay mũi tên hai ba
vòng và vén màn đi ra giống như hoàng tử rắn từ hang hiện lên. Bồ-tát đi đến
chỗ bắn cung, lắp tên vào cung và hỏi vua:
- Tâu Ðại vương, thần có thể cắt chùm xoài
này với mũi tên bắn lên hay tên rơi xuống?
- Này khanh, ta thường thấy một vật rơi
xuống do một mũi tên bắn lên, chứ chưa hề thấy mũi tên từ trên rơi xuống.
Vậy khanh nên làm mũi tên rơi xuống chùm xoài.
- Thưa Ðại vương, mũi tên này sẽ được bắn
lên xa đến tận trời của Bốn Thiên vương, rồi mới rơi xuống. Xin Ðại vương
chịu khó chờ đợi.
- Lành thay.
Vua chấp nhận. Rồi Bồ-tát nói:
- Thưa Ðại vương, mũi tên này khi bắn lên sẽ
cắt đứt cành xoài ở chính giữa, và khi rơi xuống, nó không rơi trật ra bên
này bên kia, dù chỉ một sợi tóc, nhưng rơi đúng chỗ mình muốn và mang theo
chùm xoài. Ðại vương hãy xem.
Với sự nhanh nhẹn, Bồ-tát bắn lên mũi tên ấy
đâm đúng chỗ giữa của chùm xoài. Ngay khi biết mũi tên ấy đã lên đến cung
điện của Bốn Thiên vương, ngài bắn thêm một mũi tên khác, đi nhanh hơn cả
mũi tên trước, và chạm vào lông của mũi tên đầu, khiến nó quay trở lại, còn
mũi tên sau bay thẳng đến lâu đài ở cõi trời Ba mươi ba. Tại đây, chư Thiên
giữ lại mũi tên ấy. Tiếng xé gió của mũi tên rơi xuống vang động như tiếng
sấm. Ðại chúng hỏi:
- Ðó là tiếng gì?
Bồ-tát trả lời:
- Ðó là tiếng của mũi tên rơi xuống.
Bồ-tát biết rằng mọi người sợ mũi tên rơi
trúng mình bèn an ủi họ:
- Chớ sợ hãi. Ta sẽ không cho mũi tên rơi
xuống đất đâu.
Mũi tên rơi xuống, không đi trật ra bên này
bên kia dù chỉ một sợi tóc, nhưng rơi đúng chính giữa và cắt đứt chùm xoài.
Bồ-tát không cho chùm xoài và mũi tên rơi xuống đất, một tay bắt lấy chùm
xoài, một tay bắt lấy mũi tên. Ðại chúng thấy sự kiện kỳ diệu ấy tán thán
bậc Ðại Sĩ:
- Chúng ta chưa bao giờ thấy sự kiện hy hữu
này.
Họ la lên, vỗ tay, búng ngón tay và vẫy hàng
ngàn khăn tay qua lại trên không. Trong sự hân hoan thỏa thích, hội chúng
quần thần góp được mười triệu đồng tặng cho Bồ-tát.
Còn vua ban Bồ-tát nhiều tặng vật và danh
vọng lớn.
Trong khi Bồ-tát sống ở đây được vua này
cung kính, tôn trọng, thì bảy vua khác nghe Hoàng tử Vô Ðịch không có mặt ở
Ba-la-nại, liền đi đến vây kinh thành và gửi tin cho vua:
- Phải đầu hàng hay giao chiến.
Vua hoảng hốt sợ chết và hỏi:
- Hiền huynh của ta nay ở đâu?
Khi được nghe ngài đang phục vụ một vua láng
giềng, vua nói:
- Nếu anh ta không đến, ta sẽ mất mạng. Hãy
ra đi và nhân danh ta, đảnh lễ dưới chân hiền huynh ta, xin lỗi và rước anh
ta về.
Vua sai sứ giả ra đi báo tin ấy cho Bồ-tát.
Ngài xin phép vua của mình trở về Ba-la-nại,
an ủi em đừng sợ, rồi cho khắc những chữ sau đây trên một mũi tên: "Ta,
hoàng tử Asadisa, đã trở về. Chỉ bắn một mũi tên, ta có thể giết tất cả các
ngươi. Ai còn yêu mạng sống hãy chạy trốn đi".
Rồi đứng trên tháp canh, Bồ-tát bắn mũi tên
này làm nó rơi vào chính giữa cái đĩa vàng mà bảy ông vua ấy đang ăn chung.
Khi họ đọc các chữ ấy, họ hoảng hốt sợ chết và tất cả đều tháo chạy.
Như vậy bậc Ðại Sĩ không làm rơi một giọt
máu để một con ruồi nhỏ có thể uống được và đã khiến cho bảy vua bỏ chạy.
Rồi nhìn em trai, ngài từ bỏ các dục, xuất gia làm vị đạo sĩ, ngài đạt được
các Thắng trí và các Thiền chứng, đến khi mạng chung, ngài được sanh lên
Phạm thiên giới.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, sau khi đuổi bảy
vua chạy, và thắng trận, hoàng tử Asadisa đã xuất gia làm vị đạo sĩ.
*
Rồi nhận danh bậc Chánh Giác, bậc Ðạo Sư đọc
những bài kệ:
Vị thiện xạ, hoàng tử,
Tên A-sa-di-sa,
Bậc đại hùng vô địch,
Bắn xa, nhanh như chớp,
Ðã phá vỡ tan tành
Ðại bộ phận quân địch.
Giao chiến giữa quân thù,
Nhưng không hại một ai,
Cứu người em an toàn,
Bồ-tát tự chế ngự.
Sau khi bậc Ðạo Sư nói xong Pháp thoại này,
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, người em trai là Ànanda, còn
hoàng tử Asadisa là Ta vậy.
-ooOoo-
182. CHUYỆN CON VOI THIỆN CHIẾN (Tiền thân Sangàmàvacara)#
Anh hùng quen chiến trận...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về Tôn giả Nanda.
Từ khi trở về thành Kapila lần đầu tiên, cho
người em trai, hoàng tử Nanda, xuất gia xong, bậc Ðạo Sư đã đi ra khỏi thành
Kapila, tuần tự đi đến Xá-vệ và sống tại đây. Tôn giả Nanda nhớ lại, khi cầm
lấy bình bát của Thế Tôn, cùng với Thế Tôn đi ra khỏi nhà, thì một Thích nữ
có tình cảm đối với Nanda, nhìn ra cửa sổ, với đầu tóc đang chải dở, thấy
vậy nàng nói:
- Sao, hoàng tử Nanda lại đi ra với bậc Ðạo
Sư? Mong Tôn giả hãy sớm trở về.
Nhớ tiếng nói của nàng, Tôn giả sanh luyến
ái, không vui vẻ, trở thành vàng vọt và tay chân nổi gân. Bậc Ðạo Sư biết
được tin này, suy nghĩ: "Ta sẽ khuyên dạy Nanda từ bỏ tiếng sét ái tình và
tu đạo giải thoát".
Ngài đi đến phòng Nanda ở, ngồi xuống chỗ
soạn sẵn và hỏi:
- Này Nanda, ông có an vui trong Pháp và
Luật này không?
- Bạch Thế Tôn, tâm con bị nàng chi phối.
Con không an vui.
- Này Nanda, trước đây ông đã đến chiêm bái
Tuyết Sơn chưa?
- Bạch Thế Tôn, con chưa đến.
- Vậy chúng ta hãy đi.
- Bạch Thế Tôn, nhưng con không có thần
thông, làm sao con đi được?
- Này Nanda, Ta sẽ đưa ông đi với thần lực
của Ta!
Rồi bậc Ðạo Sư cầm lấy ta vị Trưởng lão bay
lên hư không.
Giữa đường hai vị đi qua một đám ruộng bị
cháy, trên một khúc cây bị cháy, một con khỉ cái ngồi với mũi và đuôi bị sứt
lông trụi hết, da ngoài bị cháy, chỉ còn da trong bê bết máu. Bậc Ðạo Sư
hỏi:
- Này Nanda, ông có thấy con khỉ không?
- Dạ có, bạch Thế Tôn.
- Hãy nhìn nó cho kỹ.
Rồi bậc Ðạo Sư dắt Nanda và chỉ cho Nanda
thấy trải dài sáu mươi dặm là cao nguyên Manosìla, bảy hồ lớn, như hồ
Anotatta kỳ vĩ v.v..., năm con sông lớn, toàn bộ núi Tuyết có hàng trăm cảnh
trí tuyệt đẹp, với núi Vàng, núi Bạc, núi Bảo châu. Rồi bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Nanda, trước đây ông có thấy cung điện
cõi trời Ba mươi ba chưa?
- Bạch Thế Tôn, con chưa thấy.
- Hãy đi, này Nanda, Ta sẽ chỉ cho ông thấy
cung điện cõi trời Ba mươi ba.
Rồi bậc Ðạo Sư dắt Nanda đến đấy và ngồi
trên Hoàng thạch tọa. Thiên chủ Sakka (Ðế Thích) liền đi đến với chư Thiên
của hai thiên giới, đảnh lễ bậc Ðạo Sư và ngồi xuống một bên. Hai mươi lăm
triệu tiên nữ của Ðế Thích và năm trăm Thiên nữ với bàn chân bồ câu cũng đến
đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư làm cho Nanda khởi tâm say đắm
nhìn năm trăm Thiên nữ ấy không chớp mắt.
- Này Nanda, ông có thấy các Thiên nữ với
bàn chân bồ câu này không?
Bạch Thế Tôn, con đã thấy.
- Này Nanda, những Thiên nữ này đẹp hay
Thích nữ của ông đẹp?
- Bạch Thế Tôn, ví như con khỉ cái tàn phế
so sánh với cung nữ của vua, cũng vậy, nếu so sánh Thích nữ của vua với các
Thiên nữ này.
- Này Nanda, nay ông sẽ làm gì?
- Bạch Thế Tôn, làm thế nào để được các
Thiên nữ ấy?
- Làm Sa-môn pháp sẽ được các Thiên nữ ấy.
- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn hứa với con rằng
do hành trì pháp Sa-môn, con sẽ được các tiên nữ ấy, thì con sẽ hành trì
pháp Sa-môn.
Này Nanda, Ta hứa với ông đó, hãy hành trì
đi.
Như vậy, vị Trưởng lão đứng giữa thiên
chúng, sau khi được lời hứa của Thế Tôn, liền thưa:
- Bạch Thế Tôn, chớ quá chậm trễ. Chúng ta
hãy đi về và con sẽ hành trì pháp Sa-môn.
Bậc Ðạo Sư đưa Nanda trở về Kỳ Viên và vị
Trưởng lão bắt đầu hành trì pháp Sa-môn. Bậc Ðạo Sư gọi vị Tướng quân Chánh
pháp và bảo:
- Này Xá-lợi-phất, Nanda, em của ta, giữa
Thiên chúng cõi trời Ba mươi ba, vì thích thú các Thiên nữ, đã khiến ta lấy
lời hứa của ta để khích lệ vị ấy.
Cùng cách ấy, bậc Ðạo Sư báo tin cho Trưởng
lão đại Mục-kiền-liên, Trưởng lão đại Ca-diếp, Trưởng lão A-na-luật-đà,
Trưởng lão Ànanda, vị Thủ Kho Chánh pháp, tất cả tám mươi vị đại đệ tử và
lần lượt các Tỷ-kheo còn lại đều biết. Trưởng lão Xá-lợi-phất, vị Tướng quân
Chánh pháp đi đến Trưởng lão Nanda, và nói:
- Có thật chăng, này Hiền giả Nanda, nghe
nói giữa Thiên chúng cõi trời Ba mươi ba, Hiền giả đã khiến bậc Ðạo Sư hứa
là Hiền giả sẽ hành trì pháp Sa-môn để được các Thiên nữ?
Rồi Trưởng lão nói tiếp:
- Nếu sự việc như vậy, thì Phạm hạnh của
Hiền giả tùy thuộc nữ nhân và hệ lụy đến phiền não. Nếu Hiền giả hành trì
pháp Sa-môn vì mục đích được các nữ nhân ấy, thì có gì khác giữa Hiền giả và
một người làm thuê để lấy lương?
Lời nói ấy khiến Tôn giả Nanda xấu hổ và
liền dập tắt mọi ham muốn. Cũng với phương tiện này, tất cả tám mươi vị đại
đệ tử và các Tỷ-kheo còn lại đều khuyên răn khiến Tôn giả Nanda xấu hổ. Tôn
giả Nanda suy nghĩ: "Ðiều ta làm thật không xứng đáng" và với tàm quý, Tôn
giả Nanda kiên trì nỗ lực, tăng trưởng Thiền quán và chứng quả A-la-hán.
Rồi Tôn giả Nanda đi đến Thế Tôn và thưa:
- Bạch Thế Tôn, con xin giải tỏa Thế Tôn
khỏi lời hứa.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Nanda, khi ông đã đạt quả A-la-hán,
thì ta được giải tỏa khỏi lời hứa rồi.
Biết được sự việc này, các Tỷ-kheo tại Chánh
pháp đường bắt đầu nói chuyện về Hiền giả Nanda:
- Hiền giả Nanda thật là dễ dạy. Chỉ một lời
khuyên răn đã khiến vị ấy xấu hổ. Hiền giả Nanda liền hành trì pháp Sa-môn
và chứng quả A-la-hán.
Bậc Ðạo Sư đi đến Chánh pháp đường và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang họp ở đây
bàn câu chuyện gì?
Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay mà
thuở xưa, Nanda cũng đã nghe lời khuyên dạy như vậy.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một người huấn luyện voi. Khi đến
tuổi trưởng thành, Bồ-tát đạt được sự thiện xảo trong nghề nghiệp và phục vụ
một vị vua thù nghịch với vua Ba-la-nại. Bồ-tát được bảo huấn luyện con voi
quý của vua và đã huấn luyện nó tốt đẹp.
Vua ấy quyết định xâm chiếm quốc độ
Ba-la-nại liền đem Bồ-tát đi theo, cưỡi lên con voi quý cùng với quân đội
lớn đi đến Ba-la-nại bao vây thành và gửi tối hậu thư cho vua Ba-la-nại:
- Hãy giao quốc độ hay chiến đấu.
Vua Brahmadatta quyết định đánh, liền triệu
tập đội binh hùng hậu tại các cửa thành, tháp canh và chiến đấu. Vua thù
định cho con voi quý mặc áo giáp, rồi tự mình mặc áo giáp cưỡi lên đầu con
voi, cầm một câu móc sắc bén, thúc con voi tiến đến trước mặt thành và nói
lớn:
- Ta sẽ công phá thành, giết mạng sống của
tên vua thù địch, khiến vương quốc nó rơi vào trong tay ta.
Khi thấy các quân giữ thành đổ bùn sôi, ném
các hòn đá từ máy ném, con voi ấy sợ chết, nên không có thể tiến tới và lùi
bước. Tức thì vị tượng sư đến và nói:
- Này voi thân, con là bậc anh hùng đã quen
thuộc chiến trận. Tại trận địa như vậy, nếu con lùi bước thì thật là không
xứng đáng.
Bồ-tát khuyên con voi với bài kệ này:
Anh hùng quen chiến trận,
Voi được tiếng lẫy lừng,
Tấn công các cửa thành,
Sao voi lại lùi bước?
Phá mau thanh cửa sắt,
Nhổ lên các cột trụ,
Ðạp nát các cửa thành,
Hỡi voi, mau vào thành!
Nghe nói vậy, theo lời khuyên, con voi quay
trở lại, lấy cái vòi quấn vào các cột trụ, nhổ chúng lên như nhổ các cọng
nấm. Nó đạp nát cửa thành, bẻ gãy thanh cửa, đi vào thành và chiếm lấy vương
quốc cho vua.
*
Khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này xong, Ngài
liền nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy con voi là Nanda, vua là Ànanda và
Sư trưởng huấn luyện voi là Ta vậy.
-ooOoo-
183. CHUYỆN ÐỒ TÀN THỰC (Tiền thân Vàlodakka)#
Nước tồi tệ, ít vị...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về năm trăm người sinh sống bằng cách ăn đồ ăn dư thừa.
Nghe nói ở Xá-vệ có năm trăm cư sĩ giao gánh
nặng gia đình cho vợ con rồi sống với nhau và đến nghe pháp bậc Ðạo Sư
giảng. Giữa họ có một số chứng quả Dự lưu, một số chứng quả Nhất lai, một số
chứng quả Bất lai, không một người nào là không chứng quả.
Dân chúng mời bậc Ðạo Sư thọ thực và thường
mời luôn các cư sĩ ấy. Nhưng họ có năm trăm người hầu hạ, đem que xỉa răng,
nước rửa mặt, hương thơm, vòng hoa, và những người này sinh sống với đồ ăn
dư thừa của chủ. Sau buổi ăn sáng, bọn ấy nằm ngủ, rồi khi thức dậy cả bọn
đến sông Aciravati, la hét trên bờ sông và vật lộn nhau như những người
Mallà. Còn năm trăm cư sĩ không làm ồn, không la hét và sống yên lặng tịnh
cư. Bậc Ðạo Sư nghe tiếng ồn ào của những người hầu ăn tàn thực ấy, liền hỏi
Trưởng lão Ànanda:
- Tiếng ồn này là gì vậy?
Ngài được đáp lại:
- Bạch Thế Tôn, đây là tiếng ồn của những
người hầu ăn tàn thực.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Ànanda, không phải chỉ nay những người
hầu này ăn tàn thực xong và làm ồn ào quá. Còn những người cư sĩ này không
phải chỉ nay mới quy tụ với nhau và giữ im lặng, thuở xưa họ cũng đã như vậy
rồi.
Rồi theo lời Trưởng lão yêu cầu, bậc Ðạo Sư
kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamdatta khi vua trị vì
ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một vị đại thần. Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ-tát làm người cố vấn cho vua về các vấn đề thánh sự và tục
sự.
Một thời, vua nghe nói ở biên địa có nổi
loạn, liền chuẩn bị năm trăm con ngựa Sindh, cùng với bốn loại binh chủng ra
đi và bình định biên địa. Sau khi trở về Ba-la-nại, vua ra lệnh:
- Vì các con ngựa Sindh đã mệt mỏi, hãy cho
chúng ăn đồ tươi và uống nước nho.
Các chú ngựa Sindh uống nước thơm ngon rồi
đi vào chuồng ngựa, và đứng yên lặng trên chỗ của mình. Nhưng còn nhiều đồ
ăn cặn bã với các chất ngon ngọt đã bị vắt hết. Các người ấy hỏi vua:
- Nay chúng con phải làm gì với những vật
này?
Vua nói:
- Hãy nhồi chúng với nước, vắt khô với vải
lọc và cho đàn lừa.
Các con lừa uống nước cặn bã, trở thành say
sưa, kêu vang và chạy quanh khắp sân vua. Vua mở cửa sổ lớn, nhìn xuống sân
gọi Bồ-tát đang đứng gần và nói:
- Hãy nhìn xem những con lừa này uống nước
cặn bã xong trở thành say sưa, la hét, nhảy chồm lên và chạy quanh. Còn các
con ngựa Sindh sanh ra thuần chủng, sau khi uống nước thơm, lại im lặng và
đứng một chỗ, không chạy nhảy qua lại.
Vua hỏi vì sao như vậy và Bồ-tát đọc bài kệ
đầu:
Nước tồi tệ, ít vị,
Chất tươi bị vắt sạch.
Uống vào lừa say sưa,
Thưa Nhân chủ, ngài hỏi,
Ngựa Sindh, loài thuần chủng,
Uống loại nước thượng vị,
Ðứng yên lặng tại chỗ,
Không chạy nhảy say sưa.
Rồi Bồ-tát giải thích vấn đề qua bài kệ thứ
hai:
Cũng vậy, người hạ đẳng,
Dù ăn món dư tàn,
Vẫn say sưa nhảy nhót,
Sống thoải mái an nhàn.
Còn hạng người thuần tánh,
Giữ tâm trí vững vàng,
Cho dù được uống cạn,
Rượu thượng vị cao sang.
Vua nghe lời Bồ-tát nói, liền cho đuổi các
con lừa ra khỏi sân chầu. Sau đó, vua tuân theo lời khuyên dạy của Bồ-tát,
làm các công đức như bố thí v.v... rồi khi mạng chung vua đi theo nghiệp của
mình.
*
Khi bậc Ðạo Sư nói Pháp thoại này xong, Ngài
nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, năm trăm con lừa là các người
ăn tàn thực này, năm trăm con ngựa Sindh là năm trăm cư sĩ này, vua là
Ànanda, còn vị đại thần hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
184. CHUYỆN NGƯỜI LUYỆN NGỰA GIRIDANTA (Tiền thân Giridanta)#
Con ngựa Pan-da-va...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Ðạo Sư
kể về một người thân cận kẻ ác. Hoàn cảnh câu chuyện đã được kể trong Tiền
thân Mahilàmukha (số 26). Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Tỷ-kheo này mới thân cận kẻ ác. Thuở xưa, Tỷ-kheo này cũng đã thân cận kẻ ác
rồi.
Rồi bậc Ðạo Sư kể chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, vào thời vua Sàma trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình đại thần và khi đến tuổi trưởng
thành, trở thành cố vấn cho vua về các vấn đề thánh sự và tục sự.
Bấy giờ vua có con ngựa quý tên Pandava, và
một người huấn luyện ngựa tên Giridanta, là người què chân. Con ngựa thường
thấy người cầm dây cương đi phía trước suy nghĩ: "Người ấy muốn dạy ta đi cà
nhắc" nên nó học theo và đi cà nhắc. Người ta trình cho vua biết là con ngựa
què. Vua sai mời thú y. Thú y không thấy bệnh gì trên thân ngựa, liền thưa
với vua:
- Hạ thần không thấy bệnh gì trên thân ngựa.
Vua cho gọi Bồ-tát:
- Hãy đến, này khanh, và tìm nguyên nhân
việc ấy.
Bồ-tát đi đến, biết con ngựa ấy què do thân
cận với người huấn luyện bị què, liền tâu vua biết sự kiện này:
- Ðây là cái hại do thân cận người xấu.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ đầu:
Con ngựa Pan-da-va,
Của Ðại vương Sà-ma,
Bị tật nguyền tai hại,
Vì Ga-ri-dan-ta,
Nó bỏ bản tánh xưa,
Học theo người huấn luyện.
Vua hỏi Bồ-tát:
- Này khanh, nay phải làm gì?
Bồ-tát đáp:
- Hãy tìm một người huấn luyện tốt, không
què và con ngựa sẽ trở lại như xưa.
Nói xong, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Tìm người đáng tin cậy,
Có phong cách tốt lành,
Thắng dây cương vào ngựa,
Tập nó chạy vòng tròn,
Nó mau bỏ tật cũ,
Học theo người huấn luyện.
Vua làm theo như vậy. Con ngựa dần trở lại
tốt lành như xưa. Vua khen Bồ-tát hiểu biết tánh tình các loài súc sanh,
liền ban thưởng Bồ-tát nhiều danh vọng lớn.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này, Ngài
liền nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Giridanta là Ðề-bà-đạt-đa,
con ngựa là Tỷ-kheo thân cận người ác, vua là Ànanda, còn vị đại thần hiền
trí là Ta vậy.
-ooOoo-
185. CHUYỆN TÂM BẤT TỊNH (Tiền thân Anabhirati)#
Như nước đục, không trong...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một thanh niên Bà-la-môn.
Chàng tinh thông ba tập Vệ-đà, giảng dạy
thánh điển cho nhiều thanh niên Sát-đế-ly và Bà-la-môn. Sau một thời gian,
thanh niên ấy xây dựng gia đình, tâm tư suy nghĩ đến y phục, trang sức, nam
nô, nữ tỳ, ruộng đất, trâu bò, vợ con v.v... Bị tham sân si chi phối, tâm tư
vẩn đục, chàng không thể đọc các chân ngôn theo thứ tự rõ ràng. Một hôm,
người ấy đem theo nhiều hương, vòng hoa, đi đến Kỳ Viên cúng dường, đảnh lễ
bậc Ðạo Sư, rồi ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư ân cần nói chuyện với người
ấy và hỏi:
- Này cư sĩ, ông dạy học các chân ngôn. Ông
có thuộc lòng các chân ngôn ấy chăng?
- Bạch Thế Tôn, lúc trước con thuộc lòng các
chân ngôn ấy, nhưng từ khi con lập gia đình, tâm con trở nên vẩn đục, do
vậy, con không thuộc lòng các chân ngôn ấy như trước nữa!
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này cư sĩ, không phải chỉ nay ông mới như
vậy. Thuở trước tâm ông không vẩn đục, ông đã thuộc lòng các chân ngôn.
Nhưng khi ông bị các dục vọng chi phối, thì ông không nhớ các chân ngôn nữa.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của cư sĩ ấy,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ-tát học thuộc lòng các chân ngôn ở Takkasilà và trở thành
bậc sư trưởng có danh tiếng. Khi trở về Ba-la-nại, Bồ-tát dạy các chân ngôn
ấy cho một số đông thiếu niên Sát-đế-ly và Bà-la-môn.
Trong số ấy có một thanh niên Bà-la-môn học
thuộc lòng ba tập Vệ-đà mà không ngập ngừng một câu nào cả và trở thành phụ
tá cho sư trưởng dạy các chân ngôn. Sau một thời gian, vị ấy lập gia đình,
luôn luôn bận tâm vì gia sự, nên tâm trở thành vẩn đục, không thể tụng đọc
thuộc lòng các chân ngôn nữa. Rồi vị sư trưởng đi đến thăm thanh niên ấy và
hỏi:
- Này thanh niên, con có còn thuộc lòng các
chân ngôn không?
Chàng đáp:
- Từ khi con lập gia đình, tâm con trở thành
vẩn đục, con không thể đọc thuộc lòng các chân ngôn.
Vị sư trưởng nói:
- Này con thân, khi tâm bị vẩn đục, dù con
cố học kỹ lưỡng đến đâu đi nữa, cũng không thể đọc thuộc lòng các chân ngôn
được. Nhưng khi tâm trong sáng thì có thể nhớ chúng rõ ràng.
Sau đó Bồ-tát đọc hai bài kệ này:
Như nước đục, vấy bùn,
Không thấy sò, hến, cá.
Sạn, cát nằm phía dưới,
Cũng vậy, tâm vẩn đục
Không thấy được lợi mình,
Không thấy được lợi người.
Như nước lặng trong suốt,
Thấy sò, cá nằm dưới,
Cũng vậy, tâm thanh thản
Thấy lợi mình, lợi người.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này, Ngài
trình bày các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, thanh niên Bà-la-môn đắc quả
Dự-lưu và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, thanh niên này là thanh niên
Bà-la-môn kia và vị Sư trưởng là Ta vậy.
-ooOoo-
186. CHUYỆN VUA MANG SỮA ÐÔNG (Tiền thân Dadhivàhana)#
Ðẹp, thơm và vị ngọt...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Ðạo Sư
kể về sự thân cận với kẻ ác. (Câu chuyện này giống như câu chuyện trước).
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, thân cận kẻ ác là không
tốt và có hại. Tại sao ta phải nói đến tác hại của bạn ác đối với con người?
Trong thời gian quá khứ, do thân cận với cây Nimba không ngọt và không tốt
lành, một cây xoài dù thuộc loài vô tri, với vị ngọt sánh bằng thực phẩm chư
Thiên, cũng trở thành chua và đắng.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ:
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì
Ba-la-nại, bốn anh em Bà-la-môn tại xứ Kàsi xuất gia làm đạo sĩ. Họ làm một
dãy am thất bằng lá ở khu vực Tuyết Sơn và sống tại đấy. Người anh cả mệnh
chung và sanh làm Thiên chủ Sakka (Ðế Thích). Biết rõ thần lực của mình, sau
khoảng bảy hay tám ngày, Ðế Thích thường đến thăm và giúp đỡ đồ chúng.
Một hôm Thiên chủ đi đến thăm vị khổ hạnh
lớn tuổi nhất, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, rồi hỏi:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả cần gì?
Vị này mắc bệnh hoàng đản đáp:
- Tôi cần lửa.
Ðế Thích cho một con dao kiếm có búa (con
dao kiếm có búa được gọi như vậy là vì khi lắp cán vào có thể dùng như con
dao hay cây búa). Vị tu khổ hạnh hỏi:
- Với dụng cụ này, ai mang củi lại cho ta?
Ðế Thích nói:
- Thưa Tôn giả, khi Tôn giả cần củi, chỉ lấy
tay gõ lên cây búa này và nói: Hãy đem củi cho ta và nhen lửa, cây búa sẽ
đem củi lại và nhen lửa cho Tôn giả.
Sau khi cho vị ấy con dao kiếm có búa thần
ấy, Ðế Thích đi đến vị thứ hai và hỏi:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả cần gì?
Gần chòi lá vị này có con đường voi đi. Các
con voi làm vị này bực phiền. Vị này nói:
- Các con voi này làm ta khổ sở. Hãy đuổi
chúng đi.
Ðế Thích giao cho vị ấy một cái trống và
nói:
- Thưa Tôn giả, đánh mặt phía này, Tôn giả
sẽ đuổi các kẻ thù. Ðánh mặt phía bên kia, kẻ thù sẽ trở thành bạn tốt và
bao vây Tôn giả với bốn loại binh chủng.
Nói vậy xong, Ðế Thích cho vị này cái trống
và đi đến vị trẻ tuổi nhất và hỏi:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả cần gì?
Vị này cũng bị bệnh hoàng đản nên nói:
- Tôi cần sữa đông.
Ðế Thích cho vị này một ghè sữa đông và nói:
- Nếu Tôn giả muốn gì, hãy lật ngược ghè
này, nó sẽ trở thành sông lớn, chảy dòng nước lớn, và có thể chiếm một quốc
độ cho Tôn giả.
Nói vậy xong, Ðế Thích ra đi. Từ đó trở đi,
con dao kiếm có cây búa được dùng để đốt lửa cho người anh trưởng. Người thứ
hai nhờ đánh mặt trống đuổi các con voi đi, còn người em út dùng sữa đông.
Lúc bấy giờ, một con heo rừng sống trong một
ngôi làng cũ, chợt thấy một hòn ngọc có thần lực. Khi nó lấy miệng cắn hòn
ngọc, nhờ thần lực hòn ngọc, nó bay lên hư không, đi đến một hòn đảo ở giữa
biển, và nghĩ: "Nay ta sẽ ở lại đây". Nó đi xuống một chỗ tốt đẹp, dưới gốc
cây Udumbara, và nó sống tại đấy.
Một hôm, con heo rừng để hòn ngọc trước mặt
và nằm ngủ dưới gốc cây ấy. Có một người sống ở nước Kà-si, bị cha mẹ đuổi
ra khỏi nhà vì không giúp ích được gì, bèn đi đến bờ biển, leo lên một chiếc
tàu làm người giúp việc cho chủ tàu. Khi tàu bị chìm giữa biển, anh ta nằm
trên tấm gỗ, trôi đến hòn đảo ấy. Trong khi đi tìm trái cây, thấy con heo
rừng nằm ngủ, anh ta đi nhẹ đến gần và lấy hòn ngọc.
Nhờ thần lực hòn ngọc, anh ta bay lên hư
không, ngồi trên cây Udumbara và suy nghĩ: "Con heo rừng này nhờ thần lực
hòn ngọc, đi được trên hư không. Ta nghĩ có lẽ nó muốn sống ở đây. Trước
hết, ta hãy giết nó, ăn thịt rồi sẽ đi". Anh ta bẻ một cây gậy và phóng cây
gậy rơi xuống trên đầu con heo rừng. Con heo rừng thức dậy, không thấy hòn
ngọc, hoảng sợ chạy nhanh. Anh ta ngồi trên cây cười lớn. Con heo rừng nhìn
lên, thấy anh ta liền húc đầu vào cây và chết tại chỗ. Anh ta trèo xuống đốt
lửa, nấu thịt con heo rừng, ăn xong, liền bay lên hư không.
Khi bay ngang qua dãy Tuyết Sơn, anh ta thấy
am thất các đạo sĩ liền xuống am thất của người lớn tuổi nhất, ở đấy hai ba
ngày, và được vị tu khổ hạnh chiêu đãi. Thấy thần lực của con dao kiếm có
cây búa, anh ta nghĩ: "Ta phải lấy vật dụng này". Anh ta chỉ cho vị tu khổ
hạnh thần lực của hòn ngọc và nói:
- Tôn giả hãy lấy hòn ngọc này của tôi và
cho tôi con dao kiếm có búa.
Vị tu khổ hạnh mong muốn đi trên hư không,
bèn lấy hòn ngọc và trao đổi con dao kiếm có búa với anh ta. Người ấy lấy
con dao kiếm có búa, đi một lát, gõ vào vật ấy và nói:
- Này con dao kiếm có búa, hãy chém đầu
người tu khổ hạnh và đem lại hòn ngọc cho ta.
Con dao kiếm có búa liền đi chém đầu người
tu khổ hạnh và đem lại hòn ngọc. Anh ta cất con dao kiếm có búa tại một chỗ
kín, đi đến gần vị đạo sĩ thứ hai và sống tại đấy vài ngày. Anh ta thấy được
thần lực cái trống bèn gạ đổi hòn ngọc để lấy cái trống. Với cách thức trước
anh ta bảo cái búa chém đầu người ấy, rồi đi đến người em út. Thấy thần lực
của ghè sữa đông, anh ta cho hòn ngọc, đổi lấy cái ghè sữa đông, và với
phương tiện trước, anh ta bảo cái búa chém đầu người ấy. Anh ta lấy lại hòn
ngọc, con dao kiếm có búa, cái trống và cái ghè sữa đông, rồi bay lên hư
không. Ðứng không xa Ba-la-nại, anh ta gửi thư nhờ một người cầm tay mang
đến cho vua:
- Hãy giao quốc độ cho ta hay muốn bị chém
đầu .
Vua được tin liền nói:
- Ta sẽ bắt tên đạo tặc kia.
Và vua đi ra khỏi thành. Tên cướp ấy đánh
trên một mặt trống, khiến bốn loại binh chủng vây quanh mình. Khi biết vua
đã dàn bày thế trận, anh ta lật ngược cái ghè sữa đông, khiến dòng sông lớn
tuôn chảy. Ðại quân của vua bị sữa đông chìm ngập không thể ra được. Rồi anh
ta gõ cây kiếm có búa, bảo con dao chặt đầu vua. Con dao bay đi, đem đầu vua
lại và quăng dưới chân anh ta. Không một ai có thể đưa binh khí lên chống
anh ta. Với quân lực bao quanh, anh ta vào thành, làm lễ quán đảnh, trở
thành vua tên là Dadhivahana (Vua mang sữa đông) và trị nước.
Một hôm, trong khi đang chơi thả lưới trên
sông lớn, một trái xoài chín, được chư thần sử dụng, trôi từ hồ Kannamundà
(ở Tuyết Sơn) xuống và mắc vào lưới. Khi lưới được kéo lên, thấy trái xoài
ấy, các quan liền dâng vua. Trái xoài ấy lớn bằng cái ghè, tròn trịa, màu
sắc vàng. Vua hỏi các người đi rừng:
- Trái cây gì vậy?
Khi nghe đáp là trái xoài, vua ăn xong, bảo
đem gieo hột xoài vào vườn của mình, và tưới nước sữa. Cây mọc lên, đến năm
thứ ba đã sanh trái. Cây xoài được kính trọng, được tưới nước sữa, được cho
hương liệu dày đến năm phân, các vòng hoa được giăng xung quanh. Cây được
đốt đèn với dầu thơm, có màn vải bao bọc xung quanh đến bảo vệ các trái chín
có vị ngọt và sắc vàng.
Khi vua Dadhivahana gửi các trái xoài để
tặng các vua khác, vì sợ sau này hột xoài sẽ mọc lên thành cây xoài, vua lấy
gai chích tại chỗ mộng sanh cây. Các vua ấy ăn xoài xong, gieo hạt, nhưng nó
không mọc. Họ hỏi nguyên do và biết được sự việc. Một vị vua cho gọi người
giữ vườn và hỏi:
- Người có thể phá hoại hương vị trái xoài
của vua Dadhivahana, khiến nó trở thành đắng được không?
Người ấy đáp:
- Tâu Ðại vương, có thể được.
Vua liền sai người ấy đi và cho một ngàn
đồng tiền vàng. Người ấy đi đến Ba-la-nại, báo tin cho vua này biết có một
người giữ vườn đến. Khi được vua cho gọi, anh ta vào thành, đảnh lễ vua. Vua
hỏi:
- Ngươi có phải là người giữ vườn không?
Anh ta thưa:
- Tâu Ðại vương, phải.
Và anh ta bắt đầu ca tụng khả năng của mình.
Vua nói:
- Ngươi có thể làm phụ tá cho người giữ vườn
của ta.
Từ đấy trở đi, hai người săn sóc ngự viên.
Người giữ vườn mới tới không bao lâu đã làm
cho cây trổ hoa trái mùa và sanh quả trái mùa, khiến cho khu vườn càng thêm
xinh đẹp. Vua rất bằng lòng bèn đuổi người giữ vườn cũ đi, và giao khu vườn
cho anh ta. Ngay khi người giữ vườn ấy chiếm được ngôi vườn vào trong tay
mình, anh ta liền bao vây cây xoài bằng cách trồng các cây nimba và các loại
cây leo.
Dần dần các cây nimba lớn lên, rễ với rễ,
cành với cành, chúng xen lẫn chằng chịt với cây xoài. Do xen lẫn với vị
không tốt, trái xoài có vị ngọt trở thành đắng giống như là nimba. Vừa khi
biết được trái xoài đã trở thành đắng, người làm vườn bỏ chạy trốn.
Vua Dadhivahana đi đến thăm vườn và ăn trái
xoài. Khi nước của trái xoài vào miệng, có vị đắng như trái nimba không thể
nào nuốt nổi, vua phải khạc nhổ ra. Lúc bấy giờ Bồ-tát là vị cố vấn của vua
về thánh sự và tục sự. Vua cho gọi Bồ-tát và hỏi:
- Thưa bậc Hiền trí, cây này được săn sóc
cẩn thận như xưa, sự việc là vậy, sao trái trở thành đắng? Vì lý do gì vậy?
Và vua đọc bài kệ đầu:
Ðẹp, thơm và vị ngọt,
Trái xoài xưa là vậy,
Vẫn được ta tôn quý,
Sao lại có vị đắng?
Ðể nêu lý do, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Da-dhi-va-ha-na,
Trái xoài chín của ngài,
Bị vây bởi nim-ba,
Rễ xen lẫn với rễ,
Cành xen lẫn với cành,
Chính cây đắng bao quanh
Ðã làm hư trái ngọt,
Do sống với bạn ác,
Trái ngọt trở thành đắng.
Vua nghe lời Bồ-tát, bảo chặt tất cả các cây
nimba và cây leo, nhổ rễ lên, đào bỏ đất bùn không tốt xung quanh và đổ đất
bùn tốt vào gốc cây ấy. Rồi cây được nuôi dưỡng cẩn thận với sữa, nước ngọt,
nước thơm. Sau đó, nhờ được thấm nhuần đủ mọi vị ngọt nên trái cây trở lại
ngọt như trước, vua liền giao khu vườn cho người giữ vườn trước kia săn sóc.
Sau khi sống hết thọ mạng, vua đi theo nghiệp của mình.
*
Khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này xong, Ngài
nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Ta là vị đại hiền trí.
-ooOoo-
187. CHUYỆN BỐN VẺ ÐẸP (Tiền thân Catumatta)#
Cánh đẹp cùng cánh đẹp...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một Tỷ-kheo lớn tuổi.
Một hôm, trong khi hai vị đệ tử thượng thủ
đang ngồi cùng nhau hỏi đáp về Chánh pháp, một Tỷ-kheo lớn tuổi đi đến gần
hai vị này, trở thành người thứ ba, ngồi xuống và nói:
- Thưa các Tôn giả, chúng tôi sẽ hỏi câu
này. Nếu các Tôn giả khó trả lời, hãy hỏi lại chúng tôi.
Các vị Trưởng lão chán ngấy vị này, nên đứng
dậy bỏ đi. Hội chúng ngồi nghe pháp từ các vị Trưởng lão, sau khi giải tán,
đi đến yết kiến bậc Ðạo Sư. Họ được bậc Ðạo Sư hỏi:
- Vì sao đến giờ phi thời vậy?
Họ thuật lại câu chuyện ấy. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên nhàm chán vị ấy, không trả lời và bỏ đi. Thuở
xưa, hai vị cũng đã bỏ đi rồi.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát là một thần cây trú ở trong rừng. Một hôm có hai ngỗng
trời con từ núi Cittakùta bay ra, đến đậu trên cây ấy để tìm mồi. Khi tìm
mồi xong, chúng trở về nghỉ ngơi tại chỗ ấy rồi bay về núi Cittakùta. Trong
khi đi qua đi lại, Bồ-tát trở thành quen thuộc với chúng. Ði đi về về nhiều
lần, họ hoan hỷ kết bạn với nhau, nói pháp cho nhau nghe rồi ra đi. Một hôm,
hai ngỗng con đậu trên ngọn cây nói chuyện với Bồ-tát, một con chó rừng đứng
dưới gốc cây nói bài kệ này với hai ngỗng trời con ấy:
Leo nhánh cây chỗ cao,
Một mình, ngồi ca hót,
Hãy xuống đây ngâm kệ,
Cho vua loài thú nghe!
Các ngỗng trời con chán ngấy chó rừng, liền
bay lên và trở về núi Cittakùta. Bồ-tát nói với chó rừng bài kệ thứ hai:
Cánh đẹp cùng cánh đẹp,
Chư Thiên cùng chư Thiên,
Có đủ bốn vẻ đẹp,
Sao chó lại ở đây?
Hỡi con chó rừng kia,
Hãy về hang của chó!
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này,
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo lớn tuổi là chó rừng,
hai ngỗng trời con là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, còn vị thần cây là Ta
vậy.
-ooOoo-
188. CHUYỆN SƯ TỬ LAI CHÓ RỪNG (Tiền thân Sìhakottuka)#
Ngón chân và móng chân...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về Kolàlika.
Một hôm, khi nhiều vị đa văn đang nói pháp,
Kokalika cũng muốn tự mình nói pháp (mọi việc đều giống các chi tiết ở
chuyện trước (Số 172). Khi nghe việc này, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không chỉ nay Kokalika
mới phô bày bản chất qua tiếng nói của mình. Thuở trước, kẻ ấy cũng đã làm
như vậy rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát là một con sư tử ở khu vực Tuyết Sơn, do cùng sống với một
con chó rừng cái đã sanh một thú con. Con sư tử lai này về ngón chân, móng,
lông bờm, màu sắc, hình dáng, mặt mày đều giống cha, nhưng tiếng hú thì
giống mẹ.
Một hôm, trời mưa, các sư tử họp lại, rống
lên, chơi các trò chơi sư tử, và con sư tử này cũng muốn rống lên giữa bọn
chúng, nhưng chỉ hú lên tiếng hú của chó rừng. Nghe nó hú, các sư tử đều im
lặng. Khi nghe tiếng ấy, một sư tử con cũng được sanh từ Bồ-tát, liền hỏi:
- Thưa cha, con sư tử này về dung sắc v.v...
giống chúng con, nhưng tiếng hú lại khác. Con thú ấy là ai?
Rồi nó đọc bài kệ đầu:
Ngón chân và móng chân
Là ngón, móng sư tử,
Nó có chân sư tử,
Ðể đứng dựa lên trên,
Nhưng giữa chúng sư tử,
Tiếng kêu nó lại khác.
Nghe vậy, Bồ-tát nói:
- Này con thân, em con là con một chó rừng
cái, giống cha về dung sắc, giống mẹ về tiếng.
Rồi Bồ-tát nói với con sư tử có mẹ là con
chó rừng cái.
- Này con thân, bắt đầu từ nay, sống ở đây,
chớ lên tiếng. Nếu con lên tiếng, chúng sẽ biết con là giống chó rừng.
Khuyên dạy vậy xong, Bồ-tát đọc bài kệ thứ
hai:
Này con thân, chớ hú,
Sống im lặng trong rừng,
Với tiếng, chúng biết con,
Tiếng con không giống bố!
Sau khi nghe lời khuyên dạy này, con thú ấy
không bao giờ thử rống nữa.
*
Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong,
Ngài liền nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con chó rừng là Kokalika, con
sư tử cùng một cha là La-hầu-la, còn vua các loài thú là Ta vậy.
-ooOoo-
189. CHUYỆN TẤM DA SƯ TỬ (Tiền thân Sìhacamma)#
Tiếng hí này không phải...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về Kokàlika.
Trong thời này, Kokàlika, muốn tự tán tụng.
Bậc Ðạo Sư biết được sự việc này, liền kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một người nông phu. Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ-tát sống với nghề nông. Lúc bấy giờ, một nhà buôn làm nghề
bán rong đồ vật do một con lừa chở. Khi ông đến một chỗ nào, ông lấy xuống
các hàng hóa, trùm lên con lừa một da con sư tử và thả nó giữa ruộng lúa gạo
và lúa mì. Các người chủ ruộng thấy nó, tưởng là con sư tử, không dám lại
gần.
Một hôm, người lái buôn ấy đến trú tại một
cửa hàng. Trong khi nấu cơm sáng, ông trùm lên con lừa một tấm da sư tử và
thả nó vào ruộng mì... Các người chủ ruộng nghĩ đó là con sư tử, không dám
đến gần bèn về nhà thông báo. Toàn dân trong làng cầm các binh khí, thổi tù
và, đánh trống đi đến gần ruộng và la hét. Con lừa hoảng hốt vì sợ chết, vội
hí lên tiếng lừa. Biết được nó là con lừa, Bồ-tát đọc bài kệ đầu:
Tiếng hí này không phải
Tiếng sư tử, hay cọp,
Cũng không phải tiếng beo.
Con vật ty tiện này,
Dù trùm da sư tử,
Cũng chỉ hí tiếng ngựa!
Các người làng biết nó là con lừa, đánh cho
nó gãy xương, rồi lấy tấm da sư tử và bỏ đi. Người lái buôn ấy đến, thấy con
lừa lâm nạn, liền đọc bài kệ thứ hai:
Ðã lâu, lừa khôn khéo,
Ăn lúa gạo, lúa mì,
Da sư tử trùm lên,
Do tiếng kêu, bị đánh!
Trong khi người lái buôn nói vậy, con lừa
tắt thở. Người ấy bỏ con lừa lại và ra đi.
*
Bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong, liền
nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con lừa là Kokàlika và người
nông phu hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
190. CHUYỆN GIỮ GIỚI (Tiền thân Sìlànisamsa)#
Hãy nhìn kết quả này...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một nam cư sĩ có lòng tin.
Một Thánh đệ tử có lòng tin, một hôm, trên
đường đi đến Kỳ Viên, xuống con sông Aciravati vào buổi chiều, chứng kiến
dân chài kéo thuyền lên bờ để nghe thuyết pháp. Không thấy thuyền nào đậu
tại bến, vị cư sĩ ấy sanh hoan hỷ, lấy đức Phật làm đề tài tu niệm nên khi
bước xuống sông, chân không chìm xuống nước.
Vị ấy đi như trên đất liền, nhưng khi đến
giữa sông, thấy sóng, nên đề tài tu niệm trở thành yếu và chân bắt đầu chìm
xuống. Vị ấy liền kiên trì gìn giữ hỷ tâm, lấy đức Phật làm đề tài tu niệm,
nên vẫn đi trên mặt nước. Vào Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo Sư, vị ấy ngồi xuống
một bên. Bậc Ðạo Sư tiếp đón thân tình và hỏi:
- Này nam cư sĩ, mong rằng trên con đường đi
đến đây, ông không mệt mỏi.
Vị ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, nhờ hỷ tâm với đức Phật làm
đề tài tu niệm, con đi trên mặt nước như đặt chân trên đất liền, và đến đây.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này cư sĩ, ông không phải là người đầu
tiên nhờ niệm các công đức Phật mà được an toàn. Thuở trước, có những nam cư
sĩ, khi tàu bị chìm, nhờ niệm các công đức Phật mà được an toàn.
Rồi theo lời yêu cầu của vị này, bậc Ðạo Sư
kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, trong thời đức Phật Ca-diếp, có vị
Thánh đệ tử đã chứng quả Dự lưu lên tàu đi cùng với một thợ hớt tóc giàu có.
Người vợ nói với chồng:
- Này ông, ông hãy lo giúp đỡ săn sóc vị cư
sĩ này trong bất cứ hoàn cảnh vui buồn nào nhé.
Người thợ đi trên chiếc thuyền ấy. Sau một
tuần, thuyền bị đắm giữa biển. Cả hai người nằm trên một tấm ván và trôi đến
được một hòn đảo. Tại đấy người hớt tóc giết các con chim, nấu ăn một phần
và đem một phần cho vị nam cư sĩ. Người cư sĩ tự cho là vừa đủ, nên không ăn
thêm. Vị ấy nghĩ: "Tại chỗ này, ngoài Ba ngôi báu, chúng ta không có sự giúp
đỡ nào khác". Rồi vị ấy niệm tưởng công đức của Ba ngôi báu. Trong khi người
ấy niệm như vậy, một con rắn chúa đã sanh ở đảo ấy biến hóa thành một chiếc
thuyền lớn, có một vị thần biển làm thuyền trưởng. Chiếc thuyền chứa đầy bảy
báu: Ba cột buồm làm bằng ngọc xanh, cái neo làm bằng vàng, sợi dây làm bằng
bạc và các tấm ván bằng vàng. Vị thần biển đứng trên thuyền gọi lớn:
- Có ai đi đến Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) không?
Vị nam cư sĩ nói:
- Có chúng tôi về đó.
- Vậy hãy leo lên tàu.
Vị cư sĩ lên tàu và gọi người hớt tóc. Vị
thần biển nói:
- Ngài thì được, nhưng người kia thì không.
- Vì sao?
- Người ấy không có công đức. Vì vậy tôi đưa
ngài lên tàu nhưng không đưa người này.
- Thôi được, các công đức bố thí ta đã làm,
các giới ta đã giữ, các sức mạnh ta đã tu tập, ta cho người này kết quả tất
cả các hạnh ấy của ta.
Người hớt tóc nói:
- Thưa ông chủ, con rất hèn.
Vị thần biển nói:
- Nay ta nhận thêm người này lên tàu.
Rồi vị thần đưa cả hai người vượt biển và
ngược dòng sông đi đến Ba-la-nại. Sau đó, với thần lực của mình, vị thần tạo
ra tài sản trong nhà của hai người ấy và nói:
- Hãy thân cận những bậc hiền trí. Nếu người
thợ hớt tóc không cẩn thận với vị cư sĩ này, người ấy đã chết giữa biển rồi.
Ðể tán thán công đức thân cận của người hiền
trí, vị thần nói lên những bài kệ này:
Hãy nhìn kết quả này
Của tín, giới, và thí,
Biến hình thành chiếc thuyền,
Con rắn chở thiện nam.
Hãy thân cận bậc lành,
Hãy giao du kẻ tốt;
Chung sống với bậc thiện,
Người hớt tóc an toàn.
Vị thần biển đứng trên hư không, sau khi
thuyết pháp xong, liền cùng với con rắn chúa bay về cung điện của mình.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này
xong, Ngài giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị nam cư sĩ có lòng tin
đắc quả Nhất lai và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vị nam cư sĩ đắc Niết-bàn,
rắn chúa là Xá-lợi-phất và vị thần biển là Ta vậy.