PHẨM
THIỆN PHÁP
171. CHUYỆN THIỆN PHÁP (Tiền thân Kalyàna-dhamma)#
Thưa Nhân chủ, ở đời...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một bà mẹ vợ điếc. Ở Xá-vệ, một điền chủ có lòng tin, tinh tấn, quy y Ba
ngôi báu và giữ gìn Năm giới. Một hôm, người ấy đem theo nhiều phẩm vật như
bơ chín, hoa, hương, và vải đi đến tinh xá để nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp.
Trong khi người ấy đi, bà mẹ vợ đem theo các món ăn loại cứng loại mềm đến
thăm con gái bà. Bà già ấy có hơi điếc. Sau khi ăn với con gái, bà muốn xua
đuổi sự buồn ngủ, bèn hỏi con gái:
- Này con, con sống với chồng có hoan hỷ hoà
hợp không?
- Thưa mẹ sao mẹ hỏi vậy? Thật khó tìm được
một người như anh ấy. Dù nhiều người xuất gia có giới đức và có đạo hạnh
cũng khó sánh với con rể của mẹ.
Bà già nghe con gái nói, không phân biệt
được rõ ràng, chỉ nắm lấy chữ "xuất gia" và la to:
- Sao con? Chồng con trở thành người xuất
gia rồi ư?
Mọi người sống ở trong nhà nghe bà ta nói,
bèn la lớn:
- Nghe nói người điền chủ của chúng ta đã
xuất gia rồi!
Nghe tiếng la, quần chúng tụ họp ở cửa và
hỏi :
- Sao, sự việc gì xảy ra vậy?
Và họ được trả lời:
- Nghe nói người chủ của nhà này đã xuất gia
rồi!
Người điền chủ nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp
xong, đi ra khỏi tinh xá và vào thành. Khi đi giữa đường, một người thấy ông
liền hỏi :
- Thưa ông chủ, nghe nói ông xuất gia rồi
phải không? Ở nhà ông, vợ con và những người phục vụ đang khóc đó!
Người điền chủ ấy suy nghĩ :
- Ta không xuất gia mà người này nói ta xuất
gia. Một tiếng nói tốt về ta đã khởi lên, không nên để cho mất đi. Vậy hôm
nay, ta phải xuất gia.
Người điền chủ quay trở lại, đi đến bậc Ðạo
Sư, và Ngài hỏi:
- Này cư sĩ, nghe Như Lai thuyết giảng xong,
Ta thấy ông đã đi về, sao nay ông còn trở lại?
Người điền chủ kể câu chuyện và thưa :
- Bạch Thế Tôn, một tiếng nói tốt khởi lên
không nên để biến mất. Do vậy con muốn xuất gia, và con đã trở lại.
Thế Tôn cho người ấy được xuất gia, thọ đại
giới, và chơn chánh hành trì, không bao lâu vị ấy chứng quả A-La-Hán. Câu
chuyện này được chúng Tỷ- kheo biết. Một hôm, các Tỷ- kheo đang ngồi họp ở
Chánh pháp đường và nói về câu chuyện sau đây:
- Này các Hiền giả, người điền chủ với tên
này, được nghe một lời nói tốt khởi lên. Không muốn cho nó biến mất, vị ấy
đã xuất gia và chứng quả A-la-hán.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi :
- Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì đang được
các ông ngồi họp và bàn luận?
Khi nghe thuật câu chuyện trên, bậc Ðạo Sư
nói:
- Này các Tỷ-kheo, các bậc Hiền trí thuở
xưa, vì không muốn một lời nói tốt đã khởi lên bị bỏ phí, nên đã xuất gia.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì nước
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình triệu phú. Khi đến tuổi trưởng
thành, cha chết, Bồ-tát được đặt vào địa vị người triệu phú. Một hôm, Bồ-tát
đi đến nhà vị ấy để thăm người con gái. Bà ta có hơi điếc. Câu chuyện xảy ra
giống như câu chuyện hiện tại. Khi Bồ-tát hầu vua xong, đang đi về nhà, một
người thấy Bồ-tát và hỏi:
- Nghe nói ông đã xuất gia rồi. Tại nhà ông
mọi người đang than khóc lớn.
Bồ-tát suy nghĩ: "Một tiếng tốt khởi lên
không nên để cho mất đi". Vì thế, Bồ-tát đã trở lại và đi đến cung vua. Vua
hỏi:
- Này nhà triệu phú, ông đã đi rồi sao còn
trở lại?
- Thưa Ðại vương, tôi chưa xuất gia, nhưng
dân chúng lại đồn tôi đã xuất gia nên khóc than. Một tiếng tốt đã khởi lên không
nên để cho biến mất. Vì thế tôi sẽ xuất gia. Mong Ðại vương cho phép tôi
xuất gia.
Ðể nói lên ý nghĩa này, Bồ-tát đọc những bài
kệ:
Thưa Nhân chủ, ở đời,
Ðược danh xưng Thiện pháp,
Người có trí không nên
Ðể thối thất tổn giảm,
Hãy vì sự xấu hổ,
Chấp nhận gánh nặng ấy.
Thưa Nhân chủ, tên này
Nay được tặng cho tôi,
Ở đời, chính tại đây,
Tôi được tên Thiện pháp,
Thấy vậy, tôi xuất gia,
Tôi không ham dục lạc.
Bồ-tát nói vậy xong, liền được phép vua cho
xuất gia. Sau đó, ngài đi đến khu vực Tuyết Sơn xuất gia làm vị ẩn sĩ, đạt
được các Thắng trí và các Thiền chứng, rồi khi mất, ngài được sanh lên Phạm
thiên giới.
*
Bậc Ðạo Sư kể pháp thoại này xong, liền nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua là Ànanda và vị triệu phú
ở Ba-la-nại là Ta vậy.
-ooOoo-
172. CHUYỆN NÚI DADDARA (Tiền thân Daddara)#
Ai đã rống lớn tiếng...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về Tỷ-kheo Kokàlika. Lúc bấy giờ tại cao nguyên Manosilà, nhiều Tỷ-kheo học
rộng, rống tiếng của sư tử trẻ khiến cho sông Hằng thiên giới (Ngân Hà) gần
như rơi xuống và đọc lên những câu kinh ở giữa Tăng chúng. Kokàlika không
biết sự ngu dốt của mình đối với những câu kinh mà các Tỷ-kheo đã tụng đọc,
và suy nghĩ: "Ta sẽ đọc những đoạn kinh đó". Kokàlika đi vào giữa chúng
Tỷ-kheo, nhưng không biết được danh hiệu dành cho mình, cứ đến chỗ này chỗ
kia và nói:
- Các Tỷ-kheo không yêu cầu ta đọc kinh. Nếu
họ yêu cầu, ta sẽ đọc.
Chúng Tỷ-kheo đã rõ biết khả năng đọc kinh
của Kokàlika rồi, nhưng họ nghĩ: "Chúng ta sẽ thử Kokàlika", nên họ nói như
sau:
- Này Hiền giả Kokàlika, hôm nay Hiền giả
hãy đọc một vài đoạn kinh cho chúng Tăng.
Kokàlika không biết sự ngu dốt của mình,
chấp nhận và nói:
- Lành thay, hôm nay tôi sẽ đọc.
Kokàlika uống nước cháo, ăn một số món ăn và
dùng một món canh hợp khẩu vị. Khi mặt trời lặn, thời kỳ nghe pháp đã báo
hiệu, chúng Tỷ-kheo đã họp, Kokàlika quấn hạ y màu "vàng", lại xanh như cây
Kantakurania (hoa kèn xanh), đắp thượng y toàn trắng như bông Kanikàra, đi
vào giữa chúng Tăng, đảnh lễ các vị Trưởng lão, bước lên pháp toạ đã được
trang hoàng đặt dưới một cái đình lớn đính châu báu, cầm một cái quạt có màu
sắc rực rỡ và ngồi trên ấy với ý định: "Ta sẽ tụng đọc một đoạn kinh".
Chính khi ấy, những hạt mồ hôi bắt đầu toát
ra khắp thân của Kokàlika, vị ấy đọc câu kệ thứ nhất trong đoạn thứ nhất,
nhưng vị ấy không thể nhớ được câu kế tiếp. Run rẩy, từ chỗ ngồi đi xuống,
cảm thấy xấu hổ, Kokàlika đi ra khỏi hội chúng và về phòng của mình. Một
Tỷ-kheo khác có học nhiều đã đọc đoạn kinh kế tiếp. Từ đấy trở đi, tất cả
các Tỷ-kheo đều biết được sự trống rỗng của Kokàlika.
Một hôm, các Tỷ-kheo tại Chánh pháp đường
bắt đầu nói về câu chuyện ấy:
- Này các Hiền giả, ban đầu thật khó biết
được sự trống rỗng của Kokàlika. Nhưng nay, Kokàlika đã tự mình rống lên và
tự phơi bày sự kém cỏi của mình.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông nay ngồi họp bàn
câu chuyện gì?
Sau khi nghe câu chuyện ấy, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Kokàlika mới phơi bày sự trống rỗng của mình. Trước kia, kẻ ấy cũng đã rống
lên và phơi bày sự trống rỗng như vậy rồi.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con sư tử ở khu vực Tuyết Sơn, là vua loài sư tử
đông đảo sống trong hang Bạc. Gần đấy, một con chó rừng sống trong một cái
hang khác.
Một hôm trời mưa, không đi được, tất cả sư
tử họp tại cửa hang sư tử chúa, rống lên tiếng rống sư tử và chơi các trò sư
tử. Trong khi chúng rống lên và chơi như vậy, con chó rừng cũng lên tiếng.
Các con sư tử nghe tiếng của nó, suy nghĩ: "Ðây là con chó rừng cũng rống
lên với chúng ta". Chúng cảm thấy xấu hổ, nên im lặng. Khi thấy chúng im
lặng, con của Bồ-tát, một sư tử con, hỏi cha:
- Thưa cha thân, các sư tử thường rống lên
và chơi trò sư tử , nhưng khi nghe thấy tiếng con chó rừng lại xấu hổ và im
lặng. Con vật ấy là con gì đã tự phơi bày tiếng rống hạ liệt của mình?
Sư tử con đọc bài kệ đầu để hỏi:
Ai đã rống lớn tiếng,
Vang dội Dad-da-ra,
Vì sao các sư tử
Lại không rống đáp lại?
Con thú rống như vậy
Tên nó gọi là gì?
Khi nghe vậy, sư tử cha đọc bài kệ thứ hai:
Chính là con chó rừng
Ðã rống, này con thân,
Con vật bần tiện nhất
Giữa các loại sanh thú,
Ghê tởm hạ sanh nó,
Sư tử ngồi im lặng.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Kokàlika với tiếng rống đã phơi bày sự kém cỏi của mình ta. Thuở trước, kẻ
ấy cũng làm như vậy rồi.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con chó rừng là Kokàlika, sư
tử con là La-hầu-la, còn sư tử chúa là Ta vậy.
-ooOoo-
173. CHUYỆN CON VƯỢN (Tiền thân Makkata)#
Có một kẻ khốn cùng...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ-Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một kẻ gian trá. (Hoàn cảnh câu chuyện này sẽ được trình bày trong Chương
XIV, Tiền thân Uddàla (số 487)). Lúc bấy giờ, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Tỷ-kheo này mới gian trá. Thuở xưa, kẻ ấy là con vượn, vì ngọn lửa, cũng đã
gian trá như vậy rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở
Bà-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại một làng ở Kàsi.
Khi đến tuổi trưởng thành, và đã đi học đủ các tài nghệ ở Takkasilà, Bồ-tát
lập gia đình. Nữ Bà-la-môn ở nhà, sanh được một con trai. Khi đứa con bắt
đầu chạy qua chạy lại, nữ Bà-la-môn mệnh chung. Bồ-tát làm xong tang lễ cho
người chết, liền suy nghĩ: "Nay ta còn sống ở gia đình làm gì?" Và dắt con
đi với ý định: "Chúng ta sẽ xuất gia".
Từ giã bà con bạn bè tiễn đưa khóc lóc,
Bồ-tát đem theo con đi vào Tuyết Sơn, làm vị ẩn sĩ, và sinh sống trong rừng
với các thứ rễ và trái cây.
Một hôm, trong khi trời mưa, Bồ-tát đốt lửa
củi lên, nằm xuống trên một tấm phản và hơ lửa cho ấm. Cậu con trai ngồi xoa
bóp chân cha. Có một con vượn rừng bị lạnh hành hạ, chợt thấy ngọn lửa trong
chòi lá của Bồ-tát, liền suy nghĩ: "Nếu ta vào đấy, chúng sẽ đập ta và la:
Ôi con vượn, con vượn, và đuổi ta ra ngoài. Như vậy ta không sưởi lửa được.
Nay ta có một phương tiện. Ta sẽ khoác áo một người tu khổ hạnh, và trá hình
đi vào". Vì vậy, nó choàng áo bằng vỏ cây của một người tu khổ hạnh đã chết,
cầm lấy cái rổ và cái gậy có móc của nó, dựa vào một cây cọ dừa ở cửa chòi
lá, và đứng đấy co ro cúm rúm. Cậu trai khổ hạnh thấy nó, không biết nó là
con vượn, suy nghĩ: "Có một vị tu khổ hạnh lớn tuổi, bị rét muốn đến hơ lửa!
Ta sẽ nói với cha ta cho vị này vào chòi lá và hơ lửa". Vì vậy, cậu gọi cha
và đọc bài kệ đầu:
Có một kẻ khốn cùng
Dựa vào cây cọ dừa,
Ðây ta có chòi lá,
Cho nó vào, cha thân.
Bồ-tát nghe con nói liền đứng dậy, ra cửa
chòi lá nhìn, biết đấy là con vượn, ngài bảo:
- Này con thân, bộ mặt như vậy không phải là
người thường, nó là con vượn, chớ gọi nó vào.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Con thân, chớ gọi nói,
Nó làm nhớp nhà ta!
Bộ mặt vậy không phải
Hạnh tốt Bà-la-môn.
Bồ-tát cầm một nhánh củi, ném nó và la lớn:
- Người đứng đấy làm gì?
Và đuổi nó đi. Con vượn quăng bỏ áo bằng vỏ
cây, leo lên cây và đi vào trong khóm rừng.
Sau đó Bồ-tát tu tập Bốn Vô lượng tâm từ,
bi, hỷ, xả, và khi mạng chung được sanh lên Phạm thiên giới.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ con vượn là Tỷ-kheo gian trá,
con trai vị tu khổ hạnh là La-hầu-la và vị tu khổ hạnh là Ta vậy.
-ooOoo-
174. CHUYỆN CON VƯỢN LỪA DỐI ( Tiền thân Dubhidamakkatta)#
Ta đã cho nhà ngươi...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc lâm, bậc Ðạo Sư
kể về Ðề-bà-đạt-đa. Một hôm, các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường, nói
chuyện về Ðề-bà-đạt-đa không nhớ ơn và phản lại bạn bè. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Ðề-bà-đạt-đa mới không nhớ ơn và phản lại bạn bè. Thuở trước, kẻ ấy cũng vậy
rồi.
R ồi bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn, tại một làng ở Kàsi.
Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát lập gia đình.
Lúc bấy giờ, trên một đại lộ trong xứ Kàsi
có một cái giếng sâu, không ai xuống được. Những người qua lại con đường có
các loài thú ở, muốn tạo công đức, thường dùng dây dài và cái gàu, múc nước
đổ vào cái máng và cho các loài thú uống. Xung quanh giếng ấy có rừng lớn
bao bọc, và nhiều con vượn sống tại đấy.
Rồi trên con đường ấy, trong hai ba ngày số
nước do người qua lại cung cấp đã cạn. Các loại thú không có nước uống. Một
con vượn bị cơn khát hành hạ, cứ đi qua lại gần cái giếng để tìm nước. Bấy
giờ vì một vài công việc, Bồ-tát đi ngang qua đường ấy, kéo nước lên uống
xong, Bồ-tát rửa tay chân và thấy con vượn ấy. Biết con vượn khát nước,
Bồ-tát liền kéo nước lên, đổ đầy máng nước và cho nó uống. Rồi Bồ-tát nằm
xuống một gốc cây để xem con vượn làm gì. Con vượn uống nước xong, ngồi
xuống không xa với bộ mặt làm các trò khỉ để doạ Bồ-tát. Bồ-tát thấy nó làm
vậy liền nói:
- Ôi, con vượn ác độc kia, ta thấy ngươi mệt
mỏi khát nước đã cho ngươi uống. Nay ngươi lại lấy bộ mặt này làm các trò
khỉ dọa nạt ta. Ôi, giúp đỡ kẻ làm ác không có lợi ích chỉ nhọc công toi.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ đầu:
Ta đã cho nhà ngươi
Ðược nhiều nước như vậy,
Ngươi bị nóng bức bách,
Ngươi bị khát hành hạ,
Nhưng nay đã uống xong,
Ngươi ngồi làm trò khỉ,
Tốt nhất, vậy không nên
Liên hệ với kẻ ác.
Nghe vậy, con vượn phản bạn ấy nói:
- Ngươi tưởng rằng ta chỉ làm vậy thôi
sao?Ta sẽ làm rơi phân trên đầu ngươi trước khi đi.
Rồi nó đọc bài kệ thứ hai:
Ai từng nghe hoặc thấy
Khỉ nào có giới đức?
Nay thả phân đầu ngươi,
Thói chúng ta là vậy.
Nghe vậy, Bồ-tát đứng dậy bắt đầu đi. Con
vượn ngay lúc ấy, leo lên ngồi trên một nhành cây thả phân trên đầu Bồ-tát
như vòng hoa rơi xuống và kêu lớn tiếng, rồi bỏ đi vào khóm rừng. Bồ-tát tắm
xong rồi ra đi.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Ðề-bà-đạt-đa mới như vậy. Thuở trước, kẻ ấy cũng không biết công đức Ta làm.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con vượn là Ðề-bà-đạt-đa, còn
vị Bà-la-môn là Ta vậy.
-ooOoo-
175. CHUYỆN ÐẢNH LỄ MẶT TRỜI (Tiền thân Àdicupatthàna)#
Nghe nói mọi chúng sanh...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một kẻ man trá.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Bà-la-môn, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng
thành, ngài học mọi tài nghệ ở Takkasilà. Rồi ngài xuất gia làm vị đạo sĩ,
đạt được các Thắng trí và các Thiền chứng và trở thành một sư trưởng của một
hội chúng đông đảo sống tại Tuyết Sơn. Bồ-tát ở đấy lâu ngày, rồi vì mục
đích lấy muối và giấm, ngài đi xuống núi, và sống trong một chòi lá gần một
làng ở biên địa.
Trong khi chúng đạo sĩ đi khất thực, một con
vượn tham lam đến chỗ am thất, xáo trộn chòi lá, đổ nước ở các ghè ra, đập
vỡ các bình, và phóng uế vào căn nhà có thờ lửa. Sau khi an cư mùa mưa, các
vị tu khổ hạnh nghĩ: "Nay ở Tuyết Sơn đang thời kỳ nở hoa kết trái rất là
đẹp mắt. Chúng ta sẽ đi về Tuyết Sơn".Vì vậy họ báo tin cho dân làng sống ở
biên địa. Các dân làng nói:
- Thưa các Tôn giả, ngày mai chúng tôi sẽ
đem theo thức ăn đi đến am thất. Các Tôn giả sẽ ăn rồi ra đi.
Ngày hôm sau, họ đem theo nhiều đồ ăn loại
cứng và loại mềm, và đi đến chỗ ấy. Thấy vậy, con vượn ấy suy nghĩ: "Ta sẽ
lừa dối các người này khiến chúng hoan hỷ, đem cho ta các món ăn loại cứng
và loại mềm". Rồi làm ra vẻ như người sống khổ hạnh đang giữ giới, nó đứng
đảnh lễ mặt trời không xa các vị tu khổ hạnh. Các dân làng thấy nó, liền
nói:
- Những ai sống gần các bậc giới hạnh cũng
có giới hạnh.
Rồi họ đọc bài kệ đầu:
Nghe nói mọi chúng sanh
Ðều có giữ giới hạnh,
Hãy xem vượn khốn khổ
Sống ở trên cành này,
Ðang đảnh lễ mặt trời.
Thấy các người ấy tán thán công đức của nó,
Bồ-tát nói:
- Các ông không biết tánh hạnh của con khỉ
tham lam này, nên hoan hỷ khen ngợi nó không có căn cứ.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Không biết tánh hạnh nó,
Các người cứ ngợi khen,
Nó làm bẩn lửa thiêng,
Ðập vỡ các ghè nước.
Khi biết được sự man trá của con vượn, họ
lấy đá và gậy đánh nó rồi cúng đồ ăn cho các đạo sĩ. Rồi các đạo sĩ đi về
Tuyết Sơn, tu tập Thiền định không gián đoạn, cuối cùng khi thân hoại mạng
chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
*
Sau khi kể lại pháp thoại này, bậc Ðạo Sư
nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con vượn là kẻ man trá này,
hội chúng đạo sĩ là hội chúng đức Phật, và vị Sư trưởng hội chúng là Ta vậy.
-ooOoo-
176. CHUYỆN MỘT NẮM ÐẬU (Tiền thân Kalàya-Mutthi)#
Thưa Nhân chủ, vượn này...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về vua Kosala.
Một thời, trong mùa mưa, bạo loạn bùng nổ ở
biên địa. Quân lính đến đóng đồn tại đó và sau hai ba trận giao chiến, họ
không thể đánh bại quân địch, liền dâng sớ trình vua. Mặc dù đang mùa mưa,
vua vẫn ra đi và cắm trại trước Kỳ Viên. Rồi vua bắt đầu suy nghĩ: "Khởi
binh trong mùa mưa, các khe đá hang đá đều ngập nước, đường sá rất khó đi.
Ta sẽ đi đến viếng thăm bậc Ðạo sư". Khi ngài hỏi: "Thưa Ðại vương, Ðại
vương đi đâu?" ta sẽ trình sự việc cho Ngài biết. Bậc Ðạo Sư không chỉ che
chở làm lợi ích cho ta trong đời tương lai, mà còn che chở cho ta trong hiện
tại. Do vậy, nếu việc ra đi của ta không được thuận tiện, Ngài sẽ nói với
ta: "Thưa Ðại vương, nay không đúng thời. Còn nếu việc ra đi được thuận
tiện, ngài sẽ im lặng". Vì vậy, vua đi vào Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo sư và
ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu đến
quá sớm như vậy?
Vua trả lời:
- Bạch Thế Tôn, trẫm sắp đi dẹp loạn ở biên
địa. Ðảnh lễ Thế Tôn xong, trẫm sẽ đi.
Bậc Ðạo sư nói:
- Thuở xưa, trước khi ra trận, nghe lời nói
của các bậc Hiền trí, các đại vương đã không xuất quân phi thời.
Rồi theo lời yêu cầu của vua, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị đại thần tâm phúc của nhà vua và cố vấn giúp vua
về các vấn đề tục sự và thánh sự. Thời ấy có một cuộc nổi loạn tại biên địa,
và các lính biên phòng gửi cho vua một bức thư. Vua xuất quân vào mùa mưa,
và đóng trại ở ngự viện. Bồ-tát đứng cạnh vua. Lúc ấy có người nấu sôi một
loại đậu cho ngựa ăn, và đem đậu đổ vào máng. Một con vượn ở trong vườn, từ
cây leo xuống, lấy những hạt đậu từ nơi máng ấy, ngậm đầy miệng và nắm đầy
tay, leo lên cây, lại ngồi đấy và bắt đầu ăn.
Trong khi nó đang ăn, một hạt đầu từ tay rơi
xuống đất, nó quăng bỏ tất cả hột đậu lấy từ miệng và từ tay, rồi từ cây leo
xuống, tìm hột đậu bị rơi ấy. Nhưng không thấy hạt đậu nó lại leo lên cây,
ngồi trên cành, buồn bã, xịu mặt, như thua vụ kiện cả ngàn đồng. Vua thấy
việc con vượn làm, chỉ cho Bồ-tát và hỏi:
- Này khanh, khanh nghĩ thế nào về việc làm
này của con vượn?
Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, kẻ ngu kém trí bỏ ra nhiều
tiền để mua được ít, chính là như vậy.
Rồi Bồ-tát đọc lên bài kệ đầu:
Thưa Nhân chủ, vượn này
Ngu si sống trên cành,
Trí tuệ nó không có,
Nó đã quăng tất cả
Nắm đậu nằm trong tay,
Ðể tìm một hột rơi.
Sau đó vị đại thần đi đến gần vua và đọc bài
kệ thứ hai:
Chúng ta và người khác
Tham lam cũng như vậy,
Thưa Ðại vương, chúng ta
Mất nhiều để được ít,
Chẳng khác con vượn ấy
Xử sự với hột đậu.
Vua nghe Bồ-tát nói vậy, liền quay trở lại,
và vào thành Ba-la-nại. Các bọn ăn cướp nghe tin vua xuất quân chinh phạt kẻ
thù và đã đi ra khỏi thành, liền chạy trốn khỏi biên địa.
Vào thời có câu chuyện hiện tại, bọn ăn cướp
nghe tin Vua Kosala đã đi ra khỏi thành, liền chạy trốn.
Vua nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp xong, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài với thân bên hữu hướng về Ngài rồi đi về Xá-vệ.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, nhà vua là Ànanda, và vị đại
thần có trí là Ta vậy.
-ooOoo-
177. CHUYỆN CÂY TINDUKA (Tiền thân Tinduka)#
Tay cầm cung, ống tên...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo sư kể
về trí tuệ Ba-la-mật. Bậc Ðạo Sư nghe tán thán trí tuệ của mình như ở trong
Tiền thân Mahàbodhi (số 528) và trong Tiên thân Ummagga (số 538) đã nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Như
Lai mới có trí tuệ. Thuở xưa, Như Lai cũng có trí tuệ và thiện xảo phương
tiện rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con khỉ, với tám mươi ngàn khỉ con vây quanh,
sống tại núi Tuyết. Gần đấy, có một làng nhỏ ở biên địa, khi thì có người ở,
khi thì không. Giữa ngôi làng ấy, có một cây Tinduka sanh trái ngọt, và cành
lá sum suê. Khi không có người ở, đàn khỉ đến ăn trái cây.
Một thời, trong mùa có trái, làng ấy đầy
người đến ở, một hàng rào được dựng lên xung quanh và có cửa canh gác. Cây
ấy đứng tại đấy, với cành cây nặng trĩu quả. Bầy khỉ suy nghĩ: "Trước kia
tại làng ấy ta thường ăn trái cây Tinduka. Cây ấy nay có nhiều trái hay
không và có nhiều người ở đó hay không?" Nghĩ vậy, chúng cử một con khỉ đi
thăm dò.
- Hãy đi và tìm cho biết tin này.
Con khỉ ấy đi, biết được cây ấy đầy trái, và
làng có nhiều người, liền về và báo tin lại. Ðàn khỉ nghe cây đầy trái,
chúng quyết đi hái trái để ăn, liền đến tìm khỉ chúa và báo tin ấy. Khỉ chúa
hỏi:
- Làng có người ở hay không có người ở?
- Thưa chúa đàn, có người ở!
- Vậy chớ nên đi, vì loài người rất xảo
quyệt.
- Thưa chúa đàn, vào nửa đêm trong lúc loài
người nằm ngủ, chúng tôi sẽ đến ăn!
Cả đàn khỉ đông đảo xin được phép của khỉ
chúa, từ núi Tuyết đi xuống, nằm trên mặt một tảng đá, không xa làng bao
nhiêu, chờ cho đến lúc mọi người đi ngủ. Vào nửa đêm, khi mọi người đã ngủ
say, chúng leo cây và ăn trái. Một người kia có việc cần ra khỏi nhà, đến
giữa làng thấy các con khỉ, liền báo cho mọi người biết. Nhiều người nai nịt
cung, tên, tay cầm nhiều loại vũ khí, cầm đá, gậy, và nghĩ: "Khi trời đã
sáng, chúng ta sẽ bắt những con khỉ". Họ vây quanh cây và đứng chờ.
Tám mươi ngàn con khỉ thấy những người này,
sợ chết, suy nghĩ: "Không có nơi nương tựa nào khác ngoài khỉ chúa", bèn đi
đến gần khỉ chúa và đọc bài kệ đầu:
Tay cầm cung, ống tên,
Mang các loài gươm tốt,
Chúng bao vây chúng tôi,
Làm sao được giải thoát?
Nghe chúng nói, khỉ chúa an ủi:
- Chớ sợ. Loài người có nhiều việc phải làm.
Khỉ chúa an ủi chúng xong, liền đọc bài kệ
thứ hai:
Loài người có nhiều việc,
Sẽ giải tán đám đông,
Những gì cây còn lại,
Hãy ăn Tin-du-ka.
Bậc Ðại Sĩ an ủi đàn khỉ. Nếu chúng không
được sự an ủi như vậy, tất cả sẽ vỡ tim và chết. Bậc Ðại Sĩ an ủi đàn khỉ,
rồi bảo họp lại tất cả bọn. Khi chúng đã họp, chúng không thấy con khỉ
Senaka, cháu trai của khỉ chúa. Chúng báo cho khỉ chúa biết Senaka không
đến, khỉ chúa nói:
- Nếu Senaka không đến, các ngươi chớ lo.
Nay nó sẽ đem lại an toàn cho các ngươi đó.
Còn Senaka vẫn ngủ khi đàn khỉ ra đi. Sau
khi thức dậy, không thấy ai, nó đi theo dấu chân chúng, thấy mọi người đến,
và biết rằng đàn khỉ sẽ gặp nạn.
Khi thấy một ngôi nhà ở biên địa có lửa đốt
lên và một bà già đang ngủ say, nó đi đến, và làm như một đứa trẻ ở làng đi
ra đồng, nó cầm lấy một que lửa, và đứng theo chiều gió thổi, nó đốt làng
cháy. Các người ấy liền bỏ đàn khỉ, vội vàng chạy đến dập tắt lửa. Trước khi
chạy, mỗi con khỉ hái một trái cây mang theo về cho Senaka.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Senaka, cháu của khỉ chúa, là
Mahànàma, đàn khỉ là hội chúng đức Phật, còn khỉ chúa là Ta vậy.
-ooOoo-
178. CHUYỆN CON RÙA (Tiền thân Kacchapa)#
Tại đây ta sanh ra...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một người được chữa khỏi bệnh thổ tả. Một thời, tại một gia đình ở Xá-vệ,
có bệnh thổ tả lan đến. Cha mẹ nói với con trai:
- Này con thân, chớ sống trong nhà này. Hãy
phá tường và trốn đi, đến một chỗ nào đó và bảo vệ sự sống. Sau khi về, tại
chỗ này có nhiều của chôn cất, con hãy đào lên, dựng lại cơ nghiệp và sống
hạnh phúc.
Nghe nói vậy, người con trai vâng theo và
phá bức tường chạy trốn. Khi chứng bệnh của mình đã chấm dứt, anh ta trở về,
đào của cải lên và sống đời sống gia đình. Một hôm, anh ta đem theo bơ chín,
dầu, vải và áo ấm... đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo Sư và ngồi xuống. Sau
khi tiếp đón anh ta, bậc Ðạo Sư liền hỏi:
- Chúng ta nghe nhà của con có bệnh dịch tả
lây lan làm thế nào con thoát được?
Anh ta kể lại sự tình. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này cư sĩ, thuở xưa khi tai hoạ khởi lên,
có những kẻ quá luyến tiếc trú xứ của mình và không đi chỗ khác, nên đã
không giữ được mạng sống. Còn những kẻ không quá luyến tiếc trú xứ và bỏ đi
nơi khác thì đã cứu được mình.
Nói như vậy xong, theo lời yêu cầu của người
con trai, bậc Ðạo Sư kể chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình làm đồ gốm ở một ngôi làng nhỏ.
Bồ-tát cũng làm nghề gốm để nuôi dưỡng vợ con.
Lúc bấy giờ, có một hồ nước lớn gần một con
sông lớn ở Ba-la-nại. Trong thời nước lớn, hồ ngập nước từ con sông tràn
vào; trong thời nước yếu, hồ nước tách riêng. Các con cá và rùa biết: Trong
năm nay sẽ có mưa nhiều, hay trong năm nay sẽ có hạn hán. Vào thời có chuyện
này có con cá và rùa sanh trong hồ ấy biết: Trong năm nay, sẽ hạn hán.
Vì vậy trong khi nước hồ còn hợp thành một
với sông, chúng từ trong hồ bơi ra và đi đến con sông. Nhưng có một con rùa
nghĩ: "Chỗ này ta sanh ra, chỗ ta lớn lên, chỗ ở của cha mẹ, ta không thể bỏ
chỗ này được". Nghĩ vậy, nó không đi ra sông.
Trong thời kỳ mùa hạ, ở đấy, nước bị khô
cạn, con rùa ấy đào đất tại chỗ Bồ-tát thường đến lấy đất sét. Bồ-tát đi đến
đấy để lấy đất sét với cái cuốc lớn và đào đất lên, đập trên lưng con rùa,
với cái cuốc hất nó lên và quăng nó trên mặt đất như một cục đất. Trong khi
cảm thọ đau đớn, con rùa ấy nói:
- Do ta không từ bỏ chỗ ở, nên phải gặp nạn
diệt vong như vậy.
Nói vậy xong, nó khóc với những bài kệ:
Tại đây, ta sanh ra,
Trong bùn này ta sống,
Ta yếu đuối thế này,
Thế Tôn, con van Ngài,
Hãy nghe tiếng con thưa.
Ở làng hay tại rừng,
Chỗ nào được an lạc,
Với người có trí thức,
Là chỗ sanh, chỗ lớn.
Chỗ nào có sự sống,
Hãy đi đến chỗ ấy,
Tốt hơn chỗ trú ẩn
Ðem lại sự hủy diệt.
Như vậy, con rùa nói với Bồ-tát rồi chết.
Bồ-tát lượm nó lên, họp mọi người trong làng lại, khuyến dạy họ như sau:
- Hãy xem con rùa này! Trong khi các loài
cá, loài rùa khác đi ra trên sông lớn, nó không thể cắt đứt sự luyến ái đối
với trú xứ, không cùng đi ra sông, đào đất ở chỗ ta đến lấy đất sét, với các
cuốc lớn, ta đập vỡ lưng của nó và quăng nó lên mặt đất như một cục đất. Nó
nhớ đến việc làm của mình, than khóc với hai bài kệ rồi chết. Như vậy, do
luyến ái trú xứ của mình, nó phải chết. Các ngươi chớ làm như con rùa này.
Bắt đầu từ nay, đừng nghĩ rằng: "Sắc của ta, tiếng của ta, chớ có tham ái,
vì thọ hưởng chấp thủ chúng. Mọi chúng sanh đến phải trải qua ba hiện hữu
(dục hữu, sắc hữu, và vô sắc hữu).
Như vậy với sự tinh thông của một bậc Giác
ngộ, Bồ-tát khuyên dạy đại chúng. Lời khuyên dạy của Bồ-tát lan rộng toàn
cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) và tồn tại đến bảy trăm năm. Ðại chúng nghe lời
Bồ-tát khuyên dạy, làm các công đức như bố thí v.v... rồi khi mạng chung, họ
sanh lên Thiên giới.
*
Sau khi thuyết pháp thoại này, bậc Ðạo Sư
liền giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, người thanh niên đã đắc quả Dự lưu.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con rùa là Ànanda, còn người
làm đồ gốm là Ta vậy.
-ooOoo-
179. CHUYỆN BÀ-LA-MÔN SATADHAMMA (Tiền thân Satadhamma)#
Nhỏ thay dư tàn ấy...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về hai mươi mốt sinh kế phi pháp. Một thời, nhiều Tỷ-kheo làm nghề thầy
thuốc, nghề sứ giả, nghề đưa tin, nghề liên lạc đường bộ, đổi đồ ăn khất
thực v.v... (Những pháp này sẽ được nói đến trong Tiền thân Saketa (237 và
68)). Khi bậc Ðạo Sư biết được các Tỷ-kheo đã sinh sống như vậy, Ngài nói:
- Nay nhiều Tỷ-kheo đã sinh sống phi pháp.
Sinh sống như vậy, sẽ không giải thoát mà còn đọa làm Dạ-xoa, hay ngạ quỷ.
Họ sẽ sanh làm những trâu bò chở nặng, một số sẽ thác sanh vào địa ngục. Vì
hạnh phúc và an lạc cho họ, ta cần phải nói lên một bài pháp liên hệ đến cá
nhân.
Vì vậy bậc Ðạo Sư bảo họp các Tỷ-kheo lại và
nói:
- Này các Tỷ-kheo, các ông chớ làm hai mươi
mốt sanh kế phi pháp. Ðồ ăn khất thực nhận được phi pháp, giống như hòn sắc
nung đỏ, ví như nọc rắn độc, các sanh kế phi pháp này đã bị các đệ tử chư
Phật, các Ðộc giác Phật chỉ trích và bài xích. Hưởng thọ các món ăn khất
thực nhận được do sanh kế phi pháp không đem lại vui cười hoan hỷ. Các đồ ăn
khất thực nhận được như vậy trong Giáo hội của Ta, chẳng khác gì món ăn tàn
dư của kẻ hạ tiện.
Sau khi nói vậy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con một người ở đẳng cấp hạ tiện. Khi đến tuổi
trưởng thành, vì một vài công việc Bồ-tát lên đường ra đi và đem theo một
giỏ gạo làm lương thực. Lúc bấy giờ, tại Ba-la-nại có một thanh niên tên là
Satadhamma, là con một gia đình đại Bà-la-môn nhưng không đem theo gạo để
làm lương thực. Cả hai cũng gặp nhau trên con đường lớn. Thanh niên ấy hỏi
Bồ-tát:
- Ngươi ở giai cấp gì?
Bồ-tát đáp:
- Tôi thuộc giai cấp hạ tiện.
Bồ-tát hỏi:
- Cậu ở giai cấp gì?
Anh ta đáp:
- Tôi thuộc giai cấp Bà-la-môn phương bắc.
- Lành thay, chúng ta cùng đi.
Cả hai cùng đi. Khi đến giờ ăn sáng, Bồ-tát
ngồi xuống tại chỗ có nước tốt, rửa tay, mở giỏ cơm, và nói với thanh niên
ấy:
- Hãy ăn cơm!
- Này tiện dân, ta không cần cơm.
Bồ-tát nói:
- Lành thay!
Rồi không để cho dư cơm thừa, Bồ-tát bỏ cơm
vừa đủ cho mình ăn trên một cái lá khác, cột cái giỏ lại, để nó một bên.
Bồ-tát ăn xong, uống nước, rửa tay chân, rồi cầm lấy cơm gạo còn lại và nói
với thanh niên:
- Này cậu, chúng ta cùng đi.
Rồi họ lại lên đường. Cả ngày hai người cùng
đi, đến chiều cả hai tắm tại một chỗ có nước tốt. Sau khi tắm xong, họ lên
bờ. Bồ-tát ngồi một chỗ thoải mái, mở giỏ cơm, không mời cậu thanh niên kia
và bắt đầu ngồi ăn. Cậu trai kia cả ngày đi mệt mỏi, lại đói bụng, đứng nhìn
và nghĩ: "Nếu nó cho ta cơm, ta sẽ ăn". Bồ-tát không nói gì, vẫn ăn. Cậu
trai nghĩ: "Kẻ hạ tiện này không mời gì ta, lại ăn hết cả đồ ăn. Ðể khỏi bị
đói bức bách, ta lấy một miếng, quăng đi phần cơm dơ bẩn ở trên và phần cơm
còn lại." Anh ta làm như anh đã nghĩ, và ăn phần cơm đươc làm cho sạch sẽ.
Vừa ăn xong, anh ta hết sức hối hận ăn năn. Anh nôn hết thức ăn và máu trào
ra theo đó:
- Ôi vì ta phóng dật, đã làm một việc không
thích đáng. Ta đã làm nhục dòng họ, gia tộc cao quý của ta. Ta đã ăn phần
cơm dư thừa của một tên hạ đẳng!
Sau khi khóc than, sầu muộn, anh ta nói lên
bài kệ đầu:
Nhỏ thay, dư tàn ấy,
Nó cho rất khó khăn!
Ta sanh là Phạm chí,
Món ăn, bị nôn ra.
Cậu trai ấy than khóc như vậy:
- Hôm nay ta đã làm một việc không thích
đáng chỉ vì sự sống!
Nói vậy xong, anh ta đi sâu vào rừng, không
để một ai thấy mình, rồi anh ta sầu muộn và chết cô độc.
*
Sau khi kể câu chuyện quá khứ bậc Ðạo Sư
nói:
- Này các Tỷ-kheo, giống như thanh niên
Satadhamma, sau khi ăn đồ ăn dư tàn của kẻ hạ tiện, đã tự trách mình đã ăn
không xứng đáng, nên không vui cười, không hoan hỷ. Cũng vậy, ai xuất gia
trong Giáo hội này và sống với sinh kế phi pháp, khi hưởng thọ thức ăn đã
nhận được do cách thức như trên, đã sống một nếp sống bị đức Phật bài bác và
chỉ trích, kẻ ấy sẽ không vui cười và hoan hỷ.
Rồi bậc Ðạo Sư đọc bài kệ thứ hai:
Ai hủy hoại chánh pháp,
Sinh sống theo phi pháp,
Như Sa-ta-dham-ma,
Sống không được hoan hỷ.
Như vậy, bậc Ðạo Sư thuyết pháp thoại này
xong, liền thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, nhiều Tỷ-kheo đã đắc
các Ðạo và Quả.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Ta là kẻ tiện dân ấy.
-ooOoo-
180. CHUYỆN KHÓ CHO (Tiền thân Duddada)#
Cho những gì khó cho...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về sự bố thí của hội chúng. Ở Xá-vệ, có hai người bạn là con trai của những
điền chủ, cùng nhau đi quyên, rồi sắp đặt tất cả các món vật dụng, mời chúng
Tỷ-kheo với đức Phật là vị lãnh đạo và tổ chức đại bố thí trong bảy ngày.
Ðến ngày thứ bảy, họ bố thí tất cả các món vật dụng, mời vị cao niên nhất
trong hội chúng đảnh lễ bậc Ðạo Sư, rồi ngồi xuống một bên và thưa:
- Bạch Thế Tôn, trong sự bố thí này, có
người cho nhiều, có người cho ít. Mong rằng bố thí này sẽ có quả báo lớn cho
tất cả mọi người.
Vị cao niên dâng lễ cúng dường tác bạch như
vậy. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các cư sĩ! Các ông cúng dường chúng
Tăng với đức Phật là vị lãnh đạo, dâng cúng như vậy là thiện nghiệp lớn. Các
bậc Hiền trí thuở xưa, khi bố thí như vậy cũng tác bạch cúng dường như vậy.
Nói xong, theo lời yêu cầu của các vị ấy,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở xứ Kàsi. Khi đến
tuổi trưởng thành, Bồ-tát được học tập tại Takkasilà, sau đó xuất gia sống
đời đạo sĩ, cùng với một hội chúng đệ tử đến sống ở vùng Tuyết Sơn. Hội
chúng sống lâu ngày trong khu vực Tuyết Sơn, khi cần muối và giấm chua, đã
đi xuống quốc lộ, họ đi đến Ba-la-nại và sống trong ngự uyển của vua.
Ngày hôm sau, Bồ-tát cùng với hội chúng đi
khất thực tại ngôi làng gần cửa thành để dân làng bố thí đồ ăn. Ngày tiếp,
Bồ-tát đi khất thực tại Ba-la-nại. Dân chúng vui vẻ bố thí đồ ăn. Họ họp
thành đoàn thể, thâu góp đồ quyên được, sửa soạn bố thí, và tổ chức một cuộc
bố thí lớn cho hội chúng đạo sĩ. Cuối cuộc bố thí, bậc cao niên nhất nói về
cách thức dâng đồ cúng dường. Bồ-tát nói:
- Này các Hiền giả, khi nào tâm hoan hỷ, thì
không có bố thí nào nhỏ cả.
Nói xong lời tùy hỷ, Bồ-tát đọc các bài kệ
này:
Cho những gì khó cho,
Làm những việc khó làm,
Kẻ xấu khó làm được,
Pháp kẻ thiện khó theo.
Do vậy kẻ thiện, ác,
Từ đây đi khác nhau.
Kẻ ác xuống địa ngục,
Bậc thiện lên Thiên giới.
Như vậy, Bồ-tát nói lời tùy hỷ, rồi sống tại
đấy trong bốn tháng mùa mưa. Sau khi mùa mưa đã qua, ngài đi đến Tuyết Sơn
tu tập, thiền định không gián đoạn và sau khi mạng chung, được sanh lên cõi
Phạm thiên.
*
Bậc Ðạo Sư kể pháp thoại này xong, liền nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, chúng đạo sĩ là hội chúng đức
Phật, và Sư trưởng hội chúng là Ta vậy.