CHƯƠNG II#
(HAI BÀI KỆ)
PHẨM
DALHA
151. CHUYỆN LỜI GIÁO GIỚI CHO VUA (Tiền thân Ràjovàda)#
Cứng rắn đối cứng rắn...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư kể về lời giáo giới cho vua. Câu chuyện sẽ được nói đến trong Tiền thân
Tesakuna (số 512).
Một hôm vua Kosala, vừa xét xử một vụ kiện
rất khó liên hệ đến pháp luật xong, tay chưa khô ráo, vua ngự lên xe được
trang hoàng, đi đến bậc Ðạo Sư, đảnh lễ dưới chân Ngài, những ngón chân
tuyệt đẹp như hoa sen nở rộ, rồi ngồi một bên. Bậc Ðạo Sư nói với vua
Kosala:
- Thưa Ðại Vương, Ðại Vương từ đâu đi đến
quá sớm như vậy?
- Bạch Thế Tôn, mấy hôm nay trẫm phải xét xử
một vụ kiện rất khó liên hệ đến luật pháp, nên không có được cơ hội đến yết
kiến Thế Tôn. Nay công việc đã được giải quyết, ăn uống xong, với tay chưa
khô ráo, trẫm đi đến hầu Thế Tôn.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Thưa Ðại Vương, xét xử một vụ kiện đúng
pháp và công bằng là một việc thiện, đây là con đường đưa đến chư Thiên.
Thật không có gì vi diệu khi vua nhận được lời giáo giới từ một vị Nhất
thiết trí như ta và đã xét xử vụ kiện đúng pháp và công bằng. Thật là vi
diệu, thuở xưa khi các vua nghe lời các vị hiền triết không phải Nhất thiết
trí, vẫn xét xử vụ kiện đúng pháp và công bằng, từ bỏ con đường đi đến ác
thú, tuân theo mười Vương pháp và đã đi lên thiên giới làm đông đảo hội
chúng chư Thiên.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của vua, bậc
Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát nhập thai làm con bà chánh hậu của vua, và thai được săn
sóc chu đáo, nên đã sanh ra từ lòng mẹ an toàn. Ðến ngày lễ đặt tên, Bồ-tát
được đặt tên là hoàng tử Brahmadatta. Hoàng tử tiếp tục lớn lên, khi được
mười sáu tuổi đã trưởng thành, hoàng tử đến thành Takasilà để học tập và
tinh thông tất cả các tài nghệ.
Sau khi thân phụ mất, Bồ-tát được đặt lên
vương vị, và trị nước đúng pháp và công bằng phán quyết các vụ kiện, không
dựa theo ý muốn của riêng mình. Bồ-tát trị vì đúng pháp như vậy nên các đại
thần cũng xét xử các vụ kiện công bằng. Khi các vụ kiện được xét xử đúng
pháp luật thì không còn ai tạo ra các vụ kiện lừa đảo nữa, do đó, các sự ồn
ào trong sân vua do các vụ kiện tụng gây ra cũng được chấm dứt. Các đại thần
ngồi cả ngày trong pháp đình, không thấy có một vụ kiện nào đưa đến để xét
xử, cũng bỏ đi. Các pháp đình trở thành trống vắng.
Bồ-tát suy nghĩ: "Vì ta trị vì đúng pháp,
không có ai đến kiện tụng, các tiếng ồn ào được chấm dứt, xem pháp đình trở
thành trống vắng. Nay ta cần phải tìm xem ta có khuyết điểm gì, nếu có, ta
sẽ từ bỏ nó và sẽ sống trong an lạc". Từ đấy, Bồ-tát đi tìm cùng khắp xem có
ai nói lên khuyết điểm của mình không, nhưng trong các nội cung, ngài không
tìm được ai nói lên khuyết điểm, chỉ nghe ca tụng công đức của mình. Bồ-tát
suy nghĩ: "Những người này vì sợ ta, không nói lên khuyết điểm, chỉ nói lên
công đức".
Bồ-tát đi ra ngoài nội cung để tìm, tại đấy
cũng không thấy một ai, liền tìm trong nội thành, rồi ra tìm ở ngoại thành,
hỏi những người ở tại bốn cửa thành. Tại đây cũng không thấy một ai nói lên
khuyết điểm, chỉ nói lên công đức. Bồ-tát suy nghĩ: "Nay ta sẽ đi tìm tại
các tỉnh thành".
Vua giao quốc độ cho các đại thần ngự lên
xe, chỉ đem theo người đánh xe, ra khỏi thành giả dạng để vẫn không một ai
biết và đi khắp đất nước, cho đến khi đến biên địa vẫn không thấy một ai nói
lên khuyết điểm, chỉ nghe nói đến công đức của mình. Từ biên địa, theo đường
đại lộ vua trở về kinh thành.
Trong lúc ấy, vua nước Kosala tên là Mallika
trị vì quốc độ đúng pháp, cũng đi tìm khuyết điểm, từ trong nội cung v.v...
không thấy một người nào nói lên khuyết điểm, chỉ nghe nói về công đức của
mình, liền đi tìm khắp nước và đến chỗ ấy. Cả hai người gặp mặt nhau trên
một con đường chật hẹp chỉ đủ một xe đi chứ không có chỗ để xe này tránh xe
kia. Rồi người đánh xe của vua Mallika nói với người đánh xe của vua
Ba-la-nại:
- Hãy tránh ra xe của bạn.
Người đánh xe kia nói:
- Này bạn đánh xe, hãy cho xe của bạn tránh
ra. Trên xe này là vua nước Ba-la-nại, đại vương Brahmadatta đang ngồi.
Người đánh xe trước nói:
- Này bạn đánh xe, trên xe này là vua
Kosala, Ðại vương Mallika đang ngồi, hãy cho xe của bạn tránh ra. Hãy nhường
chỗ cho xe vua chúng tôi đi.
Người đánh xe của vua Ba-la-nại suy nghĩ:
"Ðây cũng là vua. Vậy phải làm sao đây? À, có phương tiện này. Sau khi hỏi
tuổi, xe của vị nào trẻ hơn sẽ nhường chỗ cho vị lớn tuổi". Suy nghĩ và thi
hành như vậy, người ấy biết được cả hai vua đều đồng tuổi với nhau. Lại hỏi
về diện tích vương quốc, thế lực tài sản, danh vọng và những vấn đề liên hệ
đến sanh chủng, dòng họ, gia đình, trú xứ, sau khi hỏi tất cả, người ấy được
biết rằng cả hai đều làm chủ vương quốc rộng đến ba trăm dặm, đều đồng đẳng
về uy lực, tài sản, danh vọng, và những vấn đề đều liên hệ đến sanh chủng,
dòng họ, gia đình, trú xứ. Rồi người đánh xe ấy suy nghĩ: "Ta sẽ nêu lên
trường hợp ai thù thắng về giới đức", và hỏi:
- Giới đức của vua bạn như thế nào?
Người đánh xe kia trả lời:
- Vua của chúng tôi có giới đức như thế này.
Và anh ta đọc bài kệ thứ nhất:
Mal-li-ka xử sự
Cứng rắn đối cứng rắn,
Mềm mỏng đối mềm mỏng,
Thiện đức đối thiện đức,
Bất thiện đối bất thiện,
Vua này là như vậy,
Này bạn đánh xe ơi,
Hãy nhường đường vua ta.
Người đánh xe của vua Ba-la-nại nói:
- Này bạn, có phải đấy là giới đức của vua
bạn?
Khi được biết đúng như vậy, người ấy nói:
- Ðấy là những công đức, còn những khuyết
điểm gì?
- Như thế này, thế này... Nhưng hãy nói các
công đức vua của bạn?
- Vậy hãy nghe.
- Và người đánh xe của vua Ba-la-nại đọc bài
kệ thứ hai (Pháp Cú, 233):
Lấy không giận thắng giận,
Lấy thiện thắng không thiện,
Lấy thí thắng xan tham,
Lấy chân thắng hư ngụy.
Vua này là như vậy,
Này bạn đánh xe ơi!
Hãy nhường đường vua ta.
Khi nghe nói như vậy, vua Mallika và người
đánh xe, cả hai đều xuống xe, mở dây các con ngựa, đẩy xe sang một bên, và
nhường đường cho vua Ba-la-nại. Rồi vua Ba-la-nại giáo giới cho vua Mallika:
- Ðây là những việc cần phải làm.
Sau đó vua đi về Ba-la-nại và suốt đời làm
các công đức như bố thí v.v..., sau khi mệnh chung, vua đi lên thiên giới
làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
Còn vua Mallika ghi nhớ lời giáo giới trong
lòng. Sau khi đi khắp đất nước và không tìm thấy ai chỉ trích mình, vua trở
về thành. Tại đó, vua trọn đời làm thiện sự cho đến khi mệnh chung, vua cũng
lên thiên giới làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện và thuyết pháp
để giáo giới vua Kosala xong, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người đánh xe của vua Mallika
là Mục-kiền-liên, vua là Ànanda, người đánh xe của vua Ba-la-nại là
Xá-lợi-phất, còn vua Ba-la-nại là Ta vậy.
-ooOoo-
152. CHUYỆN CON CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigàla)#
Làm việc không đắn đo...,
Câu chuyện này, khi ở ngôi nhà có nóc nhọn,
bậc Ðạo Sư kể về con một người cạo tóc trú ở Tỳ-xá-ly (Vesàli). Cha người ấy
cạo râu, cắt tóc, uốn tóc cho vua, hoàng hậu, thái tử, và các công chúa. Ông
ta có đạo tâm, tín thành, quy y Ba ngôi báu, giữ Năm giới, thỉnh thoảng để
thì giờ nghe pháp của bậc Ðạo Sư.
Một hôm, khi làm việc trong cung vua, ông ta
đem theo đứa con trai của mình. Cậu trai, thấy một công chúa Licchavi phục
sức và trang điểm đẹp, như tiên nữ, liền sanh tâm luyến ái và bị phiền não
chinh phục. Sau khi ra khỏi cung vua, cậu nói với cha:
- Nếu được thiếu nữ ấy, con sẽ sống. Nếu
không, con sẽ chết.
Nói vậy xong, cậu bỏ ăn lên giường nằm.
Người cha nói:
- Này con thân, chớ ái luyến không phải chỗ.
Con thuộc hạ sanh, con một người thợ hớt tóc! Công chúa Licchavi là con gái
thuộc dòng Sát-đế-ly, dòng họ cao quý, con không xứng đôi với công chúa. Ta
sẽ hỏi cho con một thiếu nữ khác cùng giai cấp với con.
Nhưng cậu không nghe lời của cha. Rồi mẹ,
anh, chị, dì, cậu, tất cả bà con, bạn bè thân hữu hội họp lại nhưng vẫn
không khuyên giải cậu được. Cậu ngày càng héo mòn, xanh xao dần cho đến
chết.
Sau khi tang lễ con vừa xong và cơn sầu muộn
đã nhẹ bớt, người cha suy nghĩ: "Ta sẽ đến đảnh lễ bậc Ðạo Sư". Ông ta đem
nhiều hương thơm, vòng hoa, hương sáp, đi đến Ðại Lâm cúng dường, đảnh lễ
bậc Ðạo Sư rồi ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này cư sĩ, sao mấy lúc này ông vắng mặt?
Ông ta liền thuật lại câu chuyện ấy. Bậc Ðạo
Sư nói:
- Này cư sĩ, không phải chỉ nay con của ông
mới luyến ái không đúng chỗ và bị nạn. Thuở xưa, nó cũng đã như vậy rồi.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của vị cư sĩ,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con sư tử ở núi Tuyết. Là con út, Bồ-tát có
sáu sư tử anh và một sư tử chị. Tất cả đều sống trong hang Vàng. Không xa
hang Vàng có hang Pha lê trên núi Bạc. Tại đấy có một con chó rừng. Sau một
thời gian, sư tử cha và sư tử mẹ đều chết. Các con sư tử đực thường để sư tử
cái, chị của chúng, ở lại hang Vàng, còn chúng ra đi tìm mồi, đem thịt về
cho chị ăn.
Một hôm, con chó rừng thấy con sư tử cái ấy,
liền sanh tâm luyến ái. Bấy giờ khi sư tử cha và sư tử mẹ còn sống, chó rừng
không có cơ hội đi đến. Nhưng nay khi bảy con thú đã ra đi tìm mồi, từ hang
Pha lê, nó đi đến miệng hang Vàng, đứng trước con sư tử cái nhỏ, nói lên
những lời đường mật cám dỗ một cách thầm kín:
- Này em! Ta là thú bốn chân, em cũng là thú
bốn chân. Ta rất thương yêu em, và muốn em làm vợ ta. Ta sẽ là chồng em.
Chúng ta sẽ sống hòa hợp hạnh phúc và em cũng sẽ thương yêu ta mãi mãi!
Sư tử cái nghe lời nói của chó rừng, suy
nghĩ: "Chó rừng là loại thú hạ liệt trong các loại thú bốn chân, đê tiện
giống như hạng người cùng đinh. Còn ta thuộc gia đình hoàng tộc ưu việt. Nó
đã nói những lời không thích hợp, không tốt đẹp với ta. Sau khi nghe lời như
vậy, ta còn sống làm gì? Ta sẽ nín hơi thở mà chết.
Nhưng rồi nó lại nghĩ: "Ta chết như vậy thật
không xứng đáng. Chờ đến khi ta gặp các em của ta, nói cho họ nghe, rồi ta
sẽ chết".
Con chó rừng không nghe sư tử cái trả lời,
suy nghĩ: "Nàng không thương ta", liền ưu sầu đi vào hang Pha lê và nằm
xuống.
Sau khi giết một con trâu, hay con voi, một
con sư tử con liền ăn thịt, rồi đem phần về cho chị nó, và nói:
- Này chị thân, thịt đây, chị hãy ăn đi.
- Này em, chị không ăn thịt, vì chị sẽ chết.
- Vì sao vậy?
Con sư tử chị kể lại câu chuyện đã xảy ra.
Nó hỏi chị:
- Nay con chó rừng ở đâu?
Sư tử chị thấy chó rừng nằm trong hang Pha
lê, tưởng rằng nó ở trên trời nên nói:
- Này em, sao em không thấy? Con chó rừng
nằm ở trên tại núi Bạc.
Con sư tử tưởng thật nói:
- Ta sẽ giết nó.
Nó liền nhảy đến hang Pha lê mà nó tưởng
trên trời với tốc độ của con sư tử săn mồi, tim nó đập vào hang Pha lê và
rơi xuống chân núi chết tại chỗ ấy.
Một con sư tử khác đi đến. Con sư tử chị
cũng nói lại như vậy. Con sư tử ấy cũng làm như con trước và rơi xuống chết
ngay chân núi. Như vậy sáu anh em sư tử con đều chết. Cuối cùng khi Bồ-tát
(tức sư tử út) đến, sư tử chị kể lại lý do. Bồ-tát hỏi:
- Nay con chó rừng ấy ở đâu?
Sư tử chị nói:
- Nó nằm ở trên trời, trên đỉnh núi Bạc.
Bồ-tát suy nghĩ: "Các loài chó rừng không
trú trên không. Chắc nó nằm ở hang Pha lê".
Bồ-tát đi xuống chân núi, thấy sáu sư tử anh
đã chết, liền nghĩ: "Ta biết những anh này vì ngu si, không có trí tuệ,
không biết đây là hang Pha lê, đã đập quả tim vào đó nên bị giết chết. Như
vậy là việc làm không đắn đo, và quá vội vã.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ thứ nhất:
Ai làm không đắn đo,
Hấp tấp làm vội vã,
Như ăn đồ ăn nóng,
Bị bỏng miệng mà chết.
Sư tử út nói bài kệ này xong, suy nghĩ: "Các
anh của ta muốn giết con chó rừng nhưng không có thiện xảo phương tiện, nhảy
tới nhanh chóng quá nên đã tự tạo cái chết. Ta sẽ báo thù cho các anh ta".
Nó thấy chó rừng nằm trong hang Pha lê. Bồ-tát theo dõi con đường lên xuống
của con chó rừng, rồi hướng về phía ấy, rống lên ba lần tiếng rống của sư tử
khiến cho tất cả đất và trời dội vang tiếng rống. Con chó rừng nằm trong
hang Pha lê hoảng hốt run sợ vỡ tim ngay tại chỗ ấy mà chết.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Như vậy con chó rừng chết khi nghe sư tử
rống.
Và bậc Chánh Giác đọc bài kệ thứ hai:
Chính trên Da-da-ra
Sư tử rống tiếng rống
Khiến núi ấy vang động,
Nghe tiếng con sư tử,
Con chó rừng ở núi,
Hoảng hốt, sợ khiếp đảm,
Quả tim nó vỡ đôi,
Tại đấy, nó mệnh chung.
Sư tử đã làm chó rừng chết như vậy. Sau đó
nó chôn các anh vào một nấm mộ chung và kể cho chị nghe rằng chúng đã chết,
rồi an ủi chị. Sư tử sống trọn đời trong hang Vàng cho đến khi mạng chung,
nó đi theo thiện nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư liền
thuyết giảng các Sự thật và khi kết thúc bài giảng, vị cư sĩ được an trú vào
quả Dự lưu, rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con chó rừng là con trai
người hớt tóc, sáu sư tử con là sáu vị Trưởng lão, sư tử chị là công chúa
Licchavi, còn sư tử trẻ nhất là Ta vậy.
-ooOoo-
153. CHUYỆN CON HEO RỪNG (Tiền thân Sùkara)#
Này bạn, ta bốn chân...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một Trưởng lão lớn tuổi. Một hôm, trong một thời thuyết pháp ban đêm, bậc
Ðạo Sư đứng trên tam cấp thang lầu bằng châu báu trước cửa Hương phòng và
sau khi giáo giới cho chúng Tỷ-kheo, đã đi vào Hương phòng. Cùng lúc, Trưởng
lão Xá-lợi-phất, vị Tướng quân Chánh pháp, đảnh lễ bậc Ðạo Sư rồi cũng đi
vào phòng của mình. Ðại Mục-kiền-liên, sau khi đi về phòng nghỉ một lát, lại
đi đến Trưởng lão ấy để hỏi các câu hỏi. Ðược hỏi từng câu hỏi, bậc Tướng
quân Chánh pháp giải đáp, trình bày rõ ràng như mặt trăng mọc trên hư không.
Cả bốn hội chúng ngồi nghe pháp. Trong hội chúng có một Trưởng lão lớn suy
nghĩ: "Nếu giữa hội chúng này, ta hỏi một câu hỏi làm Xá-lợi-phất lúng túng,
hội chúng này sẽ nghĩ ta là người thông thái và ta sẽ đạt danh vọng lớn!".
Vị ấy liền từ hội chúng đứng dậy, đi đến bậc Trưởng lão, đứng một bên và
thưa:
- Thưa Hiền giả, chúng tôi chỉ hỏi Hiền giả
một câu. Hãy cho chúng tôi được phép hỏi. Hãy cho chúng tôi một quyết định
về diễn dịch hay quy nạp, bác bỏ hay chấp nhận, về thù thắng hay nghịch thù
thắng.
Trưởng lão Xá-lợi-phất nhìn người lớn tuổi
ấy và nghĩ: "Người này lớn tuổi, sở hành còn ham muốn, trống rỗng không biết
gì". Rồi Trưởng lão không trả lời cho người ấy, khiêm tốn đặt quạt xuống, từ
chỗ ngồi đi xuống, về phòng. Những người đứng bên ngoài vùng dậy, đuổi theo
Trưởng lão lớn tuổi ấy và nói lớn:
- Thầy không cho chúng ta được nghe pháp dịu
ngọt.
Người lớn tuổi ấy chạy trốn, rơi vào đường
nứt trong nhà xí tại biên địa ngôi tinh xá và khi đứng dậy, mình dính đầy
phân. Mọi người thấy vậy, hối hận và đi đến bậc Ðạo Sư. Ngài hỏi:
- Này các cư sĩ, sao các ông đến vào giờ bất
thường như vậy?
Họ tường thuật sự việc lên bậc Ðạo Sư. Ngài
nói:
- Này các ông, không phải chỉ nay kẻ lớn
tuổi này mới kiêu mạn, không biết sức của mình, muốn đối nghịch với sức mạnh
lớn hơn nên đã bị dính đầy phân. Thuở xưa, chính người ấy cũng kiêu mạn,
không biết sức của mình, đối địch với sức mạnh hơn, nên đã bị dính đầy phân.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của họ, bậc
Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con sư tử, trú ở trong hang núi, tại Tuyết Sơn.
Không xa chỗ ấy bao nhiêu, nhiều con heo rừng sống gần một bờ hồ. Cũng gần
cái hồ ấy, một số nhà tu khổ hạnh sống trong những am bằng lá.
Một hôm, con sư tử giết một con trâu rừng
v.v... và ăn thịt thật thỏa thích xong, nó đi xuống hồ uống nước rồi đi lên.
Trong lúc ấy, một con heo to lớn bắt mồi gần hồ nước ấy. Con sư tử thấy nó,
liền suy nghĩ: "Ta sẽ ăn thịt nó một ngày khác, nhưng nếu thấy ta hay ở đây,
nó sẽ không đến nữa!". Vì vậy, sư tử từ hồ nước đi lên, và tránh né một bên.
Con heo rừng nhìn thấy vậy, liền suy nghĩ: "Nó thấy ta, sợ ta, nên không dám
đến gần, và chạy trốn. Hôm nay, sẽ có cuộc đối địch giữa ta và con sư tử
ấy". Vì vậy, nó ngẩng đầu lên thách thức sư tử với bài kệ đầu tiên:
Này bạn, ta bốn chân,
Bạn cũng vật bốn chân.
Sư tử hãy quay lại,
Sao bạn sợ, chạy trốn?
Con sư tử nghe vậy liền nói:
- Này bạn heo rừng, hôm nay ta không đánh
nhau với bạn. Nhưng hẹn sau bảy ngày, hãy đánh nhau chính tại chỗ này.
Nói vậy xong, con sư tử bỏ đi. Con heo rừng
suy nghĩ: "Ta sẽ đánh nhau với con sư tử", và nó hân hoan thích thú báo tin
cho bà con biết. Bà con nó nghe vậy, hoảng hốt nói:
- Chính ngươi sẽ làm hại tất cả chúng ta.
Không biết sức mạnh của mình, ngươi lại muốn đánh nhau với con sư tử. Khi
con sư tử đến, nó sẽ giết mạng sống của tất cả chúng ta. Chớ hành động hấp
tấp như vậy.
Con heo rừng ấy sợ hãi, hốt hoảng hỏi:
- Nay tôi phải làm gì?
Các con heo rừng nói:
- Hãy đi đến bãi phân của các nhà tu khổ
hạnh ấy, lấy thân lăn lộn trên chỗ ấy trong bảy ngày, phơi cho thân khô, đến
ngày thứ bảy tắm ướt với những giọt sương, rồi đến chỗ hẹn trước khi con sư
tử tới, tìm hiểu hướng gió thổi, và đứng trước ngọn gió. Con sư tử tánh ưa
sạch sẽ, ngửi mùi hôi từ thân của bạn, sẽ tha cho bạn và bỏ đi.
Con heo rừng ấy làm theo như vậy, vào ngày
thứ bảy nó đến đứng ở đấy. Con sư tử vừa ngửi mùi hôi trên thân con heo
rừng, biết nó bôi phân, liền nói:
- Này bạn heo rừng, mưu chước ngươi nghĩ khá
tốt đấy! Nếu ngươi không bôi phân thì ở đây ngươi đã bị ta giết hại rồi. Ta
không thể cắn thân ngươi với miệng của ta, cũng không thể đánh ngươi với
chân của ta. Do vậy ta sẽ tha cho ngươi.
Nói vậy xong, con sư tử đọc bài kệ thứ hai:
Lông da ngươi dơ bẩn,
Heo rừng, ngươi hôi thối,
Nếu ngươi muốn đánh nhau,
Ta cho ngươi thắng trận!
Con sư tử quay trở lui, và bắt được mồi, sau
đó uống nước hồ rồi đi về hang núi. Còn con heo rừng báo cho bà con biết:
- Con sư tử đã bị ta đánh bại!
Chúng sợ hãi hoảng hốt liền nói:
- Một ngày kia con sư tử lại đến và sẽ đoạt
mạng sống của tất cả chúng ta.
Vì vậy chúng liền chạy trốn đi đến nơi khác.
*
Sau khi thuyết pháp thoại này, bậc Ðạo Sư
nhận diện Tiền thân:
- Lúc ấy, con heo rừng là Trưởng lão lớn
tuổi này và con sư tử là Ta vậy.
-ooOoo-
154. CHUYỆN CON RẮN (Tiền thân Uraga)#
Ở đây, đã trốn vào...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư kể về sự tranh chấp của các võ quan. Cùng phục vụ vua Kosala và cầm đầu
binh lính, hai bậc đại thần này thấy mặt tại chỗ nào thì cãi lộn nhau ở chỗ
ấy. Sự thù hằn của họ được tòan thành biết rõ. Ngay cả vua, bà con, thân hữu
cũng không thể giảng hòa họ được.
Một hôm, bậc Ðạo Sư, vào buổi sáng sớm, nhìn
xem ai có khả năng giác ngộ, và thấy hai người này có duyên chứng được Dự
lưu đạo. Hôm sau, bậc Ðạo Sư đi một mình vào Xá-vệ để khất thực, đứng trước
cửa nhà của một trong hai người ấy. Người này đi ra, cầm lấy bát, mời bậc
Ðạo Sư vào nhà, sửa soạn chỗ ngồi và mời Ngài. Bậc Ðạo Sư ngồi xuống, thuyết
về lợi ích tu tập Từ tâm, sau khi biết tâm người ấy đã sẵn sàng, liền thuyết
về các Sự thật. Cuối bài giảng, người ấy chứng quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư biết
người ấy đã chứng quả Dự lưu, liền bảo người ấy cầm bình bát đứng dậy và đi
đến nhà của người kia. Người này thấy bậc Ðạo Sư đến liền ra đảnh lễ và mời
Ngài vào nhà. Người này cũng cầm bình bát đi theo bậc Ðạo Sư và vào nhà với
Ngài. Bậc Ðạo Sư tán thán mười một lợi ích của Từ tâm, và khi biết tâm của
người sau này cũng đã thuần thục, liền thuyết giảng về các Sự thật. Cuối bài
giảng, người này được an trú vào quả Dự lưu. Như vậy cả hai đều đắc quả Dự
lưu, thú nhận với nhau về lỗi lầm của mình, thứ lỗi cho nhau, hòa hợp, hoan
hỉ với nhau trước mặt Thế Tôn. Sau khi ăn xong, bậc Ðạo Sư liền đi về tịnh
xá. Cả hai vị đem theo nhiều vòng hoa, hương thơm, bơ chín, mật, đường phèn,
v.v... cùng đi với bậc Ðạo Sư về tịnh xá. Sau khi nêu rõ các trách nhiệm và
giáo giới cho các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư đi vào Hương phòng. Các Tỷ-kheo, vào
buổi chiều, nói về câu chuyện ấy tại Chánh pháp đường:
Thưa các Hiền giả, bậc Ðạo Sư đã nhiếp phục
những người không thể nhiếp phục. Hai vị đại thần ấy chống đối với nhau đã
lâu ngày, vua và bà con thân hữu không thể làm họ hòa hợp. Nhưng chỉ trong
một ngày, Như Lai đã nhiếp phục được họ.
Bậc Ðạo Sư đến Chánh pháp đường và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo các ông ngồi ở đây nói câu
chuyện gì?
Khi nghe câu chuyện ấy, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo không phải chỉ nay Ta mới
làm cho hai người này hòa hợp. Xưa kia Ta cũng làm cho họ hợp rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, một số quần chúng lớn tụ họp để vui chơi ngày lễ hội. Nhiều đám
người, chư thần, các loại rắn thần, kim sí điểu (chim thần cánh vàng) v.v...
tụ họp lại để xem đại hội.
Tại một chỗ, một con rắn và một con kim sí
điểu xem hội cùng đứng với nhau. Con rắn không biết là con kim sí điểu đứng
bên cạnh, liền đặt tay lên vai nó. Con kim sí điểu xoay mình lại để xem ai
đã đặt tay lên vai nó, và khi nhìn, nó biết đó là con rắn. Con rắn cũng
nhìn, biết là con kim sí điểu, hoảng hốt vì sợ chết, vội đi ra khỏi thành và
chạy trốn trên mặt sông. Con kim sí điểu quyết định bắt lấy con rắn liền
đuổi theo.
Lúc bấy giờ Bồ-tát là vị tu khổ hạnh, sống
trong một chòi lá bên bờ sông ấy. Ðể làm dịu sức nóng ban ngày, ngài cởi áo
ngoài bằng vỏ cây, mặc áo tắm và xuống sông tắm. Con rắn suy nghĩ: "Ta sẽ
nhờ vị xuất gia này cứu mạng sống", liền từ bỏ nguyên hình, biến thành hòn
ngọc và trốn vào giữa áo bằng vỏ cây. Con kim sí điểu đuổi theo thấy nó đi
vào trong ấy, nhưng vì kính trọng áo bằng vỏ cây, nó không chạm cái áo và
thưa với Bồ-tát:
- Thưa Tôn giả, hãy cầm lấy áo bằng vỏ cây.
Trong đó có con rắn mà con muốn ăn.
Và để nêu rõ ý nghĩa này, nó đọc bài kệ đầu
tiên:
Ở đây đã trốn vào
Vị vua các loài rắn,
Con muốn giải thoát nó,
Khỏi hình hòn đá ngọc,
Và vì trọng Phạm hạnh,
Dầu đói, con không bắt.
Bồ-tát đứng dưới nước, nói lời tán thán vua
kim sí điểu qua bài kệ thứ hai:
Mong ngươi sống lâu ngày
Ðược Phạm thiên hộ trì,
Luôn hưởng món chư Thiên,
Mong ngươi được đầy đủ,
Vì kính trọng Phạm hạnh,
Dầu đói, chớ ăn nó.
Như vậy, Bồ-tát đứng dưới nước nói lên lời
tùy hỷ. Rồi Bồ-tát đi lên, mặc áo vỏ cây, và đem cả hai cùng đi về thảo am.
Ngài tán thán hạnh tu tập Từ tâm, khiến cả hai hòa hợp. Từ đấy trở đi, cả
hai đều sống hòa hợp, vui vẻ với nhau.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc ấy, con rắn và con chim sí điểu là hai
vị đại thần này, còn vị tu khổ hạnh chính là Ta vậy.
-ooOoo-
155. CHUYỆN NHẢY MŨI (Tiền thân Gagga)#
Này cha, sống trăm năm...,
Câu chuyện này, khi trú ở Ràjakàramado
(Vương Lâm) do vua Ba-tư-nặc xây dựng gần Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể như sau:
Một hôm, ngồi giữa bốn hội chúng ở
Ràjakàrama, trong khi thuyết pháp, bậc Ðạo Sư nhảy mũi. Các Tỷ-kheo lớn
tiếng nói lên:
- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn sống lâu! Mong
Thiện Thệ sống lâu!
Và họ tạo ra một tiếng ồn lớn. Do tiếng ồn
ấy, pháp thoại bị chấm dứt. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, khi có ai nhảy mũi, nếu
ta nói: Mong hãy sống lâu, thì do nhân duyên ấy, một người có thể sống hay
chết không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Này các Tỷ-kheo, khi nhảy mũi, chớ nói:
Mong hãy sống lâu! Ai nói vậy thì phạm ác hạnh.
Lúc bấy giờ, khi các Tỷ-kheo nhảy mũi, các
cư sĩ thường nói: - Mong Tôn giả sống lâu!
Các Tỷ-kheo cảm thấy ray rứt nhưng không đáp
lại. Các cư sĩ bực tức nói:
- Sao các Sa-môn Thích tử khi được chúc:
"Mong Tôn giả sống lâu!", đã không đáp lại?
Họ trình sự việc này lên Thế Tôn. Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, các gia chủ hay mê tín ở
điềm lành, vì vậy, khi các gia chủ nói: Mong Tôn giả sống lâu, các ông được
phép trả lời: Mong các người sống lâu!
Các Tỷ-kheo hỏi Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi nào khởi lên tục lệ
đáp lời chúc sống lâu?
Bậc Ðạo Sư trả lời:
- Tục lệ được khởi lên từ ngàn xưa.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình Bà-la-môn ở xứ Kà-si. Thân phụ
Bồ-tát làm nghề buôn để sống. Khi Bồ-tát lên mười sáu tuổi, người cha giao
cho Bồ-tát hòn ngọc có bùa chú cùng đi từ làng này qua thị trấn khác rồi đến
Ba-la-nại. Sau khi ăn cơm xong tại nhà người gác cổng, hai cha con không tìm
được nhà để ở, bèn hỏi:
- Những người đi đến trễ trú ở chỗ nào?
Các người khác trả lời họ:
- Ngoài thành có một ngôi nhà. Nhưng nhà ấy
có một phi nhân (quỷ thần) đang ở. Nếu các ông muốn, cứ đến đấy mà ở.
Bồ-tát nói:
- Thưa cha thân, hãy đi, chớ sợ Dạ-xoa, con
sẽ nhiếp phục nó, làm cho nó quỳ lại dưới chân cha.
Nói xong Bồ-tát đưa cha đến chỗ ấy. Rồi
người cha nằm trên tấm ván, còn Bồ-tát ngồi bóp chân cho cha. Bấy giờ, con
quỷ Dạ-xoa trú tại đấy, sau mười hai năm phục vụ vua Vessavana (Tỳ-sa-môn,
một trong bốn Thiên vương), được cho ngôi nhà này với điều kiện: Trừ những
người nào vào trong ngôi nhà này, khi nhảy mũi, nếu được chúc: "Mong sống
lâu!" và đáp lại: "Mong sống lâu!", con quỷ ấy có thể ăn thịt những người
khác không chúc sống lâu.
Con Dạ-xoa ấy ở tại cột của cây kèo chính.
Nó nghĩ: "Ta sẽ làm cho người cha Bồ-tát nhảy mũi". Vì vậy, với thần lực của
mình, nó làm đám bụi mịn bốc lên. Bụi ấy bay vào mũi người cha. Người cha
nằm trên tấm ván nhảy mũi. Người con không nói: Mong cha sống lâu! Con
Dạ-xoa muốn ăn thịt người cha, nên từ cột cây kèo đi xuống. Bồ-tát thấy nó
xuống liền nghĩ: "Cha ta bị con quỷ này làm cho nhảy mũi. Con quỷ này, khi
ai nhảy mũi mà không đáp: "Hãy sống", sẽ trở thành mồi cho nó ăn thịt!" Vì
vậy, Bồ-tát nói lên bài kệ đầu với cha:
Mong cha sống trăm năm,
Cộng thêm hai mươi tuổi,
Mong quỷ không ăn cha,
Mong cha sống trăm thu!
Khi nghe lời Bồ-tát nói, con Dạ-xoa nghĩ:
"Vị thanh niên này trả lời; Mong cha sống lâu! Ta không thể ăn thịt nhưng ta
sẽ ăn thịt người cha!". Vì vậy, nó đi đến gần người cha. Thấy con Dạ-xoa đi
đến gần, ông liền suy nghĩ: "Con quỷ này sẽ ăn thịt những ai không đáp:
"Mong sống lâu". Vậy ta sẽ đáp lại: "Mong con sống lâu". Và người cha nói
câu kệ thứ hai với con:
Mong con sống trăm năm,
Cộng thêm hai mươi tuổi,
Mong quỷ ăn thuốc độc
Còn con sống trăm thu!
Con Dạ-xoa suy nghĩ: "Cả hai người này, ta
không thể ăn thịt được", liền quay trở lui. Nhưng Bồ-tát hỏi nó:
- Này Tôn giả Dạ-xoa, vì sao ngươi ăn thịt
những người đi vào trong ngôi nhà này?
- Do tôi phục vụ vua Vessavana mười hai năm,
nên được phép ăn tất cả mọi người, trừ những ai đáp lời chúc: Hãy sống lâu!
- Này Dạ-xoa, ngươi trước kia làm điều bất
thiện, nên phải sanh ra hung dữ, độc ác, làm hại người. Nay nếu ngươi làm
hành động tương tự, ngươi sẽ đi từ cảnh đen tối này đến cảnh đen tối khác.
Do vậy từ nay, ngươi hãy từ bỏ sát sanh v.v...
Sau khi nhiếp phục con Dạ-xoa, làm cho nó
hoảng sợ với cảnh khổ của địa ngục, khuyên nó giữ Năm giới, Bồ-tát thu phục
con Dạ-xoa trở thành người giúp việc.
Ngày hôm sau, nhiều người đi đến thấy con
Dạ-xoa, biết rằng nó đã được Bồ-tát nhiếp phục, liền báo cáo lên vua:
- Thưa Thiên tử, có một thanh niên, đã nhiếp
phục con Dạ-xoa, và đã làm nó trở thành người chạy việc.
Vua cho mời Bồ-tát, đặt Bồ-tát vào chức vụ
Ðại tướng quân, và thưởng cho thân phụ Bồ-tát nhiều danh vọng. Sau khi con
Dạ-xoa được vua phong làm người thu thuế, vua tuân theo lời khuyên răn của
Bồ-tát, làm các công đức như bố thí v.v... và khi chết, vua được sanh lên
cõi trời làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể pháp thoại này, để
giải thích phong tục trả lời: "Mong sống lâu", Ngài nói:
- Tục lệ này từ xưa đã có rồi.
Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, nhà vua là Ànanda, người cha
là Ca-diếp và người con trai là Ta vậy.
-ooOoo-
156. CHUYỆN HOÀNG TỬ CÓ TÂM THÂU PHỤC (Tiền thân Alìnacitta)#
Chính nhờ Tâm thâu phục...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể
về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. (Câu chuyện sẽ được nói lên trong Chương
XI, Tiền thân Samvara số 462). Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Có phải chăng ông đã thối thất tinh tấn?
Tỷ-kheo ấy trả lời:
- Có thật, bạch Thế Tôn.
Bậc Ðạo Sư nói với vị ấy:
- Này Tỷ-kheo, thuở xưa chính ông đã tinh
tấn lấy được vương quốc thành Ba-la-nại cách xa mười hai dặm, và đã giao
vương quốc ấy cho một đứa trẻ như cho một miếng thịt. Và nay, vì sao ông đã
xuất gia trong Giáo pháp giải thoát như vậy, lại thối thất tinh tấn?
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, có một làng thợ mộc không xa thành Ba-la-nại bao nhiêu. Tại đấy,
có năm trăm người thợ mộc ở. Họ đi thuyền ngược dòng sông, đốn cây góp lại
để làm sườn của những ngôi nhà một tầng, hoặc hai tầng. Họ đánh dấu tất cả
khúc gỗ, kéo gỗ đến bờ sông rồi đem lên thuyền chờ về thành. Những ai muốn
ngôi nhà thế nào, họ làm đúng như vậy rồi lấy tiền để sinh sống.
Trong khi họ đang làm việc như vậy, thì một
con voi đạp phải một miếng dăm gỗ vụn của cây keo. Miếng dăm gỗ ấy đâm vào
chân con voi làm cho nó rất đau đớn. Chân nó bị sưng lên và làm mủ. Con voi
nghe tiếng đốn suy nghĩ: "Ta có thể nhờ những người thợ mộc này làm cho lành
chăng?" Nghĩ vậy nó liền đi ba chân đến gần đám thợ mộc và nằm xuống. Các
người thợ mộc thấy chân nó sưng, đi đến xem thì thấy miếng dăm gỗ. Họ lấy
một con dao, kéo bật miếng dăm gỗ ra, lấy hết mủ, rửa với nước nóng và xức
với nước thích hợp, không bao lâu thì vết thương được lành lại. Con voi lành
mạnh suy nghĩ: "Nhờ những người thợ mộc này, ta được sống lại. Nay ta cần
phải trả ơn họ".
Từ đấy trở đi, con voi nhổ các cây giúp
những người thợ mộc, lăn tròn các khúc cây hoặc giúp họ đẽo gỗ. Hoặc nó mang
đến cho họ bất cứ dụng cụ nào họ cần và cầm mọi vật bằng chiếc vòi một cách
cương quyết không sờn lòng. Vào giờ ăn, các người thợ mộc mỗi người đem đến
một phần ăn và con voi được cả năm trăm phần. Bấy giờ con voi ấy có một voi
con toàn trắng, một con voi thuần chủng tuyệt đẹp. Voi cha suy nghĩ: "Ta
hiện tại đã lớn tuổi. Nay ta nên cho con ta làm các công việc giúp họ". Vì
vậy, không thông báo cho các người thợ mộc biết, nó đi vào rừng, dắt voi con
ra, và nói với họ:
- Voi con này là con của tôi. Các người đã
giúp tôi. Nay tôi giao nó cho các người như trả tiền chữa trị. Bắt đầu từ
nay, nó sẽ làm cho các người.
Rồi nó dạy con:
- Bắt đầu từ nay, những việc gì cha đã làm,
con hãy làm thế.
Voi cha nói xong, để voi con ở với những
người thợ mộc rồi đi vào rừng. Từ đó, voi con phục tùng làm theo lời nói của
các người thợ mộc, kham nhẫn chịu đựng tất cả mọi công việc và họ nuôi nó
với năm trăm phần ăn như họ đã nuôi voi cha.
Khi voi con làm xong công việc, nó xuống
sông chơi rồi trở lại. Những đứa con của người thợ mộc thường nắm vòi nó, và
chơi với nó dưới nước và trên bờ. Thời ấy, các con voi, con ngựa được loài
người thuần hóa không đi đại tiện hay tiểu tiện trong nước chỉ đại tiện ở
ngoài, trên bờ sông.
Một hôm trời mưa, một bãi phân khô của voi
này rơi xuống sông, trôi đến bến nước của thành Ba-la-nại, mắc vào một bụi
cây, và đứng lại. Những người nài của vua dắt năm trăm con voi đến để tắm.
Khi các con voi ngửi mùi bãi phân của con voi thuần chủng, không một con voi
nào chịu xuống sông, chúng cong đuôi lên và cắm đầu bỏ chạy. Các người giữ
voi báo cáo lên các người huấn luyện voi. Những người này nói:
- Chắc có gì chướng ngại trong nước.
Họ ra lệnh làm cho sạch nước thì thấy bãi
phân của con voi thuần chủng ở bụi cây ấy và biết được đây là nguyên nhân
của sự việc. Họ đem đến một cái chum chứa đầy nước, chà nát bãi phân ấy và
rưới nước sạch lên thân các con voi. Thân các con voi trở thành có mùi thơm,
lúc bấy giờ, các thuyền bè cột lại, đi ngược dòng và đến chỗ những người thợ
mộc ở. Voi con chơi trên sông, nghe tiếng trống, liền đến gần các người thợ
mộc. Họ liền đi đến đón vua và thưa:
- Thưa Thiên tử, Thiên tử cần loại gỗ nào,
cần gì ngài lại đến đây cho nhọc? Sao không đưa tin báo cho chúng thần đem
về?
- Này các khanh, ta đến đây không phải vì
gỗ. Ta đến vì con voi này.
- Thưa Thiên tử, Thiên tử hãy bắt nó đem đi.
- Nhưng con voi không muốn đi.
Vua hỏi:
- Này bạn voi, bạn muốn gì?
- Thưa Thiên tử, hãy đem tiền cho các người
thợ mộc này đã nuôi dưỡng tôi.
- Tốt lắm, này bạn.
Vua ra lệnh đem lại trăm ngàn đồng tiền vàng
và cho đặt gần bốn chân voi và đuôi con voi với đống tiền ấy, nhưng con voi
vẫn không đi. Nó đòi cho mỗi người thợ một cặp áo, cho các người vợ vải đủ
để mặc, cho trẻ con tiền nuôi dưỡng. Rồi con voi quay mình lại, nhìn và chào
các người thợ mộc, các người đàn bà và các đứa trẻ rồi mới ra đi với vua.
Vua đem voi về, đi vào thành. Vua cho trang
hoàng thành phố và chuồng voi, bảo con voi đi vòng quanh thành, rồi đưa con
voi vào chuồng, và trang hoàng chuồng voi thật lộng lẫy. Vua làm lễ quán
đảnh cho voi, phong cho nó làm Vương tượng, đặt voi vào hàng bạn thân của
mình, cho voi nửa vương quốc, và lo săn sóc con voi như săn sóc chính mình.
Từ khi con voi đến, toàn cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ) nằm trong tay trị vì của
vua.
Theo thời gian Bồ-tát nhập mẫu thai của bà
chánh hậu. Khi bà hoàng hậu sắp sửa sanh, thì vua mệnh chung. Sợ rằng nếu
con voi biết được vua mệnh chung, chắc quả tim nó có thể vỡ ra, nên người ta
không nói gì cho con voi biết và vẫn hầu hạ nó như trước.
Nhưng ông vua láng giềng, vua xứ Kosala,
biết được vua kia đã băng hà, suy nghĩ: "Vương quốc đã trống không", liền đi
đến với một đạo quân lớn và vây hãm thành. Quân bảo vệ cho đóng cửa thành và
đưa tin cho vua Kosala:
- Hoàng hậu của chúng tôi sắp sanh. Từ đây
đến bảy ngày, bà sẽ sanh con, các người đoán tướng số đã nói như vậy. Nếu
hoàng hậu sanh con trai vào ngày thứ bảy, chúng tôi sẽ giao chiến, không
nhường vương quốc. Vậy hãy đợi đến ngày ấy.
Vua Kosala chấp nhận. Vào ngày thứ bảy,
hoàng hậu sanh được một hoàng nam. Ðến ngày lễ đặt tên, thái tử được đặt tên
Hoàng tử có Tâm thâu phục vì người ta tiên đoán hài nhi ra đời để thâu phục
nhân tâm.
Bảy ngày sau, khi thái tử sanh, toàn dân
giao chiến với vua Kosala. Vì thiếu người lãnh đạo, nên khi giao chiến quân
đội dù lớn cũng dần dần thất thế, và thối lui. Các đại thần trình sự việc
này lên hoàng hậu:
- Tình thế thật hiểm nguy, quân đội bị thất
thế thối lui, chúng tôi sợ thất trận. Vua đã mệnh chung, hoàng tử mới sanh,
nhưng vua Kosala kéo quân đến giao tranh, còn Vương tượng bạn thân thiết của
vua chưa hay biết gì, tâu hoàng hậu. Chúng tôi muốn báo tin cho voi biết.
Xin chờ ý kiến hoàng hậu.
Bà hoàng hậu chấp thuận, trang điểm cho thái
tử, đặt nó nằm trên một tấm vải mịn, từ lâu đài đi xuống với các đại thần
vây quanh, đến chuồng con voi, đặt thái tử nằm dưới chân voi và thưa:
- Thưa chúa voi, bạn của chúa voi đã mệnh
chung. Chúng tôi sợ chúa voi vỡ tim nên không tin cho chúa voi biết. Ðây là
con trai của bạn chúa voi. Vua Kosala đã đến bao vây thành, giao chiến với
con của bạn chúa voi và quân đội phải thối lui. Hoặc là chúa voi giết con
của bạn mình, hay là lấy lại vương quốc cho con của bạn mình.
Ngay lúc ấy, con voi lấy cái vòi rờ thái tử,
đỡ nó lên, đặt lên trên đầu mình và than khóc lớn tiếng, rồi đỡ thái tử
xuống, đặt nó nằm trong tay bà hoàng hậu, đi ra khỏi chuồng voi và nói:
- Ta sẽ bắt sống vua Kosala.
Các đại thần mặc áo giáp cho voi, trang
hoàng mình voi và mở cửa thành, vây quanh con voi và hộ tống nó ra trận. Con
voi ra khỏi thành liền rống lên, làm cho quần chúng khiếp sợ bỏ chạy, và
đánh tan quân thù rồi nắm chỏm tóc của vua Kosala, bắt vua đặt nằm dưới chân
thái tử. Một số người đứng dậy muốn giết vua Kosala. Con voi ngăn chận, và
thả vua ấy đi với lời khuyên:
- Bắt đầu từ nay, chớ phóng dật. Chớ kiêu
ngạo vì nghĩ rằng hoàng tử còn trẻ.
Từ đấy trở đi, toàn cõi Diêm-phù-đề đều nằm
trong tay Bồ-tát, và không một kẻ thù địch nào dám nổi lên chống đối.
Vào lúc bảy tuổi, Bồ-tát được làm lễ quán
đảnh, trở thành vị vua với tên Tâm thâu phục, trị vì nước đúng Chánh pháp,
và khi mạng chung, được sanh lên thiên giới làm đông đảo hội chúng chư
Thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ xong,
là bậc Ðạo Sư, Ngài nói lên hai bài kệ:
Chính vì Tâm thâu phục,
Ðội quân lớn hân hoan,
Bắt vua Ko-sa-la,
Tham lam, không biết đủ
Với những gì mình có,
Làm quân đội bằng lòng.
Cũng vậy vị Tỷ-kheo
Tinh cần, nương tựa đủ,
Tu tập theo thiện pháp,
Ðạt an ổn khổ ách,
Tuần tự chứng đạt được
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Sau khi bậc Ðạo Sư trình bày các Sự thật tối
thượng, đưa đến đỉnh cao là Niết-bàn bất tử, Ngài cho biết như sau:
- Khi kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo thối
thất đã chứng quả A-la-hán.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, bà mẹ là hoàng hậu Ma-gia
(Mayà), vua cha là đại vương Tịnh Phạn, con voi lấy lại quốc độ rồi dâng
thái tử là Tỷ-kheo thối thất tinh cần, cha của con voi là Xá-lợi-phất, và
thái tử có Tâm thâu phục chính là Ta vậy.
-ooOoo-
157. CHUYỆN CÔNG ÐỨC (Tiền thân Guna)#
Muốn gì, làm cho được...,
Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư kể về Tôn giả Ànanda đã nhận được một ngàn tấm y. Câu chuyện Trưởng lão
này thuyết pháp trong nội cung vua Kosala đã được nói đến ở Tiền thân
Mahàsàra (số 92). Khi Trưởng lão đang thuyết pháp cho nội cung vua, một ngàn
tấm y đáng giá mỗi tấm một ngàn đồng tiền vàng được đem đến dâng vua. Vua
lấy năm trăm tấm, và cho các cung phi năm trăm tấm. Tất cả cung phi để các
tấm y một bên, và hôm sau đem cúng cho Trưởng lão Ànanda, còn mình đắp tấm y
cũ, đi đến chỗ nhà vua dùng điểm tâm. Vua hỏi:
- Ta có ban cho các nàng các tấm y đáng giá
mỗi tấm một ngàn đồng tiền vàng, sao các nàng không đắp?
- Thưa Ðại vương, chúng thần thiếp đã cúng
các tấm y cho Trưởng lão.
- Trưởng lão Ànanda đã nhận tất cả sao?
- Thưa Thiên tử, vâng.
- Bậc Chánh Ðẳng Giác chỉ cho phép ba y, ta
nghĩ rằng Trưởng lão Ànanda tính chuyện buôn bán vải, nên mới nhận quá nhiều
y như vậy.
Nhà vua tức giận Trưởng lão ấy, ăn điểm tâm
xong, liền đi đến tinh xá, vào phòng Trưởng lão, đảnh lễ, ngồi xuống rồi
hỏi:
- Thưa Tôn giả, các nữ nhân trong cung của
trẫm có đến học Pháp hay nghe Pháp với Tôn giả không?
- Thưa Ðại vương, có. Các nữ nhân ghi nhận,
và nghe những gì họ đáng nghe.
- Thế nào, họ chỉ nghe Pháp hay họ cúng
dường cho Tôn giả các thượng y và hạ y?
- Thưa Ðại vương, hôm nay họ đã cúng năm
trăm y đáng giá một ngàn đồng tiền mỗi tấm.
- Tôn giả có nhận tất cả không?
- Thưa Ðại vương, có.
- Thưa Tôn giả, nhưng bậc Ðạo Sư chỉ cho
phép nhận ba y thôi?
- Vâng, thưa Ðại vương. Thế Tôn cho phép mỗi
Tỷ-kheo chỉ sử dụng ba y, nhưng không ngăn cấm nhận lấy những gì được cúng
dường. Do vậy, tôi nhận lấy các tấm y để cho những vị khác đang mang y mòn
cũ.
- Nhưng khi các Tỷ-kheo ấy nhận các tấm y từ
Tôn giả, họ sẽ làm gì với những tấm y cũ?
- Với các tấm y cũ, họ sẽ làm thượng y.
- Với các thượng y cũ, họ sẽ làm gì?
- Họ sẽ làm tấm nệm.
- Với những tấm nệm cũ, họ sẽ làm gì?
- Họ sẽ làm tấm thảm trải đất.
- Với những tấm thảm trải đất cũ, họ sẽ làm
gì?
- Họ sẽ làm khăn lau chân.
- Với khăn lau chân cũ, họ sẽ làm gì?
- Thưa Ðại vương, họ không được phép phí
phạm đồ tín thí cúng dường. Do vậy, họ lấy dao cắt nhỏ các khăn lau chân cũ,
trộn với bùn, đất và làm thành vôi hồ để làm nhà cửa.
- Thưa Tôn giả, ngay cả khăn lau chân được
cúng dường cho Tôn giả cũng không được hủy hoại?
- Vâng, thưa Ðại vương, chúng tôi không hủy
hoại đồ cúng dường cho chúng tôi. Chúng đều được sử dụng.
Vua bằng lòng hoan hỷ, mang năm trăm tấm y
còn lại được cất trong cung cúng dường Trưởng lão. Rồi vua nghe lời tùy hỷ
công đức, đảnh lễ Trưởng lão, thân hướng về phía hữu, và ra đi.0
Trưởng lão cúng năm trăm tấm y nhận được lần
đầu cho các vị có y đã cũ kỹ. Nhưng số Tỷ-kheo đồng trú với Trưởng lão là
khoảng độ năm trăm. Một trong các vị này là một Tỷ-kheo trẻ tuổi, hầu hạ
Trưởng lão nhiều việc, quét phòng, múc nước, dọn dẹp đồ ăn, đem tăm đánh
răng, nước rửa mặt, dọn dẹp sạch sẽ nhà vệ sinh, đem nước nóng đến các phòng
ở, và làm các công việc cần khác, như bóp tay, bóp chân, đấm lưng.
Trưởng lão lấy năm trăm tấm vải được nhận
lần sau đem cho Tỷ-kheo ấy, vì xứng đáng với tất cả sự hầu hạ giúp đỡ cho
mình. Tỷ-kheo này, chia tất cả tấm vải ấy cho những vị đồng sự với mình. Như
vậy, tất cả Tỷ-kheo đều nhận các tấm vải cúng dường. Họ cắt những tấm vải ấy
rồi nhuộm vàng như bông Kanikàra. Họ đến bậc Ðạo Sư đảnh lễ, ngồi xuống một
bên và thưa:
- Bạch Thế Tôn, một Thánh đệ tử đã chứng quả
Dự lưu có phải là một người nhìn mặt để bố thí không?
- Này các Tỷ-kheo một Thánh đệ tử không phải
là một người nhìn mặt để bố thí.
- Bạch Thế Tôn, giáo thọ sư chúng con, vị
Trưởng lão Thủ kho Chánh pháp đã đem năm trăm tấm vải trị giá một ngàn đồng
tiền vàng mỗi tấm cho một Tỷ-kheo trẻ tuổi, và vị ấy đem chia các tấm vải đã
nhận cho chúng con.
- Này các Tỷ-kheo, Ànanda không phải là
người nhìn mặt để bố thí. Tỷ-kheo thị giả ấy đã giúp đỡ thầy mình nhiều. Do
vậy, vì hầu hạ, vì công đức, vì thích ứng đối với người đã hầu hạ mình nên
vị ấy đã làm như vậy để giúp đỡ lại những ai đã giúp đỡ, vị ấy cho như vậy
để báo đáp trả ân. Các bậc hiền trí thời xưa cũng đã giúp đỡ lại những ai đã
giúp đỡ mình.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của các
Tỷ-kheo ấy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con sư tử sống trong một hang núi. Xung quanh
chân núi ấy, có một hồ nước lớn bao bọc. Trên một mảnh đất nổi lên của hồ
nước, đất bùn dày đặc, cỏ mọc xanh mềm và trên đám bùn ấy, các loài thỏ nai
v.v... các con vật nhanh nhẹn khác qua lại để ăn cỏ. Ngày hôm ấy, có một con
nai đi qua lại ăn cỏ. Ở đấy, sư tử muốn ăn thịt con nai, từ trên núi nhảy
xuống, với sức nhanh của mình, nó nhảy tới. Con nai hoảng sợ kêu lớn tiếng
rồi bỏ chạy, Sư tử không có thể chạy mau hơn và rơi trên mặt bùn, bị lún
xuống, không đứng dậy được, vì bốn chân đâm sâu như cây cột, bảy ngày đứng
như vậy không ăn không uống gì.
Một con chó rừng đi tìm mồi, chợt thấy sư
tử, liền hoảng sợ chạy trốn. Nhưng sư tử kêu nó lại:
- Này bạn chó rừng, chớ chạy, ta nay bị mắc
dính trong bùn. Hãy cứu ta sống.
Chó rừng đi đến gần sư tử và nói:
- Nếu tôi kéo ngài lên, tôi sợ rằng ngài sẽ
ăn thịt tôi!
- Chớ sợ, ta sẽ không ăn thịt ngươi. Trái
lại ta sẽ phục vụ giúp đỡ người rất nhiều. Hãy tìm một phương tiện kéo ta
lên.
Chó rừng chấp nhận lời hứa, liền bới đất bùn
xung quanh bốn chân sư tử, đào bốn mương nước ở đó, dẫn nước chảy vào làm
cho đất bùn mềm. Khi ấy chó rừng bò dưới bụng sư tử và nói:
- Hãy cố gắng lên, thưa ngài.
Rồi dùng cái đầu húc cái bụng sư tử lên. Sư
tử vận hết sức mạnh, vươn lên khỏi bùn, nhảy lên đứng trên đất cứng. Sư tử
nghỉ ngơi một lát rồi đi xuống hồ, rửa sạch bùn. Tắm xong, nó giết một con
trâu và với những nanh ngoạm sâu vào thịt trâu, nó xé thịt ra đặt một số
thịt trước mặt chó rừng:
- Này bạn hãy ăn đi!
Sau khi chó rừng ăn, sư tử mới ăn. Rồi chó
rừng cất giữ lại một miếng thịt.
- Này bạn giữ miếng thịt để làm gì?
Chó rừng trả lời:
- Có bạn gái giữ nhà cho tôi, miếng thịt này
dành cho nàng.
Sư tử nói:
- Ðược lắm, hãy lấy đi.
Rồi sư tử cũng lấy một miếng thịt cho vợ
mình. Cả hai cùng đứng trên chóp núi và đồng ý sẽ về chỗ ở của hai bạn gái.
Nói xong, sư tử đi đến đấy, đem thịt cho sư tử cái và chó rừng cái, rồi cùng
nói:
- Bắt đầu từ nay, ta sẽ săn sóc các nàng.
Sau đó, sư tử đưa cả hai vợ chồng chó rừng
vào chỗ ở của mình, để chúng ở tại một hang khác gần cửa hang của mình.
Từ đó trở đi, khi đi săn mồi, sư tử để sư tử
cái và chó rừng cái ở lại, còn mình đi với chó rừng đực, giết chết nhiều
loại thú. Cả hai ăn thịt ngay tại chỗ, rồi đem về hai phần cho hai con cái
ăn. Như vậy, thời gian qua , sư tử cái sanh hai đứa con. Chó rừng cái cũng
vậy. Tất cả bọn chúng sống hòa hợp với nhau. Một hôm, sử tử cái suy nghĩ:
"Con sư tử này quá thương yêu chó rừng cái và các chó rừng nhỏ. Có thể nó có
gian tình với chó rừng cái. Do đó, nó mới luyến ái như vậy. Vậy ta hãy hành
hạ con này, làm cho nó hoảng sợ, và bỏ trốn đi".
Trong khi sư tử đem chó rừng đi săn mồi, sư
tử cái bắt đầu hành hạ, làm cho chó rừng cái hoảng sợ:
- Tại sao ngươi cứ ở đây? Tại sao không đi
nơi khác?
Các sư tử con cũng làm cho các chó rừng con
hoảng sợ như vậy. Chó rừng cái nói lại với chồng sự việc này:
- Rõ ràng Sư tử muốn ám chỉ chúng ta đã ở
đây quá lâu. Nay mai Sư tử giết chúng ta. Vậy ta hãy trở về hang cũ đã sống
trước kia.
Chó rừng gặp sư tử đực và thưa:
Thưa ngài, chúng tôi đã ở với ngài quá lâu.
Ai ở lâu cũng làm mất sự lưu luyến. Trong khi chúng ta đi săn mồi, sư tử cái
hành hạ và dọa nạt vợ tôi và nói: Sao các ngươi ở chỗ này, hãy trốn đi! Các
sư tử con cũng dọa các chó rừng con như vậy. Nếu ai không ưa bạn láng giềng
thì nên bảo họ đi làm ăn chỗ khác chứ hành hạ như vầy có ích gì?
Sau khi nói vậy, chó rừng đọc bài kệ đầu:
Muốn gì làm cho được,
Là thường pháp kẻ mạnh,
Con cái rống, tôi biết,
Trước tôi nương, nay sợ.
Nghe chó rừng nói, sư tử bảo vợ:
- Này hiền thê, trong thời ấy ta đi săn mồi
bị kẹt trong bùn đến ngày thứ bảy..., ta mới về với hai vợ chồng chó rừng
này. Hiền thê có nhớ không?
- Vâng, tôi có nhớ.
- Hiền thê có biết lý do nào sau bảy ngày ta
mới về không?
- Thưa chàng, tôi không biết.
- Này hiền thê, ta nhảy vồ bắt một con nai,
bị dính mắc vào bùn, không thể ra khỏi chỗ ấy được. Trong bảy ngày ấy, ta
đứng đó, không ăn uống gì. Ta đã nhờ con chó rừng này cứu sống.Con này là
bạn của ta, đã cứu mạng sống ta. Bạn nào có khả năng trung kiên trong tình
bạn, bạn ấy không yếu hay nhỏ. Bắt đầu từ nay, hiền thê chớ có khinh thường
như vậy đối với bạn ta, vợ bạn ta các con bạn ta.
Rồi con sư tử nói bài kệ thứ hai:
Dù nhỏ bé, yếu đuối,
Vẫn kiên trì tình bạn,
Chính bà con thân thích,
Này vợ răng nanh ta!
Chớ khinh miệt bạn ấy,
Chính con chó rừng này
Ðã cho ta mạng sống.
Sư tử cái nghe lời chồng, giảng hòa với gia
đình chó rừng, và từ đấy về sau, sống hòa thuận với chó rừng cái và các con
của nó. Các sư tử con chơi giỡn với các con chó rừng con. Khi cha mẹ qua
đời, chúng không chấm dứt tình bạn, vẫn sống hoan hỷ với nhau. Thật vậy,
tình bạn của chúng kéo dài cho đến bảy đời.
*
Sau khi kể câu chuyện này, bậc Ðạo Sư thuyết
giảng các Sự thật. Cuối bài thuyết giảng, một số vị Tỳ-kheo đắc quả Dự lưu,
một số đắc quả Nhất lai, một số đắc quả Bất Lai, và một số đắc quả A-la-hán.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ con chó rừng là Ànanda, và con
sư tử là Ta vậy.
-ooOoo-
158. CHUYỆN CON NGỰA SUHANU (Tiền thân Suhanu)#
Loài vật tính không khác...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư kể về hai Tỷ kheo hung bạo, độc ác. Ở tỉnh thành, cũng có một vị như vậy.
Một hôm, Tỷ-kheo ở tỉnh thành, vì một vài công việc, đi đến Kỳ Viên. Các
Sa-di và các Tỷ-kheo trẻ biết tánh hung bạo của Tỷ-kheo ấy, họ nói:
- Chúng ta muốn thấy hai Tỷ-kheo hung bạo ấy
cãi nhau.
Họ cười khúc khích dẫn Tỷ-kheo ấy đến phòng
Tỷ-kheo ở Kỳ Viên. Cả hai vị hung bạo, vừa thấy nhau liền mến nhau, xoa bóp
tay, chân và lưng cho nhau. Các Tỷ-kheo ở tại Chánh pháp đường nói về câu
chuyện như sau:
- Thưa các Hiền giả, những Tỷ-kheo hung bạo
này đối với người khác thường hay lỗ mãng, độc ác. Nhưng đối với nhau, cả
hai lại hòa thuận, hoan hỷ, thương mến nhau.
Bậc Ðạo Sư đến Chánh pháp đường hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, hôm nay ở đây, các ông
ngồi họp đang bàn vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay là như
vậy. Thuở xưa, họ cũng là người hung bạo, độc ác đối với những người khác.
Nhưng họ đối với nhau lại hòa hợp hoan hỷ, sống thân ái.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát là vị đại thần của vua, làm tất cả mọi việc, cố vấn cho
vua về thế sự và thánh sự. Vua có tánh hơi tham. Trong chuồng ngựa của vua
có một con ngựa lỗ mãng tên là Mahàsona (hạt dẻ lớn). Một số người buôn ngựa
từ phương bắc đem đến năm trăm con ngựa và báo cho vua biết. Từ trước, vị
đại thần thường bảo họ tự định giá ngựa rồi trả tiền đầy đủ mà không đòi bớt
lui gì. Nhà vua không được vui, cho gọi một đại thần khác và nói:
- Này khanh, hãy cho họ định giá các con
ngựa. Trước hết hãy thả con ngựa Mahàsona vào giữa đàn ngựa ấy, khiến nó cắn
các con ngựa mới đến làm chúng bị thương và yếu sức, rồi bảo họ hạ giá và
trả bớt tiền.
- Thưa vâng.
Ðaị thần ấy vâng lời làm như đã bảo. Các
người buôn ngựa không hoan hỷ, báo cho Bồ-tát việc làm của vị đại thần ấy.
Bồ-tát hỏi:
- Các ngươi có con ngựa lỗ mãng ở trong
chuồng ngựa của các ngươi không?
- Thưa ngài có. Con ngựa lỗ mãng ấy tên là
Suhanu (quai hàm mạnh), nó rất hung bạo, độc ác.
- Vậy khi nào các ngươi trở lại, hãy đem con
ngựa ấy đến.
Một hôm vua nghe nói đoàn người buôn ngựa và
bảo thả con ngựa Mahàsona ra. Các người buôn thấy con ngựa Mahàsona đến,
liền thả con ngựa Suhanu. Hai con ngựa ấy gặp nhau, liền đứng lại và liếm
thân nhau. Vua hỏi Bồ-tát:
- Này khanh, hai con ngựa lỗ mãng này thật
hung hãn, độc ác, bạo hành với con ngựa khác. Còn chúng đối với nhau lại
đứng liếm thân và hoan hỷ với nhau, sao lại như vậy?
Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, vì tính của loài vật không
khác nhau. Khi tính của chúng cùng loài với nhau, thì chúng thương yêu nhau.
Và Bồ-tát đọc hai bài kệ:
Loài vật tính không khác,
So-na, và Su-ha-nu,
Cả hai đều hòa hợp,
Su-ha-nu giống như vậy,
Cùng loài với So-na .
Hoang dã và ác độc,
Thường cắn những dây cương,
Như vậy ác, ác đồng,
Bất thiện, bất thiện đồng.
Sau đó, Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, một vị vua chớ nên quá
tham lam. Chớ nên làm hại tài sản của người khác.
Sau khi khuyên răn nhà vua, Bồ-tát cho định
giá ngựa và trả tiền đúng giá. Các người buôn ngựa nhận được tiền đúng giá,
vui vẻ ra đi. Còn nhà vua tuân hành lời khuyên răn của Bồ-tát, rồi khi mệnh
chung, đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể lại pháp thoại này, bậc Ðạo Sư
nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, hai con ngựa là hai Tỷ-kheo độc
ác, vua là Ànanda, và vị đại thần hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
159. CHUYỆN CON CÔNG (Tiền thân Mora)#
Hãy mọc lên, mặt trời...,
Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo, có
phải ông đã thối thất tinh tấn?
Tỷ-kheo đáp:
- Bạch Thế Tôn, thật vậy.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Vì thấy gì?
Tỷ-kheo ấy đáp:
- Vì thấy một nữ nhân có thân thể trang sức
đẹp đẽ.
Bậc Ðạo Sư nói với vị ấy:
- Này Tỷ-kheo, không lạ gì một nữ nhân rất
dễ làm rối loạn tâm của một người như ông. Ngay các bậc hiền trí thuở xưa,
sau khi nghe tiếng nữ nhân, dầu tu hành trong bảy trăm năm không phạm giới,
vẫn bị uế nhiễm tức khắc. Ngay cả các bậc thanh tịnh cũng như vậy. Các vị
đạt được danh vọng cùng tột khi đam mê nữ sắc cũng sẽ tiêu vong danh dự, còn
nói gì các vị không thanh tịnh như ông?
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát tái sanh làm con chim công.
Khi còn ở trong vỏ trứng màu vàng như nụ hoa
Kanikàra, Bồ-tát làm vỡ trứng thoát ra. Bồ-tát thành một con chim công vàng
đẹp đẽ mỹ miều, dưới cánh có những đường viền đỏ chói. Ðể bảo vệ sự sống của
mình, sau khi vượt qua ba dãy núi, và trong dãy núi thứ tư, chim công lông
vàng mới lựa chọn chỗ ở trên cao nguyên của ngọn núi vàng ở Dandaka. Khi
trời rạng đông, đậu trên chỏm núi nhìn mặt trời mọc lên, Bồ-tát đọc một câu
chú để hộ trì cho mình bình an trước khi bay đi tìm mồi. Thần chú ấy bắt đầu
với câu:
Hãy mọc lên, mặt trời,
Vua độc nhất có mắt,
Với màu sắc vàng chói,
Sáng rực cả đất liền.
Và ta đảnh lễ ngài,
Bậc chói vàng quả đất,
Nay hãy bảo hộ ta
Sống an toàn trọn ngày.
Như vậy, sau khi đảnh lễ mặt trời với bài kệ
này để bảo vệ mình, Bồ-tát lại đảnh lễ các đức Phật đã nhập diệt trong quá
khứ và các công đức của chư Phật với bài kệ thứ hai:
Các vị Thánh, chân nhân,
Bậc tuệ tri mọi pháp,
Con đảnh lễ các Ngài
Hãy hộ trì cho con.
Ðảnh lễ chư Phật-đà,
Ðảnh lễ Bồ-đề vị,
Ðảnh lễ bậc giải thoát,
Ðảnh lễ giải thoát vị.
Sau khi đọc lên bài chú bảo hộ này, chim
công liền đi tìm mồi. Như vậy ban ngày, chim công đi tìm mồi; vào buổi
chiều, chim công đậu trên chóp núi, nhìn mặt trời lặn, sau khi tưởng nhớ các
công đức của Phật, con công lại làm bài chú khác để hộ trì xứ của mình, bài
kệ bắt đầu với chữ: Hãy lặn xuống mặt trời:
Hãy lặn xuống mặt trời,
Vua độc nhất có mắt,
Với màu sắc vàng chói,
Sáng rực cả đất liền;
Và ta đảnh lễ ngài,
Bậc chói vàng quả đất,
Nay hãy bảo vệ ta
Sống an toàn trọn đêm.
Chư vị thánh, chân nhân,
Bậc tuệ trí mọi pháp,
Con đảnh lễ các ngài,
Hãy hộ trì cho con.
Ðảnh lễ chư Phật-đà,
Ðảnh lễ Bồ-đề vị,
Ðảnh lễ bậc giải thoát,
Ðảnh lễ giải thoát vị.
Sau khi đọc bài chú này để bảo vệ mình, chim
công đi ngủ.
Bấy giờ không xa Ba-la-nại bao nhiêu, có một
người thợ săn ở tại một ngôi làng. Trong khi đi săn ở khu vực Tuyết Sơn,
thấy Bồ-tát đang đậu trên ngọn núi vàng ở Dandakha, anh ta báo cho con trai
biết.
Một hôm, hoàng hậu của vua Ba-la-nại tên là
Khemà (Thái Hòa) nằm mộng thấy một con công sắc vàng thuyết pháp, liền tâu
vua:
- Thưa đại vương, thiếp muốn nghe con công
sắc vàng thuyết pháp.
Vua hỏi các đại thần việc ấy. Các đại thần
đáp:
- Chắc các Bà-la-môn biết việc ấy.
Các Bà-la-môn thưa:
- Có loài chim công sắc vàng.
Vua lại hỏi:
- Chúng ở đâu?
Họ trả lời:
- Chắc chắn những người thợ săn có thể biết.
Vua cho họp các thợ săn lại để hỏi họ. Con
trai của người thợ săn ấy thưa:
- Thưa có, tâu Ðại vương, tại hòn núi vàng ở
Dandaka, con chim công sắc vàng đang ở tại đấy.
- Vậy chớ giết chim công ấy, bắt nó đem về
đây.
Người thợ săn đi, đặt bẫy lưới tại chỗ tìm
mồi của chim công. Nhưng tại chỗ chim công bước lên, lưới bẫy không sập.
Người thợ săn không bắt được chim công, trải bảy năm đi săn như vậy, và đã
mệnh chung. Hoàng hậu Khema không đạt được ước nguyện cũng mệnh chung. Nhà
vua tức giận bảo:
- Vì một con chim công, hoàng hậu của ta đã
mệnh chung.
Vua bảo khắc trên một tấm vàng những dòng
chữ sau đây:
- Trên dãy Tuyết Sơn, có ngọn núi vàng tên
là Dandaka. Tại đấy có con chim công sắc vàng ở. Ai ăn thịt con chim công ấy
sẽ trẻ mãi không bao giờ già.
Họ viết vậy xong, vua bỏ lá vàng ấy trong
một cái hộp. Sau khi vua mệnh chung, vị vua khác lên kế vị, đọc tấm lá vàng,
và ước: "Ta sẽ không bao giờ già". Vua liền cho gọi một thợ săn khác. Thợ
săn ấy ra đi, không bắt được Bồ-tát, và cũng mệnh chung tại đấy. Theo diễn
tiến như vậy, sáu vua lần lượt băng hà.
Rồi vị vua thứ bảy lên kế vị, cũng cho gọi
một thợ săn. Người thợ săn ấy đi, nhận xét rằng tại chỗ chim công đạp lên,
bẫy lưới không sập, và biết chim công đã đọc câu bùa chú trước khi đi đến
chỗ tìm mồi. Anh ta liền xuống chỗ đầm lầy ở biên địa, bắt một chim công
mái, dạy nó múa hát và đem chim công mái ấy đến nơi này, vào buổi sáng trước
khi chim công đọc bùa chú. Người thợ dựng lên cái cọc bẫy sập, đặt bẫy lưới
và khiến chim công mái kêu.
Chim công nghe tiếng con mái kêu khác
thường, liền bị tiếng sét ái tình khơi dậy dục vọng trong lòng nên không thể
đọc bùa chú, đi đến công mái và bị mắc vào bẫy. Thợ săn bắt được chim công,
đem dâng cho vua Ba-la-nại. Vua thấy sắc đẹp con chim công, rất bằng lòng.
Sau khi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, Bồ tát liền hỏi:
- Thưa Ðại vương, sao Ðại vương bảo bắt
thần?
Vua nói:
- Ta nghe rằng những ai ăn thịt ngươi sẽ
không bao giờ già. Ta muốn trường xuân bất lão, nên ta bảo bắt ngươi để ăn.
- Như vậy những ai ăn thịt thần sẽ được
trường xuân bất lão. Như thế là thần sẽ chết.
- Phải, ngươi sẽ chết.
- Nhưng nếu thần chết thì người làm thần
chết cũng sẽ chết theo.
Vua nói:
- Ngươi có sắc vàng, do vậy ta nghe nói
những ai ăn thịt ngươi sẽ trẻ mãi không bao giờ già.
- Thưa Ðại vương, thần sanh ra sắc vàng
không phải là không có lý do. Thuở xưa, thần là vị vua Chuyển luân ngự trị
tại thành phố này. Thần giữ gìn Năm Giới, và khiến cho dân chúng trong toàn
cõi thế giới giữ Năm Giới. Sau khi mệnh chung, thần được sanh tại lâu đài
cõi Trời Ba mươi ba, sống tại đấy cho hết tuổi thọ, và mệnh chung. Chính vì
kết quả của một nghiệp bất thiện, thần phải sanh làm con chim công, nhưng
nhờ sức mạnh của giới hạnh cũ, thần có màu sắc vàng.
- Nhà ngươi là vua Chuyển luân đã giữ Giới!
Do kết quả của Giới sanh ra sắc vàng, điều này làm sao chúng ta tin được? Có
gì làm bằng chứng?
- Thưa Ðại vương, thần có một bằng chứng.
- Bằng chứng gì?
- Thưa Ðại vương, khi thần làm vua Chuyển
luân, thần thường ngồi trên xe bằng vàng bạc, đi ngang qua hư không. Cỗ xe
ấy của thần nay nằm chôn trong đất, dưới cái hồ của Ðại vương. Hãy cho đào
dưới hồ lên, và cái xe ấy sẽ làm chứng cho thần.
Vua chấp thuận việc ấy và đáp:
- Lành thay.
Rồi vua cho tát nước ra khỏi hồ, đào lên
được cỗ xe và tin lời Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, trừ Niết-bàn bất tử, tất
cả pháp khác đều là pháp hữu vi, không có thực tánh, vô thường, chịu sự hoại
diệt.
Sau khi nói xong, Bồ-tát thuyết pháp cho
vua, và khuyên vua giữ Năm Giới. Nhà vua hoan hỷ, cúng dường quốc độ cho
Bồ-tát, và tỏ lòng hết sức cung kính. Bồ-tát không nhận vương quốc nhưng
khuyên vua:
- Ðại vương chớ phóng dật.
Rồi bay lên hư không đi về núi Vàng Dandaka.
Còn vua tuân theo lời khuyên của Bồ-tát làm
các công đức như bố thí v.v... rồi khi mạng chung, đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này, Bậc Ðạo Sư thuyết
giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo thối thất đã đắc quả A-la-hán.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ nhà vua là Ànanda và Ta là con
chim công vậy.
-ooOoo-
160. CHUYỆN CON NGỖNG XANH SẨM (Tiền thân Vinìlaka)#
Giống vua Vi-đề-ha...,
Câu chuyện này, khi trú ở Trúc Lâm, bậc Ðạo
Sư kể về Ðề-bà-đạt-đa bắt chước bậc Thiện Thệ.
Khi hai vị đại đệ tử đi Gayàsisa, tại đấy
Ðề-bà-đạt-đa bắt chước bậc Thiện Thệ và gặp nạn. Hai vị Trưởng lão thuyết
pháp và đem các vị Tỷ-kheo y chỉ mình đi về Trúc Lâm. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Xá-lợi-phất, khi thấy các ông,
Ðề-bà-đạt-đa đã làm gì?
Hai vị thưa:
- Bạch Thế Tôn, Ðề-bà-đạt-đa đã bắt chước
bậc Thiện Thệ và đã gặp đại nạn.
Bậc Ðạo sư nói:
- Này Xá-lợi-phất, không phải chỉ nay
Ðề-bà-đạt-đa mới bắt chước Ta và gặp nạn, mà thuở xưa, cũng đã như vậy rồi.
Nói xong, theo lời Trưởng lão yêu cầu, bậc
Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa trong nước Videha, khi vua Videha
trị vì ở thành Mithilà, Bồ-tát nhập mẫu thai bà hoàng hậu. Khi đến tuổi
trưởng thành, ngài được học tất cả tài nghệ ở Takkasalà, rồi khi vua cha
mệnh chung, Bồ-tát lên ngôi kế vị.
Lúc bấy giờ, một vị vua ngỗng trời sắc vàng
sống chung với một con quạ cái ở bãi mồi và đẻ ra một ngỗng đực. Con chim ấy
không giống mẹ, cũng không giống cha, toàn màu xanh tối và được gọi là
Vimìlaka. Vua ngỗng trời thường đi đến thăm con. Rồi hai ngỗng trời con khác
được sanh rất giống cha. Thấy cha thường hay đi đến thế giới loài người,
chúng bèn hỏi cha lý do. Ngỗng cha nói:
- Các con thân, cha đã sống chung với một
con quạ cái, và sanh một ngỗng đực tên là Vinìkala. Vì thế ta hay đi đến
thăm nó.
- Thế bọn chúng sống ở đâu? Ngỗng con hỏi.
- Hiện nay nó sống ở nước Videha, không xa
Mithilà bao nhiêu, trên ngọn cây cọ dừa (Ta-la).
- Thưa cha thân, sống giữa thế giới loài
người thật nguy hiểm đáng sợ hãi. Cha đừng đi đến đó. Chúng con sẽ đi và đem
nó về cho cha.
Hai ngỗng trời con được chấp thuận, liền đi
đến chỗ ấy, bảo con ngỗng Vinìkala ngồi trên một thanh cây, rồi chúng cắn
hai đầu thanh cây và bay ngang qua thành Mithilà.
Trong lúc ấy, vua Videda đang ngồi trên cỗ
xe lộng lẫy được đàn ngựa Sindh thuần chủng gồm bốn con toàn trắng, kéo đi
vòng quanh thành phố. Vinìkala thấy vua liền suy nghĩ:" Ta và Vua Videha nào
có khác gì. Vua ngồi trên cỗ xe được 4 ngựa Sindh kéo đi vòng quanh thành
phố; con ta ngồi trên cổ xe được các con ngỗng trời kéo, và đi trên hư
không!". Khi nó đi ngang qua hư không, nó đọc lên bài kệ đầu:
Giống vua Vi-de-ha
Ðược các ngựa thuần chủng
Kéo ngang các ngôi nhà
Tại thành Mi-thi-là,
Cũng vậy, Vi-nì-là
Ðược hai ngỗng trời chở
Giữa hư không bao la!
Các ngỗng trời con nghe lời nói ấy của
Vinìlaka rất phẫn nộ. Trước tiên chúng có ý định: "Chúng ta sẽ bỏ nó rơi
xuống ở đây và bay đi". Nhưng nghĩ lại:"Làm vậy, cha chúng ta thế nào cũng
la mắng chúng ta". Vì sợ bị cha mắng, chúng đưa Vinìkala đến với cha và kể
cho cha nghe việc ngỗng kia đã làm. Ngỗng trời cha tức giận nói:
- Mày hơn các anh mày sao? Mày làm ra vẻ cao
sang, tưởng mình là chúa tể và xem các anh mày như ngựa kéo xe à? Mày không
biết tự lượng sức? Ðây không phải chỗ tìm mồi của mày. Hãy đi về chỗ ở của
mẹ mày!
Sau khi mắng nó, ngỗng cha đọc bài kệ thứ
hai:
Vi-ni-ka, con thân,
Sống ở đây nguy hiểm,
Ðây không chỗ cho mày,
Hãy sống tại cổng làng,
Nơi mẹ mày mong đợi,
Hãy đến đó vội vàng!
Cùng với lời la mắng Vinìkala như vậy, ngỗng
trời bảo các con:
- Hãy mang con này đem ra chỗ phóng uế là
bãi phân ngoài thành Mithilà.
Và chúng làm theo lời cha bảo.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Vinìlaka là Ðề-bà-đạt-đa, các
ngỗng trời con là hai đệ tử đầu tay, ngỗng trời cha là Ànanda, còn vua
Videha là Ta vậy.