Chuyện Tiền Thân · Jātaka

111. CHUYỆN CÂU HỎI CỦA CON LỪA (Tiền thân Gadrabha-Panha)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 12

CHUYỆN CÂU HỎI CỦA CON LỪA (Tiền thân Gadrabha-Panha)#

Jātaka group 12

PHẨM HAMSA

111. CHUYỆN CÂU HỎI CỦA CON LỪA (Tiền thân Gadrabha-Panha)

Ngươi nghĩ mình là ngỗng...,

Chuyện câu hỏi của con lừa sẽ được nói đến

trong Tiền thân Ummagga số 546

-ooOoo-

112. CHUYỆN CÂU HỎI CỦA HOÀNG HẬU BẤT TỬ (Tiền thân Amaràdevi-Panha)

Các thứ bánh và cháo...,

Chuyện câu hỏi của hoàng hậu Bất tử cũng sẽ

được kể số 546 (như trên)

-ooOoo-

113. CHUYỆN CON CHÓ RỪNG (Tiền thân Sigàla)

Ngươi tin chó rừng say...,

Câu chuyện này,khi ở tại Trúc Lâm, bậc Ðạo

sư đã kể về Ðề-bà đạt đa. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ngồi họp tại Chánh pháp

đường bàn đến những việc làm tổn đức của Ðề-bà-đạt-đa.

- Thưa các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa đem theo

năm trăm Tỷ-kheo, đi đến Gayãsĩsa và nói: Sa-môn Gotama làm không đúng pháp,

điều ta làm mới đúng pháp. Các Tỷ-kheo ấy bị đưa vào đường sai lạc bởi những

lời nói dối như vậy, kẻ ấy đã phá hòa hợp Tăng và tổ chức hai lễ Bố-tát

trong một tuần.

Bậc Ðạo sư đến, hỏi vấn đề gì đang được bàn

luận, và khi được biết vấn đề ấy, Ngài nói:

- Này các Tỷ-kheo không phải chỉ nay

Ðề-bà-đạt-đa mới nói láo, lúc trước, kẻ ấy cũng đã nói láo rồi.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một thần cây ở một khu rừng có nghĩa địa. Lúc

bấy giờ, ở Ba-la-nại có hội lễ cúng sao. Các người tổ chức cúng lễ các quỷ

Dạ-xoa. Họ rải khắp các công viên, các ngã tư đường...nhiều cá thịt và sắp

đặt nhiều bát rượu.

Lúc ấy, có con chó rừng, vào nửa đêm, chui

từ lỗ cống đi vào thành, ăn cá thịt, uống rượu, rồi chui vào trong một bụi

cây nằm ngủ đến sáng. Khi nó thức dậy, thấy ánh sáng, biết rằng nay không

thể trở ra được. Nó đi đến gần đường, nằm xuống một chỗ mà người ta không

thấy nó được, nhưng nó thấy người ta và nằm im không nói gì.

Rồi một Bà-la-môn đang đi đến rửa mặt; thấy

người ấy, con chó rừng suy nghĩ: "Các Bà-la-môn hay tham tiền, ta phải đánh

trúng vào tánh tham lam ấy để họ dấu ta giữa nách, che ta với áo ngoài và

đưa ta ra ngoài thành". Với giọng người, nó nói:

- Này Bà-la-môn!

Vị Bà-la-môn quay lại hỏi:

- Ai kêu ta đó?

- Chính là tôi Bà-la-môn.

- Có chuyện gì vậy?

- Này Bà-la-môn, tôi có hai trăm đồng tiền

vàng. Nếu bạn dấu tôi giữa nách, che tôi với áo ngoài, không cho một ai thấy

và có thể đưa tôi ra ngoài thành, tôi sẽ cho bạn hai trăm đồng tiền vàng ấy.

Bà-la-môn vì tham tiền nên nhận lời, làm

đúng như lời dặn, đưa con chó rừng ra ngoài thành. Ði được một lát, con chó

rừng hỏi:

- Này Bà-la-môn, đây là chỗ nào?

- Chỗ ấy, chỗ ấy.

- Hãy đi thêm một lát nữa.

Như vậy, nó thúc đẩy vị Bà-la-môn nhiều lần,

cho đến khi ra nghĩa địa lớn. Khi ấy, con chó rừng nói:

- Hãy thả tôi xuống đây.

Vị Bà-la-môn thả nó xuống, chó rừng nói:

- Này Bà-la-môn, hãy trải cái áo ngoài ra.

Vì lòng tham, kẻ ấy trải áo ngoài ra. Chó

rừng lại nói:

- Này Bà-la-môn, hãy đào gốc cây này.

Và khi Bà-la-môn đang đào đất, con chó rừng

leo lên cái áo ngoài, đi đại tiện trên năm chỗ, bốn góc và chính giữa, bôi

phân cho nhớp, rồi đái cho ướt và bỏ đi vào rừng.

Bồ-tát đứng trên chỗ chĩa ba của cây, đọc

bài kệ này:

Ông tin chó rừng say,

Hỡi Bà-la-môn ơi!

Trăm tiền ốc chả có,

Ðâu có hai trăm vàng?

Sau đó, Bồ-tát nói với vị Bà-la-môn:

- Này Bà-la-môn hãy đi tắm và giặt áo ngoài

của ông.

Nói xong, Bồ-tát biến mất. Vị Bà-la-môn nghe

vậy, biết mình đã bị lừa, và sầu muộn bỏ đi!

*

Sau khi kể pháp thoại này xong, bậc Ðạo sư

nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, con chó rừng là Ðề-bà-đạt-đa, còn

vị thần cây là Ta vậy.

-ooOoo-

114. CHUYỆN CON CÁ NGHĨ VỪA (Tiền thân Mitacinti)

Nghĩ nhiều và nghĩ ít...,

Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo

Sư đã kể về hai Trưởng lão lớn tuổi. Nghe nói, hai Trưởng lão ấy, sau khi an

cư mùa mưa tại một làng thôn quê, đã quyết định đi đến yết kiến bậc Ðạo Sư,

và chuẩn bị lương thực để lên đường. Nhưng họ hoãn ngày này qua ngày khác,

cho đến một tháng trôi qua. Rồi họ chuẩn bị lương thực mới, cũng như lần

trước, và trì hoãn tháng này tháng khác. Như vậy, vì sự biếng nhác, trìu mến

trú xứ của họ, ba tháng trôi qua, họ mới lên đường đi đến Kỳ Viên. Sau khi

cất đặt y bát tại phòng chung, họ đến yết kiến bậc Ðạo Sư. Khi các Tỷ-kheo

hỏi vì sao lâu ngày họ không đến hầu đức Phật và nguyên nhân của sự chậm

trễ, họ báo cáo về sự biếng nhác của mình.

Tại Chánh pháp đường, câu chuyện về sự biếng

nhác của các Tỷ-Kheo ấy được Tăng chúng đề cập. Bậc Ðạo Sư đến, hỏi về vấn

đề đang được bàn luận, và khi được báo cáo vấn đề ấy, bậc Ðạo Sư cho gọi hai

Tỷ-Kheo ấy và hỏi có đúng như vậy không. Khi được họ xác nhận sự thật là

vậy, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-Kheo, không phải chỉ nay họ mới

biếng nhác, thuở trước, họ cũng đã biếng nhác và trìu mến trú xứ như vậy

rồi:

Sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện

quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở

Ba-la-nại, có ba con cá sống ở sông Ba-la-nại, một con tên Nghĩ nhiều, một

con tên Nghĩ ít, một con tên Nghĩ vừa. Chúng từ rừng đi đến cảnh giới loài

người. Tại đấy, Nghĩ vừa nói với hai con kia:

- Cảnh giới loài người này thật nguy hiểm và

dễ sợ. Các người đánh cá quăng lưới, và bắt cá. Chúng ta hãy đi về nguồn

lại.

Hai con cá vì biếng nhác, vì tham mồi, trì

hoãn lên đường, cho đến ba tháng trôi qua. Rồi những người đánh cá quăng

lưới xuống sông. Nghĩ nhiều và Nghĩ ít tìm mồi đi trước, vì mù quáng ngu si,

chúng không đề phòng lưới giăng nên đi vào trong mạng lưới. Nghĩ vừa đi sau

cẩn trọng đề phòng. Biết được hai con kia đã sa vào mạng lưới, nó suy nghĩ:

"Ta sẽ cứu sống những con cá biếng nhác, mù quáng, ngu si này".

Nó bơi vào phía ngoài lưới giăng, làm vùng

vẫy mắt lưới như đã được thoát, ra và làm tung toé nước như đã lặn về phía

trước lưới. Rồi nó đi vào mạng lưới. Các người đánh cá nghĩ rằng các con cá

đã vùng vẫy ra khỏi lưới và đã trốn đi rồi, nên nắm một góc lưới và kéo lên.

Hai con cá ấy thoát khỏi lưới và lặn xuống nước. Như vậy, nhờ Nghĩ vừa, mạng

sống của chúng đã được cứu thoát.

*

Sau khi kể câu chuyện quá khứ, bậc Ðạo Sư là

bậc Chánh Ðẳng Giác, đọc bài kệ này:

"Nghĩ nhiều" và "Nghĩ ít"

Cả hai đều mắc lưới,

Chỉ có "Nghĩ đúng mức"

Giải thoát cho bọn chúng,

Cả ba đã gặp nhau,

Chính tại con sông này,

Như vậy, sau khi kể pháp thoại này xong, Bậc

Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bải giảng ấy, hai Tỷ-Kheo Trưởng lão

chứng được quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, "Nghĩ nhiều" và "Nghĩ ít" là hai

Tỷ-Kheo Trưởng lão này, còn Nghĩ vừa là Ta vậy.

-ooOoo-

115. CHUYỆN NGƯỜI GIÁO GIỚI (Tiền thân Anusàsika)

Ai khuyên răn kẻ khác,...

Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo

Sư đã kể về một Tỷ-kheo-ni giáo giới người khác. Nghe nói, ở tại Xá vệ có

một thiện nữ nhân xuất gia, nhưng từ khi thọ đại giới, Tỷ-kheo-ni ấy không

chú tâm vào Sa-môn pháp, chỉ tham luyến tài vật. Tại chỗ nào các Tỷ-kheo-ni

khác không đi thì tại chỗ ấy, nàng đi khất thực một mình. Và người ta cúng

dường cho nàng những món thượng vị. Bị trói buộc bởi lòng tham vị, nàng suy

nghĩ: "Nếu tại chỗ này, các Tỷ-kheo khác đi đến khất thực, đồ lợi dưỡng của

ta bị tốn giảm. Ta phải làm thế nào để các Tỷ-kheo-ni khác không đi đến địa

phương ấy". Nàng đi đến trú xứ các Tỷ-kheo-ni và nói:

- Này các Hiền tỷ, tại chỗ ấy có voi dữ, có

ngựa dữ, có chó dữ, đó là một nguy hiểm. Chớ nên đi khất thực tại đấy.

Nàng khuyên răn các Tỷ-kheo-ni như vậy. Nghe

nàng nói, không một Tỷ-kheo-ni nào dám quay đầu ngó về địa phương ấy.

Một hôm, trên đường khất thực tại đấy, khi

đi vội vào một ngôi nhà, nàng bị một con cừu hung dữ húc, làm nàng gãy

xương. Người ta chạy đến, cột hai khúc xương gãy làm một, đặt Tỷ-kheo-ni ấy

nằm trên chiếc cáng, khiêng nàng đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni. Các Tỷ-kheo-ni

nhạo cười nàng và nói:

- Tỷ-kheo-ni này khuyên các Tỳ-kheo-ni khác

đừng đi, nhưng tự mình đi đến địa phương ấy, do vậy bị gãy xương.

Việc làm của Tỷ-kheo-ni này không bao lâu

được chúng Tỷ-kheo biết. Một hôm, tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo nói về

hạnh phi công đức của Tỷ-kheo-ni ấy:

- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo-ni ấy khuyên răn

các người khác, còn tự mình đi đến tại chỗ ấy, nên bị con cừu hung dữ húc

cho đến gãy xương.

Bậc Ðạo Sư đến, hỏi các Tỷ-kheo đang thảo

luận vấn đề gì, khi biết vấn đề ấy, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay, mà

xưa kia, nàng cũng đã lên tiếng khuyên răn, nhưng tự mình lại không làm theo

lời răn, cho nên nàng thọ khổ lâu dài.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì tại

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con chim, lớn lên, trở thành con chim chúa, có

hàng trăm con chim vây quanh, và trú ở Tuyết Sơn. Khi Bồ-tát sống tại đấy,

có một con chim cái hung dữ đi theo một con đường lớn để tìm đồ ăn. Con chim

cái này lấy được lúa, đậu, hột giống v.v... từ các cỗ xe rơi xuống. Nó suy

nghĩ: "Nay ta phải làm thế nào để các con chim khác đừng đến chỗ này". Nghĩ

vậy, nó khuyên răn đàn chim như sau:

- Con đường lớn đầy nguy hiểm, có voi, có

ngựa, có cỗ xe do các con bò hung dữ kéo và các vật nguy hiểm khác qua lại.

Không thể nào cất cánh bay lên mau được. Chớ nên đi trên đường ấy.

Vì lời khuyên ấy, đàn chim gọi nó là "Con

chim cái khuyên răn". Một hôm, đang tìm mồi trên con đường lớn, nghe tiếng

cỗ xe chạy mau, con chim cái ấy quay cổ lại nhìn, nghĩ rằng xe còn xa, nên

vẫn đi. Nhưng cỗ xe ấy đến gần nó mau như gió. Trong khi nó không thể bay

lên được, bánh xe cán phải nó, và xe vẫn chạy vùn vụt.

Khi họp đàn chim, chim chúa không thấy nó,

bèn hỏi:

- Con chim cái khuyên răn sao không có mặt?

Hãy đi tìm nó.

Các con chim đi tìm, thấy nó bị cán đứt đôi,

và về báo tin cho chim chúa biết, chim chúa nói:

- Chim cái ấy ngăn chặn các con chim khác,

còn tự mình lại đi tại đấy nên bị cán đứt đôi.

Rồi chim chúa đọc bài kệ:

Ai khuyên răn kẻ khác,

Tự mình chạy theo tham,

Bị gãy cánh nằm xuống,

Bánh xe giết đời chim.

*

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, con chim cái khuyên răn là

Tỷ-kheo-ni khuyên răn, còn chim chúa là Ta vậy.

-ooOoo-

116. CHUYỆN NGƯỜI MÚA GIÁO (Tiền thân Dubbaca)

Thưa sư trưởng, vì thầy...,

Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo

Sư đã kể về một Tỷ-kheo khó bảo. Câu chuyện này sẽ được nói đến trong Tiền

thân Gijjha (số 427), chương chín. Bậc Ðạo Sư gọi Tỷ-kheo ấy:

- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ nay ông mới

khó bảo, mà thuở trước ông cũng đã khó bảo rồi. Do khó bảo, không làm theo

lời khuyên của bậc hiền trí, nên ông bị cây giáo đâm phải, và mạng chung.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình diễn trò nhào lộn. Khi đến tuổi

trưởng thành, Bồ-tát có trí tuệ, thiện xảo trong phương tiện. Với một nhà

diễn trò nhào lộn, Bồ-tát học nghề múa với ngọn giáo, và cùng với thầy, đi

khắp đó đây để biểu diễn.

Vị sư trưởng chỉ biết nghề múa với bốn ngọn

giáo, chớ không biết múa với năm ngọn giáo. Một hôm, trong khi biểu diễn tại

một ngôi làng, vị sư trưởng ngà ngà say, đặt mỗi dãy năm ngọn giáo và nói:

- Ta sẽ biểu diễn điệu múa với năm ngọn

giáo.

Bồ-tát liền nói với vị ấy:

- Thưa sư trưởng, sư trưởng không biết nghề

múa với năm ngọn giáo. Hãy cất đi một ngọn. Nếu sư trưởng biểu diễn, sư

trưởng sẽ bị ngọn giáo thứ năm đâm phải và mạng chung.

Sư trưởng khá say nói:

- Con không biết được khả năng của ta.

Sư trưởng không nghe lời của Bồ-tát, múa qua

được bốn ngọn giáo, nhưng đến ngọn giáo thứ năm bị giáo đâm thủng, như hoa

Madhuka trên cành. Sư trưởng nằm oằn oại rên la, Bồ-tát nói:

- Do không nghe lời bậc hiền trí, nên thầy

phải gặp nạn này:

Rồi Bồ-tát đọc bài kệ:

Thưa sư trưởng, vì thầy

Làm quá sức của thầy,

Thầy không ưa, không thích

Lời khuyên này của tôi

Bốn giáo, thầy múa qua,

Ngọn thứ năm đâm chết.

Nói vậy xong, Bồ-tát đỡ thầy ra khỏi ngọn

giáo và làm những gì cần phải làm sau cùng cho xác thân thầy.

*

Sau khi kể câu chuyện quá khứ, bậc Ðạo Sư

nhận diện Tiền thân như sau:

- Lúc bấy giờ, vị sư trưởng là Tỷ-kheo khó

bảo này, còn người đệ tử là Ta vậy.

-ooOoo-

117. CHUYỆN CHIM ÐA ÐA (Tiền thân Tittira)

Lời quá thời cao mạnh...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã

kể về Kokalika. Câu chuyện sẽ được kể rõ ràng trong Tiền thân Takkaritya (số

481), Chương mười ba. Bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải nay, mà cả

thời xưa nữa, Kokalika đã bị nạn diệt vong rồi.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình ở phía tây bắc. Khi đến tuổi

trưởng thành, Bồ-tát học tất cả các nghề ở Takkasila, rồi từ bỏ các dục,

xuất gia làm vị tiên nhân du sĩ, chứng được năm Thắng trí và tám Thiền

chứng. Tất cả hội chúng ẩn sĩ ở Tuyết Sơn họp lại, tôn Bồ-tát lên làm sư

trưởng khuyên giáo và đi theo thầy. Bồ-tát lãnh đạo năm trăm ẩn sĩ, hưởng

thọ thiên lạc, sống ở Tuyết Sơn.

Lúc ấy một vị tu khổ hạnh bị bệnh vàng da

đang dùng búa chặt củi. Một vị tu khổ hạnh nói nhiều đến ngồi gần vị này và

nói:

- Hãy chặt chỗ này, hãy chặt chỗ này.

Vị tu khổ hạnh kia mất kiên nhẫn, phẫn nộ và

nói:

- Ngươi đâu phải là thầy dạy ta bửa củi?

Kẻ ấy giơ cây búa sắc bén, và với một nhát

búa, giết ngay mạng sống của vị tu khổ hạnh nói nhiều. Bồ-tát lo liệu các

việc phải làm đối với thân thể nạn nhân.

Lúc bấy giờ, không xa am thất bảo, có một

con chim đa đa sống dưới chân một gò mối. Vào buổi chiều, nó thường hay đứng

trên gò mối ấy và hót lớn tiếng. Nghe tiếng nó, một thợ săn độc ác nhận được

là tiếng con đa đa, liền giết nó và mang xác đi.

Bồ-tát không nghe tiếng con chim ấy, liền

hỏi các người tu khổ hạnh tại gò mối:

- Tại sao ta không nghe tiếng nó nữa?

Các vị tu khổ hạnh báo cáo sự việc cho

Bồ-tát rõ. Bồ-tát kết hợp hai sự kiện với nhau và nói lên bài kệ này giữa

hội chúng ẩn sĩ:

Lời quá thời cao mạnh

Ðưa chết cho người nói,

Chim đa đa mất mạng,

Vì ngu, hót quá lời.

Như vậy, Bồ-tát tu tập Bốn Vô lượng tâm, và

được sanh lên cõi trời Phạm thiên.

*

Bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay

Kokalika vì lời nói của mình bị nạn diệt vong, mà thuở trước kẻ ấy cũng đã

bị diệt vong rồi.

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân như sau:

- Lúc bấy giờ, vị tu khổ hạnh nói nhiều là

Kokalika; chúng ẩn sĩ là hội chúng đức Phật; còn Ðạo Sư hội chúng là Ta vậy.

-ooOoo-

118. CHUYỆN CHIM CUN CÚT (Tiền thân Vattaka)

Không suy nghĩ, người này...,

Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ Viên, bậc Ðạo

Sư đã kể về con trai của triệu phú Uttara. Nghe nói, ở Xá-vệ có vị triệu phú

Uttara rất giàu, vợ triệu phú sanh được một con trai có đức hạnh, từ Phạm

thiên giới xuống; khi đến tuổi trưởng thành, cậu rất đẹp trai, giống như

Phạm thiên.

Một hôm, khi ngày hội cúng sao Kattika được

tổ chức ở Xá-vệ, mọi người vui chơi hội lớn. Nhưng người bạn, con trai các

triệu phú khác đều có vợ. Riêng con triệu phú Uttara, vì sống lâu ở Phạm

thiên giới, nên tâm không hướng đến luyến ái. Các bạn của cậu muốn đem cho

cậu một nữ nhân để vui chơi hội sao, liền bàn với nhau, đến gặp cậu và nói:

- Này bạn, trong thành phố này, hội lớn cúng

sao Kattika được tổ chức một đêm. Chúng tôi sẽ tìm cho bạn một nữ nhân để

cùng nhau vui chơi hội lớn.

Dầu cậu nói không cần nữ nhân, các bạn vẫn

nài ép, bắt cậu nhận. Họ trang điểm một nữ tỳ xinh đẹp, dắt đến nhà cậu, bảo

nữ nhân ấy đi đến nhà con trai triệu phú, dẫn nàng đến phòng cậu rồi bỏ đi.

Khi cô gái ấy vào phòng ngủ, con người triệu phú không ngó nàng và không nói

năng gì. Cô gái suy nghĩ: "Ta tuyệt sắc, duyên dáng, mỹ lệ như thế này.

Người này không ngó, cũng không nói với ta. Nay ta dùng sự cám dỗ và vẻ

duyên dáng nữ nhân của ta làm người này phải nhìn đến ta".

Nghĩ vậy, cô gái trình diễn mọi sự cám dỗ

của nữ nhân. Ðể làm đẹp lòng cậu, nàng để lộ hàm răng tuyệt đẹp của nàng và

mỉm cười. Chàng trai triệu phú nhìn nàng, nắm lấy hình tướng bộ xương răng.

Tư tưởng về bộ xương khởi lên trong tâm chàng cho đến khi toàn thân nàng

hiện ra như một chuỗi xương. Chàng trai cho tiền người con gái rồi bảo nàng

đi.

Khi nàng ra khỏi nhà, một người quý phái

thấy nàng ở giữa đường, liền cho tiền và dẫn nàng về nhà. Bảy ngày qua, lễ

hội sao chấm dứt. Mẹ người nữ tỳ đẹp không thấy con gái của mình trở về, đến

nhà các người con trai triệu phú, hỏi con gái ở đâu. Họ đi đến nhà con trai

triệu phú Uttara để hỏi và được trả lời:

- Cô gái có đến một lát, tôi đã cho tiền và

bảo đi về.

Nhưng mẹ cô gái không thấy con mình, bắt

buộc họ phải trả nàng lại, và đem con trai triệu phú Uttara đến xin vua phân

xử. Vua hỏi:

- Những người con trai các vị triệu phú có

đem người nữ tỳ xinh đẹp giao cho ngươi không?

- Thưa Ðại vương, có.

- Nay có đâu rồi?

- Tôi không được biết. Nó chỉ ở lại một lát

và tôi đã bảo nó đi về rồi.

- Vậy nay ngươi có thể đem nó lại không?

- Thưa Ðại vương, không được.

Vua nói:

- Nếu ngươi đem lại không được, hãy áp dụng

hình phạt của ta.

Họ trói tay cậu ra phía sau, dắt cậu đi áp

dụng hình phạt của vua. Cả thành vang dậy lời bàn tán:

- Nghe nói, con trai người triệu phú vì

không trả lại đứa nữ tỳ xinh đẹp, nên bị đưa đi áp dụng hình phạt của vua.

Một đám quần chúng để tay trên ngực, vừa đi

theo sau, vừa than:

- Việc này là thế nào, thưa ông chủ? Sao ông

chủ lại gặp một việc bất công như thế này?

Người con trai triệu phú suy nghĩ: "Sự đau

khổ này xảy ra vì ta sống trong gia đình. Nếu ta thoát luy được gia đình, ta

sẽ xuất gia với bậc Ðại Gotama, Chánh Ðẳng giác."

Bấy giờ cô nữ tỳ xinh đẹp nghe tiếng đồn

vang, liền hỏi dò sự việc. Khi được nghe câu chuyện ấy, nàng chạy ra thật

mau và la to:

- Các ông hãy dẹp qua một bên, dẹp qua một

bên! Cho tôi gặp các người lính của vua.

Và nàng tự trình diện. Quân hầu của vua thấy

nàng, liền giao nàng lại cho bà mẹ, thả con trai người triệu phú và bỏ đi.

Người con trai triệu phú cùng với bạn bè vây quanh, đi đến sông, gội đầu

thật sạch. Rồi cậu về nhà, ăn sáng xong, liền xin phép cha mẹ được xuất gia.

Vị ấy mang theo các y, cùng với một số tùy tùng đông đảo, đi đến bậc Ðạo Sư,

đảnh lễ Ngài, và xin xuất gia. Ðược xuất gia và được thọ đại giới, vị ấy

phát triển thiền quán không gián đoạn, không bao lâu chứng quả A-la-hán.

Một hôm, các Tỷ-kheo hội họp tại Chánh pháp

đường nói lời tán thán con trai triệu phú ấy:

- Thưa các Hiền giả, con trai vị triệu phú

này, trong giờ phút nguy hiểm cho mình, đã biết được công đức của Giáo pháp,

nghĩ đến xuất gia để thoát khỏi đau khổ ấy. Nhờ khéo suy tư như vậy, nên vị

ấy được thoát nạn, được xuất gia, và chứng quả A-la-hán tối thượng.

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi đề tài được bàn luận,

sau khi biết câu chuyện, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỳ-kheo, con trai triệu phú

Uttara, trong giờ phút nguy hiểm xảy ra cho mình, đã nghĩ đến phương tiện ấy

để thoát khỏi sự đau khổ kia, và được thoát chết.

Thuở trước, các nhà hiền trí, khi nguy hiểm

xảy ra cho mình, cũng đã nghĩ đến phương tiện ấy để giải thoát sự đau khổ

kia. Nhờ suy nghĩ như vậy, họ được thoát khỏi đau khổ do nạn chết đem lại.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì

Ba-la-nại, Bồ-tát tái sanh nhiều lần, rối sanh ra làm con chim cun cút. Lúc

bấy giờ, có một người thợ săn chim cun cút, thường bắt nhiều cun cút trong

rừng, đem về nhà, nuôi dưỡng chúng cho mập. Sau khi lấy tiền, anh ta bán

chúng cho những người đi đến, và nuôi sống với nghề như vậy.

Một hôm anh ta bắt được Bồ-tát với nhiều con

chim cun cút khác và đem về nhà. Bồ-tát suy nghĩ: "Nếu ta ăn đồ ăn và uống

nước của người này, nó sẽ bắt ta và đưa cho những người đến xem. Nếu ta không

ăn, ta sẽ trở thành ốm yếu, và thấy ta ốm yếu, các người ấy sẽ không bắt ta

làm gì. Như vậy ta được an toàn. Ta hãy làm theo phương tiện này". Bồ-tát

làm theo như vậy, cho đến khi chỉ còn da và xương. Người ấy thấy chim quá ôm

nên không bắt.

Sau khi bán hết các con chim khác trừ

Bồ-tát, anh ta đem Bồ-tát ra khỏi lồng, đặt lồng ở nơi cửa, để Bồ-tát trên

lòng bàn tay và nhìn xem con cun cút này có đau bệnh gì. Biết được người thợ

săn không chú ý, Bố tát xòe cánh lên và bay vụt về rừng. Các con chim cun

cút khác thấy Bồ-tát liền hỏi:

- Sao không thấy mặt bạn, bạn đi đâu vậy?

- Ta bị người thợ săn bắt.

- Làm sao bạn lại thoát được?

- Vì ta không ăn đồ ăn nó cho, không uống

nước của nó, nhờ nghĩ đến phương tiện này, ta được thoát.

Nói xong, Bồ-tát đọc bài kệ:

Không suy nghĩ, người này,

Không được lợi đặc biệt,

Hãy xem quả suy tư!

Ta thoát trói, thoát chết.

Như vậy, Bồ-tát kể lại sự việc mình đã làm.

*

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, con chim cun cút thoát chết là Ta

vậy.

-ooOoo-

119. CHUYỆN CON GÀ GÁY PHI THỜI (Tiền thân Akàlaràvi)

Không cha mẹ nuôi dưỡng...,

Câu chuyện này, khi trú tại Kỳ viên bậc Ðạo

Sư đã kể về một Tỷ-kheo làm ồn phi thời, Tỷ-kheo ấy là một thiện nam tử ở Xá

vệ, xuất gia trong giáo pháp, nhưng không làm các phận sự của mình hay học

pháp. Vị ấy không biết: Thời này, ta phải làm việc này; thời này, ta phải

hầu hạ; thời này, ta phải học hành. Trong một canh, canh giữa và canh cuối

và trong những giờ thức giấc, vị ấy làm ồn, khiến cá Tỷ-kheo không thể ngủ

được.

Tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo nói đến

hạnh không tốt của vị ấy:

- Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo tên ấy, xuất

gia trong pháp bảo như vậy, nhưng không biết phận sự hay học pháp đúng thời

hay phi thời.

Bậc Ðạo Sư đến, hỏi các câu chuyện đang bàn

luận, sau khi được biết vấn đề, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay vị ấy

mới làm ồn phi thời như vậy, mà thuở trước, vị ấy cũng đã làm ồn phi thời. Do

không biết thời và phi thời, vị ấy đã bị vặn cổ chết.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở phương tây bắc. Khi

đến tuổi trưởng thành, ngài vượt qua biên giới, học tất cả tài nghệ, trở

thành vị sư trưởng có tiếng khắp nhiều phương, và dạy nghề cho năm trăm

thanh niên Bà-la-môn. Các người thanh niên ấy có một con gà trống gáy đúng

giờ giấc. Khi nghe tiếng gà gáy, họ thức dậy học bài. Khi con gà ấy chết đi,

họ đi tìm một con gà khác.

Một thanh niên đi nhặt củi trong khu rừng

có nghĩa địa, thấy một con gà trống, liền bắt nó về, nhốt trong chuồng và

nuôi nó. Vì quen sống ở nghĩa địa, nó không biết giờ nào cần phải gáy, có

khi nó gáy lúc nửa đêm, có khi nó gáy lúc rạng đông. Khi các thanh niên ấy

nghe nó gáy lúc nửa đêm, họ thức dậy học bài, cho đến rạng đông họ quá mệt

không học được nữa. Vì buồn ngủ, họ không thấy được vấn đề cần phải thấy. Và

khi quá sáng, con gà ấy gáy ồn ào họ không có cơ hội yên tĩnh để học ôn bài.

Các thanh niên Bà-la-môn suy nghĩ: "Con gà này gáy vào nửa đêm, hoặc ban

đêm, hoặc ban ngày. Do đó, chúng ta học không có kết quả". Vì vậy, họ bắt con

gà ấy vặn cổ cho chết đi, và báo cáo lên sư trưởng biết:

- Vì con gà gáy phi thời, chúng tôi đã giết

nó rồi.

Vị sư trưởng lấy đó làm bài học và nói:

- Do nó không được dạy dỗ tốt, nên nó phải

chết.

Rồi sư trưởng đọc bài kệ.

Không mẹ cha nuôi dưỡng,

Không thầy, dạy dỗ nó,

Con gà này không biết

Ðúng thời hay phi thời.

Sau khi nêu rõ lời dạy về sự việc này,

Bồ-tát sống hết thọ mạng rồi đi theo nghiệp của mình.

*

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân như sau.

- Thời ấy, con gà gáy phi thời là vị Tỷ-kheo

này, các đệ tử là hội chúng đức Phật, còn sư trưởng là Ta vậy.

-ooOoo-

120. CHUYỆN GIẢI THOÁT SỰ TRÓI BUỘC (Tiền thân Bandhanamokkha)

Chỗ này kẻ ngu nói...,

Câu chuyện này, khi trú tại Kỳ Viên, bậc Ðạo

Sư đã kể về thiếu nữ Bà-la-môn Cinca. Câu chuyện này sẽ được kể trong Tiền

thân Mahàpaduma, Chương mười hai (số 472). Lúc bấy giờ, bậc Ðạo sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay thiếu

nữ Bà-la-môn này vu cáo Ta điều không có thật. Thuở trứơc, nó cũng đã vu cáo

rồi.

Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá

khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì

Ba-la-nại, Bồ-tát lớn lên trong gia đình một người cố vấn tế tự, và sau khi

cha mất, Bồ-tát kế nghiệp chức vụ ấy. Lúc ấy hoàng hậu được vua cho một ước

nguyện.

- Này Hoàng Hậu, nàng muốn gì, hãy nói lên.

Hoàng hậu nói như sau.

- Lời ước nguyện của thiếp không khó thực

hiện. Từ nay trở đi Ðại vương không được nhìn một nữ nhân khác với con mắt

luyến ái.

Ban đầu, vua từ chối, nhưng sau, bị nàng bức

bách nhiều lần, không thể bỏ qua lời của hoàng hậu, vua phải chấp nhận, và

từ đấy trở đi, vua không bao giờ nhìn một nữ nhân nào trong số mười sáu ngàn

vũ nữ.

Rồi một cuộc nổi loạn khởi lên ở biên địa.

Quân lính ở biên địa, sau hai ba lần giao chiến với các tên cướp, đưa tin về

cho vua là họ không thể dẹp loạn được. Vua muốn đi đến đấy, liền tập họp một

đội binh lớn, cho gọi hoàng hậu đến và nói.

- Này hiền thê, ta ra biên địa, tại đấy

chiến trận đủ loại xảy ra, sẽ đưa đến chiến thắng hay chiến bại. Những chỗ ấy

không thích hợp với nữ nhân. Hoàng hậu hãy ở lại đây.

Hoàng hậu nói.

- Thưa Ðại vương, thiếp không thể ở lại đây.

Khi bị vua từ chối nhiều lần, hoàng hậu nói.

- Vậy sau khi đi được mỗi dặm, Ðại vương hãy

gửi một người về để hỏi thăm sức khoẻ của thiếp.

Nhà vua chấp nhận. Bồ-tát ở lại trong thành,

còn vua ra đi với một đội quân lớn, cứ đi mỗi dặm, lại gửi một người về với

trách nhiệm tin cho biết sức khoẻ của nhà vua và hỏi thăm hoàng hậu có được

an lạc không. Khi có một người đàn ông đi về, nàng hỏi:

- Vua sai ngươi về có mục đích gì?

- Ðể hỏi hoàng hậu có được an lạc không.

Hoàng hậu bảo người ấy đến và sống phi pháp

với nó. Vua đi đường được ba mươi hai dặm, gửi về ba mươi hai người, và

hoàng hậu sống phi pháp với tất cả bọn họ.

Sau khi dẹp loạn xong, bình định được quốc

độ, trên đường về, vua cũng gửi về ba mươi hai sứ giả. Hoàng hậu cũng sống

phi pháp với họ. Cho quân thắng trận dừng chân gần thành, vua gửi tin nhắn

Bồ-tát sửa soạn thành phố để đón tiếp ngài.

Bồ-tát cho sửa soạn thành phố xong, mới sửa

soạn cung điện để đón vua và đi đến cung thất của hoàng hậu. Hoàng hậu thấy

thân thể của Bồ-tát tuyệt đẹp, không thể dằn lòng nổi, liền nói:

- Này Bà-la-môn, hãy đáp lại tình yêu của

ta.

Bồ-tát nói:

- Chớ nói vậy! Hãy kính trọng vua. Tôi sợ

điều bất thiện. Tôi không thể làm như vậy được.

- Sáu mươi bốn tên sứ giả đã không kính

trọng vua, đã không sợ điều bất thiện, vậy ngươi lại kính trọng vua và sợ

điều bất thiện sao?

- Thưa vâng, nếu họ suy nghĩ, họ đã không

làm như vậy, nhưng vì tôi có biết điều phải, tôi sẽ không làm việc ác này.

- Ðừng nói bậy nhiều như vậy! Nếu ngươi

không làm theo lời ta, ta sẽ bảo chặt đầu ngươi.

- Thôi được, dầu cắt đầu tôi trong một đời

này hay trong trăm ngàn đời, tôi cũng không thể làm như vậy.

- Hãy để đấy, rồi sẽ biết tay ta.

Hoàng hậu đe dọa Bồ-tát, rồi đi vào trong

phòng của mình, lấy móng tay cào trên thân, lấy dầu thoa tay chân, mặc áo dơ

bẩn vào, giả bệnh và cho gọi các nữ tỳ:

- Nếu vua có hỏi hoàng hậu ở đâu, thì trả

lời hoàng hậu bị bệnh.

Trong lúc ấy Bồ-tát đi đón vua. Sau khi đi

vòng quanh thành phố, vua ngự lên cung điện, không thấy hoàng hậu, liền hỏi

hoàng hậu ở đâu. Khi được trả lời hoàng hậu bị bệnh, vua đi vào phòng hoàng

hậu, xoa lưng hoàng hậu và hỏi:

- Hoàng hậu đau bệnh gì?

Hoàng hậu im lặng. Khi vua hỏi lần thứ ba,

hoàng hậu nhìn vua và nói:

- Thưa Ðại Vương, nay Ðại vương còn sống,

nhưng nữ nhân như thiếp cần phải có một người chồng.

- Ái khanh nói gì lạ vậy?

- Ðại vương đặt địa vị cố vấn tế tự ở lại

giữ thành, nó lấy cớ là sửa sang nội cung, đến đây, và vì thiếp không làm

theo lời nó, nó đánh đập thiếp cho thoả mãn ý của nó rồi bỏ đi.

Vua đùng đùng nổi giận, như muối và đường bỏ

vào lửa, vụt đi ra khỏi cung phòng. Vua cho gọi các người gác cửa, các lính

bộ binh đến, bảo họ bắt Bồ-tát ngay, trói cánh tay ra sau lưng như người bị

xử án chém, rồi dẫn ra khỏi thành, đến pháp trường xử trảm. Họ đi thật mau,

trói cánh tay vị cố vấn tế tự ra sau lưng và cho đánh trống báo tin có hành

quyết. Bồ-tát suy nghĩ: "Như vậy nhà vua đã bị hoàng hậu độc ác đầu độc

trước rồi. Hôm nay, ta phải cứu ta khỏi tai ương này với sức của mình". Vì

thế, Bồ-tát nói với những người lính:

- Trước khi các người giết ta, hãy đưa ta

yết kiến vua.

- Ðể làm gì?

- Vì ta là người phục vụ vua, đã làm được

nhiều công việc. Ta biết tài sản chôn dấu rất nhiều. Chính ta quản lý đất

ruộng nhà vua. Nếu ta không gặp vua, thì nhiều tải sản sẽ bị tiêu diệt. Sau

khi ta nói cho vua biết gia sản của vua, các ngươi hãy làm bổn phận của

mình.

Họ đưa vị cố vấn tế tự đến gặp vua. Vua thấy

vị ấy liền nói:

- Này Bà-la-môn, ngươi không xấu hổ đối với

ta sao? Sao ngươi lại làm ác hạnh như vậy?

- Thưa đại vương, tôi sinh ra trong gia đình

Bà-la-môn thượng lưu. Từ trước đến nay, tôi không sát sanh ngay cả một con

kiến. Từ trước đến nay, tôi không lấy của không cho, ngay cả một cọng cỏ. Từ

trước đến nay, tôi không nhìn đến một nữ nhân của người khác với con mắt

luyến ái, dù chỉ một cái liếc mắt đưa tình. Từ trước đến nay, tôi không nói

một lời nói dối, dầu chỉ để đùa vui. Tôi không có uống rượu, dù chỉ một giọt

bằng ngọn cỏ Kusa. Tôi hoàn toàn vô tội đối với đại vương. Nhưng hoàng hậu

độc ác kia đã cầm tay tôi với tâm tư đầy dục vọng, nói toạc cho tôi biết ác

hạnh bí mật của mình trước khi đi vào cung phòng. Trước tôi đã có sáu mươi

bốn người sứ giả đến đây, đem theo thông điệp của đại vương gửi hoàng hậu,

những người ấy đều có tội. Hãy gọi họ đến đây và hỏi từng người trong bọn họ

có làm như hoàng hậu đã bảo hay không.

Vua cho gọi sáu mươi bốn người kia và hoàng

hậu đến và hỏi họ có làm như hoàng hậu đã bảo hay không. Họ thú nhận có làm.

Nhà vua sai trói họ lại và ra lệnh chặt đầu cả sáu mươi bốn người ấy. Ðến

đây, Bồ-tát thưa:

- Thưa đại vương, những người này không có

tội! Chúng chỉ làm theo sở thích của hoàng hậu. Chúng vô tội, vậy hãy tha

cho chúng! Còn hoàng hậu cũng không có tội. Tánh dâm dục của hoàng hậu không

bao giờ thoả mãn, sanh ra đã như vậy rồi! Hoàng hậu chỉ làm thuận theo bản

tánh của mình thôi! Do vậy, hãy tha thứ cho hoàng hậu.

Như vậy, bằng nhiều cách, Bồ-tát làm cho vua

hiểu rõ sự việc, cứu mạng sống sáu mươi bốn người ấy và bà hoàng hậu ngu si,

và xin vua ban cho họ những trú xứ để ở. Sau khi tất cả mọi người được giải

thoát và được cho chỗ ở, Bồ-tát đến vua và thưa:

- Thưa Ðại vương, lời nói buộc tội không căn

cứ của kẻ ngu si và đui mù làm cho các bậc hiền trí bị trói vào chỗ không

xứng đáng, bị trói quặp cánh tay sau lưng; còn lời nói của bậc hiền trí là

nguyên nhân khiến kẻ ngu si thoát khỏi bị trói tay sau lưng. Như vậy, lời kẻ

ngu trói buộc một cách không thích đáng, còn lời nói bậc hiền trí thời giải

thoát các trói buộc.

Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài kệ này:

Chỗ nào kẻ ngu nói,

Chúng trói kẻ vô tội,

Chỗ nào bậc trí nói,

Cứu thoát kẻ bị trói.

Như vậy, bậc Ðại Sĩ với bài kệ này, thuyết

pháp cho vua và nói:

- Tôi gặp sự đau khổ này là vì còn sống đời

gia đình. Nay tôi không có công việc gì trong gia đình nữa. Hãy cho phép tôi

được xuất gia.

Sau khi được phép xuất gia, từ bỏ bà con

thân thuộc, từ bỏ tài sản lớn, Bồ-tát làm bậc tiên nhân du sĩ, sống ở Tuyết

Sơn, đạt được các thắng trí và Thiền chứng và tái sanh lên cõi Phạm Thiên.

*

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận

diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy bà hoàng hậu độc ác là thiếu nữ

Bà-la-môn Cinca, vua là Ànanda, còn vị cố vấn tế tự là Ta vậy.

-ooOoo-

(Hết Tiểu Bộ IV)#