PHẨM NỮ NHÂN#
61. CHUYỆN BÀI KINH KHỔ ÐAU (Tiền thân Asàtamanta)#
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo
bị tham dục chi phối. Câu chuyện sẽ đượ c
trình bày ở Tiền thân Ummadanti số 527.
-ooOoo-
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY TẦNG. (Tiền thân Andabhuta)#
Trò chơi sáo, giả mù...
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo
bị ái dục chi phối tâm trí. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- T ă ng chúng bảo rằng ông bị ái dục
chi phối, có phải vậy ch ă ng?
- Thưa vâng, quả đ úng như vậy.
- Này Tỷ-kheo, không ai canh giữ đ àn
bà đượ c cả. Ngày xưa, có kẻ
đầ y mưu trí canh giữ một nữ nhân từ khi
nó mới lọt lòng mà cũng không thể nào giữ nó
đượ c.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm vương
tử của bà Chánh hậu. Khi ngài lớn lên, ngài tinh thông mọi môn học thuật, và
khi vua cha b ă ng hà, ngài lên ngôi làm
một vị anh quân, trị dân đú ng pháp. Thời
ấy, ngài thường chơi súc sắc với vị Tế sư của triều
đ ình, và khi ném con bài súc sắc bằng
vàng trên mặt chiếc bàn bằng bạc, ngài thường ca khúc hát cầu may này:
Muôn vật lẽ thường tình,
Sông ngòi uốn lượn quanh,
Còn các loài thảo mộc
Là cây cối mọc thành,
Hễ gặp thời cơ tới,
Nữ nhân phạm ác hành.
Vì khúc hát này làm cho vua thắng cuộc mãi, nên theo
đú ng luật chơi bài, vị Tế sư mất
đế n cả đồ ng
xu dính túi. Và muốn khỏi sạt nghiệp, vị ấy quyết
đị nh tìm cho ra một cô gái chưa hề thấy
người đ àn ông nào,
đ em về nhà khóa cửa nhốt trong phòng. Vị
ấy nghĩ thầm: "Ta không thể nuôi một cô gái đ ã
từng thấy đ àn ông. Vậy ta phải tìm một
đứ a trẻ sơ sinh, giữ kỹ nó lúc lớn lên,
canh chừng nó thật cẩn mật để không ai
có thể đế n gần nó và nó sẽ trung thành
với người đ àn ông duy nhất thôi. Lúc ấy
ta sẽ thắng vua và trở nên giàu có".
Bấy giờ vị này rất giỏi khoa tướng số, nên vừa thấy một người
đ àn bà nghèo sắp sinh con, và
đứ a trẻ sẽ là con gái, vị ấy bèn thuê
tiền để đ em
bà ta về ở trong nhà mình, giữ thật kỹ đế n
ngày sinh đứ a con xong, bà ta phải
đ i ngay với một số tiền. Còn hài nhi kia
đượ c toàn phụ nữ nuôi nấng, không một
nam nhân nào đượ c nhìn thấy nó, trừ vị
Tế sư. Khi nó lớn lên, nó thuộc về quyền sở hữu của vị Tế sư, chủ nhân của
nó.
Suốt thời gian cô bé lớn dần, vị Tế sư tránh việc chơi bài với vua, nhưng
khi nó đ ã trưởng thành dưới quyền kiểm
soát của chính mình, thì vị Tế sư lại thách thức vua chơi bài. Ngài chấp
thuận và bắt đầ u cuộc chơi. Trong khi
vừa ném con súc sắc, ngài vừa hát khúc ca cầu may ấy, thì vị Tế sư nói thêm:
- Nhưng bao giờ cô bé của hạ thần cũng là ngoại lệ
đấ y!
Rồi vận may cũng đổ i chiều, chính vị
Tế sư thắng cuộc và nhà vua thua bài.
Khi xét kỹ vấn đề trên, Bồ-tát nghi
ngờ vị Tế sư có giấu kín một cô gái đứ c
hạnh trong nhà, nên ngài cho người dò tìm và quả
đú ng như vậy. Thế là
để làm cho cô bé kia phải sa ngã và phạm
lỗi, ngài truyền đư a tới một gã
đ iếm đ àng
giảo quyệt, và hỏi gã có cách quyến rủ cô gái ch ă ng.
- Tâu Ðại vương, chắc chắn là đượ c.
Gã kia đá p.
Nghe vậy, nhà vua cho gã tiền và bảo gã thi hành lệnh ngài ngay, chớ
để mất thì giờ lâu.
Với số tiền vua ban, gã mua đủ loại
nước hoa, hương liệu và mở cửa tiệm bán nước hoa gần nhà vị Tế sư. Bấy giờ
nhà Tế sư cao bảy tầng, có bảy cổng, mỗi cổng
đề u có người ngồi canh, toàn phụ nữ canh cổng, không
đ àn ông nào
đượ c phép vào nhà trừ vị Bà-la-môn. Ngay cả những thúng
đự ng rác cũng
đượ c khám xét thật kỹ trước khi
đ em vào nhà.
Chỉ riêng vị Tế sư ấy đượ c quyền nhìn
thấy cô gái, và cô bé cũng chỉ có một nữ tỳ hầu hạ. Nữ tỳ này
đượ c giao tiền
đ i mua hoa tươi và nước hoa và tặng cô
chủ; trên đườ ng
đ i, bà ta thường bước ngang qua cửa tiệm
mà gã đ iếm
đ àng kia mới mở. Và gã ấy biết rõ bà ta chính là người hầu của cô gái
kia, bèn đợ i một ngày nọ bà ta
đế n gần, gã vội vã chạy bổ ra ngoài cửa
hiệu, quỳ xuống chân bà, hai tay ôm chặt đầ u
gối bà, miệng lắp bắp:
- Ôi mẹ ôi! Mẹ đ i
đâ u lâu nay thế hở mẹ?
Và đồ ng bọn của gã
đứ ng canh
đó đề u kêu lên:
- Ồ giống như tạc! Tay chân, mặt mũi, cả cách
ă n mặc nữa,
đề u y hệt nhau!
Trong khi mọi người cứ xem xét trầm trồ không ngớt về sự giống nhau kỳ
diệu kia, người đ àn bà ấy
đâ m ra hoát hoảng trong thật thảm hại.
Bà ta òa ra khóc lớn rằng đâ y hẳn là con
trai bà! Rồi vừa khóc lóc vừa kể lể, cả hai người cứ ôm lấy nhau mà ngã l ă n
ra. Sau đó gã hỏi:
- Nay mẹ đ ang ở
đâ u vậy mẹ?
- Mẹ đ ang ở nhà vị Tế sư
đấ y con ạ. Ngài có môt cô tiểu thiếp
đẹ p vô song, quả là tiên trên trời mới
đẹ p như thế và mẹ là người hầu của nàng
ấy.
- Thế mẹ đ ang
đ i đâ u
đấ y?
- Mẹ đ i mua hoa tươi và nước hoa cho
nàng ấy.
- Sao mẹ còn đ i
đâ u mà mua các thứ ấy nữa? Lần sau mẹ cứ
đế n đâ y,
gã kia bảo.
Và gã tặng bà già trầu cau cùng đủ
thứ hoa mà không lấy tiền. Cô gái ngạc nhiên thấy số hoa tươi và nước hoa bà
ta đ em về quá nhiều, bèn hỏi tại sao vị
Tế sư Bà-la-môn lại hậu hỉ với nàng thế. Bà già
đá p:
- Sao con lại nói thế hở con?
- Vì số hương hoa bà đ em về nhà
đấ y mà.
- Ồ không, chẳng phải ngà Bà-la-môn cho tiền hào phóng
đâ u, bà già bảo, mà chính vì già này lấy
các thứ kia ở tiệm của con trai già đấ y.
Và từ đó , bà già giữ riêng số tiền vị
Bà-la-môn đư a, rồi
đ i đế n
lấy hoa tươi cùng đủ thứ khác tại tiệm
gã kia khỏi mất tiền.
Vài ngày sau, gã giả vờ đ au ốm, lên
giường nằm. Khi bà già ấy đế n cửa tiệm
hỏi con trai bà đâ u thì
đượ c biết gã
đ ang bị bệnh. Bà vội bước vào tận nơi,
âu yếm vuốt ve đô i vai gã và hỏi nguyên
nhân cơn bệnh. Nhưng gã không đá p.
- Tạo sao con không nói cho mẹ biết hả con?
- Dù con có chết đ i cũng không dám
nói với mẹ đâ u.
- Nhưng nếu con không nói với mẹ thì còn nói với ai
đượ c nữa?
- Thế thì mẹ ôi, bệnh của con phát ra chỉ vì nghe mẹ cứ khen cô tiểu chủ
của mẹ đẹ p tuyệt trần nên con
đâ m ra si tình phát ốm tương tư
đó thôi! Nếu con chiếm
đượ c nàng, con mới sống nổi, còn không
thì con đ ành nằm ở
đâ y chờ chết.
- Con ơi, con cứ để việc này cho mẹ
lo liệu. Bà già nói một cách vui vẻ - Con đừ ng
lo lắng gì về chuyện đó .
Thế rồi mang một thúng chất đầ y hoa
tươi cùng nước hoa, mụ đ em về nhà, nói
với nàng tiểu thiếp của vị Bà-la-môn:
- Chao ôi! Con trai già đ ang ốm tương
tư vì nàng, chỉ vì già bảo cho nó biết nàng đẹ p
tuyệt vời! Bây giờ biết làm sao đâ y?
Cô gái đá p:
- Nếu bà tìm cách lén đ em
đượ c cậu ấy vào
đâ y, thì ta cho phép bà
đấ y.
Ngay sau đó mụ già liền bắt tay quét
dọn tất cả đồ
đạ c hư cũ, rác rưởi trong nhà thâu góp
cả bảy tầng lầu từ rầm thượng cho đế n
nhà bếp, bỏ vào một thúng đự ng hoa to
tướng rồi tìm cách đư a ra ngoài. Khi
người ta lục soát như thường lệ thì mụ già đổ
cả thúng rác lên đầ u người
đ àn bà giữ cổng, khiến người
đó bỏ chạy ngay trước cách
đố i xử quá thô bạo như thế! Mụ già cũng
làm cách ấy với các người giữ cổng kia, khiến cho họ ngột thở vì
đố ng rác rưởi trút lên
đầ u và mọi người la lối mụ
đủ đ iều.
Thế là từ đó về sau, mụ già có
đư a vào đư a
ra bất cứ vật gì, cũng không ai có gan lục soát mụ nữa! Thời cơ
đ ã đế n
tay! Mụ lén đư a gã
đ iếm đ àng
giấu trong thúng hoa vào gặp cô tiểu chủ. Gã làm hư hỏng
đứ c hạnh của cô gái ngay và còn cả gan ở
lại một hai ngày trong những c ă n gác
nhỏ trên lầu. Gã lánh mặt khi vị Tế sư đế n
nhà, và bầu bạn với cô gái khi vị ấy đ i
khỏi. Sau một hai ngày, cô gái bảo tình nhân:
- Này lang quân yêu quý, chàng phải ra đ i
rồi đấ y.
- Ðúng rồi, nhưng ta muốn đá nh lão
Bà-la-môn ấy một cái đ ã.
- Ðược lắm chứ.
Cô gái đá p và
đ em giấu gã một nơi. Sau
đó vị Bà-la-môn
đế n, cô nàng kêu lên:
- Này phu quân yêu dấu, tiện thiếp ưa thích ca múa biết bao, ước gì phu
quân vui lòng thổi sáo cho thiếp.
- Vậy ái nương hãy múa đ i nào.
Vị Bà-la-môn lập tức thổi sáo lên.
- Nhưng nếu phu quân nhìn thiếp thì thiếp xấu hổ thẹn thùng quá không sao
dám múa đâ u,
để tiện thiếp lấy cái kh ă n
che kín khuôn mặt khôi ngô khả ái của phu quân trước
đ ã, rồi tiện thiếp mới dám múa.
- Thôi đượ c rồi, nếu ái nương quá
khiêm nhượng mà không dám múa thì cứ làm thế đ i.
Vậy là cô nàng lấy một tấm vải thật dày buộc chặt lên mặt lão Bà-la-môn
để che mắt lão. Và cứ giả mù như thế,
lão bắt đầ u thổi sáo. Nhảy múa
đượ c một lát, cô nàng lại kêu lên:
- Chàng yêu quý ôi, thiếp lại còn thích đá nh
chàng một cái trên đầ u nữa cơ!
- Vậy thì nàng cứ đá nh
đ i nào!
Lão già ngốc nghếch đá p mà không chút
nghi ngờ gì cả. Thế là cô ả liền ra hiệu cho gã tình nhân, hắn nhẹ nhàng lẻn
ra sau lưng lão Bà-la-môn đá nh cho lão
một đấ m trên
đầ u nên thân! Cái
đấ m mới đí ch
đá ng làm sao, khiến hai mắt lão như muốn
lòi ra khỏi mặt, trên đầ u lão u lên một
cục lớn! Lão thấy đ au
đ iếng người, liền gọi cô ả kia
đế n gấp, đư a
tay cho lão xem, và cô ả bèn đặ t tay
mình vào tay lão:
- Ồ bàn tay nàng mềm mại quá, sao nó lại đá nh
đ au thế này?
Bấy giờ, khi gã để u cáng kia
đá nh lão Bà-la-môn xong, gã lại
đ i ẩn mình như cũ. Lúc ấy cô gái mở kh ă n
ra khỏi mặt lão, xoa dầu lên chỗ đầ u bị
u. Một lát sau lão ra về, gã kia lại đượ c
mụ già giấu vào giỏ hoa đư a ra khỏi nhà.
Lập tức gã đế n yết kiến
đứ c vua và tâu trình toàn thể cuộc phiêu
lưu của gã cho ngài hay.
Bởi thế, khi vị Bà-la-môn vào chầu, vua liền
đề nghị chơi bài súc sắc, vị ấy đồ ng
ý và chiếc bàn chơi bài đượ c
đ em ra. Khi vua ném con bài, ngài cũng
ca khúc hát ấy và vị Bà-la-môn, vì không hay biết gì về sự hư hỏng của cô
tiểu thiếp, nên vẫn nói thêm:
- Bao giờ cô gái của hạ thần cũng là ngoại lệ
đấ y.
Nhưng lần này lão thua cuộc!
Còn vua đ ã biết rõ mọi việc xảy ra,
liền bảo Tế sư:
- Sao lại trừ nàng ấy ra? Nàng ấy đ ã
hư thân mất nết rồi. Ồ khanh cứ tưởng là đ em
về nuôi một con bé từ khi lọt lòng mẹ và nhốt nó trong bảy vòng canh giữ là
khanh có thể vững lòng tin vào nó ư? Này, khanh không thể tin vào một nữ
nhân nào cả, dù cho khanh có ôm nó trong lòng, quanh quẩn suốt ngày bên nó
không rời một khắc! Chẳng hề có một người đ àn
bà nào giữ dạ chung thủy với một người đ àn
ông duy nhất trên đờ i. Còn về ả tiểu
thiếp của khanh, ả bảo khanh rằng ả muốn nhảy múa, rồi khi
đ ã bịt mắt khanh xong xuôi, khanh thổi
sáo cho ả, thì ả lại đ ể gã tình nhân
đá nh lên đầ u
khanh đấ y, sau
đó lén đư a
gã ra khỏi nhà. Thế thì ngoại lệ của khanh ở đâ u
chứ?
Khi nói vậy xong, nhà vua liền ngâm kệ:
Trò chơi sáo giả mù,
Vì vợ bé phỉnh phờ,
Bà-la-môn ngồi đó ,
Cố gìn giữ gái tơ,
Tạo nên người đứ c hạnh,
Trong trắng, chẳng bùn nhơ!
Học ngay từ việc ấy,
Mà sợ đám liễu bồ!
Bằng cách ấy, Bồ-tát thuyết pháp cho vị Bà-la-môn. Vị ấy về nhà hạch hỏi
cô gái về tội hư thân mất nết mà cô ả đ ã
bị tố cáo trên.
- Này phu quân yêu quý, ai có thể nói như vậy về tiện thiếp
đấ y? Cô gái phân trần: Tiện thiếp vô tội
thật mà, chính bàn tay thiếp đá nh chàng
thật mà, chứ còn ai vào đâ y nữa? Nếu phu
quân không tin lời thiếp thì thiếp xin nguyền đ em
thân này ra thử lửa để chứng tỏ không hề
có bàn tay nam nhân nào từng đụ ng vào
người thiếp cả, nhờ vậy mong chàng tin tưởng thiếp.
- Muốn thế thì đượ c ngay.
Vị Bà-la-môn liền bảo đ em một
đố ng củi vào và châm lửa lên. Sau
đó cô gái
đượ c gọi đế n:
- Này, vị Bà-la-môn nói, nếu nàng tin tưởng lời mình thật thì hãy thử lửa
đ i.
Trước đó , cô gái
đ ã dặn dò mụ già nọ như sau:
- Này mẹ ôi, mẹ hãy gọi con trai mẹ đế n
sẵn đâ y để
nắm lấy tay con đú ng lúc con sắp bước
vào lửa nhé!
Và mụ già làm đú ng như lời cô ả dặn,
bảo gã kia đứ ng chen vào
đá m đô ng
đ ang vây quanh. Sau
đó để
đá nh lừa vị Bà-la-môn, cô gái
đứ ng trước mặt mọi người, h ă ng
hái thề thốt:
- Thưa phu quân, không hề có tay ai trừ tay chàng
đụ ng vào người thiếp cả, với lời thề
chân thật này, thiếp cầu mong ngọn lửa đừ ng
làm hại thân thiếp.
Nói vậy xong, cô ả tiến đế n
đố ng lửa vừa
đú ng lúc gã tình nhân nhảy lên chụp lấy
tay ả, hét to rằng vị Bà-la-môn thật đá ng
xấu hổ vì đ ã bắt buộc một thiếu nữ diễm
lệ thế kia phải nhảy vào lửa đỏ ! Cô gái
giật mạnh tay ra khỏi tay gã, và kêu ca rằng lời xác nhận trước
đâ y của ả đ ã
bị làm hỏng mất rồi, nên bây giờ ả không thể thử lửa
đượ c nữa! Vị Bà-la-môn hỏi:
- Tại sao lại không đượ c?
Cô ả đá p:
-Bởi vì trước kia thiếp xác nhận không hề có bàn tay nam nhân nào
đụ ng vào người thiếp trừ tay chàng ra,
nhưng bây giờ lại có một người đ àn ông
vừa chụp lấy tay thiếp!
Nghe vậy, vị Bà-la-môn biết rằng mình đ ã
bị lừa, liền tống cổ cô ả ra khỏi nhà bằng những cái
đấ m thẳng tay!
Xem đấ y, chúng ta biết rõ sự hư thân
mất nết của đ àn bà ra sao rồi. Không có
tội lỗi nào mà chúng không phạm đế n cả,
rồi sau đó muốn
đá nh lừa các ông chồng, thì có lời thề
thốt nào chúng không nói bừa cho xong đ ã
chứ! Ngay giữa ban ngày ban mặt thế mà dám cho rằng chẳng hề phạm tội gì cả
đấ y! Lòng dạ chúng thật giả dối
đ iêu ngoa làm sao! Do
đó từ xưa đ ã
có tục ngữ như vầy:
Một giống toàn lừa phỉnh, dối gian,
Làm sao hiểu nổi, cứ tung t ă ng
Như đ àn cá lội theo dòng nước,
Lộng giả thành chân, thói các nàng!
Tựa giống bò tham đồ ng cỏ mới,
Má đ ào mơ ước
đổ i tình lang
Khác nào cát lún, không hề thỏa,
Ðộc dữ như loài rắn hổ mang!
Bọn nữ nhi thường rành mọi sự,
Còn ghi giấu đượ c
đ ám hồng nhan?
*
Quả thật không làm sao giữ nổi đ àn
bà, bậc Ðạo Sư nói.
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Đến cuối bài giảng
ấy, vị Tỷ-kheo bị tham ái chi phối kia đắ c
quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư cũng nêu mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Vào thời ấy Ta là vua Ba-la-nại kia vậy.
-ooOoo-
63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền thân Takka)#
Bọn nữ nhân đầ y rẫy hận sân...,
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo
bị tham dục chi phối. Khi đượ c hỏi, vị
Tỷ-kheo thú nhận rằng mình bị tham dục chi phối, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Ðàn bà thật vong ân bội nghĩa, tại sao ông lại
để dục tham chi phối vì họ?
Và Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát
đ ã chọn đờ i
ẩn sĩ, xây dựng cho mình một am thất bên bờ sông Hằng, tại
đó ngài đ ã
đạ t các Thắng trí cùng các Thiền chứng,
và an trú trong Thiền lạc. Thời ấy, vị quan giữ công khố ở thành Ba-la-nại có
một cô con gái rất hung dữ, độ c ác
đượ c mệnh danh là Ác Tiểu thư, thường
hay mắng chửi đá nh
đậ p gia nhân, nô tỳ của mình.
Một ngày kia, bọn gia nhân đư a cô
tiểu chủ đế n vui chơi giải trí trên sông
Hằng; cả đá m
đ ang đ ùa
giỡn tung t ă ng trên mặt nước thì mặt
trời lặn dần và một cơn bão lớn bỗng nổi lên. Vì thế, mọi người vội vã chạy
trốn, còn lại bọn nữ tỳ của nàng kêu to: "Ðây chính là thời cơ tống khứ kẻ
ác độ c này
đ i!". Rồi chúng ném thẳng cô gái xuống nước và vội vã bỏ về. Mưa trút
xuống như thác, mặt trời dần khuất và màn đ êm
xuống rất nhanh.
Khi bọn nô tỳ về nhà mà không có cô tiểu chủ, liền bị tra hỏi tiểu thư
đâ u, họ đề u
thưa rằng tiểu thư đ ã bước lên khỏi bờ
sông, nhưng họ không biết nàng đ ã
đ i đâ u
cả. Gia đ ình này
đ i tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy
tung tích cô gái đ i lạc.
Trong lúc ấy, nàng kêu gào thất thanh vì bị nước lũ cuốn theo,
đế n nửa đ êm
thì trôi dạt vào gần am thất của Bồ-tát. Nghe tiếng cầu cứu, ngài tự nhủ:
"Ðây là tiếng đ àn bà kêu cứu. Ta phải
cứu người ấy khỏi nước cuốn mới đượ c".
Thế là ngài cầm ngọn đ uốc cỏ soi sáng
để tìm thấy nàng giữa dòng nước.
- Ðừng sợ! Ðừng sợ!
Ngài vui mừng kêu lên và lội xuống, rồi nhờ sức lực cường tráng như voi
của ngài, ngài đư a cô gái vào bờ an
toàn. Sau đó , ngài nhóm lửa trong am
thất để sưởi ấm nàng và mang trái cây
ngon ngọt đủ loại cho nàng dùng. Khi
nàng vừa ă n, ngài hỏi:
- Nhà cô nương ở đâ u, cớ sao lại rơi
xuống sông?
Cô gái kể hết mọi việc đ ã xảy ra cho
mình. Ngài bảo:
- Cô nương cứ tạm thời ở lại đâ y.
Ngài để cô gái ở trong am thất, còn
phần ngài ra ở ngoài trời khoảng hai, ba ngày. Sau
đó , ngài bảo cô gái ra
đ i, song cô ả cứ nấn ná ở lại cho
đế n khi quyến rủ
đượ c vị ẩn sĩ này say mê mình mà cô vẫn
không chịu đ i
đâ u cả. Thời gian qua cô gái dùng mọi vẻ
yêu kiều của mỹ nhân kế khiến ngài mất hết thiền lực trí tuệ. Ngài vẫn cùng
nàng ấy sống trong rừng.
Nhưng nàng lại không thích ở nơi hiu quạnh mãi, nên
đ òi ngài đ em
về nơi có dân cư. Thế là chìu theo lời n ă n
nỉ ỉ ôi kia, ngài đ ành
đ em nàng ấy ra
đ i đế n
một làng ở biên đị a, nuôi sống nàng bằng
cách bán quả chà là, nên đượ c gọi tên là
"Hiền sĩ Chà Là". Dân làng nhờ ngài dạy cho cách biết trước lúc
đượ c mùa hoặc mất mùa, rồi trả tiền cho
ngài và biếu ngài một túp lều để sống ở
cổng làng.
Bấy giờ vùng biến đị a hay bị bọn cướp
từ núi xuống tàn hại phá phách. Ngày kia bọn chúng tấn công vò làng ngài
đ ang ở và cướp của cải. Chúng bắt dân
làng khốn khổ kia thu góp hết tài sản cho chúng rồi cao chạy xa bay, mang
theo cô tiểu thư con quan thủ khố cùng với nhiều người khác về sào huyệt của
chúng. Ðến nơi, chúng thả mọi người kia ra, song giữ lại cô gái có nhan sắc
ấy để làm áp trại phu nhân của viên
tướng cướp thủ lãnh.
Khi Bồ-tát biết việc này, ngài suy nghĩ: "Chắc nàng sẽ không chịu ở xa ta
đâ u. Nàng sẽ trốn về
đâ y với ta". Thế rồi ngài vẫn ở
đó chờ đợ i
nàng trở về. Trong lúc ấy nàng thấy rất hạnh phúc và
đượ c phỉ nguyện với bọn cướp kia, nên cứ
nơm nớp lo sợ có ngày vị Hiền sĩ bán chà là đế n
bắt nàng đ i về lần nữa. Nàng nghĩ thầm:
"Ta sẽ đượ c an lạc hơn nếu vị ấy chết
đ i. Vậy ta phải nhắn tin cho vị ấy giả
vờ làm vẻ thương yêu để dụ vị ấy
đế n đâ y
mà chịu chết cho xong". Sau đó nàng tìm
cách đư a tin cho ngài biết là nàng
đ ang khổ sở lắm, và nàng mong ước ngài
đế n cứu đ i
về.
Ngài tin lời nàng, vội lên đườ ng
đế n cổng làng của bọn cướp, nhắn tin cho
nàng. Nàng bảo:
- Bây giờ ta trốn đ i chắc phải rơi
vào tay tên thủ lãnh và hắn giết ta thôi. Vậy ta hãy
đợ i đế n
nửa đ êm rồi
đ ào tẩu.
Thế là nàng đ em giấu ngài trong
phòng, vào nửa đ êm tên cướp trở về nực
nồng hơi rượu, nàng hỏi hắn:
- Này lang quân, chàng sẽ làm gì nếu tình đị ch
ở trong tay chàng?
Hắn bảo sẽ làm thế này thế nọ đố i với
tình đị ch. Nàng bảo:
- Có lẽ gã kia cũng không ở đâ u xa
xôi như chàng tưởng đâ u. Hiện nó
đ ang ở trong phòng kế bên ấy.
Cầm vội ngọn đ uốc, tên cướp chạy vào
chụp lấy Bồ-tát đá nh
đấ m khắp mình mẩy cho hả giận. Cam lòng
chịu đự ng những cái
đá nh đấ m
kia, Bồ-tát không hề kêu than gì, mà chỉ thì thầm:
- Ôi phường vong ân bội nghĩa, thật là gian ác. Bọn lừa
đả o đ iêu
ngoa xảo trá thế là cùng. Ngài chỉ nói chứng ấy thôi.
Sau khi đ ã
đá nh đậ p
và trói chân Bồ-tát lại, tên cướp ă n
uống xong liền nằm l ă n ra ngủ. Sáng dậy,
sau giấc ngủ tiêu tan hết cơn say sưa hồi hôm, tên cướp lại
đá nh đậ p
Bồ-tát lần nữa, ngài cũng không kêu than gì, mà chỉ lặp lại mấy lời trên.
Tên cướp ngạc nhiên trước chuyện này và hỏi lý do tại sao khi bị
đá nh đậ p,
ngài cứ nói mãi như thế.
Hiền sĩ Chà Là đá p:
- Này nghe đâ y, rồi người sẽ hiểu rõ.
Trước kia ta là ẩn sĩ độ c cư trong rừng
hoang, đ ã chứng
đắ c Thiền
đị nh Thắng trí. Sau đó , ta cứu
người đ àn bà này ra khỏi sông Hằng và
giúp đỡ nó
đủ mọi nhu cầu, song đ ã bị nó
quyến rủ nên mất hết Thắng trí. Rồi ta từ bỏ rừng sâu,
đ em nó về làng sinh sống, từ
đó nó bị cướp mang
đ i. Nó lại nhắn tin cho ta là nó
đ ang chịu khổ sở và xin ta
đế n giải cứu nó. Nay nó
đư a ta vào tay ngươi, vì vậy ta cứ kêu
lên như thế đó .
Nghe vậy, tên cướp bắt đầ u suy nghĩ
lại, hắn thầm nhủ: "Nếu cô ả chẳng chút thương tiếc một người tốt
đ ã từng làm ơn cô ả nhiều như vậy, thì ả
sẽ không làm hại ta sao đượ c? Ả phải
chết!".
Thế là sau khi an ủi Bồ-tát xong, hắn đá nh
thức cô ả dậy, vừa cầm kiếm trong tay, hắn vừa bảo rằng hắn sắp giết Bồ-tát
ngoài cổng làng. Rồi bảo ả giữ chặt Hiền sĩ Chà Là, hắn tuốt kiếm ra, làm vẻ
sắp giết ngài, nhưng lại chặt làm đô i cô
ả đ àn bà kia. Xong xuôi hắn tắm gội cho
Bồ-tát sạch sẽ từ đầ u
đế n chân và tiếp
đ ãi ngài đủ
món cao lương mỹ vị suốt mấy ngày liền cho thỏa thích.
- Thế bây giờ ngài đị nh
đ i đâ u?
Cuối cùng tướng cướp hỏi:
- Trần thế chẳng có gì vui thú đố i
với ta cả, bậc hiền sĩ nói. Ta sẽ sống đờ i
ẩn sĩ như xưa kia tại am thất cũ trong rừng.
- Thế thì kẻ hèn này cũng muốn làm ẩn sĩ.
Như vậy cả hai đề u trở thành ẩn sĩ
sống tại am thất trong rừng kia, cùng đắ c
các Thắng trí và các Thiền chứng, cho đế n
khi mạng chung thì thọ sanh lên Phạm thiên giới.
*
Kể câu chuyện ấy xong, bậc Ðạo Sư nêu lên sự liên hệ giữa hai câu chuyện
qua các vần kệ sau:
Bọn nữ nhân đầ y rẫy hận sân,
Nói mồm hai lưỡi, bọn vong ân,
Kẻ gieo chia rẽ, rồi gây chiến,
Vậy hỡi Tỷ-kheo, hãy bước chân
Thẳng tiến đườ ng thanh cao chánh hạnh
Rồi ngươi thấy Cực-lạc siêu trần.
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết
thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo bị tham dục chi phối
đắ c quả Dự lưu. Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Ànanda là tướng cướp và Ta chính là Hiền sĩ Chà Là kia
vậy.
-ooOoo-
64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền thân Duràjàna)#
Chàng tưởng má hồng yêu mến ch ă ng?...
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một nam cư
sĩ. Chuyện kể rằng thời ấy tại Xá-vệ có một nam cư sĩ thọ Tam quy và Ngũ
giới, là một đệ tử thuần thành của Phật,
Pháp, T ă ng. Nhưng vợ người này là một nữ
nhân độ c ác, nham hiểm. Vào những ngày
người vợ ấy phạm lỗi lầm, nàng nhu mì nhẫn nhục như một nữ tỳ
đượ c mua về với giá một tr ă m
đồ ng tiền, còn những ngày nàng không
phạm tội gì, thì nàng lên mặt bà chủ nhà hay giận dữ và khắc nghiệt. Người
chồng không sao hiểu nổi nàng. Nàng cứ làm khổ người chồng
đế n độ
chàng không đế n yết kiến
đứ c Phật
đượ c.
Một ngày kia, chàng mang hương hoa đế n,
sau khỉ đả nh lễ kính cẩn xong, chàng
ngồi xuống thì bậc Ðạo Sư bảo:
- Này nam cư sĩ, làm sao đ ã bảy tám
ngày qua ông không đế n hội kiến Như Lai?
- Bạch Thế Tôn, vợ con có ngày thì dễ bảo như một tỳ nữ mua về với giá
một tr ă m đồ ng
tiền, vào ngày khác thì hay giận dữ khắt khe như một bà chủ. Con không làm
sao hiểu vợ con đượ c. Chính vì vợ con
làm phiền lòng con đế n
độ con không
đế n hầu đứ c
Thế Tôn lâu nay.
Khi nghe người ấy nói vậy, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ông đ ã
đượ c các bậc hiền trí từ xưa nói cho
biết rằng thật khó hiểu đượ c bản tính nữ
nhân.
Và Ngài nói thêm:
- Nhưng vì các tiền kiếp đ ã trở nên
lẫn lộn trong trí ông nên ông không nhớ nổi.
Nói vậy xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm một vị
giáo sư danh tiếng lừng lẫy khắp nơi, với n ă m
tr ă m thanh niên Bà-la-môn thọ giáo với
ngài. Trong số đó có một thanh niên từ
phương xa đế n, chàng
đ ã yêu một thiếu nữ và cưới người
đó làm vợ.
Dù chàng đ ang sống tại Ba-la-nại,
chàng vẫn không thể nào đế n hầu sư phụ
trong hai ba lần liền, vì vợ chàng là người đ àn
bà độ c ác, hễ ngày nào phạm lỗi lầm thì
nàng ra vẻ nhu mì như một tỳ nữ, còn ngày nào không làm gì sai trái thì nàng
lên mặt một bà chủ hay nóng giận, khắc nghiệt. Chồng nàng không thể nào hiểu
nổi tính nàng ra sao cả, và chán quá, bực mình, khổ sở vì nàng
đế n độ
chàng không đế n hầu hạ sư phụ. Bấy giờ,
bảy tám ngày sau, chàng lại đế n hội kiến
ngài, và đượ c Bồ-tát hỏi tại sao lâu nay
vắng mặt.
Chàng đá p:
- Bạch sư phụ, nguyên nhân là tại vợ con.
Rồi chàng kể cho Bồ-tát nghe, nàng đ ã
nhu mì ra sao trong lúc làm vẻ như một tỳ nữ, lúc khác lại khắt khe chuyên
quyền khiến chàng không sao hiểu nàng đượ c.
Và chàng quá phiền muộn khổ sở vì tánh tình thất thường của nàng nên
đ ã vắng mặt như thế.
- Này cậu trai Bà-la-môn, rõ ràng như vậy, vào ngày lầm lỗi,
đ àm bà tỏ ra khúm núm trước mặt chồng
mình và nhẫn nhục như bọn tỳ nữ; còn ngày nào không lầm lỗi, họ tỏ ra cứng
đầ u bướng bỉnh với cả phu quân. Ðàn bà
độ c ác nham hiểm như thế
đấ y, khó mà biết
đượ c bụng dạ họ ra sao. Vậy cậu không
nên quan tâm đế n những sở trường sở
đ oản của họ làm gì.
Nói vậy xong, Bồ-tát ngâm kệ này để
khích lệ đệ tử ngài:
Chàng tưởng má hồng yêu mến ch ă ng?
Này chàng trai hỡi, chớ vui mừng!
Tưởng là nàng chẳng yêu chàng nữa?
Nhẫn nại mà thôi, chớ oán hờn.
Lòng dạ đ àn bà ai hiểu
đượ c.
Như bầy cá lội nước tung t ă ng!
Ðó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đố i
với đệ tử ngài, nên từ
đó chàng chẳng còn quan tâm
đế n tính thất thường của nàng nữa. Còn
nàng, khi nghe nói nết hạnh kém cỏi của mình đ ã
đế n tai Bồ-tát, thì nàng bỏ ngay thói hư
tật xấu kia, không còn tái phạm.
Phần người vợ của nam cư sĩ này tự nhủ: "Người ta bảo là
đứ c Phật đ ã
hiểu rõ thói hư tật xấu của mình rồi!". Từ đó
nàng không còn sai phạm lỗi lầm như trước kia.
*
Khi chấm dứt pháp thoại, bậc Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Đến lúc kết thúc bài giảng, vị nam cư sĩ
đắ c quả Dự lưu. Sau
đó bậc Ðạo Sư nêu liên hệ giữa hai
chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy hai vợ chồng kia là hai vợ chồng ngày nay, và Ta chính là
vị giáo sư ấy.
-ooOoo-
65. CHUYỆN NỖI BẤT MÃN. (Tiền thân Anabhirati)#
Khác gì xa lộ, các dòng sông...
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, cũng về một
nam cư sĩ như chuyện trước. Người này, trong lúc tìm hiểu,
đ ã biết chắc chắn về sự hư hỏng của vợ
mình, liền cãi vã với nàng, kết quả là người ấy bực bội
đế n độ
bảy tám ngày liền không đế n yết kiến bậc
Ðạo Sư.
Một ngày kia, chàng đế n tinh xá,
đả nh lễ đứ c
Thế Tôn và ngồi xuống. Khi đượ c hỏi tại
sao chàng vắng mặt bảy tám ngày qua, chàng đá p:
- Bạch Ðức Thế Tôn, vợ con hư hỏng khiến con quá phiền lòng về việc ấy
đế n độ
không đế n
đâ y đượ c.
Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ngày xưa người hiền thiện đ ã
khuyên ông đừ ng buồn giận vì thói hư tật
xấu của đ àn bà mà phải giữ lòng bình
thản; tuy vậy, ông đ ã quên chuyện này vì
vòng luân hồi sinh tử đ ã che mắt ông.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ, Ngài kể một câu chuyện quá
khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị giáo
sư tiếng t ă m lừng lẫy khắp nơi, như
trong chuyện trước. Một đệ tử của ngài
biết đượ c vợ mình hư hỏng, lấy làm phiền
muộn về đ iều khám phá trên,
đế n độ
lánh mặt đ i vài ngày, nhưng một ngày kia
đượ c vị giáo sư hỏi th ă m
lý do vắng mặt của chàng, chàng liền thổ lộ tâm sự của mình. Sau
đó vị giáo sư bảo:
- Này con, chẳng có gì riêng tư trong bọn đ àn
bà cả. Họ là của chung cho mọi người đấ y.
Vì vậy khi người trí biết đượ c nhược
đ iểm của họ, các vị ấy không tức giận vì
họ nữa.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ này để
khích lệ tinh thần đệ tử:
Khác gì xa lộ, các dòng sông,
Nhà trọ, sân vườn, các quán ă n,
Tửu đ iếm mở ra mời tất cả.
Thập phương lữ khách, thói ân cần
Thường tình nhi nữ là như thế,
Người trí không hề tỏ hận sân
Hạ cố bận lòng vì nhược đ iểm
Của loài liễu yếu, bọn hồng quần.
Ðó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đố i
với đệ tử ngài, từ
đó về sau vị này giữ bình thản trước mọi
việc làm của nữ giới. Còn người vợ kia cũng đượ c
cảm hóa ngay khi nghe vị giáo sư đ ã biết
rõ bản chất mình, nên nàng từ bỏ thói hư tật xấu cũ. Và vợ của người cư sĩ
cũng vậy, khi nghe rằng bậc Ðạo Sư đ ã
hiểu rõ bản chất của mình, liền từ bỏ thói hư tật xấu cũ.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự thật. Đến lúc kết thúc bài giảng, vị cư sĩ
đắ c quả Dư lưu. Bậc Ðạo Sư cũng nêu sự
liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Hai vợ chồng này ngày nay cũng là hai vợ chồng ngày xưa, và ta chính là
vị giáo sư Bà-la-môn ấy.
-ooOoo-
66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền thân Mudulakkhana)#
Trước thời ta đượ c Từ tâm...
Câu chuyện này đượ c bậc Ðạo Sư kể
trong lúc trú tại Kỳ Viên, về tính tham đắ m
ái dục. Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Xá-vệ, sau khi nghe
đứ c Phật thuyết pháp, liền thành tâm
hướng về Tam Bảo. Vị ấy xuất gia sống đờ i
Phạm hạnh, theo đú ng Chánh
đạ o, thực hành Thiền
đị nh và không bao giờ xao lãng trầm tư
đố i với đề
tài Thiền quán mà vị ấy đ ã chọn.
Một ngày kia, trong lúc đ ang khất
thực tại thành Xá-vệ, vị ấy chợt gặp một nữ nhân có nhan sắc quyết rủ, khiến
vị ấy ham thích nên đ ã vi phạm giới luật
tu hành là đư a mắt ngắm nàng! Dục tham
bỗng khởi lên trong tâm vị ấy, khiến chẳng khác gì cây sung bị búa rìu
đố n ngã xuống
đấ t.
Từ ngày ấy, do dục tham chi phối, thâm tâm vị ấy
đề u mất hết sinh thú trong
đờ i sống tu hành, cũng chẳng tìm
đượ c Pháp lạc, vị ấy chẳng khác gì một
con thú hoang trong rừng, cứ để râu tóc,
móng tay chân mọc dài ra dần và y phục bẩn thỉu hôi hám.
Khi các vị đồ ng Phạm hạnh biết
đượ c tâm trạng khổ
đ au của vị ấy, liền bảo:
- Này Hiền giả, tại sao tâm trí Hiền giả chẳng
đượ c như trước?
Vị ấy đá p:
- Niềm an lạc của ta đ ã mất rồi.
T ă ng chúng liền dẫn vị ấy
đế n yết kiến bậc Ðạo Sư, ngài hỏi tại
sao chúng T ă ng dẫn vị Tỷ-kheo ấy
đế n dù vị ấy không muốn.
- Bạch Thế Tôn, vì niềm an lạc của vị ấy đ ã
mất rồi.
- Này Tỷ-kheo, có đú ng vậy ch ă ng?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Vậy ai đ ã khiến ông phải phiền não?
- Bạch Thế Tôn, trên đườ ng
đ i khất thực, con
đ ã vi phạm giới luật của bậc Thánh khi
nhìn ngắm một nữ nhân, và tham dục khởi lên trong tâm con, vì thế con sinh ra
phiền não.
Bậc Ðạo Sư liền bảo:
- Này Tỷ-kheo, chẳng có gì lạ khi ông vi phạm giới luật vì ham dục lạc,
ông đ ã nhìn ngắm một
đố i tượng trái với giới luật và bị tham
dục chi phối.
Thuở xưa, ngay cả những bậc đ ã
đắ c n ă m
Thắng trí và tám Thiền chứng, những bậc đ ã
dập tắt dục tham nhờ uy lực của Thiền quán, tâm
đ ã đượ c thanh tịnh và
đô i chân đ ã
có thể rảo bước giữa không gian, ngay cả các vị Bồ-tát, mà chỉ vì vi phạm
giới luật khi nhìn ngắm một đố i tượng
ngoài thông lệ, nên phải để mất hết
Thiền lực, tâm bị tham dục khuấy độ ng và
phải chịu đạ i phiền não. Thế thì trận
cuồng phong đủ n ă ng
lực xô ngã núi Tu-Di có sá gì mà quan tâm đế n
một ngọn đ oài trọc không lớn hơn con
voi; cơn gió thổi mạnh làm bật gốc cây hồng đ ào
vĩ đạ i có màng gì bụi cỏ bên vách
đá ; hay cơn gió càn quét khô cạn cả
đạ i dương có kể gì
đế n cái ao bé tí kia chứ? Nếu tham dục
có uy lực làm cuồng si tâm trí của các vị Bồ-tát
đ ã giác ngộ và thanh tịnh, thì làm sao
tham dục lại phải nao núng trước ông kia chứ? Này, ngay cả những người
đ ã thanh tịnh cũng bị tham dục làm lạc
hướng và người đ ã
đạ t đế n
vinh quang tột đỉ nh cũng phải chịu khổ
nhục suy tàn.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào
một gia đ ình Bà-la-môn giàu có tại quốc
độ Kàsi. Khi ngài trưởng thành và việc
học vấn đ ã hoàn mãn, ngài từ bỏ dục
tham, xuất gia sống đờ i ẩn sĩ,
đ i vào chốn
độ c cư ở núi Tuyết Sơn. Tại đó ,
nhờ thành tựu các pháp môn đư a
đế n Thiền
đị nh, ngài đ ã
đạ t các Thắng trí và các Thiền chứng, và
sống an vui như vậy trong Thiền lạc vi diệu.
Vì thiếu muối và giấm, một ngày kia ngài vào Ba-la-nại, tại
đó ngài đế n
cư trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, sau khi
đ ã tắm rửa xong thân mình, ngài xếp
chiếc y bằng vỏ cây vẫn thường đắ p,
khoác lên vai tấm da linh dương màu đ en,
buộc các cuộn tóc rối thành một búi trên đỉ nh
đầ u và mang
đ òn gánh với hai thúng trên lưng, ngài bắt
đầ u du hành
để khất thực.
Trên đườ ng
đ i đế n
cổng hoàng cung, oai nghi của ngài khiến nhà vua thán phục và truyền mời
ngài vào. Thế là vị ẩn sĩ đượ c
đặ t lên một bảo tọa cực kỳ huy hoàng
lộng lẫy và thết đ ãi mọi thứ cao lương
mỹ vị. Khi ngài nói lời tùy hỷ công đứ c,
ngài lại đượ c mời
đế n cư ngụ ở hoa viên. Vị ẩn sĩ nhận lời
mời và trong mười sáu n ă m liền sống ở
hoa viên, thường thuyết giáo cho cả hoàng gia và thọ hưởng ngự thiện do vua
cúng dường.
Bấy giờ, một ngày kia vua phải ra chốn biên
đị a để dẹp loạn. Song trước khi
khởi hành, vua ủy thác cho Hoàng hậu đượ c
mệnh danh là Từ Tâm, phải cung cấp các vật dụng cần thiết cho vị ẩn sĩ thanh
tịnh kia. Vì vậy, sau khi vua ra đ i,
Bồ-tát vẫn thường đ i
đế n cung đ iện
khi ngài muốn.
Một ngày kia hoàng hậu Từ Tâm đ ã
chuẩn bị một bữa cơm dâng cúng Bồ-tát, nhưng vì ngài
đế n muộn nên hoàng hậu vô phòng tắm rửa.
Sau khi tắm nước hoa xong, bà vận xiêm y hết sức lộng lẫy, và nằm xuống
đợ i ngài đế n
trên một bảo tọa nhỏ trong một khách sảnh rộng lớn.
Khi vừa xuất khỏi Thiền đị nh, thấy
đ ã trễ giờ, Bồ-tát liền phi hành qua
không gian để
đế n cung đ iện.
Chợt nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ cây, hoàng hậu vội vã
đứ ng dậy để
đó n tiếp ngài. Trong lúc vội vàng, chiếc
y của hoàng hậu tuột xuống, để lộ mọi vẻ
kiều diễm của bà trước mặt vị ẩn sĩ khi ngài vừa
đế n cửa. Thấy vậy, ngài bỗng ham thích
chiêm ngưỡng sắc đẹ p nữ nhân kỳ diện kia
nên đ ã phạm Giới
đứ c: Lửa dục nhen nhúm trong tâm ngài,
khiến ngài giống như thân cây to bị chiếc rìu
đố n ngã.
Lập tức ngài đá nh mất Thiền lực, ngài
chẳng khác gì con quạ bị cắt cụt đô i
cánh. Ngài vẫn đứ ng yên tay nắm chặt
thức ă n, nhưng ngài không
ă n đượ c
mà bước ra đ i, toàn thân rung
độ ng vì dục vọng, ngài trở về am thất
trong vườn hoa, nằm xuống trên sàng tọa bằng gỗ, và suốt bảy ngày liền chịu
đó i khát, toàn thân bị siết chặt trong
vòng vây của sắc đẹ p yêu kiều kia, nội
tâm ngài như bị lửa dục thiêu đố t bừng
bừng.
Vào ngày thứ bảy, nhà vua trở về sau khi đ ã
bình đị nh biên thùy. Vừa ngự vương xa
giữa đá m rước linh
đ ình quanh hoàng thành xong, vua
đ i vào cung. Rồi vua muốn th ă m
vị ẩn sĩ kia ngay, bèn đ i
đ ến hoa viên. Tại am thất, vua thấy
Bồ-tát đ ang nằm trên sàng tọa. Tưởng vị
ẩn sĩ bị bệnh, vua ra lệnh quét dọn sạch sẽ am thất và vừa vỗ vào chân ẩn sĩ
ấy vừa hỏi ngài bị bệnh gì.
- Tâu Ðại vương, tâm ta đ ang bị dục
tham trói buộc: đó là c ă n
bệnh duy nhất của ta.
- Ngài có tham dục đố i với ai?
- Tâu Ðại vương, với hàng hậu Từ Tâm đấ y.
- Vậy thì từ nay Hoàng hậu thuộc về ngài, trẫm ban nàng cho ngài
đấ y. Nhà vua bảo.
Sau đó , nhà vua cùng vị ẩn sĩ
đế n cung đ iện
ra lệnh cho hoàng hậu phục sức cực kỳ lộng lẫy rồi trao bà cho Bồ-tát. Nhưng
trong lúc ban tặng hoàng hậu, nhà vua bí mật ủy thác bà phải
đ em hết sức mình cứu nạn cho vị ẩn sĩ
thanh tịnh ấy. Hoàng hậu bảo:
- Xin Thánh thượng đừ ng lo ngại, thần
thiếp sẽ đ i cứu ngài.
Thế là cùng với hoàng hậu, vị tu khổ hạnh ra khỏi cung
đ iện. Sau khi
đ ã vượt qua Ðại hoàng môn, hoàng hậu kêu
lên rằng hai người phải có một ngôi nhà để
ở, thế là ngài phải trở lại để xin vua
một cái nhà. Và vua ban cho hai vị một túp lều
đổ nát mà khách qua đườ ng dùng
làm nhà tắm. Vị ẩn sĩ đư a hoàng hậu
đế n đó
nhưng bà không chịu bước vào trong vì nó dơ bẩn quá.
Ngài kêu lên:
- Vậy ta còn phải làm gì nữa?
Bà đá p:
- Này, chàng hãy dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ.
Bà lại bảo ngài trở về cung vua xin một cái cuốc và một cái thúng, rồi
bảo ngài khuân hết mọi rác rưới dơ bẩn đ i.
Xong lại bảo đ i tìm phân bò về trét lên
các bức tường. Hết việc ấy, bà bảo ngài đ i
đó ng cái giường, cái ghế, trải một tấm
nệm, lấy một bình nước, một cái chén, cứ mỗi lúc lại bảo
đ i tìm một món. Kế
đó bà lại bảo ngài
đ i gánh nước về và thêm cả ngàn việc
khác nữa. Thế là ngài ra đ i tìm nước
đổ đầ y
bình, xong lấy nước về tắm rửa và dọn giường. Vừa khi ngài ngồi trên giường
cùng bà, bà liền nắm râu ngài kéo ngài xuống đố i
mặt mình và bảo:
- Thế ngài đ ã quên rằng ngài là một
Bà-la-môn thanh thịnh rồi sao?
Nghe thế, ngài liền tỉnh ngộ sau một thời gian cuồng tâm loạn trí. (Nhân
đâ y cũng nên nhắc lại bài thuyết giảng
bắt đầ u bằng: Như vậy Dục tham Triền cái
đượ c gọi là Ác dục vì chúng phát khởi từ
Vô minh, này các Tỷ-kheo, những gì phát khởi từ Vô minh
đề u tạo nên khối Si ám dày
đặ c).
Thế là sau khi hồi tỉnh, ngài suy nghĩ thấy rõ bằng cách nào, khát ái này
trở nên mãnh liệt dần dần sẽ đư a ngài
đế n bốn đọ a
xứ. Ngài kêu lên:
- Nội ngày hôm nay ta quyết đư a nữ
nhân này trả lại cho nhà vua và bay thẳng lên núi!
Ngài liền cùng hoàng hậu đế n yết kiến
vua và nói:
- Tâu Ðại vương, ta không còn ham muốn hoàng hậu nữa, chính vì hoàng hậu
mà trước đâ y khát ái
đ ã bừng dậy trong lòng ta.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ:
Trước thời ta đượ c Từ Tâm,
Lòng ta chỉ một ước mong: chiếm nàng.
Ðến khi nhan sắc nữ hoàng
Ngự trong tâm trí, ta càng đắ m mê,
Dục tham dồn dập tứ bề,
Ðại vương, ta quyết bay về núi xưa.
Lập tức Thiền lực trước kia đ ã mất
nay trở lại với ngài. Nhảy vụt lên từ mặt đấ t
và trụ giữa hư không, ngài thuyết pháp cho vua và phi hành qua không gian
đế n dãy Tuyết Sơn. Ngài không bao giờ
trở lại đườ ng thế tục nữa, mà tu tập
phát khởi Từ Bi tâm cùng với Thiền quán không gián
đ oạn, cho
đế n khi ngài mệnh chung và tái sanh vào Phạm thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư thuyết giảng Bốn Sự thật. Vào lúc kết
thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo đ ắc quả
A-la-hán. Bậc Ðạo Sư cũng nêu lên mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận
diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ànanda là nhà vua, Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) là Từ Tâm và
Ta là ẩn sĩ ấy.
-ooOoo-
67. CHUYỆN NGƯỜI ÐÀN BÀ THÔN QUÊ (Tiền thân Ucchanga)#
Tìm kiếm chồng con thật dễ dàng...,
Câu chuyện này do Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người
đ àn bà ở thôn quê.
Một thuở nọ, trong quốc lộ Kosala, có ba người
đ ang cày ruộng ở ven rừng, cùng lúc, một
bọn cướp phá hại dân chúng trong rừng xong và đ ang
đ ào tẩu. Các nạn nhân chạy vào rừng tìm
kiếm bọn vô lại nhưng hoài công, khi đế n
tận nơi ba người cày ruộng, họ la lên:
- Ðây là bọn sơn tặc giả dạng nông phu!
Thế là họ kéo cả ba tội nhân đế n
trình vua Kosala. Lúc bấy giờ có một người đ àn
bà đế n cung vua khóc than kể lễ thảm
thiết xin có đượ c cái gì
đó để
che thân. Nghe tiếng kêu than, nhà vua ra lệnh ban cho người
đ àn bà ấy một tấm áo, nhưng nàng từ chối
bảo rằng đấ y không phải là thứ nàng muốn
xin. Vì vậy thị nữ của vua trở lại trình rằng người
đ àn bà ấy không cần áo quần mà cần một
tấm chồng! Sau đó vua truyền
đư a người đ àn
bà vào chầu và hỏi có phải nàng muốn kiếm chồng thật ch ă ng.
- Tâu Ðại vương, đú ng thế, người
đ àn bà đá p.
Vì người chồng mới thực sự là vật che thân cho
đ àn bà, còn người đ àn bà nào
không có chồng thì dù cho nàng ấy mặc áo quần
đá ng giá cả ngàn đồ ng tiền, cũng
chẳng khác gì mình trần thân trụi!
Và để làm cho lý lẽ này thêm vững
mạnh, nàng lại ngâm câu tục ngữ này:
Khác nào đấ t nước vì vua,
Chẳng khác dòng sông suối cạn khô,
Cũng vậy mình trần thân lại trụi
Vì không tùng trúc cạnh đ ào tơ!
Nhìn xem quả thật nàng trơ trọi
Dù co mười anh ruột một nhà!
Vua hài lòng với lời giải đá p của
người đ àn bà, nên vua hỏi mối liên hệ
giữa nàng với ba tội nhân kia ra sao. Nàng đá p
rằng, một người là chồng nàng, một người là con trai nàng.
- Này, hãy nhận lấy một đặ c ân của
trẫm, vua bảo, trẫm sẽ ban cho nàng một trong ba người ấy, nàng chọn người
nào?
- Tâu Ðại vương, nàng đá p, nếu tiện
thiếp còn sống, tiện thiếp có thể lấy chồng khác sinh con khác; song nay cha
mẹ thiếp đ ã mất rồi, chẳng bao giờ thiếp
có anh em nào khác nữa. Vậy tâu Ðại vương, thiếp xin chọn người anh.
Nhà vua đẹ p ý với nàng, bèn thả cả ba
người, vậy chính người đ àn bà này là
phương tiện cứu nguy cho ba người đ àn
ông.
Khi T ă ng chúng biết
đượ c chuyện này, liền khen ngợi người
đ àn bà kia trong pháp
đườ ng thì bậc Ðạo Sư bước vào. Ngài hỏi
T ă ng chúng
đ ang bàn luận vấn đề gì và
đượ c kể như trên; Ngài bảo:
- Ðây không phải là lần đầ u tiên, này
các Tỷ-kheo, người đ àn bà này cứu nguy
cho ba mạng sống ấy, mà ngày xưa cũng vậy.
Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, ba người
đ àn ông cày ruộng ở ven rừng và mọi
chuyện xảy ra như chuyện trên.
Khi đượ c vua hỏi muốn chọn người nào
trong ba người, nàng đá p:
- Tâu Ðại vương, Ðại vương có thể gia ân ban cho tiện thiếp cả ba người
ch ă ng?
Vua đá p:
- Không, trẫm không thể.
- Vậy tâu Ðại vương, nếu tiện thiếp không thể xin tha cả ba, thì mong Ðại
vương ban cho thiếp người anh trai.
Vua đá p:
- Hãy nhận lấy người chồng hay con trai của nàng
đ i, chứ anh trai thì có quan hệ gì?
Người đ àn bà
đá p:
- Hai người kia có thể thay thế đượ c,
chứ anh trai thì không bao giờ có nữa.
Nói vậy xong, nàng lại ngâm khúc hát:
Tìm kiếm chồng con thật dễ dàng,
Tha hồ chọn chúng, đứ ng
đầ y đườ ng,
Song tìm đâ u
đượ c người anh nữa,
Dù khổ đ au cho
đế n đ oạn
trường?
Vua đẹ p ý, phán:
- Nàng ấy nói chí lý!
Vua bèn ra lệnh đư a ba người
đ àn ông kia từ ngục thất
đế n giao cho người
đ àn bà, nàng liền
đư a cả ba người ra về.
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư bảo, chính người
đ àn bà này thuở xưa kia
đ ã có lần cứu mạng cho cả ba người
đ àn ông.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài nêu sự liên hệ giữa hai chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Người đ àn bà và ba người
đ àn ông ngày nay cũng là người
đ àn bà và ba người
đ àn ông ngày trước và Ta chính là vua
ấy.
-ooOoo-
68. CHUYỆN THÀNH SAKETA (Tiền thân Saketa)#
Ý an trú vào ai...,
Câu chuyện này, khi ở tại rừng Anjana, gần Saketa, bậc Ðạo Sư
đ ã kể về một Bà-la-môn. Truyền thuyết
nói rằng, trong khi Thế Tôn với chúng Tỷ-kheo vây quanh
đ ang đ i
vào Saketa, một Bà-la-môn lớn tuổi ở tại Saketa, từ thành
đ i ra ngoài, thấy bậc Ðạo Sư tại ngưỡng
cửa, cúi mình xuống chân Ngài, ôm chặt mắt cá và nói to:
- Này con thân, phải ch ă ng cha mẹ khi
già yếu phải đượ c các con nuôi dưỡng?
Sao mãi cho đế n nay, con không
để chúng ta thấy mặt con? Nay ta thấy
con rồi. Hãy để cha mẹ thấy mặt con.
Nói vậy xong, người Bà-la-môn già dắt bậc Ðạo Sư vào nhà của mình. Bậc
Ðạo Sư vào nhà, ngồi xuống trên ghế đ ã
soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Vị nữ Bà-la-môn
đ i đế n,
cúi mình xuống chân bậc Ðạo Sư, khóc và nói:
- Này con thân, từ trước đế n nay con
đ ã đ i
đâ u? Phải ch ă ng
cha mẹ khi già cả phải đượ c các con hầu
hạ?
Rồi bà gọi các con trai, con gái lại, bảo đả nh
lễ anh cả. Hai vị hoan hỷ cúng dường bố thí lớn. Sau khi dùng cơm, bậc Ðạo
Sư đọ c cho hai vị Bà-la-môn bài kinh nói
về Tuổi già (Kinh Tập, Chương 4). Sau bài kinh ấy, cả hai
đề u chứng quả Nhất lai. Rồi bậc Ðạo Sư
từ chỗ ngồi đứ ng dậy,
đ i về rừng Anjana. Các Tỷ-kheo ngồi họp
tại Pháp đườ ng bắt
đầ u câu chuyện như sau:
- Này các Hiền giả, vị Bà-la-môn đ ã
biết vua Tịnh Phạn là phụ thân của đứ c
Như Lai, mẹ Ngài là Mahàmayà. Tuy vậy, ông cùng với nữ Bà-la-môn, cả hai gọi
đứ c Như Lai là con của họ và bậc Ðạo Sư
lại chấp nhận, việc này có lý do gì?
Bậc Ðạo Sư nghe câu chuyện của họ bèn nói:
- Này các Tỷ-kheo, cả hai vị ấy gọi Ta là con của họ như vậy là
đú ng.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vị Bà-la-môn này là cha của Ta, tiếp tục như
vậy không gián đ oạn cho
đế n n ă m
tr ă m đờ i,
là cậu của Ta trong n ă m tr ă m
đờ i, là ông của Ta trong n ă m
tr ă m đờ i.
Còn vị nữ Bà-la-môn này là mẹ của Ta, tiếp tục như vậy trong n ă m
tr ă m đờ i,
là bà của Ta trong n ă m tr ă m
đờ i. Ta đượ c
lớn lên trong tay người Bà-la-môn trong một ngàn n ă m
tr ă m đờ i,
và trong tay vị nữ Bà-la-môn trong một ngàn n ă m
tr ă m đờ i.
Sau khi kể về ba ngàn đờ i sống, bậc
Ðạo Sư là bậc Chánh Ðẳng Giác đọ c lên
câu kệ này:
Ý an trú vào ai,
Tâm tư đượ c hoan hỷ
Khi mới thấy lần đầ u,
Hãy tin tưởng người ấy.
*
Như vậy, sau khi kể xong pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết hợp hai câu
chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Vị Bà-la-môn và nữ Bà-la-môn này là hai vợ chồng trong các
đờ i trước, còn người con trai là Ta vậy.
-ooOoo-
69. CHUYỆN CON RẮN PHUN NỌC ÐỘC (Tiền thân Visavanta)#
Ðáng rủa thay nọc độ c...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đ ã
kể về vị tướng quân Chánh pháp. Theo truyền thuyết, trong một thời gian
Trưởng lão ấy thường ă n các món làm bằng
bột do các thiện nam tín nữ đ em
đế n tinh xá cúng dường. Khi chúng
Tỷ-kheo đ ã
ă n đầ y
đủ , số bánh còn lại rất nhiều. Các vị
thiện tín thưa:
- Thưa các Tôn giả, hãy lấy phần cho những vị
đ i vắng.
Trong lúc ấy, đệ tử cộng trú với
Trưởng lão đ ã
đ i vào trong làng. Sau khi lấy phần cho
người ấy, người ấy vẫn chưa về và thời gian đ ã
quá trễ, người ta cúng dường phần ấy cho Trưởng lão. Khi Trưởng lão
đ ang ă n
thì vị Tỷ-kheo trẻ trở về. Trưởng lão nói với Tỷ-kheo trẻ ấy:
- Này Hiền giả, chúng tôi đ ã
ă n phần của Hiền giả.
Vị ấy nói:
- Thưa Tôn giả, chúng ta đề u thích
đồ ngọt cả.
Bậc Ðại Trưởng lão cảm thấy xúc độ ng,
phiền lòng và quyết đị nh từ lúc ấy trở
đ i không ă n
bánh làm bằng bột nữa. Bắt đầ u từ
đấ y, người ta
đồ n Trưởng lão Xá-lợi-phất không
ă n bánh làm bằng bột như trước nữa. Sự
không ă n bánh ấy của Trưởng lão
đượ c chúng Tỷ-kheo biết rõ. Các Tỷ-kheo
nói về vấn đề này trong khi ngồi họp ở
Pháp đườ ng. Rồi bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đ ang ngồi
bàn tán về vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề ấy, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, khi Xá-lợi-phất đ ã
từ bỏ vật gì, thì dù mất thân mạng, cũng không chấp nhận lại vật ấy.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong
gia đ ình thầy thuốc chữa nọc
đ ộc rắn, và làm nghề thầy thuốc ấy
để sinh sống. Bấy giờ, một con rắn cắn
một người dân quê. Bà con kẻ ấy lập tức đư a
kẻ ấy đế n thầy thuốc. Thầy thuốc hỏi:
- Bà con muốn chữa trị với dược liệu và rút nọc
độ c ra, hay là bắt con rắn
đ ã cắn và bảo nó hút nọc
độ c ra?
Theo yêu cầu, thầy thuốc cho bắt con rắn, và khi hỏi có phải nó cắn người
ấy không, con rắn xác nhận chính nó cắn, thầy thuốc bảo:
- Ngươi hãy lấy miệng hút nọc độ c của
ngươi ra tại chỗ bị cắn.
Con rắn kêu:
- Từ trước tới nay, chưa có một lần nào ta lại hút nọc
độ c mà ta đ ã
phun ra. Ta không hút nọc độ c ấy
đâ u.
Thầy thuốc bảo đ em lại củi, nhen lửa
lên và nói:
- Nếu ngươi không hút nọc độ c ra,
ngươi phải bò vào lửa này.
Con rắn nói:
- Thà ta bò vào lửa chịu chết, nhưng ta sẽ không hút nọc
độ c mà ta đ ã
một lần phun ra.
Rồi nó đọ c bài kệ này:
Ðáng rủa thay nọc độ c,
Một lần đ ã phun ra,
Nay lại vì mạng sống,
Ta phải hút trở vào.
Thà ta chết tốt hơn,
Là sống phải làm vậy.
Nói vậy xong, con rắn bò vào lửa. Thầy thuốc ng ă n
chận nó lại, rút nọc độ c cho người bị
nạn bằng thuốc và bùa chú, trao Giới cho con rắn, rồi thả rắn ra và nói:
- Bắt đầ u từ nay, chớ làm hại một ai!
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Xá-lợi-phất mới từ bỏ vật gì một
lần rồi, dầu phải mất thân mạng, cũng không chấp nhận lại vật ấy.
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết hợp các câu chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Thuở ấy, con rắn là Xá-lợi-phất, còn thầy thuốc là Ta vậy.
-ooOoo-
70. CHUYỆN HIỀN GIẢ CÁI CUỐC (Tiền thân Kuddàla)#
Chiến thắng ấy không tốt....,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư
đ ã kể về Trưởng lão tên là Cittahattha
Sariputta. Trưởng lão ấy, theo truyền thuyết, là một thanh niên thuộc một
gia đ ình tốt ở Xá-vệ. Một hôm, trên con
đườ ng về nhà, sau khi cày xong, thanh
niên ấy đ i vào tinh xá, nhận
đượ c các món
ă n thượng vị béo và ngọt từ bát của một
Trưởng lão. Kẻ ấy suy nghĩ: "Chúng ta ngày đ êm
tự tay làm nhiều công việc, nhưng không đượ c
các món ă n ngọt như thế này. Vậy ta hãy
trở thành một Sa-môn!". Kẻ ấy xuất gia, sau một tháng rưởi tinh cần, nhưng
bị phiền não chinh phục, kẻ ấy hoàn tục. Rồi vì kiếm
ă n mệt nhọc, kẻ ấy trở lại xuất gia, học
Thắng Pháp.
Với phương diện này, sáu lần kẻ ấy hoàn tục, sáu lần xuất gia, nhưng
đế n lần thứ bảy trở lại thành Tỷ-kheo.
Vị Tỷ-kheo này thông suốt bảy bộ A-tỳ- đ àm
(Thắng pháp), và do đọ c lớn tiếng nhiều
lần Giáo pháp của Tỷ-kheo, nhờ triển khai Thiền quán, vị ấy chứng quả
A-la-hán. Các thân hữu Tỷ-kheo cười nhạo, nói:
- Này, Hiền giả, trước kia tâm Hiền giả là như vậy, này làm sao các phiền
não không t ă ng trưởng
đượ c?
- Thưa các Hiền giả, từ hôm nay trở đ i,
tôi không có thể trở lui đờ i sống gia
đ ình đượ c.
Vấn đề vị này chứng quả A-la-hán như
vậy đượ c nói lên tại Pháp
đườ ng:
- Thưa các Hiền giả, dầu đượ c c ă n
duyên trở thành một vị A-la-hán như vậy, Tôn giả Cittahattha Sariphutta
đ ã sáu lần từ bỏ
đờ i xuất gia. Ôi thật sự là sai lầm cho
tánh phàm phu của vị ấy!
Bậc Ðạo Sư đế n và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông ngồi họp bàn vấn
đề gì?
Khi nghe vấn đề ấy, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, tâm của hạng phàm phu là nhẹ dạ, khó
đ iều phục, bị các
đố i tượng chi phối, hay dính chặt. Một
khi đ ã dính chặt, thì không thể thoát ly
mau lẹ. Tâm tư như vậy đượ c nhiếp phục
thật là tốt lành. Một khi tâm đượ c nhiếp
nhục, thì nó đ em lại an lạc.
Khó nắm giữ, khinh độ ng,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, đ iều phục tâm,
Tâm đ iều, an lạc
đế n. (Pháp Cú, 35)
Do tánh khó nhiếp phục này, thuở xưa các bậc hiền trí, chỉ vì một cái
cuốc mà họ không thể bỏ đượ c, vì lòng
tham, sáu lần từ bỏ đờ i xuất gia. Chỉ
lần xuất gia thứ bảy, Thiền đị nh khởi
lên, họ mới nhiếp phục đượ c lòng tham
ấy!
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong
gia đ ình một người làm vườn. Lớn lên
Bồ-tát đượ c gọi là bậc Hiền trí cái
cuốc. Với cái cuốc, Bồ-tát dọn sạch khoảng đấ t,
tự mình gieo trồng các loại như rau, bí, bầu, dưa leo và các thứ rau khác
để bán và sinh sống một cách khó kh ă n.
Ngoại trừ cái cuốc này ra, Bồ-tát không có một tài sản gì khác.
Một hôm, Bồ-tát suy nghĩ: "Ta sống trong gia
đ ình làm gì? Hãy xin đ i xuất
gia". Bồ-tát cất cái cuốc ấy vào một chỗ kín, xuất gia làm vị tiên nhân du
sĩ. Lại nhớ đế n cái cuốc ấy, không thể
chặt đứ t lòng tham vì cái cuốc sứt mẻ,
Bồ-tát từ bỏ đờ i xuất gia. Như vậy lần
thứ hai, lần thứ ba; cho đế n lần thứ
sáu, Bồ-tát chôn cái cuốc vào một chỗ kín, xuất gia rồi lại bỏ xuất gia. Ðến
lần thứ bảy, Bồ-tát suy nghĩ: "Chỉ vì cái cuốc sứt mẻ này, ta tiếp tục từ bỏ
xuất gia, nay ta sẽ qu ă ng nó vào con sông
lớn rồi sẽ xuất gia!".
Bồ-tát đ i
đế n bờ sông, lại nghĩ: "Nếu thấy
đượ c nơi cái cuốc bị rơi, thì ta có thể
đ i đế n
đó và vớt nó lên
đượ c". Nghĩ vậy, với sức mạnh kiên trì
như voi, Bồ-tát cầm cán cuốc quay tròn trên đầ u
ba lần, nhắm mắt lại, qu ă ng cái cuốc vào
giữa dòng sông, và rống lên tiếng rống con sư tử ba lần:
- Ta đ ã chiến thắng! Ta
đ ã chiến thắng!
Lúc bấy giờ, vua Ba-la-nại, vừa dẹp xong loạn ở biên giới trở về, tắm
trong con sông ấy. Sau khi trang đ iểm
đủ mọi châu báu, vua ngồi trên lưng voi,
đ ang đ i,
nghe tiếng Bồ-tát la lớn liền nghĩ: "Người này nói ta
đ ã chiến thắng. Nó
đ ã chiến thắng ai vậy? Ta hãy gọi nó".
Khi Bồ-tát đế n, vua hỏi:
- Này bạn, ta vừa thắng trận ở chiến trường trở về. Còn bạn chiến thắng
ai vậy?
Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, một ngàn hay một tr ă m
ngàn chiến trận đượ c Ðại vương chiến
thắng đề u vô ích, nếu Ðại vương không tự
mình chiến thắng các phiền não. Chính do chiến thắng tham dục trong nội tâm,
ta đ ã chiến thắng các phiền não.
Trong khi nói vậy, Bồ-tát nhìn con sông lớn, khởi lên Thiền quán với
đố i tượng về nước,
đắ c Thiền chứng, ngồi trên hư không
thuyết pháp cho vua, và đọ c bài kệ này:
Chiến thắng ấy không tốt,
Nếu chiến thắng rồi bại.
Chiến thắng thật tốt lành
Là chiến thắng nội tâm.
Nhà vua nghe thuyết pháp, với sự đ oạn
trừ vọng kiến, các phiền não đượ c
đ oạn tận, tâm tư hướng về xuất gia. Ngay
lúc ấy, tham dục đố i với vương vị cũng
tiêu diệt. Vua hỏi Bồ-tát:
- Nay Bồ-tát sẽ đ i
đâ u?
Bồ-tát trả lời sẽ đ i vào Hy-mã-lạp
Sơn, xuất gia làm vị tiên nhân du sĩ. Vua nói lên ý muốn xuất gia của mình và
cùng đ i với Bồ-tát. Toàn bộ số người,
các Bà-la-môn gia chủ, toàn thể quần chúng hội họp tại chỗ ấy, tất cả
đề u cùng đ i
với vua. Dân chúng ở Ba-la-nại đượ c nghe
vua Ba-la-nại của họ hướng về xuất gia sau khi nghe bậc Hiền trí thuyết
pháp, nghĩ rằng họ ở lại đấ y làm gì,
cũng xin đ i xuất gia. Từ nội thành dài
mười hai dặm, tất cả dân chúng trong thành đề u
ra đ i. Hội chúng dài
đế n mười hai dặm cùng với Bồ-tát
đ i vào Hy-mã-lạp Sơn.
Bấy giờ, chiếc ngai của Thiên chủ Ðế Thích trở thành nóng. Tìm hiểu lý
do, Ðế Thích thấy bậc Hiền trí đ ang tiến
hành một đạ i sự xuất gia. Ước lượng số
đạ i chúng và số trú xứ cần cho họ ở, Ðế
Thích truyền gọi Vissakamma, Thần xây dựng của chư Thiên, và nói:
- Này, khanh thân, bậc Hiền trí đ ang
tiến hành một đạ i sự xuất gia, cần phải
có trú xứ cho họ ở. Hãy đ i
đế n Hy-mã-lạp Sơn, trên một chỗ bằng
phẳng, khanh hãy cho xây dựng một khu ẩn cư dài ba mươi dặm, rộng mười l ă m
dặm.
Vissakamma vâng lời và cho làm đú ng
như đ ã nói (Ðây chỉ là tóm tắt. Các chi
tiết đầ y đủ
sẽ đượ c nói trong Tiền thân Hattipàla số
509).
Vissakamma hóa hiện ra một khu chòi lá tại các vùng ẩn cư,
đ uổi xa các loài thú ồn ào, các loài
chim, các loài phi nhân và lập một con đườ ng
theo mỗi phương hướng chính, con đườ ng
rộng vừa một người đ i. Rồi Vissakamma
đ i về trú xứ của mình.
Còn bậc Hiền trí đ em theo hội chúng
ấy đ i vào dãy Hy-mã-lạp Sơn,
đế n chỗ ẩn cư
đ ã đượ c
Ðế Thích cho, đ em theo các vật dụng xuất
gia do Vissakamma tạo ra, tự mình xuất gia trước, rồi sau truyền giới xuất
gia cho hội chúng, phân phối chỗ ẩn cư rồi giao cho họ. Tất cả
đề u từ bỏ vương vị ngang bằng vương vị
của Ðế Thích. Hội chúng tràn đầ y chỗ ẩn
cư dài đế n ba mươi dặm. Sau khi chuẩn bị
các đố i tượng
đề tài Thiền quán, và tu tập tâm Từ, Bi,
Hỷ, Xả, Bồ-tát dạy đề tài Thiền quán cho
hội chúng. Tất cả đề u
đạ t Thiền chứng, và
đượ c sanh lên cõi Phạm thiên. Còn tất cả
những ai hộ trì hội chúng, đề u
đượ c sanh lên cảnh giới chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy, khi tâm bị các phiền não chi phối, thật khó
từ bỏ. Các đố i tượng tham ái khởi lên
rất khó từ bỏ, khiến cho các bậc hiền trí cũng trở thành vô trí.
Sau khi kể pháp thoại này xong, bậc Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối
bài giảng ấy, một số người chứng quả Dự lưu, một số người chứng quả Nhất
lai, một số chứng quả Bất lai, một số đạ t
quả A-la-hán. Bậc Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda, hội chúng ấy là hội chúng
đứ c Phật, còn bậc hiền trí là Ta vậy.
Ghi chú: Các chuyện từ số 62 đến số 67
do cư sĩ Trần Phương Lan dịch.