Chuyện Tiền Thân · Jātaka

JAT-006 · 51. CHUYỆN VUA ÐẠI GIỚI ÐỨC (Tiền thân Mahàsìlavà)

Jātaka group 6 · Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu / Giáo sư Trần Phương Lan. Reader này gom dòng nguồn thành đoạn đọc tự nhiên, nhưng vẫn giữ dữ liệu nguồn để đối chiếu.

Mã kinhjat-006
Số MN6
NguồnBudsas.net
Đối chiếubudsas.net

PHẨM
ÀSIMSA

51. CHUYỆN VUA ÐẠI GIỚI ÐỨC (Tiền thân Mahàsìlavà)#

Người luôn luôn hy vọng...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư đã kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo ấy:
- Có thật chăng, này Tỷ-kheo ông thối thất
tinh tấn?
- Bạch Thế Tôn, thật vậy.
- Này Tỷ-kheo, vì sao ở trong Giáo pháp đưa
đến giải thoát như vậy, ông lại thối thất tinh tấn? Thuở trước, các bậc hiền
trí sau khi mất quốc độ, vẫn kiên trì tinh tấn, cuối cùng lấy lại danh tiếng
đã mất.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì quốc độ
ở xứ Ba-la-nại, Bồ-tát đầu thai làm con bà hoàng hậu. Trong ngày đặt tên,
ngài được gọi là hoàng tử Silava (Giới Ðức). Khi đến mười sáu tuổi, ngài
thành thục trong tất cả các tài nghệ. Sau một thời gian, khi vua cha mệnh
chung, ngài được đặt lên vương vị với danh hiệu vua Ðại giới hạnh.
Vị vua đúng pháp trị vì theo pháp. Tại bốn
cửa thành, vua xây dựng bốn trường bố thí, lại xây dựng thêm giữa thành phố
một cái, tại cửa cung điện ngài một cái. Sáu trường bố thí được xây dựng bố
thí cho những kẻ nghèo khổ lữ hành. Vua trì giới, gìn giữ ngày trai giới
(Bồ-tát), đầy đủ lòng nhẫn nại, nhân ái và từ mẫn. Vị ấy trị vì quốc độ đúng
pháp và muốn tất cả chúng sanh được hạnh phúc như muốn đứa con yêu quý ngồi
trên bắp vế mình được hạnh phúc.
Một đại thần của vua làm tà hạnh trong nội
cung, và sau một thời gian bị phát lộ, các đại thần tâu với vua. Vua điều
tra, tự mình rõ biết sự việc, cho gọi đại thần ấy đến, tẩn xuất kẻ ấy ra
khỏi nước và nói:
- Này kẻ ngu si kia, việc người làm không
thích đáng, ngươi không xứng đáng sống trong quốc độ của ta. Hãy đem tài
sản, vợ con và đi chỗ khác!
Kẻ ấy đi khỏi nước Kàsi, đến làm việc với
vua Kosala, dần dần trở thành người cố vấn tín cẩn thân cận của vua. Một
hôm, kẻ ấy tâu với vua Kosala:
- Thưa Thiên tử, nước Kàsi như bánh mật ong
không có ruồi bu. Vua rất nhu nhược, chỉ với một ít đội quân là có thể chiếm
lấy thành Kàsi.
Nghe kẻ ấy nói vậy, vua liền suy nghĩ: "Nước
Ba-la-nại to lớn. Nó lại nói với một ít đội quân là có thể chiếm lấy thành
ấy. Rất có thể nó là tên cướp được thuê mướn". Vua nói:
- Ta nghĩ khanh là tên cướp được thuê mướn.
Thưa Thiên tử, hạ thần không phải là tên
cướp được thuê mướn! Thần chỉ nói sự thật. Nếu bệ hạ không tin thần, hãy cử
người đến tàn phá một làng biên địa, rồi bệ hạ sẽ thấy, khi những người đi
tàn phá bị bắt, và được dẫn đến trước vua nước Kàsi, vua ấy sẽ cho tài sản
và thả họ về.
Vua Kosala nghĩ: "Người này thật rất bạo
dạn, khi đã nói như vậy, ta sẽ điều tra xem sao". Rồi vua cử một số người
của vua, đi tàn hại một làng ở biên địa Ba-la-nại. Họ bị bắt và dẫn đến
trước mặt vua Kàsi. Vua hỏi:
- Này các bạn thân, sao lại tàn hại dân làng
ta?
- Thưa Thiên tử, vì chúng tôi không thể kiếm
sống được.
- Vậy sao các người không đến ta? Từ nay trở
đi, chớ làm như vậy nữa.
Vua cho họ tiền của và thả họ về. Họ báo cáo
lại sự tình lên vua Kosala. Với kinh nghiệm này, vua chưa dám cử quân đi,
bèn sai người tới tàn hại miền giữa quốc độ. Những kẻ trộm ấy được vua Kàsi
cho tiền của như trước rồi thả về. Vua Kosala với kinh nghiệm này nữa, cũng
chưa dám cử quân đi, lại sai người tới cướp phá ngay trong đường phố. Vua
Kàsi cho các tên cướp ấy tiền của rồi cũng thả chúng về. Lúc bấy giờ, vua
Kosala mới biết vua Kàsi là vị vua trị vì hết sức nhân từ, liền quyết định
cử đội quân đi chiếm lấy nước Ba-la-nại.
Lúc bấy giờ, vua Ba-la-nại có một ngàn đại
chiến sĩ, những bậc anh hùng siêu việt, vô úy, những vị này có thể đối mặt
không thối chạy bởi sự tấn công của một con voi điên loạn, không sợ hãi khi
bị sét đánh trên đầu, một đội quân vô địch có thể chiếm toàn cõi Diêm-phù-đề
theo ý muốn của đại vương Silava. Họ nghe tin vua Kosala đến liền đến báo
cáo vua Kàsi:
- Thưa Thiên tử, vua Kosala đến với ý định
chiếm lấy nước Ba-la-nại. Chúng tôi sẽ đi đánh và bắt vua ấy, không cho vua
ấy bước qua biên giới.
- Này các khanh, chớ vì ta mà làm các người
khác phiền não. Những ai muốn quốc độ, hãy để họ lấy quốc độ ta. Các khanh
chớ đi!
Vua ngăn chận các chiến sĩ ấy chống trả quân
xâm lược. Sau đó vua Kosala vượt qua biên giới và xâm nhập miền giữa quốc
độ. Các đại thần đến báo cáo với vua như lần trước. Vua lại ngăn chận như
lần trước. Bấy giờ vua Kosala đến, đứng ngoài thành và đưa tin cho đại vương
Silava giao quốc độ hay giao chiến. Vua Kàsi đưa tin traû lời là vua không
giao chiến.
- Hãy tới mà lấy quốc độ.
Lần thứ bảy, các đại thần lại đến tâu vua:
- Thưa Thiên tử, chúng thần không để cho vua
Kosala vào thành. Chúng thần sẽ đánh vua ấy ở ngoài thành và bắt vua ấy.
Nhưng vua Kàsi vẫn ngăn chận như lần trước,
cho mở các cửa thành, rồi ngồi trên vương tọa lộng lẫy với một ngàn đại thần
vây quanh. Vua Kosala cùng với đội quân lớn vào thành Ba-la-nại. Không thấy
một ai chống cự, vua đi đến cung điện của vua Kàsi, với các cửa mở toang.
Vua Kosala liền ra lệnh bắt vua Mahasilava đang ngồi im lặng trên ngai vàng
cùng với ngàn đại thần vây quanh.
- Hãy trói vua này với các đại thần, trói
thật chặt cánh tay chúng ra sau lưng, dắt chúng đến bãi tha ma, đào những hố
sâu đến cổ, khiến mọi người không thể giơ tay, rồi đổ đất xuống đất và chôn
sống chúng. Ban đêm, các con chó rừng sẽ đến và sẽ làm những gì cần phải làm
đối với chúng!
Các người tùy tùng theo lệnh vua cướp nước,
trói vua Kàsi với các đại thần, trói thật chặt cánh tay ra sau lưng, rồi dắt
họ đi. Lúc bấy giờ, đại vương Silava không có tư tưởng sân hận gì với vua
cướp nước. Trong khi các đại thần ấy bị trói như vậy và dắt đi, không một ai
có thể trái lời vua Kàsi, hội chúng vua Kàsi được khéo huấn luyện về kỷ luật
như vậy.
Rồi những người lính của vua cướp nước dắt
vua Silava và các đại thần đi đến bãi tha ma, đào những hố sâu ngang cổ,
chôn tất cả xuống cái hố, đại vương Silava bị chôn ở giữa, hai bên chôn các
đại thần, rải đất lên, lấy chày nện xuống rồi bỏ đi. Vua Silava không phẫn
nộ đối với vua cướp nước và khuyên các đại thần:
- Này các khanh, hãy tụ tập hạnh từ bi!
Nửa đêm, các con chó rừng đến, định ăn thịt
người. Thấy chúng, vua và các đại thần đồng thanh la to lên, các con chó
rừng sợ hãi chạy trốn. Khi chúng quay trở lại nhìn, biết không có ai đuổi
theo, chúng liền trở lui. Các người ấy lại la lớn hơn trước. Như vậy, chúng
chạy trốn đến lần thứ ba, rồi lại nhìn lui, biết không có ai đuổi theo,
chúng nghĩ: "Các người này rồi cũng chết", nên mạnh dạn trở lui, và khi nghe
la lớn, chúng không chạy trốn nữa. Con chó rừng đầu đàn đến gần vua Silava,
các con còn lại đến gần những người kia. Vốn thiện xảo về phương tiện, biết
được con vật đến gần mình, vua Kàsi liền vươn cổ lên như để cho con vật cắn,
rồi với xương hàm kéo giật cổ con chó rừng, vua cắn thật chặt như kẹp với
gọng kềm. Con chó rừng bị cắn chặt cổ, bị kẹp bởi xương hàm của vị vua có
sức mạnh như voi, không thể nào tự mình thoát được, và kinh hãi vì sợ chết,
nó bèn hú lên lớn tiếng.
Nghe tiếng kêu cầu cứu, nghĩ rằng con chó
rừng chúa ấy đã bị một người bắt, các con kia không đi đến gần các đại thần,
và kinh hãi vì sợ chết, tất cả đều bỏ chạy. Bị cắn chặt bởi xương hàm của
vua Kàsi, con chó rừng bị bắt hốt hoảng chạy qua chạy lại, làm cho đất mềm
rơi ra và vì sợ chết, với cả bốn chân nó cào đất trên chỗ vua kàsi. Vua biết
được đất đã mềm rơi ra, liền thả con chó rừng. Với sức mạnh như voi, vua di
chuyển qua lại, giơ lên được hai tay, rồi vịn lên bờ thành miệng hố, vua
thoát khỏi miệng hố như mây bị xé tan trước gió, và đứng dậy. Rồi an ủi,
động viên các đại thần, vua bới đất lên, kéo tất cả mọi người ra khỏi hố.
Với các đại thần vây quanh, vua đứng trong bãi tha ma.
Lúc bấy giờ, người ta quăng một xác chết
trong bãi tha ma, đúng ở biên giới địa phận của hai con Dạ-xoa. Hai con
Dạ-xoa không thể chia phần người chết ấy, chúng nói:
- Chúng ta không thể chia phần xác chết này.
Vua Silava là vị sống đúng pháp, vị ấy sẽ chia phần cho chúng ta. Chúng ta
hãy đi đến vị ấy.
Chúng cầm chân xác chết, kéo đi đến vua và
thưa:
- Thưa Thiên tử, hãy chia người này cho
chúng tôi.
- Này các vị Dạ-xoa, ta sẽ chia phần xác
chết này cho các vị. Nhưng vì chúng tôi không sạch, hãy tắm cho chúng tôi
đã.
Các Dạ-xoa, với uy lực của mình, đem lại
nước thơm dành cho vua cướp nước để vua Kàsi tắm; sau khi tắm xong, chúng
thâu lại áo của vua Kàdi, đem áo dành cho vua cướp nước đến mặc áo cho vua,
rồi chúng đem cho vua một hộp đựng bốn loại nước hoa. Khi vua đã xức nước
hoa, chúng lại cho vua những bông hoa đủ loại đính trên quạt bằng ngọc trong
một hộp bằng vàng, và trang sức cho vua.
Rồi khi vua đang đứng, chúng hỏi vua có cần
gì chúng nữa không. Vua ra dấu cho chúng hiểu là vua đói. Các Dạ-xoa liền đi
lấy cho vua các món ăn thượng vị đã sửa soạn sẵn cho vua cướp nước. Và sau
khi tắm và xức nước hoa, mặc áo và trang điểm, vua Kàsi ăn các món ăn
thượng vị. Các Dạ-xoa đem lại nước thơm dành cho vua cướp nước, với bình bát
bằng vàng và chén vàng để vua uống nước, súc miệng. Và trong khi vua rửa
tay, các Dạ-xoa đem đến trầu gia vị với năm loại hương, được têm sẵn cho vua
ăn cướp dùng. Ăn trầu xong, khi vua đang đứng, các Dạ-xoa hỏi vua có cần
chúng làm việc gì khác nữa. Vua bảo:
- Ðem các gươm báu đặt trên gối vua cướp
nước về cho ta.
Và chúng đi lấy đem về. Rồi vua cầm gươm,
đưa thẳng trên xác chết, chặt xuống giữa đỉnh đầu, chia thành hai phần bằng
nhau cho hai con Dạ-xoa. Sau khi chia xong, vua rửa gươm, đeo vào và đứng
thẳng. Các Dạ-xoa ăn uống no nê, tâm tư thỏa mãn, hỏi vua có sai bảo chúng
làm việc gì nữa không. Vua bảo các Dạ-xoa ấy, dùng uy lực của mình đưa vua
vào vương phòng của vua cướp nước và đưa các đại thần về nhà. Chúng chấp
thuận, làm theo lời vua.
Lúc bấy giờ, vua cướp nước đang nằm ngủ trên
long sàng trong vương phòng được trang hoàng. Vua Kàsi dùng mặt bằng cây
gươm đánh trên bụng vua cướp nước đang ngủ say. Vua ấy hoảng hốt thức dậy,
với ánh sáng ngọn đèn, nhận biết là đại vương Silava, liền từ trên giường
đứng dậy, lấy hết can đảm, nói với vua Kàsi:
- Thưa Ðại vương, đêm tối như vầy, có phòng
hộ canh gác, các cửa đều đóng, trong cung điện không chỗ nào là không có
người canh gác, làm thế nào làm ngài lại đến được bên giường này, đeo gươm,
trang sức, mặc hoàng bào sẵn sàng?
Vua Kàsi kể tất cả câu chuyện với các chi
tiết về các sự kiện đưa vua đến đây. Nghe xong, vua cướp nước xúc động mạnh,
và thưa:
- Thưa Ðại vương, tôi tuy là con người mà
không biết công đức của ngài. Nhưng các công đức của ngài lại được các
Dạ-xoa hung bạo, độc ác, uống máu, ăn thịt người kia biết rõ ràng. Ôi bậc
nhân chủ, nay tôi sẽ không còn bày mưu phản bội một bậc giới đức như ngài
nữa!
Rồi vua Kosala cầm gươm thề nguyền thân hữu,
xin lỗi vua Kàsi, và để vua Kàsi nằm ngủ trên long sàng, còn mình nằm ngủ
trên chiếc giường nhỏ.
Khi đêm tàn, mặt trời đã mọc, vua truyền
đánh trống mời tất cả quân lính, đại thần, Bà-la-môn, gia chủ hội họp lại.
Ðứng trước mặt quần thần như đưa mặt trăng rằm lên trên trời cao, vua Kosala
tán thán công đức của vua Silava giữa cả hội chúng, xin lỗi vua Silava, lần
nữa trả lại quốc độ cho vua ấy, và thưa:
- Từ nay trở đi, nếu có nạn trộm cướp khởi
lên cho ngài, tôi xin chịu trách nhiệm. Ngài hãy trị vì quốc độ, còn tôi
canh gác hộ trì.
Nói xong, vua Kosala trị tội kẻ đã vu cáo,
và mang quân đội đi về nước của mình. Còn vua Mahàsilava trang sức, mặc áo
uy nghi, dưới cái lọng trắng, ngồi trên long sàng bằng vàng có chân như con
nai, nhìn ngắm thành quả của mình và suy nghĩ: "Thành quả này và sự cứu sống
sinh mạng của một ngàn đại thần, nếu ta không tinh tấn, thì không có được
chút gì. Chính do sức mạnh tinh tấn, ta không bị hoại diệt, và phục hồi được
danh tiếng đã mất. Ta đã cứu sinh mạng của một ngàn đại thần. Thật sự để chí
hướng không bị hủy hoại, cần phải hết sức tinh tấn. Với người luôn luôn tinh
tấn, quả vị sẽ được thành tựu viên mãn.
Sau khi suy nghĩ như vậy, vua Kàsi đọc bài
kệ này như lời cảm hứng:
Người luôn luôn hy vọng,
Bậc trí không chán nản,
Ta thấy khổ vượt qua,
Ta muốn gì được vậy!
Bồ-tát nói:
- Ôi, với những ai đầy đủ giới đức, quả tinh
tấn sẽ được thành tựu.
Với bài kệ này, Bồ-tát nói lên lời cảm hứng,
trọn đời làm các công đức rồi đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này bậc Ðạo sư thuyết
giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỳ-kheo thối thất tinh tấn chứng
quả A-la-hán. Sau khi kết hợp câu chuyện, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vị đại thần phản bội là
Ðề-bà-đạt-đa, một ngàn đại thần là hội chúng đức Phật và Ðại vương Silava là
Ta vậy.
-ooOoo-

52.CHUYỆN TIỂU JANAKA (Tiền thân Cùla Janaka)#

Hãy tinh tấn, này ngươi!...
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo sư đã
kể về một Tỳ-kheo thối thất tinh tấn. Ở đây, tất cả các sự việc xảy ra, sẽ
được nói đến trong Tiền thân Mahàjanaka (số 539)
Vua ngồi dưới chiếc lọng trắng, nói lên bài
kệ này:
Hãy tinh tấn, này ngươi!
Hiền trí không nhàm chán.
Ta thấy khổ vượt qua,
Từ nước đạt đất liền.
Ở đây, vị Tỷ-kheo thối thất tinh tấn đạt
được quả A-la-hán, và vua Janaka là bậc Chánh Ðẳng Giác.
-ooOoo-

53. CHUYỆN BÌNH RƯỢU ÐẦY (Tiền thân Punnapàti)#

Bình rượu đầy như vậy...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã
kể về rượu thuốc độc. Một thời ở Xá-vệ, một số người nghiện rượu họp nhau
lại và bàn với nhau.
- Tiền mua rượu của chúng ta đã khô cạn, vậy
làm sao bây giờ?
Một tay bợm rượu nói:
- Chớ lo. Ðã có cách.
- Cách gì vậy?
- Cấp Cô Ðộc thường đeo nhẫn, mặc áo đẹp đi
chầu vua. Chúng ta đổ thuốc mê vào trong bình rượu, dựng một quán rượu, ngồi
tại đấy. Khi Cấp Cô Ðộc đi về, hãy mời vị đại triệu phú vào và cho uống rượu
ấy. Khi lão già ấy bị mê say, chúng ta lấy nhẫn, lấy áo và chúng ta sẽ có
tiền mua rượu.
Chúng chấp thuận đề nghị ấy, làm theo như
vậy, và khi vị triệu phú đi về, chúng đến gặp và nói:
- Thưa ngài đại triệu phú, chúng tôi có rượu
rất ngon. hãy uống một chút rồi đi.
Cấp Cô Ðộc nghĩ: "Thánh đệ tử đã chứng quả
Dự lưu làm sao uống rượu được. Dầu không muốn uống, ta cũng sẽ phát hiện âm
mưu của bọn nghiện rượu này". Nghĩ vậy, Cấp Cô Ðộc đi vào quán rượu, nhìn
chúng làm, biết rằng rượu ấy đã bị chúng pha thuốc mê vào, Ông quyết định sẽ
làm cho chúng bắt đầu từ nay phải trốn biệt. Ông nói:
- Này bọn nghiện rượu ác ý kia, các ngươi để
thuốc mê vào trong bình rượu, khiến những người qua lại uống, làm cho họ say
mê rồi cướp của. Các người dựng lên một quán bán rượu, ngồi tại đấy, chỉ tán
thán rượu này. Nhưng không một người nào trong bọn người dám uống. Nếu rượu
này không có pha thuốc mê, thì các ngươi hãy uống trước đi.
Cấp Cô Ðộc làm cho bọn nghiện rượu hoảng sợ,
khiến chúng chạy trốn rồi đi về nhà. Nghĩ rằng việc làm của những tên nghiện
rượu cần phải trình lên đức Như Lai, Cấp Cô Ðộc đi đến, và thưa rõ sự việc.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này gia chủ, lần này, các người nghiện
rượu lừa dối gia chủ. Trong quá khứ, chúng cũng đã lừa dối các bậc hiền trí.
Nói vậy xong, với lời yêu cầu của vị gia
chủ, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì nước
Ba-la-nại. Bồ-tát sanh làm người triệu phú ở Ba-la-nại. Lúc bấy giờ, những
người nghiện rượu này, sau khi bàn bạc với nhau, đã pha rượu với thuốc mê,
chờ người triệu phú Ba-la-nại đi đến, chúng đón ông và nói những lời tương
tự. Người triệu phú, dầu không muốn uống, cũng muốn phát giác chúng, nên đi
vào, nhìn chúng làm, biết chúng có mưu mô gì, quyết định làm cho chúng phải
trốn chạy, nên nói:
- Này các bạn uống rượu, nếu uống rượu xong
rồi mà đi đến cung vua, thật không thích đáng. Ðến chầu vua xong, khi trở
về, tôi sẽ tính việc này. Các ngươi hãy ngồi tại đây.
Người triệu phú đi vào chầu vua rồi trở về.
Các người nghiện rượu mời ông vào. Vị triệu phú đi vào, nhìn những bình rượu
bị pha thuốc mê, liền nói như sau:
- Này các bạn uống rượu, việc các bạn làm ta
không ưa thích. Các bình rượu của các bạn vẫn còn đầy tràn. Các bạn chỉ có
tán thán rượu, nhưng không uống một giọt. Nếu như rượu này ngon thiệt, thì
các bạn đã uống rồi. Rượu này đã được các bạn pha thuốc mê vào.
Và để đánh tan ý định của chúng, Bồ-tát đọc
bài kệ này:
Bình rượu đầy như vậy,
Rượu đâu có đổi khác,
Vì lý do ta biết,
Rượu này không phải tốt.
Bồ-tát trọn đời làm các công đức như bố
thí..., rồi đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận
diện Tiền thân:
- Thời ấy những người nghiện rượu kia là
những người nghiện rượu ngày nay, và vị triệu phú Ba-la-nại là Ta vậy.
-ooOoo-

54. CHUYỆN TRÁI CÂY (Tiền thân Phala)#

Cây này không khó leo...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư đã kể về một nam cư sĩ giỏi về trái cây. Truyền thuyết nói rằng, một điền
chủ trú ở Xá-vệ mời chúng Tăng với đức Phật là vị dẫn đầu ngồi trong ngôi
vườn của mình, cúng dường cháo và bánh xong, điền chủ bảo ngưồi giữ vườn:
- Hãy đưa các Tỷ-kheo đi bộ trong vườn và
cúng dường các loại trái như xoài...
Người làm vườn vâng theo lời dặn, đưa chúng
Tỷ-kheo đi bộ trong khu vườn, nhìn lên cây, và biết trái này còn sống, trái
này hơi chín, trái này thiệt chín. Ðiều gì kẻ ấy nói đều đúng như vậy. Các
Tỷ-kheo thưa với đức Như Lai:
- Bạch Thế Tôn, người giữ vườn này thật giỏi
về các loại trái cây. Ðứng dưới đất nhìn lên cây, kẻ ấy biết trái này còn
sống, trái này hơi chín, trái này thiệt chín.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ có người
giữ vườn này giỏi trái cây. Trong quá khứ, cũng có những bậc hiền trí giỏi
về trái cây.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào gia đình một triệu phú, khi lớn lên, làm nghề đi
buôn với năm trăm cỗ xe. Một thời, Bồ-tát đi đến một ngôi rừng rất lớn, đứng
ở đầu rừng, họp đoàn người lại và nói:
- Trong rừng này có những cây độc. Phàm gặp
những lá gì, bông gì, trái gì mà trước kia các ngươi chưa từng ăn, chớ ăn
trước khi hỏi ta.
Bọn họ vâng theo lời dặn và đi vào rừng. Ðầu
rừng có một cửa làng, tại đấy có một cây gọi là cây Kimphala. Thân cây, cành
cây, lá cây và trái của cây màu giống như cây xoài. Không những chỉ về màu
sắc, hình dáng, mà cả về mùi thơm và vị ngọt, các trái sống và trái chín
đều giống như trái xoài. Nhưng nếu ai ăn chúng, thì giống như thuốc độc, lập
tức bị chết ngay.
Một số người tham ăn đi trước, tưởng đó là
cây xoài, bèn ăn trái. Một số khác quyết định hỏi người trưởng đoàn lữ hành
rồi mới ăn, họ cầm trái cây trong tay và đứng chờ. Khi vị trưởng đoàn lữ
hành đến, họ hỏi có thể ăn những trái cây ấy không. Bồ-tát biết rằng cây ấy
không phải cây xoài, nên nói:
- Cây hình dáng giống cây xoài này là cây
độc, chớ ăn!
Sau khi ngăn chận họ, Bồ-tát làm cho những
người đã ăn phải nôn ra, và cho họ uống bốn loại mật để chữa họ lành bệnh.
Lúc trước, dưới gốc cây này, đã có những
đoàn lữ hành đến tạm trú, ăn những trái cây độc mà họ tưởng lầm trái xoài và
mạng chung. Ngày sau đó, dân làng đi ra, thấy những người chết, liền cầm
chân họ, quăng vào một chỗ kín, lấy tất cả sở hữu của họ với các cỗ xe rồi
đem đi.
Ngay vào ngày đoàn lữ hành này mới đến, dân
làng nghe tin có người trúng độc. Lúc trời mới rạng đông, họ vội vàng đi đến
gốc cây ấy, và nói với nhau:
- Các con bò sẽ là của ta, cỗ xe sẽ là của
ta, hàng hoá sẽ là của ta!
Khi thấy cả đoàn người ấy còn lành mạnh, họ
liền hỏi:
- Làm sao các ông biết cây này không phải
cây xoài?
Họ trả lời:
- Chúng tôi không biết. Nhưng trưởng đoàn lữ
hành của chúng tôi biết.
Dân làng đến hỏi Bồ-tát:
- Thưa bậc hiền trí, làm thế nào ngài biết
được?
- Có hai điều báo cho ta biết, Bồ-tát đáp.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ:
Cây này không khó leo,
Không xa làng bao nhiêu,
Do vậy nên ta biết:
Cây này quả không tốt!
Sau khi thuyết pháp cho đại chúng, Bồ-tát đi
đến chỗ an toàn.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy thuở xưa các bậc
hiền trí cũng giỏi về trái cây.
Sau khi thuyết pháp thoại này và kết hợp hai
mẩu chuyện, bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, đoàn lữ hành là hội chúng đức
Phật, còn người trưởng đoàn lữ hành là Ta vậy.
-ooOoo-

55. CHUYỆN NĂM VŨ KHÍ (Tiền thân Pãncàyudha)#

Người với tâm ly tham...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
sư đã kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Thế Tôn cho gọi Tỷ-kheo ấy và
hỏi:
- Có thật chăng, này Tỷ-kheo, ông thối thất
tinh tấn?
- Thưa có thật, bạch Thế Tôn.
- Thưở xưa, trong những trường hợp cần phải
tinh tấn, bậc hiền trí đã tinh tấn, do vậy, đã đạt được vương vị.
Nói vậy xong, bậc Ðạo sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamdatta trị vì nước
Ba-la-nại. Bồ-tát nhập thai vào làm con hoàng hậu. Ðến ngày đặt tên, sau khi
mời tám trăm vị Bà-la-môn và cúng dường những vị này mọi dục lạc, vua và
hoàng hậu hỏi họ về các tướng. Các Bà-la-môn thiện xảo về tướng, thấy được
sự thành tựu các tướng của hoàng tử, đã trả lời:
- Thưa Ðại vương, hoàng tử đầy đủ các công
đức, sau khi ngài qua đời, sẽ lên ngôi vua, được danh vọng lẫy lừng với tài
sử dụng năm loại vũ khí, sẽ trở thành con người tối thượng ở toàn cõi
Diêm-phù-đề.
Nghe lời nói của các Bà-la-môn, vua và hoàng
hậu đặt tên cho hoàng tử là Pãncayudhakumara (hoàng tử có năm vũ khí). Ðến
lúc trưởng thành, vừa mười sáu tuổi, vua cho gọi hoàng tử và bảo:
- Này con thân, con hãy đi học nghề!
- Thưa Thiên tử, con học với ai?
- Hãy đi, con thân, con sẽ học với bậc thầy
có danh tiếng mọi phương tại thành Takkasilà, trong nước Gandhàra. Và đây là
tiền con sẽ trả cho thầy.
Nói xong, vua giao cho một ngàn đồng tiền
vàng và đưa hoàng tử ra đi. Hoàng tử đến đấy, học nghề xong, được thầy cho
năm loại vũ khí. Sau đó đảnh lễ thầy, hoàng tử ra khỏi thành Takkasilà, đeo
theo năm loại vũ khí và lên đường trở về Ba-la-nại. Giữa đường, hoàng tử vừa
đến một khu rừng, tại đấy có một Dạ-xoa tên là Silesaloma (Lông dính) đang
ngự trị. Từ đầu rừng, người đi đường thấy hoàng tử liền ngăn chận chàng lại,
bảo rằng trong rừng có Dạ-xoa tên là Silesaloma ngự trị sẽ giết hại mọi
người khi nó thấy họ. Hoàng tử tự tin mình, không chút sợ hãi như con sư tử
lông bờm, vẫn đi vào ngôi rừng.
Gặp nhau ở giữa khu rừng ấy, con Dạ-xoa hiện
ra trước hoàng tử với thân cao như cây Ta-la (cọ dừa), với đầu lớn như ngôi
nhà có nóc nhọn, với cặp mắt to như hai cái bát, với hai nanh như hai búp cây
củ cải, với mỏ như diều hâu, với bụng có nhiều đốm đỏ tía, với bàn tay bàn
chân xanh lè, Dạ-xoa nói:
- Ngươi đi đâu đấy? Hãy đứng lại. Ngươi là
món ăn của ta!
Hoàng tử nói:
- Này Dạ-xoa ta tin ở ta nên vào đây, ngươi
thật là liều mạng. Nếu ngươi đến gần ta, ta sẽ bắn ngươi với mũi tên có tẩm
thuốc độc và hạ ngươi tại chỗ.
Sau khi dọa nạt, hoàng tử lắp tên có tẩm
thuốc độc và bắn, bắn liên tục cho đến năm mươi mũi tên. Tất cả đều dính vào
lông Dạ-xoa, nó gạt năm mươi mũi tên rơi xuống chân nó, xong liền xông tới
hoàng tử. Hoàng tử lại dọa rút gươm chém. Cây gươm dài ba mươi hai đốt cũng
dính vào lông Dạ-xoa. Rồi hoàng tử đâm ngọn giáo vào nó. Ngọn giáo cũng dính
chặt vào đó.
Biết khả năng bắt dính của Dạ-xoa, hoàng tử
lấy quả chùy đập nó. Quả chùy cũng dính vào lông. Hoàng tử nói:
- Này Dạ-xoa, người chưa nghe ta là hoàng tử
có năm loại vũ khí. Khi ta mạo hiểm đi vào khu rừng này do ngươi ngự trị, ta
đặt lòng tin không phải ở cung tên ... mà hoàn toàn đặt lòng tin vào ta. Nay
ta sẽ đánh ngươi, chỉ một cú đánh, khiến ngươi trở thành cát bụi!
Sau khi hét lên, hoàng tử dùng bàn tay phải
đánh Dạ-xoa, bàn tay dính vào lông, hoàng tử đánh với bàn tay trái, tay trái
cũng dính. Hoàng tử đá với chân phải, chân phải cũng dính, chân trái cũng
dính. Hoàng tử lại la to:
- Ta sẽ đập ngươi tan như cát bụi.
Và chàng lấy đầu đánh nó; đầu cũng dính vào
lông. Bấy giờ hoàng tử bị mắc dính năm phần vào năm chỗ. Tuy vậy, hoàng tử
vẫn không kinh hãi, không chút run sợ, Dạ-xoa suy nghĩ: "Ðây không phải là
một người bình thường, mà là người phi thường, một con sư tử giữa loài
người. Dầu bị một Dạ-xoa như ta bắt, nó vẫn không run sợ. Trước đây, từ khi
ta bắt đầu giết người đi trên đường này, chua bao giờ ta thấy một người như
vậy! Sao nó không sợ hãi?" Nghĩ vậy, Dạ-xoa không dám ăn thịt hoàng tử và
hỏi:
- Này thanh niên Bà-la-môn, vì sao chàng
không sợ hãi?
- Này Dạ-xoa, ta tin ở ta nên ta không sợ
hãi. Ta biết mỗi cá thể thế nào cũng đi đến cái chết. Nhưng trong bụng ta,
ta có vũ khí kim cang. Nếu ngươi ăn ta, ngươi không thể tiêu hóa vũ khí ấy.
Vũ khí ấy sẽ cắt nội tạng ngươi thành từng miếng nhỏ, và chấm dứt mạng sống
của ngươi. Như vậy, cả hai sẽ bị tiêu diệt. Vì lý do này, ta không sợ hãi!
Theo truyền thuyết, ở đây hoàng tử muốn ám
chỉ vũ khí trí tuệ trong nội tạng. Nghe hoàng tử nói vậy, Dọa-xoa suy nghĩ:
"Thanh niên Bà-la-môn này chỉ nói sự thật. Chỉ một miếng thịt nhỏ bằng hạt
đậu từ thân thể của con sư tử giữa loài người này, bụng ta cũng không thê
tiêu hóa được. Ta hãy thả nó ra". Vì sợ chết, nó thả hoàng tử ra và nói:
- Này thanh niên Bà-la-môn, chàng là con sư
tử giữa loài người. Ta sẽ không ăn thịt chàng đâu. Nay chàng được giải thoát
khỏi tay ta như mặt trăng thoát khỏi miệng Ràhu (vua thần A-tu-la). Hãy ra
đi và hãy mang lại hoan hỷ tốt lành cho bà con, bè bạn và đất nước.
Bồ-tát nói:
- Này Dạ-xoa ta sẽ đi. Nhưng trước đây, do
làm nhiều điều bất thiện, ngươi sanh làm Dạ-xoa độc ác, tay vấy máu, ăn
thịt, uống máu người. Nếu nay, trong thời hiện tại, ngươi vẫn làm điều bất
thiện nữa, thì ngươi sẽ đi từ cảnh tối tăm này đến cảnh tối tăm khác. Nay
ngươi đã gặp ta, ngươi không thể làm điều bất thiện nữa. Hãy biết rằng ai
sát sanh sẽ bị đọa vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la. Nếu được
sanh làm người thì tội ác ấy sẽ đưa đến yểu mạng.
Với cách này và nhiều cách khác, Bồ-tát
thuyết về sự nguy hiểm của năm ác giới và lợi ích của năm thiện giới, làm
cho Dạ-xoa sợ hãi bằng nhiều hình thức như thuyết pháp, nhiếp phục... khiến
Dạ-xoa trở thành nhu thuận, an trú trong Năm giới. Rồi biến Dạ-xoa thành vị
thần ở khu rừng, với quyền được thâu thuế (được cúng tế), Bồ-tát khuyên nó
không được phóng dật. Sau đó, Bồ-tát đi ra khỏi khu rừng, báo tin cho những
người ở tại đầu rừng tỏ tường sự việc, rồi nai nịt với năm loại vũ khí, ngài
đi đến Ba-la-nại, gặp lại mẹ cha.
Sau một thời gian lên ngôi vua, trị vì quốc
độ đúng pháp, ngài làm các công đức như bố thí... rồi đi theo nghiệp của
mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này xong, bậc Chánh
Ðẳng Giác đọc bài kệ:
Người với tâm ly tham,
Với ý cũng ly tham,
Tu tập theo thiện pháp,
Ðạt an ổn khổ ách,
Và tiếp tục chứng đạt,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Như vậy, sau khi bậc Ðạo Sư thuyết pháp đưa
đỉnh cao nhất là quả A-la-hán, Ngài giảng Bốn Sự thật. Cuối bài giảng,
Tỷ-kheo ấy chứng quả A-la-hán. Bậc Ðạo sư kết hợp hai câu chuyện, và nhận
diện Tiền thân:
- Thời ấy, Dạ-xoa là tướng cướp đeo vòng
ngón tay Angulimàla, và hoàng tử với năm vũ khí là Ta vậy.
-ooOoo-

56. CHUYỆN KHỐI VÀNG (Tiền thân Kancanakkhandha)#

Người với tâm hoan hỷ...
Câu chuyện này, khi ở tại Xá-vệ, bậc Ðạo sư
kể về một Tỷ-kheo. Theo truyền thuyết, một thiện nam tử ở Xá-vệ, sau khi
nghe theo bậc Ðạo Sư thuyết pháp, gởi cả tâm tư vào Ba ngôi báu, và xuất
gia. Hai vị sư trưởng và giáo thọ sư dạy về Giới:
- Này Hiền giả, đây là giới, một loại, hai
loại, ba loại, bốn loại, năm loại, sáu loại...nhiều loại. Ðây là tiểu giới,
đây là trung giới, đây là Ðại giới. Ðây là giới hộ trì giới bổn, đây là giới
hộ trì các căn, đây là giới thanh tịnh mạng, đâ là Giới sử dụng các đồ vật.
Tỷ-kheo trẻ ấy suy nghĩ: "Giới này thật quá
nhiều. Với chừng ấy giới được chấp thuận, ta không thể nào giữ trọn. Không
thể giữ trọn đủ giới, thì xuất gia có lợi ích gì? Ta hãy trở lại làm gia
chủ, làm các công đức như bố thí...và nuôi dưỡng vợ con!" Nghĩ vậy, Tỷ-kheo
thưa:
- Thưa các Tôn giả, con không có thể giữ
Giới. Không thể giữ Giới, thì xuất gia có lợi ích gì? Con sẽ hoàn tục. Xin
các Tôn giả hãy lấy lại y bát.
Sư trưởng nói:
- Nếu sự việc là như vậy, thì Hiền giả hãy
đến đảnh lễ bậc Ðạo sư.
Các vị ấy đưa Tỷ-kheo đến Pháp đường, gặp
bậc Ðạo Sư. Thấy vậy, Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, sao các ông đem một
Tỷ-kheo đến đây mà vị ấy không muốn?
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này nói không thể
giữ Giới, trả lại y bát, nên chúng con dẫn vị ấy đến đây.
- Này các Tỷ-kheo, sao ông lại nói quá nhiều
Giới cho Tỷ-kheo này? Bao nhiêu giới vị ấy có thể giữ được, vị ấy giữ từng
ấy giới. Bắt đầu từ nay, các ông chớ nói nữa. Ở đây, ta sẽ biết những gì nên
nói.
Rồi bậc Ðạo Sư nói với Tỷ-kheo ấy:
- Hãy đến, này Tỷ-kheo! Lo gì đến nhiều giới
vậy? Ông có giữ được ba giới không?
- Con có thể giữ được bạch Thế Tôn.
- Vậy bắt đầu từ nay, ông hãy giữ ba cửa,
cửa về thân, cửa về lời, cửa về ý. Chớ làm điều ác về thân, về lời, về ý.
Hãy tinh tấn lên, chớ hoàn tục! Chỉ giữ ba giới này thôi.
Cho đến như vậy, Tỷ-kheo ấy hết sức hoan hỷ.
Sau khi đảnh lễ bậc Ðạo sư, Tỷ-kheo ấy đi về
với vị sư trưởng và Giáo thọ sư của mình, giữ gìn đầy đủ ba giới ấy. Tỷ-kheo
ấy suy nghĩ: "Giới được vị sư trưởng và Giáo thọ sư nói với ta. Vì tự mình
không phải là Phật, các vị ấy không thể làm cho ta hiểu được từng ấy giới.
Bậc Chánh Ðẳng Giác, vì tự mình khéo giác ngộ Chánh Giác, là vị Pháp vương
vô thượng. Ngài tóm thâu bao nhiêu giới trong ba cửa và bảo ta gìn giữ
chúng. Bậc Ðạo Sư thật sự là một hỗ trợ cho ta vậy".
Tỷ-kheo ấy phát triển Thiền quán và không
bao lâu chứng quả A-la-hán. Biết được tin này, các Tỷ-kheo họp tại pháp
đường, ngồi nói về công đức của bậc Ðạo Sư:
- Này các Hiền giả Tỷ-kheo này không thể giữ
Giới, muốn hoàn tục. Bậc Ðạo Sư tóm thâu tất cả Giới vào ba phần, bảo
Tỷ-kheo ấy giữ chúng, và giúp vị ấy đạt được quả A-la-hán.
Bậc Ðạo sư đến và hỏi các Tỷ-kheo đang ngồi
nói chuyện gì. Ðược họ cho biết về đề tài câu chuyện, Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, một vật hết sức nặng, nếu
được chia thành từng phần, cũng trở thành nhẹ. Thuở xưa, các bậc hiền trí
được một khối vàng lớn, không thể nhấc lên nổi, đã chia thành từng phần, rồi
nhấc lên nổi và đem vàng đi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm người cày ruộng tại một ngôi làng. Ngày kia,
Bồ-tát đang cày trên một thửa ruộng, thửa ruộng nầy trước đây là một ngôi
làng bị bỏ hoang, vì trong làng có một vị triệu phú đã chết và chôn tại đó
một đống vàng, lớn bằng bắp vế người và cao đến bốn khuỷu tay, lưỡi cày của
Bồ-tát mắc phải đống vàng ấy nên đứng khựng lại. Nghĩ rằng đó là rễ tỏa
rộng của cây, Bồ-tát đào đất lên, nhưng lại thấy được khối vàng. Bồ-tát chùi
đất thật sạch và cày tiếp cho xong ngày ấy.
Khi mặt trời lặn, để ách và cày một bên,
Bồ-tát nghĩ đến phương cách đem khối vàng đi. Nhưng Bồ-tát không nhấc nó lên
được. Bồ-tát ngồi và nghĩ: "Ðể phần như vậy, ta sẽ nuôi sống bản thân của
ta. Để phần như vậy, ta sẽ chôn giấu. Ðể phần như vậy, ta sẽ làm các công
việc. Ðể phần như vậy, ta sẽ làm các công đức như bố thí..."
Rồi Bồ-tát chia thành bốn phần. Khi được
Bồ-tát chia như vậy, khối vàng ấy trở thành nhẹ. Bồ-tát nhấc vàng lên được,
đem về nhà, chia thành bốn phần. Bồ-tát trọn đời làm các công đức như bố thí
cùng nhiều thiện sự khác và đi theo nghiệp của mình.
*
Khi kể câu chuyện này xong, bậc Chánh Ðẳng
Giác đọc bài kệ:
Người với tâm hoan hỷ,
Với ý cũng hoan hỷ,
Tu tập theo thiện pháp,
Ðạt an ổn khổ ách,
Và tiếp tục chứng đạt
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Rồi sau khi hướng lời thuyết pháp lên đỉnh
cao là quả A-la-hán, bậc Ðạo sư kết hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền
thân:
- Thời ấy, người được khối vàng là Ta vậy.
-ooOoo-

57. CHUYỆN KHỈ CHÚA (Tiền thân Vànarinda)#

Ai đủ bốn pháp này...,
Câu chuyện này, khi ở tại Trúc Lâm, bậc Ðạo
Sư đã kể về âm mưu của Ðề-bà-đạt-đa muốn ám hại Ngài. Lúc bây giờ, khi nghe
Ðề-bà-đạt-đa âm mưu ám hại, bậc Ðạo Sư liền nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Ðề-bà-đạt-đa mới âm mưu ám hại Ta. Thuở trước, kẻ ấy cũng đã âm mưu, nhưng
không thể làm được.
Sau khi nói vậy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị vì xứ
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con khỉ. Nó to lớn như một con ngựa con, có sức
mạnh và sống một mình bên bờ sông. Giữa con sông ấy, có một hòn đảo, trên
hòn đảo có nhiều loại cây ăn trái như xoài, mít... Con khỉ mạnh như voi, đầy
đủ sức lực.
Mỗi sáng, nó nhảy từ bờ sông bên này đến một
hòn đảo ở giữa sông, rồi từ hòn đảo ấy, nó lại nhảy đến hòn đảo. Tại đấy, nó
ăn các loại trái, và đến chiều, với phương tiện cũ, nó trở về chỗ ở của
mình. Ngày qua ngày, con khỉ sống nếp sống như vậy.
Lúc bấy giờ, có hai vợ chồng con cá sấu sống
trong sông ấy. Thấy con khỉ đi qua đi lại, vợ con cá sấu đang có thai khởi
lên lòng tham muốn ăn thịt quả tim con khỉ, bèn nói với chồng:
- Này chàng, em thèm ăn thịt quả tim con khỉ
chúa này quá.
Sấu đực nói:
- Thật lành thay, em sẽ được như ý.
Sấu đực suy nghĩ: "Chiều nay, khi con khỉ từ
hòn đảo về, ta sẽ bắt nó!".
Sấu đực đến nằm chờ trên hòn đá. Con khỉ cả
ngày lang thang trên đảo, vào buổi chiều, nó đứng trên hòn đảo, nhìn hòn đá
và nghĩ: "Hòn đá hôm nay có vẻ cao hơn, vì lý do gì?". Bồ-tát luôn luôn khéo
đo lường. Nhìn tầm cao của hòn đá và tầm cao của nước, Bồ-tát suy nghĩ: "Hôm
nay, nước con sông này không giảm cũng không tăng. Nhưng hòn đá này lại có
vẻ to hơn. Rất có thể, con cá sấu đang nằm với mục đích bắt ta tại chỗ ấy".
Ðể tìm sự việc này, con khỉ vẫn đứng tại chỗ ấy, làm bộ như nói với hòn đá,
gọi lớn:
- Này bạn hòn đá!
Và khỉ không được trả lời. Khỉ gọi đến ba
lần:
- Này bạn hòn đá!
Hòn đaù vẫn không trả lời. Con khỉ nói:
- Này bạn hòn đá, sao hôm nay bạn không trả
lời ta?
Con cá sấu suy nghĩ: "Như vậy, trong những
ngày trước, hòn đá này đã trả lời con khỉ chúa. Vậy nay ta sẽ trả lời nó".
Con sấu nói:
- Này bạn khỉ chúa, cái gì vậy?
- Ngươi là ai?
- Ta là cá sấu.
- Ngươi nằm đó vì mục đích gì?
- Ðể bắt ngươi và ăn quả tim của ngươi.
Con khỉ suy nghĩ: "Ta không có đường đi nào
khác. Nay ta phải lừa dối con cá sấu này". Vì thế khỉ nói:
- Này bạn cá sấu, ta sẽ chịu đầu hàng bạn
thôi. Bạn hãy há miệng ra, và khi ta nhảy đến gần, bạn sẽ bắt ta.
Khi con cá sấu há miệng, thì tự nhiên mắt nó
nhắm lại. Cá sấu không nghĩ đến mưu kế này, liền há miệng ra, và mắt nó nhắm
lại, từ từ nằm xuống. Con khỉ đã biết tình hình như vậy, từ nơi hòn đảo nhảy
qua, đạp trên đầu con cá sấu, rồi từ đầu con cá sấu lại nhanh như chớp nhảy
qua đứng ở bờ bên kia. Con cá sấu thấy sự kỳ diệu này, nghĩ rằng con khỉ
chúa này đã làm một việc hết sức phi thường, nó nói:
- Này, ngài khỉ chúa, ai đầy đủ bốn pháp ở
trong đời, sẽ nhiếp phục được kẻ thù. Ta nghĩ rằng ngài có đủ tất cả trong
nội tâm.
Nói vậy xong, cá sấu đọc bài kệ này:
Ai đủ bốn pháp này,
Này khỉ chúa, như ngài:
Chân thật và nghĩ xa,
Cương nghị và vô úy,
Ngài có bốn pháp này,
Ðánh bại được quân thù!
Như vậy, con cá sấu tán thán khỉ chúa rồi đi
về trú xứ của mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay
Ðề-bà-đạt-đa mới âm mưu ám hại Ta, trong quá khứ, kẻ ấy cũng đã làm như vậy.
Sau khi thuyết pháp thoại này, và kết hợp
hai mẩu chuyện, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, cá sấu là Ðề bà-đạt-đa, vợ cá
sấu là Cincamanavika, còn khỉ chúa là Ta vậy.
-ooOoo-

58. CHUYỆN BA PHÁP (Tiền thân Tayodhammà)#

Ai đầy đủ ba pháp...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Ðạo Sư
đã kể về âm mưu ám hại.
*
Thuở xưa, khi vua Brahnadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Ðề-bà-đạt-đa sanh ra làm con khỉ, ở gần dãy Hy-mã-lạp Sơn, lãnh
đạo một đoàn khỉ toàn do nó sanh ra. Vì sợ chúng lớn lên sẽ tranh giành
quyền lãnh đạo đàn khỉ này, con khỉ đầu đàn liền dùng răng cắn và thiến
chúng, khiến hột giống bị hoại diệt.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát cũng do duyên con khỉ
ấy, nhập thai vào bụng một con khỉ cái. Con khỉ cái biết thai đã thành, muốn
bảo vệ thai của mình, bèn đến một ngôi rừng dưới chân núi. Khi thai đến đúng
ngày, nó sinh ra Bồ-tát. Bồ-tát lớn lên, đến tuổi trưởng thành, đầy đủ sức
mạnh phi thường. Một hôm, Bồ-tát hỏi mẹ:
- Thưa mẹ, cha con đâu?
- Này con thân, cha con đang sống lãnh đạo
đàn khỉ dưới chân núi.
- Thưa mẹ, hãy đưa con đến gần cha con.
- Này con thân, mẹ không thể đưa con đến gần
cha con được. Cha con, vì sợ các khỉ con sẽ tranh giành lãnh đạo đàn khỉ,
nên dùng răng cắn và thiến chúng, khiến hột giống hoại diệt.
- Thưa mẹ, hãy đưa con lại đấy. Con sẽ có
cách!
Khỉ mẹ liền đem khỉ con đến gần khỉ cha. Vừa
thấy con trai mình, con khỉ cha nghĩ rằng rồi đây con mình sẽ không cho mình
lãnh đạo đàn khỉ, nay mình cần phải giết con bằng cách giả ôm hôn, rồi siết
con thật chặt cho đến chết. Nghĩ vậy, nó nói:
- Hãy đến, này con thân, lâu nay con ở đâu?
Nói vậy, nó ôm hôn và siết khỉ con thật
chặt. Nhưng Bồ-tát, với sức mạnh như voi đã siết chặt trở lại, khiến các
xương khỉ cha như gãy nát. Khỉ cha suy nghĩ: "Con này, khi lớn lên sẽ giết
ta. Với phương tiện nào, ta hãy giết nó trước đã! À, cách đây không xa, một
hồ nước có quỷ là La-sát ở. Tại đấy, ta sẽ cho quỷ La-sát ăn nó!". Nghĩ vậy,
khỉ cha nói:
- Này con thân, ta nay đã già. Ta sẽ giao
cho con lãnh đạo đàn khỉ này. Hôm nay, ta sẽ phong vương cho con. Tại chỗ
nọ, có một hồ nước, trong hồ có hai loài hoa súng, ba loại hoa sen xanh, năm
loại hoa sen trắng. Hãy đi hái và đem các hoa ấy về.
Bồ-tát nói:
- Lành thay, cha thân. Con sẽ mang hoa lại.
Nói xong, Bồ-tát ra đi, nhưng không xuống hồ
gấp. Xung quanh hồ, Bồ-tát quan sát có dấu chân, chỉ có dấu chân xuống,
không có dấu chân lên, Bồ-tát suy nghĩ: "Cái hồ này phải có quỷ La-sát trú
ẩn! Cha ta không thể tự mình giết ta, muốn quỷ La-sát ăn thịt ta. Ta sẽ
không đi xuống hồ này, vẫn lấy được hoa như thường".
Bồ-tát đi đến một chỗ không có nước, lấy đà,
nhảy từ bờ bên này, hái hai cái hoa mọc cao trên mặt nước, mà không dính
nước, rồi hạ xuống bờ bên kia. Rối từ bờ bên kia, Bồ-tát nhảy đến bờ bên
này, theo phương thức trước, bẻ hai cái hoa. Cứ như thế, từ cả hai bên bờ,
Bồ-tát hái được nhiều hoa, chất thành hai đống, nhưng vẫn không xuống chỗ
trú xứ của quỷ La-sát.
Ðến khi không thể nhảy qua hồ nưóc hái hoa
được nữa, Bồ-tát gom lấy các hoa ấy, chất thành đống, để tại một chỗ. Con
quỷ La-sát kinh ngạc suy nghĩ: "Lâu nay, chưa bao giờ ta thấy một người nào
sáng suốt, kỳ diệu như vậy. Các hoa sen được con khỉ này hái như ý muốn, mà
nó vẫn không xuống trú xứ của ta". Rồi quỷ La-sát rẽ nước đi lên, đến bên
Bồ-tát và nói:
- Này khỉ chúa, trong hồ này, ai có được ba
pháp, vị ấy sẽ chiến thắng kẻ thù. Ta nghĩ rằng tất cả pháp ấy ngài đếu có
đủ.
Quỷ La-sát đọc bài kệ:
Ai đầy đủ ba pháp,
Này khỉ chúa như ngài,
Thiện xảo và anh hùng,
Ðầy đủ cả trí tuệ,
Ngài đủ ba pháp ấy,
Ðánh bại được kẻ thù.
Như vậy, quỷ La-sát trong hồ ấy đã tán thán
Bồ-tát với bài kệ này và hỏi:
- Ngài lấy các hoa này làm gì?
- Cha ta muốn phong vương cho ta, do lý do
này, ta lấy hoa.
- Một bậc sáng suốt như ngài không nên hái
hoa và mang hoa, tôi sẽ hái và mang cho ngài.
Rồi nó nhổ hoa lên và mang hoa đi theo sau
lưng Bồ-tát. Con khỉ cha ở đằng xa thấy Bồ-tát, liền nghĩ: "Ta giục nó đi để
quỷ La-sát ăn thịt nó. Nay nó lại an toàn trở về với quỷ La-sát mang hoa cho
nó! Ta bị nguy hại rồi".
Nghĩ đến đó, quả tim nó vỡ thành bảy mảnh và
nó mạng chung tại chỗ. Ðàn khỉ còn lại hội họp và tôn Bồ-tát lên làm vua.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết
hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, chúa của đàn khỉ là
Ðề-bà-đạt-đa, còn con trai của chúa đàn khỉ là Ta vậy.
-ooOoo-

59. CHUYỆN TIẾNG TRỐNG (Tiền thân Bherivàda)#

Ðánh, đánh, chớ đánh quá!...
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư đã kể về một Tỳ-kheo khó bảo. Bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo ấy:
- Có thật chăng, ông là người khó bảo?
- Thưa có thật, bạch Thế Tôn.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ nay ông mới
khó bảo. Trong thời quá khứ, ông cũng đã khó bảo rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm người đánh trống, và sống ở làng. Khi nghe có
lễ tế các vì sao ở Ba-la-nại, người đánh trống suy nghĩ: "Ta sẽ đánh trống
cho quần chúng tụ hội và sẽ được tiền". Nghĩ vậy, người ấy đem con đi theo,
đến Ba-la-nại. Tại chỗ ấy, hai cha con đánh trống và được nhiều tiền. Mang
theo tiền, trên đường về làng của mình, phải ngang qua một khu rừng có ăn
cướp, người cha ngăn chận con trai đang miên man đánh trống liên hồi:
- Này con thân, chớ có đánh trống như vậy.
Chỉ đánh từng hồi một thôi, như trống của một chủ tướng vậy mà.
Dầu bị cha ngăn, đứa con vẫn nói:
- Với tiếng trống, ta sẽ đuổi bọn cướp chạy.
Nên nó vẫn đánh trống liên hồi.
Bọn cướp ban đầu nghe tiếng trống, nghĩ là
tiếng trống của vị chủ tướng, nên chạy trốn. Nhưng khi nghe tiếng trống một
mặt cứ liên hồi, biết không phải là tiếng trống của một chủ tướng, chúng
liền trở lại tìm hiểu. Thấy chỉ có hai người, bọn chúng liền xông ra đánh
cướp hết cả. Người cha than:
- Vì con đánh trống liên hồi, nên con làm
mất tất cả tiền thâu được một cách khó khăn.
Nói xong, người cha đọc bài kệ:
Ðánh, đánh, chớ đánh quá!
Ðánh quá thành không tốt,
Do đánh, được của tiền,
Do đánh, tiền mất hết.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết
hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, đứa con trai là Tỷ-kheo khó
bảo này, còn người cha là Ta vậy.
-ooOoo-

60. CHUYỆN THỔI TÙ VÀ (Tiền thân Sankhadhama)#

Thổi, thổi, chớ thổi quá!...
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư đã kể về một Tỷ-kheo khó bảo (như trước).
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở
Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một người thổi tù và, cùng cha đi
đến chỗ tế lễ các vì sao ở Ba-la-nại. Do thổi tù và, hai cha con được nhiều
tiền. Khi về đến một khu rừng có ăn cướp, người con ngăn cha chớ có thổi tù
và liên hồi. Người cha nói:
- Với tiếng tù và, ta sẽ đuổi bọn cướp chạy.
Nên ông cứ thổi liên hồi. Bọn ăn cướp trốn ở
đó trước, xông ra cướp của. Người con nói lên bài kệ:
Thổi, thổi, chớ thổi quá!
Thổi quá thành không tốt.
Do thổi, được tài sản,
Do thổi, bay hết tiền.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết
hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người cha là Tỷ-kheo khó bảo
này, còn người con là Ta vậy.