Chuyện Tiền Thân · Jātaka

546. CHUYỆN

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 74

CHUYỆN#

Jātaka group 74

Chương XXII

Đại Phẩm

(tiếp theo)#

-ooOoo-

546. CHUYỆN

ĐƯỜNG HẦM VĨ ĐẠI

(Tiền thân Mah à-Ummagga)#

Vua Brah-ma-dát xứ Pãn-ca. . . .,

Trong khi trú tại Kỳ-Viên, bậc Đạo Sư kể

chuyện n ày liên quan đến sự Vi ên

mãn của Trí tuệ Tối thắng.

Một ngày kia, các Tỷ kheo ngồi tại Chánh pháp

đường, mi êu tả Trí tuệ Tối thắng của

đức Phật:

- Này các hiền giả, đức Phật Chánh Đẳng Giác

có Thắng trí thật quảng bác, linh lợi, tinh anh, sắc sảo, đánh tan mọi t à

thuyết, chính nhờ thần lực đại trí của Ng ài,

sau khi quy phục Bà-la-môn Kùtadanta và nhiều Bà-la-môn khác, các ẩn sĩ

Sàbhiya và nhiều ẩn sĩ khác, cường đạo Angulim àla

cùng nhiều cường đạo khác, thần Dạ-xoa

Àlavaka cùng nhiều thần Dạ-xoa khác, Thiên chủ Sakka cùng nhiều Thiên chủ

khác, Bà-la-môn Baka cùng nhiều Bà-la-môn khác, v.v…khiến bọn họ phải khiêm

nhường bái phục, Ngài lại truyền Đại giới cho

một số đông ẩn sĩ v à an trú họ vào Thánh

Đạo Quả.

Bậc Đạo Sư đi đến, hỏi các Tỷ-kheo đang b àn

luận gì, khi các vị nói cho ngài biết, Ngài bảo :

- Không phải bây giờ đức Phật mới có trí tuệ

vi ên mãn, mà ngày xưa, trước khi trí tuệ Ngài viên mãn, Ngài

đ ã đủ đại

trí v ào thời kỳ Ngài còn đang đi t ìm

đạo Giác Ngộ.

Sau đó Ng ài kể một chuyện quá khứ .

*

Ngày xưa có vị vua danh hiệu Vedeha trị vì ở Mithilà. Ngài

được bốn vị hiền trí dạy ng ài về giáo

pháp, đó l à Senaka, Pukkusa, Kàvinda và

Devinda.

Lúc bấy giờ Bồ-tát còn ở trong mẫu thai, một buổi tảng sáng, vua chiêm

bao thấy mộng như sau: bốn cột lửa bừng sáng ở bốn gốc hoàng cung, cao như

bức trường thành, ở giữa nổi lên một tia lửa bằng con

đom đóm, bỗng chốc nó vượt cao quá bốn ngọn kia

v à bùng lên đến tận Phạm thi ên

giới, soi sáng toàn cõi thế gian, ngay đến một

hột cải cũng được thấy r õ. Nhân giới và Thiên giới liền

đưa hương hoa ra cung kính cúng dường ngọn lửa

ấy rồi một đám đông đi xuy ên qua ngọn lửa nhưng chẳng hề bị cháy sợi

tóc nào. Vua thấy cảnh tượng ấy giật mình kinh hãi ngồi dậy suy

đoán những điềm sắp xảy ra v à

đợi trời sáng. Bốn vị hiền trí sáng hôm sau đến

vấn an vua có được ngon giấc chăng. Ng ài bảo:

- Làm sao trẫm an giấc được khi trẫm chi êm

bao như vậy?

Hiền giả Senaka tâu:

- Xin Đại vương đừng ngại, đó l à mộng

lành, Đại vương sẽ được vinh quang.

Rồi khi được y êu cầu giải thích rõ,

ông nói:

- Tâu Đại vương, một vị hiền trí thứ năm sắp

ra đời sẽ vượt hẳn chúng thần, chúng thần nay như bốn cột lửa, nhưng ở giữa

chúng thần sẽ phát ra cột lửa thứ năm, l à bậc Vô thượng Sĩ chiếm vị

trí tối cao trong cõi nhân thiên.

- Thế vị ấy bây giờ ở đâu?

- Tâu Đại vương, vị ấy hoặc sẽ xuất hiện

hoặc sẽ sinh ra từ mẫu thai.

Nhờ tri kiến do thiên nhãn thông, vị này nói như vậy, nên từ

đó vua nhớ kỹ những lời ấy. Lúc bấy giờ ở bốn

cổng th ành Mithilà có bốn thị trấn gọi là

Đông trấn, Nam trấn, Tây trấn v à Bắc

trấn. Ở Đông trấn có một phú gia t ên gọi

Sirivaddhaka và bà vợ tên là Sumanàdevi. Vào ngày vua nằm mộng ấy, bậc

Đại S ĩ từ cõi trời Ba mươi ba xuống nhập

thai mẹ và một ngàn vị Thiên tử cũng từ Thiên giới xuống

đầu thai v ào gia

đ ình các phú thương ở làng ấy.

Sau mười tháng bà Sumàna sinh một cháu trai có màu da như vàng ròng. Lúc

ấy Sakka Thiên chủ phóng mắt nhìn xuống thế gian, thấy bậc

Đại Sĩ ra đời, ng ài nhủ thầm ngài phải

thông báo khắp cõi nhân thiên rằng vị Phật tương lai

đ ã ra

đời, ng ài liền xuất hiện khi hài nhi vừa sinh ra,

đặt một nhánh cỏ thuốc v ào tay hài nhi,

rồi trở về Thiên giới. Bậc Đại Sĩ nắm chặt

nhánh cỏ trong tay v à khi ngài ra đời từ

bụng mẹ, mẹ ng ài không thấy đau đớn tí n ào

cả, mà ngài ra nhẹ nhàng như nước tuông ra từ bình thánh lễ. Khi mẹ ngài

trông thấy nhánh cỏ thuốc trong tay ngài, bà liền nói:

- Này con, con cầm vật gì thế?

Ngài đáp:

- Thưa mẹ, đó l à cỏ thuốc.

Ngài đặt nó v ào tay mẹ và bảo bà cất

lấy để cho bất cứ người n ào bị bệnh dù

bệnh gì cũng được. L òng

đầy hoan hỷ, b à mẹ liền nói chuyện này

với phú gia Sirivadhaka, vốn đ ã bị bệnh

nhức đầu trong bảy năm qua. Ông sung sướng tự

nhủ : H ài nhi này sinh ra từ bụng mẹ đ ã

cầm cây thuốc và vừa ra đời đ ã trò

chuyện cùng mẹ, cây thuốc do một bậc tài trí siêu phàm như vậy trao cho chắc

phải có đại công lực".

Thế là ông chà cây thuốc vào hòn đá m ài

rồi thoa một ít vào trán, lập tức chứng nhức

đầu đeo đẳng ông trong bảy năm qua liền ti êu tan như nước l ăn

khỏi lá sen.Vô c ùng sung sướng, ông kêu to:

- Đây l à thuốc thần.

Tin tức lan truyền khắp nơi rằng bậc Đại Sĩ

ra đời với cây thuốc thần trong tay, khiến bệnh nhân kéo đến tấp nập tại nh à

phú thương xin thuốc. Họ lấy một ít đem cho mọi

bệnh nhân, ch à lên đá m ài, trộn

với nước, hễ thân bệnh nhân nào đụng đến thuốc

thần đều l ành bệnh cả, nên các bệnh nhân hân hoan ra

đi loan truyền tin về công lực kỳ diệu của thần

dược trong nh à phú thương Sirivadhata.

Vào ngày đặt t ên hài nhi, phú thương

nghĩ thầm: "Con ta không cần phải được đặt t ên

theo dòng họ tổ tiên, mà phải để con ta mang t ên

cây thuốc thần mới được", v à ông liền

đặt t ên con là Osadha-Kumàra (Dược thảo

Nam tử). Rồi ông lại nghĩ thầm: "Con ta có được

đại công đức như thế, chắc chẳng ra đời một m ình

đâu, c òn có nhiều hài nhi khác cũng ra

đời một lượt". Khi hỏi thăm, phú ông nghe được

cả ng àn hài nhi khác cùng ra đời một

lượt với con m ình, ông liền gởi chúng cho nhũ mẫu cùng y phục và

quyết địn h rằng những hài nhi kia sẽ là

người hầu cận của con ông, ông cử hành một đại

lễ d ành cho bậc Đại Sĩ c ùng các

hài nhi kia, điểm trang cho chúng thật đẹp v à

ngày ngày đến chơi đ ùa với ngài. Bậc

Đại Sĩ lớn l ên cùng các trẻ kia vui chơi

thỏa thích.

Khi được bảy tuổi, ng ài xinh

đẹp như một pho tượng bằng v àng. Những

lúc ngài chơi đ ùa với các trẻ trong

làng, các bầy voi ngựa đi ngang qua cản trở tr ò

chơi, hoặc đôi khi đám trẻ bị mệt nhọc v ì

mưa nắng.

Một ngày kia khi họ đang vui chơi, th ình

lình một cơn bão rớt trái mùa chợt đến, bậc Đại

Sĩ lúc ấy đ ã mạnh như voi, thấy vậy vội chạy vào nhà,

đám trẻ kia chạy theo v ào, té ngã lên

nhau, sưng trầy chân cẳng. Ngài liền nghĩ thầm: "Ta phải xây một hí trường

tại đây, ta không thể chơi kiểu n ày mãi

được". Ng ài liền bảo các trẻ kia:

- Ta hãy xây một hí trường tại đây, để có

thể v ào đứng, nằm, ngồi những lúc mưa

gió, oi nồng, vậy các bạn h ãy đem mỗi

người một số tiền lại đây.

Đám ng àn trẻ kia vâng lời và bậc

Đại Sĩ mời một chú thợ mộc đến trao số tiền v à

nhờ ông ta xây một sảnh đường tại đó. Người chủ

thợ mộc nhận lời, san bằng mặt đất, dựng cột v à gi ăng

dây đo đạc, nhưng ông ta chưa hiểu ý bậc Đại Sĩ, n ên ngài phải dặn

người chủ thợ ấy đo dây thế n ào cho phù

hợp ý ngài. Người ấy nói:

- Lão gi ăng dây ra theo kinh nghiệm h ành

nghề của lão thôi, chứ lão không biết làm cách khác.

- Nếu lão không biết chỉ một chuyện này thôi thì làm sao lão nhận tiền

của ta mà xây nhà cho được? Vậy l ão hãy

cầm dây đi, ta sẽ đo v à chỉ cho lão

thấy.

Ngài bảo ông cầm dây rồi chính ngài đo lấy

đồ án, như thể thần Vissakamma đ ã thực hiện trước

đây vậy. Xong ng ài hỏi người thợ mộc:

- Thế lão có biết vẽ đồ án cách n ày

không?

- Thưa ngài, lão không biết.

- Thế lão có thể vẽ theo lời ta chỉ dẫn không?

- Thưa ngài, được.

Bậc Đại Sĩ liền sắp đặt sảnh đường có một

phần l à nơi cư trú cho lữ khách bình thường, một phần là nơi cư trú

cho các phụ nữ nghèo khổ, một phần là nơi cư trú cho những người bần cùng,

một phần là nơi cư trú của các Sa-môn, Bà-la-môn, một phần khác dành cho

đủ loại nam nhân, một phần khác d ành cho

các khách thương lạ cất hàng hóa, mọi phòng đều

có cửa lớn thông ra ngo ài. Lại có một nơi công cộng dành cho các trò

giải trí, một tòa án và một phòng lớn để l àm

thánh lễ.

Khi công việc đ ã hoàn tất, ngài triệu

tập các họa sĩ lại và chính ngài xem họ họa hình thật

đẹp để trang ho àng sảnh

đường chẳng khác n ào thiên cung Sudhamma

của Sakka Thiên chủ. Ngài vẫn nghĩ rằng cung

điện ấy chưa ho àn hảo: "Ta phải cho xây một hồ nước mới

được". Ng ài liền ra lệnh

đ ào đất v à

bàn luận việc này với một kiến trúc sư xong, ngài trao tiền bảo ông ta xây

một hồ nước có một ngàn lối rẽ trên bờ và một tr ăm

bến tắm.

Mặt nước thả n ăm loại hoa sen rực rỡ chẳng

khác n ào hồ trên hoa viên Nandana của thiên giới. Trên bờ ngài trồng

nhiều loại cây và hoa viên chẳng khác nào vườn thiên lạc Nandana. Gần sảnh

đường, ng ài dựng lên một nơi cúng dường

các bậc tu hành dù là Sa-môn hay Bà-la-môn, cùng các lữ khách hay dân chúng

từ các làng lân cận.

Các hành động của ng ài gây tiếng vang

khắp nơi khiến các đám dân chúng tụ tập tại

sảnh đường. Bậc Đại Sĩ thường ngồi đó b àn luận chánh tà trong các

việc thiện ác của các đám người đến xin ở lại

đây, ng ài phán xét từng trường hợp và thời kỳ ấy thật an lạc chẳng

khác nào thời một đức Phật xuất hiện tại thế.

Lúc bấy giờ, khi mãn hạn bảy n ăm, vua Vedeha

nhớ lại bốn vị hiền trí đ ã bảo rằng một hiền trí thứ n ăm

sẽ ra đời vượt l ên hẳn bốn vị ấy về tài trí và tự nhủ: "Thế vị này

hiện nay ở đâu?". Vua liền phái bốn vị cận thần

ra bốn ho àng môn, ban lệnh cho họ đi t ìm

vị hiền trí ấy. Khi họ ra ba hoàng môn kia, họ không tìm thấy dấu hiệu nào

của bậc Đại Sĩ, nhưng khi họ ra phía Đông môn

họ thấy sảnh đường ấy c ùng nhiều lâu đ ài

khác, họ tìm chắc rằng chỉ có bậc hiền trí mới xây dựng lâu

đ ài này hoặc bảo dân chúng xây dựng lên

như vậy. Họ liền hỏi công chúng:

- Vị kiến trúc sư nào đ ã xây lên sảnh

đường n ày?

Dân chúng đáp:

- Lâu đ ài này không phải do một kiến

trúc sư nào xây hoặc do quyền lực của vị ấy xây lên, mà là do sự hướng dẫn

của bậc Trí giả Mahosadha ( Đại thần dược ), con

trai của phú thương Sirivaddha.

- Cậu ấy bao nhiêu tuổi?

- Cậu vừa tròn bảy tuổi.

Vị cận thần suy xét lại mọi biến cố xảy ra từ ngày vua chiêm bao

đến nay v à tự nhủ: "Chuyện này ứng với

chiêm bao của vua rồi", liền sai sứ giả dâng sớ trình vua:

- Mahosadha, con trai của phú thương Sirivaddha ở

Đông môn th ành, nay lên bảy tuổi,

đ ã bảo xây một sảnh

đường c ùng hoa viên và hồ nước như vậy,

xin cho tiểu thần đem cậu bé ấy đến yết kiến

Đại vương được chăng?

Khi nghe vậy, vua vô cùng hoan hỷ, truyền mời Senaka

đến. Sau khi kể lại sự việc, vua hỏi ông xem có

n ên triệu vị Trí giả ấy đến chăng. Nhưng

ông ganh tỵ với chức Trí giả ấy, liền đáp:

- Tâu Đại vương, ta không n ên gọi một

người nào là hiền trí chỉ vì người ấy ra lệnh bảo xây những lâu

đ ài như vậy cả,

đó chỉ l à việc nhỏ chẳng quan trọng gì.

Khi vua nghe vậy, nhủ thầm: "Chắc phải có lý do bí mật nào

đây", rồi ng ài im lặng. Ngài cho sứ giả

ra về, dặn viên đại thần phải ở lại nơi ấy một

thời gian v à quan sát vị Trí giả ấy thật kỹ lưỡng. Vị cận thần ở lại

đó thăm d ò mọi hành vi của vị Trí giả và

sau đây l à một loạt các cách thử tài hay

cuộc th ăm d ò.

1. MIẾNG THỊT.

Một ngày kia khi bậc Đại Sĩ đi đến giải trí

trường, một con diều hâu tha đi một miếng thịt từ chiếc b àn

đồ tể, bay vụt l ên không, vài người thấy

vậy, định bắt nó thả xuống n ên

đuổi theo nó. Diều hâu bay đủ hướng, khiến họ

nh ìn lên đuổi theo nó mệt nho ài,

ném đá c ùng nhiều khí giới khác, ngã

nhào lên nhau. Bậc Đại Sĩ liền bảo họ:

- Ta sẽ làm cho nó thả thịt xuống.

Họ liền yêu cầu ngài làm ngay. Ngài bảo họ nhìn lên rồi chính ngài cũng

nhìn lên và chạy nhanh như gió, dẫm lên bóng con diều hâu, vỗ tay thật lớn.

Nhờ uy lực của ngài, tiếng thét ấy dường như xuyên thủng bụng diều hâu khiến

nó kinh hoảng thả miếng thịt xuống. Bậc Đại Sĩ

canh chừng theo cái bóng nó rớt xuống, chụp lấy thịt tr ên không trước

khi nó chạm đất. Dân chúng thấy việc hy hữu như

vậy, reo h ò vỗ tay vang dội.

Vị cận thần nghe tin ấy, liền gởi sớ về dâng vua kể chuyện vị Trí giả

dùng phương tiện bắt con diều hâu thả miếng thịt. Vua

được tin, hỏi Senaka có n ên triệu hồi

Trí giả về triều không. Senaka suy nghĩ : "Nếu nó về

đây ta sẽ mất hết vinh quang v à

đức vua sẽ qu ên ta mất. Thôi ta không

thể để đức vua mang nó về đây được".Thế l à

vì ganh tỵ, ông bảo:

- Không thể gọi là hiền trí chỉ vì một việc như vậy,

đó chỉ l à việc nhỏ.

Vua muốn thật chí công vô tư, liền ra lệnh nhắn vị cận thần phải thử

thách ngài thêm nữa.

2. Đ ÀN

BÒ.

Một người dân làng Yavamajjhaka mua một số trâu bò từ làng bên cạnh

đem về nh à. Hôm sau gã

đem b ò ra

đồng cho ăn cỏ rồi cỡi một con dạo chơi. Khi mệt mỏi g ã ngồi xuống

đất ngủ say, một t ên trộm xuất hiện mang

đ àn bò đi

mất. Khi g ã thức dậy chẳng thấy đ àn

bò đâu, nhưng khi nh ìn quanh gã thấy tên

trộm đang chạy trốn. G ã nhảy tới kêu

gào:

- Mi đem đ àn bò ta

đi đâu?

- Đây l à

đ àn bò của ta, ta muốn đem đi đâu mặc

ta.

Một đám người xúm lại nghe đấu khẩu. Khi bậc

Hiền trí nghe tiếng ồn ào lúc bọn họ đi

ngang qua cửa sảnh đường, ng ài cho mời họ vào. Khi ngài thấy dáng

điệu của họ, ng ài biết ngay ai là tên

trộm, còn ai là chủ nhân thật sự của đ àn

bò. Nhưng dù ngài biết chắc như vậy, ngài vẫn hỏi họ

đang tranh c ãi

điều g ì. chủ nhân

đ àn bò bảo:

- Tôi mua đ àn bò của người kia ở một

làng nọ, tôi đem chúng về nh à rồi cho ra

đồng ăn cỏ. T ên trộm này thấy tôi không

canh chừng kỹ liền đến dắt nó đi. Nh ìn

quanh tôi thấy gã, liền chạy theo bắt lấy gã. Dân làng kia biết tôi mua bò

và mang về.

Tên trộm đáp:

- Kẻ này nói dối, đ àn bò sinh ra

trong nhà tôi.

Bậc Trí giả nói:

- Ta sẽ xử vụ này công bình, các anh có nghe ta xử ch ăng?

Họ đều hứa sẽ tuân theo. Thế l à tự

nhủ rằng ngài sẽ chiếm được l òng dân

chúng, ngài hỏi tên trộm trước tiên:

- Anh cho đ àn bò

ăn thức g ì?

- Chúng uống nước cháo cùng ăn bột m è

và đậu.

Ngài lại hỏi chủ nhân thật sự, người này

đáp :

- Thưa Tôn ông, nhà nghèo như kẻ hèn đây, l àm

gì có cháo cùng các thức kia, kẻ hèn chỉ cho bò

ăn cỏ.

Bậc Hiền trí liền triệu tập một đám người

lại, bảo họ đem hột tắc đến, nghiền nát trong cối, trộn với nước rồi cho b ò

ăn, chúng liền nôn ra to àn cỏ. Ngài chỉ

cho đám đông thấy, rồi hỏi t ên trộm :

- Anh có phải kẻ trộm hay không?

Gã liền thú nhận chính là tên trộm. Ngài bảo gã:

- Thôi từ nay đừng phạm tội như thế nữa.

Nhưng đám quân hầu của Bồ-tát mang g ã

ra ngoài và chặt tay chân gã khiến gã rất khốn

đốn, ng ài liền khuyên r ăn g ã

thêm:

- Nỗi khổ đau n ày

đến với anh trong đời hiện tại, nhưng đời sau

anh sẽ chịu cực hình ở nhiều địa ngục

nữa, vậy từ nay anh phải từ bỏ ác hạnh như vậy đi.

Ngài dạy gã Ngũ giới.

Vị cận thần dâng sớ kể vệc này, vua lại hỏi ý Senaka, nhưng ông khuyên

vua nên chờ đợi :

- Đây chỉ l à việc nhỏ về việc

đ àn bò, ai cũng có thể xử

được.

Vì muốn công bình vua ban lệnh như trước.(Các vụ xử sau

đây cũng được hiểu như vậy, ta cứ theo thứ tự

từng vụ một).

3. XÂU CHUỔI BẰNG CHÌ.

Một người đ àn bà nghèo buộc nhiều sợi

chỉ màu lại làm thành sợi dây đeo cổ. B à

cởi nó ra để tr ên áo quần khi xuống tắm

trong hồ mà bậc Trí giả đ ã cho

đ ào. Một cô gái thấy vậy

đem l òng thèm muốn, cầm sợi dây lên bảo:

- Mẹ ơi, dây đeo cổ n ày

đẹp quá, giá bao nhi êu con muốn làm cho

con một sợi. Mẹ cho con đeo thử để biết chắc cỡ

n ào hở mẹ?

Bà kia cho phép cô gái, cô liền đeo v ào

và chạy mất. Bà già vội nhảy ra khỏi nước, mặc áo quần

đuổi theo cô gái, chụp lấy cô ta thét l ên :

- Cô lấy sợi dây của ta làm mà chạy trốn.

Cô kia đáp:

- Tôi không lấy cái gì của bà cả, dây này tôi vẫn

đeo tr ên cổ lâu nay.

Một đám đông tụ lại xem khi nghe chuyện c ãi

cọ. Bậc Hiền trí đang nô đ ùa cùng lũ

trẻ, nghe họ cãi nhau khi đi ngang qua sảnh

đường, liền hỏi chuyện g ì gây ồn ào. Khi biết nguyên nhân vụ cãi cọ,

ngài cho gọi cả hai vào, nhìn dáng điệu ng ài

biết ngay ai là kẻ cắp, ngài liền hỏi họ có chịu nghe theo ngài xét xử

không. Cả hai đều bằng l òng. Ngài hỏi kẻ

cắp :

- Cô dùng hương gì để tẩm v ào sợi dây

đeo cổ n ày?

Cô gái đáp:

- Tiện nữ luôn luôn dùng hương gồm nhiều thứ hương (Sabbasamhàraka) pha

trộn để tẩm v ào nó.

Rồi ngài lại hỏi bà kia, bà liền đáp:

- Một người nghèo như lão làm gì có hương Sabbasamhàraka? Lão chỉ tẩm nó

với hương hoa Piyangu mà thôi.

Bậc Trí giả bảo đem đến một b ình nước

và thả dây vào trong, rồi ngài cho gọi một người bán nước hoa

đến ngửi b ình nước

để nhận ra m ùi gì, gã liền nhận ra ngay

mùi hoa Piyangu và đọc b ài kệ

đ ã từng đưa

ra trong Chương một: (số 110) :

Chẳng có mùi hương của bá hoa,

Chỉ Kan-gu cứ thoảng bay ra,

Nữ nhân ác độc kia gian dối,

Bà lão nhà quê nói thật thà.

Bậc Đại Sĩ liền kể cho khách b àng

quan nghe mọi sự việc, xong hỏi riêng hai người trong cuộc:

- Chị có phải kẻ cắp không? Bà không phải kẻ cắp chứ?

Rồi ngài bắt kẻ kia phải nhận tội. Từ đó ng ài

nổi tiếng khôn ngoan tài trí khắp vùng.

4. SỢI CHỈ.

Một người đ àn bà kia thường

đứng canh ruộng bông vải. Một bửa nọ, chị lấy

một ít sợi đẹp cuộn th ành quả cầu dệt trên vạt áo. Lúc

đi về nh à, chị ta nghĩ thầm: "Ta xuống

tắm trong hồ của bậc Đại trí mới được", rồi chị

ta đặt quả cầu tr ên áo bước xuống hồ tắm. Một người

đ àn bà khác thấy vậy sinh lòng thèm

muốn, bảo:

- Quả cầu chỉ này đẹp quá, chị cuộn lấy phải

không?

Rồi chị ta bật nhẹ ngón tay, đặt quả cầu tr ên

vạt áo như thể muốn xem thật kỹ, rồi bỏ đi mất.

(Chuyện n ày cũng giống như các chuyện trước

đây).

Bậc Trí giả hỏi kẻ cắp:

- Khi cuộn quả cầu này, chị bỏ gì vào trong

đó?

Chị ta trả lời:

- Thưa ngài, một hột bông vải.

Rồi ngài hỏi người kia, chị ta đáp:

- Thưa ngài, một hột timbaru.

Khi đám đông đ ã nghe hai người nói

xong, ngài tháo quả cầu lấy ra một hột timbaru bên trong khiến cho kẻ cắp

phải thú nhận tội. Đám đông vui vẻ reo h ò

trước cảnh xử kiện của bậc Đại trí.

5. ĐỨA

CON TRAI.

Một người đ àn bà kia

đem con trai xuống hồ của bậc Đại Sĩ đi tắm

rửa. Khi tắm con xong, chị đặt con nằm tr ên áo mình rồi

đi tắm. Lúc ấy một nữ quỷ Dạ-xoa cái thấy đứa

bé muốn ăn thịt, liền cầm nó l ên và hỏi:

- Này chị bạn, cháu xinh quá, con chị đấy

phải không?

Rồi nó hỏi xem nó có thể cho đứa bé bú

không. Khi người mẹ bằng l òng, nó liền ẵm

đứa bé l ên chơi

đ ùa một lát rồi chạy

đi mất. B à mẹ rượt theo chụp lấy nó la

lên:

- Này chị mang con tôi đi đâu?

Con quỷ cái đáp:

- Sao chị dám đụng v ào

đứa bé n ày? Nó là con tôi mà.

Họ vừa cãi cọ vừa đi ngang cửa sảnh đường,

bậc Đại trí nghe tiếng ồn ào cho gọi họ và hỏi chuyện. Nghe xong, mặc

dù nhìn thấy đôi mắt đỏ không chớp của nữ y êu

tinh, ngài biết ngay ai là con quỷ cái, ngài cũng hỏi họ có chịu nghe theo

lời ngài xét xử ch ăng. Khi họ hứa nghe theo, ng ài

liền vẽ một đường thẳng, đặt đứa bé l ên,

bảo con quỷ nắm tay đứa bé v à người mẹ

nắm chân nó. Rồi ngài bảo:

- Nắm lấy nó mà lôi đi, kẻ n ào lôi

được nó về phía m ình là con của mình.

Cả hai đều lôi kéo, đứa bé bị đau òa

khóc to. Người mẹ đau l òng như cắt

đ ành để đứa

bé bị lôi đi v à đứng khóc. Bậc Hiền trí

hỏi đám đông:

- Có phải chính lòng mẹ mới thương yêu con mình hay lòng của kẻ không

phải là mẹ?

Họ đáp:

- Chính lòng mẹ.

- Thế người nắm chặt đứa bé l à mẹ nó

hay người để cho nó bị lôi đi l à mẹ nó?

Họ đáp :

- Người để cho nó bị lôi đi.

- Các ngươi có biết kẻ trộm đứa bé l à

ai ch ăng?

- Thưa bậc Hiền giả, chúng tôi không được

biết.

- Nó là quỷ cái bắt trẻ con để ăn thị t.

Họ hỏi làm thế nào ngài biết được như vậy,

ng ài đáp:

- Ta nhìn thấy đôi mắt đỏ của nó, nó lại

không đổ bóng xuống đường, tính t ình táo tợn và tàn bạo nữa.

Rồi ngài hỏi nó là ai, nó thú nhận chính là quỷ cái.

- Tại sao ngươi bắt đứa bé?

- Thưa ngài, để ăn thịt.

- Ngươi thật ngu muội quá, đời trước ngươi đ ã

phạm tội phải sinh làm yêu quỷ, nay lại vẫn tiếp tục gây tội, thật mê mờ

quá.

Rồi ngài khích lệ nó, dạy nó Ngũ giới, xong thả cho nó

đi; c òn người mẹ chúc tụng ngài:

- Tiện tỳ xin cầu chúc Chúa công trường thọ.

Rồi chị ẵm con về.

6. QUẢ CẦU

ĐEN .

Có một gã đ àn ông tên gọi Golakàla.

Gã có tên "Gola" nghĩa là Quả cầu bởi vì thân hình lùn tịt và "kàla" vì màu

da đen bóng. G ã làm việc trong nhà kia

bảy n ăm liền, cưới được cô vợ t ên là

Dìghatàla (Cây dừa cao).

Một ngày kia gã bảo vợ:

- Này hiền thê, nàng hãy làm mứt bánh cùng thức

ăn rồi ta về thăm cha mẹ n àng.

Lúc đầu người vợ phản đối dự định n ày,

bảo chồng:

- Ta còn liên hệ gì đến cha mẹ nữa.

Nhưng sau khi gã chồng nài nỉ ba lần, gã cũng bảo

được vợ nấu bánh kẹo, đem th êm một số

thực phẩm và quà biếu. Gã cùng vợ lên đường. Tr ên

đường đi, g ã

đến một d òng sông không sâu lắm, nhưng

cả hai đều sợ nước, n ên không dám lội

qua, chỉ đứng tr ên bờ.

Bấy giờ có một gã nghèo khổ tên Dìghapitthi (Lưng dài)

đi dọc bờ suối, đến nơi n ày, họ liền hỏi

gã suối sâu hay cạn. Thấy họ sợ nước, gã bảo:

- Sâu lắm và đầy lo ài cá

ăn thịt.

- Thế làm sao ông qua sông được?

- Ta đ ã

đánh bạn với cá sấu v à thủy quái ở đây n ên

chúng không hại ta.

- Vậy xin Tôn ông đem chúng tôi qua suối

với. Họ bảo g ã.

Khi gã bằng lòng, họ cho gã ăn uống rượu

thịt; xong bữa, g ã hỏi họ gã sẽ đem ai

qua suối trước. Golak àla bảo:

- Xin đem tiểu muội qua trước rồi tiểu đệ sẽ

qua sau.

Gã liền đặt n àng ngồi trên vai, cầm

lấy thực phẩm, quà biếu và bước xuống dòng. Khi

đ ã đi được một lát, g ã cúi người

xuống và đi với dáng cong cong. Golak àla

đứng tr ên bờ thấy vậy, nghĩ thầm: "Dòng

suối này chắc phải sâu lắm, một người như Dìghapitthi mà còn khó kh ăn

vậy thay, huống g ì ta chắc không thể nào qua

được." Khi g ã kia

đem người đ àn bà ra

đến giữa d òng, gã bảo nàng:

- Nương tử ơi, ta sẽ yêu quý nàng, nàng sẽ sống

đời cao sang, mặc gấm vóc lụa l à,

đeo nữ trang ngọc v àng, có kẻ hầu người

hạ, chứ gã gù kia làm gì cho nàng được? Xin n àng

hãy nghe ta.

Nàng nghe gã nói êm tai nên không còn yêu chồng nữa mà mê mẩn ngay kẻ xa

lạ này, nàng bằng lòng bảo gã:

- Nếu chàng không bỏ thiếp, thiếp xin vâng lời chàng.

Thế là khi họ sang bờ bên kia, họ vui thú cùng nhau, bỏ rơi gã Golakàla

bên bờ cũ. Trong khi gã đứng trông chừng, th ì

họ ăn hết rượu thịt v à ra

đi. G ã thấy vậy liền la lên:

- Chúng đ ã

đánh bạn với nhau v à bỏ trốn,

để ta lại đây!

Trong khi gã chạy lui chạy tới, gã mới bước xuống nước một khoảng liền

thối lui vì sợ hãi, nhưng lòng c ăm giận cách ăn

ở của bọn kia, g ã tuyệt vọng nhảy ùm xuống nước và bảo:

- Thà một chết một sống!

Và khi xuống nước rồi gã mới biết nước cạn quá chừng. Thế là gã lội qua

vừa đuổi theo chúng vừa la to:

- Tên trộm khốn nạn kia, mi đem vợ ta đi

đâu?

Gã kia đáp:

- Sao lại vợ ngươi? Vợ ta chứ?

Rồi nắm cổ gã lùn, gã xoay y một vòng và ném y xuống

đất. G ã lùn chụp tay Dìghatàla hét to:

- Ngừng lại, nàng đi đâu đấy! N àng là

vợ ta, ta cưới được n àng sau bảy n ăm

l àm lụng tại nhà kia mà.

Họ đang c ãi cọ như vậy thì vừa

đến sảnh đường. Một đám đông tụ lại xem. Bậc

Đại Sĩ hỏi chuyện g ì gây ồn ào, ngài hỏi họ có chịu nghe ngài xử kiện

ch ăng. Khi họ đều bằng l òng, ngài gọi gã

Dìghapitthi lại, hỏi tên gã, xong hỏi tên vợ gã nhưng gã không biết nên nói

một tên khác. Rồi ngài hỏi tên cha mẹ gã, gã

đáp được nhưng ng ài hỏi tên cha mẹ vợ thì gã không biết, nên

đ ã nói một tên khác.

Bậc Đại Sĩ sắp đặt câu chuyện của g ã

xong và cho gã lui ra. Rồi ngài cho gọi gã lùn vào và cũng hỏi tên họ như

vậy. Gã này biết hết nên trả lời đúng cả. Ng ài

lại bảo gã lui ra, rồi cho gọi Dìghatàla vào, hỏi tên nàng, nàng

đáp được, nhưng khi hỏi t ên chồng, nàng

không biết nên nói sai. Khi hỏi tên cha nàng, nàng

đáp đúng, nhưng khi được hỏi t ên cha mẹ

chồng, nàng đáp bừa v à nói sai. Sau

đó bậc Trí giả cho gọi hai g ã vào và hỏi

đám đông:

- Câu chuyện của người đ àn bà này hợp

với Dìghapitthi hay Golakàla?

Họ đáp:

- Hợp với Golakàla.

Rồi ngài tuyên án:

- Người này là chồng chị ta, người kia là kẻ trộm.

Khi ngài hỏi lại gã, ngài buộc gã phải thú tội

đ ã làm tên trộm vợ người.

7. CỖ XE.

Một người đ àn ông trên xe ngựa bước

xuống đất để rửa mặt. Vừa lúc ấy Sakka Thi ên

chủ đang xem xét thế gian, khi ng ài thấy

bậc Trí giả liền quyết định l àm cho thế

nhân biết được uy lực v à tài trí của

Mahosadha, đức Phật trong thời vị lai. V ì

thế, ngài giáng thế, giả dạng đ àn ông

theo sau chiếc xe, giữ tay lái đằng sau. Người

chủ ngồi trong xe hỏi:

- Anh đến đây l àm gì?

Ngài đáp:

- Thưa Tôn ông, để hầu hạ Tôn ông.

Người ấy bằng lòng ngay và xuống xe qua bên

đường đi tiểu tiện. Lập tức Sakka Thi ên chủ lên xe phóng

đi mất. Người chủ xe xong việc trở lại, thấy

Sakka Thi ên chủ phóng xe chạy trốn, liền

đuổi theo v à la to:

- Ngừng lại, ngừng lại, anh đem xe ta đi

dâu?

Thiên chủ đáp:

- Xe của ông là cái nào kia chứ, đây l à

xe ta mà!

Vừa cãi cọ họ vừa chạy ngang qua cửa sảnh

đường. Bậc Trí giả hỏ i:

- Chuyện gì thế?

Và ngài cho mời Thiên chủ vào. Khi Thiên chủ vào, nhìn dáng

điệu oai vệ v à

đôi mắt không chớp của ng ài, bậc Trí giả

biết ngay là Sakka Thiên chủ và kẻ kia là chủ xe. Tuy thế ngài vẫn hỏi

nguyên do cuộc cãi vã và bảo họ:

- Các vị có chịu nghe ta xét xử ch ăng?

Họ đồng đáp:

- Thưa vâng.

Ngài tiếp tục nói:

- Ta sẽ làm cho xe chạy, cả hai vị đều phải

giữ tay lái đằng sau, người n ào chủ chiếc xe sẽ không

để xe chạy mất, c òn người kia mới

để nó chạy.

Xong ngài bảo một người lái xe, còn hai người kia giữ tay lái

đằng sau. Chủ xe chạy được một qu ãng thì

không thể nào chạy theo kịp, đ ành

để nó đi mất, c òn Sakka Thiên chủ vẫn

tiếp tục chạy theo xe. Khi Bậc Trí giả gọi chiếc xe trở lại, ngài bảo với

đám đông:

- Người này mới chạy một lát đ ã

để nó đi mất, c òn người kia chạy

đến c ùng với chiếc xe rồi còn chạy lui

nữa, mà lại chẳng đổ một giọt mồ hôi n ào

trên thân. Không thở dốc, không sợ sệt gì cả,

đôi mắt lại không chớp, đây chính l à Sakka Thiên chủ,

Đại đế của chư Thi ên.

Rồi ngài hỏi:

- Thưa ngài, chính phải ngài là Thiên chủ ch ăng?

- Chính phải.

- Thế ngài đến đây l àm gì?

- Để l àm rạng danh tài trí của Hiền

giả.

Ngài đáp:

- Vậy thì xin Thiên chủ chớ làm như vậy nữa.

Bấy giờ Sakka Thiên chủ xuất lộ oai thần bằng cách

đứng lơ lửng tr ên không, tán thán bậc

Hiền giả:

- Thật là một lối xét xử đầy t ài trí.

Rồi ngài trở về thiên giới.

Lúc ấy vị cận thần không đợi lệnh vua triệu

tập, vội trở về triều đ ình:

- Tâu Đại vương, việc cỗ xe ấy đ ã

quyết định được rồi: Ngay đến Sakka Thi ên

chủ còn chịu khuất phục trước ngài nữa, cớ sao

Đại vương không ch ịu thừa nhận tính siêu phàm ở thế nhân?

Nhà vua hỏi Senaka:

- Khanh nghĩ sao Senaka, ta có nên đem bậc

Trí giả về triều chăng?

Senaka tâu:

- Việc đó cũng chưa hẳn quyết định một bậc

Trí giả. Tâu Đại vương, cứ chờ đợi một lúc nữa: Thần sẽ xin đi thử t ài

vị này xem sao.

8. KHÚC CÂY.

Thế rồi một ngày kia, với mục đích thử t ài

bậc Hiền trí, họ đi t ìm một nhánh

phượng, cắt một khúc độ một gang tay, cho thợ

tiện đẻo thật láng rồi đưa ra sông thị trấn, với lời rao:

- Dân thị trấn này nổi danh tài trí, vậy hãy tìm cho ra phía nào là

đầu ngọn, phía n ào gốc của cành cây này.

Nếu không đoán được sẽ bị phạt một ngh ìn

đồng tiền.

Dân chúng tụ tập lại nhưng không ai tìm ra

được, liền nói với chủ họ:

- Có lẽ bậc Trí giả Mahosadha biết đấy, ta

thử mời ng ài xem.

Người chủ cho mời bậc Trí giả đang chơi ngo ài

sân, kể chuyện họ không biết đầu đuôi c ành

cây ấy nhưng chắc ngài biết. Bậc Trí giả nghĩ thầm: " Đức vua chẳng lợi

gì khi biết gốc ngọn cây ấy, chắc chắn ngài đưa nó đến đây thử tài ta". Ngài

bảo:

- Các hiền hữu hãy mang nó lại đây, ta sẽ t ìm

ra.

Khi cầm trong tay, ngài biết đâu l à

ngọn, đâ u là gốc, tuy nhiên

để l àm vui lòng mọi người, ngài cho

đem đến một chậu nước, buộc một sợi dây giữa

khúc cây rồi cầm đầu dây thả v ào mặt nước. Phía gốc nặng hơn nên chìm

trước. Ngài hỏi dân chúng:

- Gốc cây nặng hơn hay ngọn cây nặng hơn?

- Thưa bậc Trí giả, gốc cây nặng hơn.

- Vậy hãy nhìn đây, phần n ày chìm

trước, vậy là gốc.

Nhờ dấu hiệu này ngài đ ã phân biệt

được gốc ngọn. Dân chúng tr ình khúc cây

lên vua đ ã phân biệt phía nào gốc phía

nào ngọn. Vua hoan hỷ hỏi:

- Ai đ ã tìm ra?

Họ đáp:

- Tâu Đại vương, chính bậc Trí giả

Mahosadha, con trai của chủ nhân ông Sirivaddhi.

- Này Senaka, thế ta triệu vị ấy về triều

được chăng?

- Tâu Đại vương, xin cứ chờ đợi để chúng

thần thử t ài vị ấy cách khác nữa.

9. CHIẾC

ĐẦU NGƯỜI .

Một ngày kia, hai chiếc đầu được mang đến để

phân biệt chiếc n ào là đầu đ àn

bà, chiếc nào là đầu đ àn ông. Nếu không

tìm ra được, họ phải chịu phạt một ng àn

đồng tiền. Dân chúng không quyết đoán được,

liền mời bậc Đại Sĩ. Ng ài nhận ra vì người ta thường nói

đường khớp tr ên

đầu đ àn ông thì thẳng, còn

đường khớp tr ên xương

đầu đ àn bà thì cong. Nhờ dấu hiệu này,

ngài phân biệt được ngay v à dân chúng

trình lên vua. Phần cuối như các chuyện trên.

10. CON RẮN.

Một ngày nọ, một rắn đực v à một rắn

cái được đưa đến cho dân l àng

đoán thử. Họ hỏi bậc Trí giả. Ng ài biết

ngay khi thấy rắn vì đuôi rắn đực th ì

dày, đuôi rắn cái th ì mỏng;

đầu rắn đực tr òn,

đầu rắn cái d ài, mắt rắn

đực lớn,mắt rắn cái nhỏ. Nhờ những dấu hiệu n ày

ngài phân biệt con đực với con cái. Phần cuối

như cũ.

11. CON GÀ TRỐNG.

Ngày nọ vua ban lệnh xuống dân chúng ở Đông

thị trấn thi h ành:

- Hãy đưa về triều một b ò

đực trắng bạch, có sừng tr ên chân, cục

bướu trên đầu, rống l ên ba nhịp một ngày

không sai chạy, nếu không, sẽ phải bị phạt một ngàn

đồng tiền.

Dân chúng chẳng biết làm sao, liền hỏi bậc Hiền trí. Ngài

đáp:

- Nhà vua đ òi các ông gửi dâng ngài

con gà trống đấy. Con g à trống có sừng

trên chân đó l à cái cựa, cục bướu trên

đầu đó l à mào và cất giọng gáy

đúng ba nhịp (ngắn, vừa, d ài). Thế thì

hãy dâng vua con gà trống như ngài tả.

Họ liền gửi dâng vua ngay một con.

12. VIÊN NGỌC.

Viên ngọc này do Sakka Thiên chủ tặng vua Kusa, có hình bát giác. Sợi dây

đeo ngọc bị đứt nhưng không ai lấy được sợi dây

cũ ra để xâu sợi mới v ào.

Một ngày kia họ đem vi ên ngọc

đến bảo dân l àng lấy sợi dây cũ ra

để xâu dây mới v ào. Dân làng chẳng làm

gì được đ ành

đem chuyện khó khăn kể lại với bậc Trí giả. Ng ài

bảo họ đừng sợ g ì cả, hãy

đem đến một cục mật. Ng ài xoa mật vào

hai lỗ hạt ngọc, rồi se một sợi len, xoa mật vào một

đầu dây, đẩy đầu dây v ào một chút trong

lỗ ngọc, xong đặt vi ên ngọc vào nơi kiến

thường đi qua. Bầy kiến nghe m ùi mật bò

ra khỏi ổ, cắn hết sợi dây cũ rồi cắn sợi dây len kéo qua tận lỗ bên kia.

Khi ngài thấy lỗ đ ã thông, ngài bảo

dân chúng trình lên vua khiến vua rất đẹp l òng

khi nghe câu chuyện sợi dây được xâu như vậy.

13. BÒ

ĐỰC ĐẺ CON.

Con bò đực của nh à vua

được cho ăn quá nhiều trong v òng mấy

tháng nên bụng nó trương lên, sừng nó phờ phạc, nó phải

được xoa dầu, rồi họ đem nó đến Đông thị trấn

với lệnh vua ban:

- Nghe các khanh thật tài trí, vậy đây l à

con bò đực của đức vua đang có chửa, h ãy

giúp nó sinh con, rồi dẫn về triều, có đủ cả b ò

con. Nếu không sẽ chịu phạt vạ một ngàn đồng

tiền.

Dân làng hoảng hốt chẳng biết làm sao liền vấn kế bậc Trí giả, ngài nghĩ

nên đặt một câu hỏi tr ùng hợp với câu

kia, và hỏi:

- Các ông có thể tìm ra một người bạo gan dám

đối đáp với đức vua chăng?

Họ đáp chuyện ấy không khó g ì. Rồi họ

đem một người đến. Bậc Đại Sĩ bảo:

- Này anh bạn, anh hãy xõa tóc xuống vai đi

đến ho àng môn khóc lóc kêu than thật thống thiết. Ai hỏi gì cũng

không trả lời chỉ kêu khóc, trừ khi đức vua

hỏi. Nếu đức vua bảo đem anh v ào để hỏi

tại sao than khóc, anh cứ tâu: "Bảy ng ày nay con trai thần

đang lâm bồn nhưng không thể n ào sinh

con được, xin cứu thần với. Xin nói cho thần

biết l àm cách nào giúp nó sinh con?". Đức vua sẽ bảo: "Thật là

điên khùng. Làm sao đàn ông có thể sinh con được?". Lúc ấy anh sẽ đáp: "Nếu

quả thật như thế thì làm sao dân Đông thị trấn có thể giúp bò đực của Đại

vương sinh bò con được?".

Người ấy được lệnh cứ thế m à thi

hành. Vua hỏi ai nghĩ ra cách trả lời phản công lại như vậy và khi nghe nói

chính bậc Trí giả Mahosadha, ngài rất đẹp l òng.

14. NẤU CƠM.

Một ngày kia để thử t ài bậc Trí giả,

lệnh vua phán ra:

- Dân Đông thị trấn phải dâng về kinh một

thứ cơm nấu theo tám điều kiện sau: không gạo, không nước, không nồi, không

l ò, không lửa, không củi, không do đ àn

ông hay đ àn bà

đem về kinh theo đường cái. Nếu không l àm

được phải chịu phạt một ng àn

đồng tiền.

Dân làng bối rối vấn kế bậc Trí giả. Ngài bảo:

- Đừng lo g ì, hãy

đem một ít tấm lại đây, v ì nó không phải

gạo, đem tuyết v ì nó không phải nước,

đem đến một cái bát đất v ì nó không phải

nồi, chặt lấy vài tấm gỗ, đó không phải l à

cái lò, nhóm lửa bằng cách cọ xát chứ không dùng mồi lửa thật,

đốt lá thay v ì gỗ. Nấu cơm xong

để v ào một chậu khác, ép xuống thật

chặt, đặt tr ên

đầu của một hoạn quan, người n ày phi nam

phi nữ, bỏ đường cái m à

đi theo đường m òn,

đem l ên dâng vua.

- Dân chúng làm như vậy và vua rất đẹp l òng

khi nghe chuyện nhờ người nào mà vấn đề đ ã

được giải quyết.

15. CÁT

Một ngày kia để thử t ài bậc Trí giả,

lệnh vua ban xuống cho dân làng này:

- Đức vua rất thích thú nằm v õng, mà

võng cũ đ ã

đứt. Vậy các ngươi h ãy làm một chiếc võng bằng cát. Nếu không, phải

chịu phạt vạ một ngàn đồng tiền.

Dân làng chẳng biết làm sao lại phải cầu cứu bậc Trí giả. Ngài thấy

đây cũng l à chuyện

đặt vấn đề phản công lại. Ng ài trấn an

dân chúng rồi đi t ìm hai ba người

đối đáp thật thông minh lanh lợi đến, v à

ngài bảo họ đến tr ình lên vua:

- Tâu Đại vương, dân l àng chúng thần

không biết chiếc võng cát phải dày hay mỏng, vậy xin cho chúng thần một mảnh

chiếc võng cũ, dài độ một gang tay hay chừng

bốn ngón tay, chúng thần sẽ theo đó m à bện dây thừng

đúng cỡ đó. Nếu đức vua đáp: -"Trẫm chẳng hề có

chiếc v õng cát trong cung", thì họ phải tâu ngay: -"Nếu

Đại vương không thể l àm võng bằng cát

thì làm sao dân làng có thể làm được?"

Dân làng vâng theo lời nói như vậy và vua rất hài lòng khi nghe bậc Trí

giả đ ã nghĩ ra cách

đối đáp phản công lại như tr ên.

16. HỒ NƯỚC.

Một ngày kia có lệnh vua ban:

- Đức vua muốn vui chơi dưới nước, các ngươi

phải đem dâng ng ài một hồ nước mới có đủ

năm loại sen súng, nếu không phải chịu phạt một ng àn

đồng tiề n.

Dân làng kể chuyện với bậc Trí giả, ngài thấy

đây cũng cần đối đáp phản công lại. Ng ài

cho gọi nhiều người đối đáp lanh lợi đến rồi

bảo họ:

- Hãy lội xuống nước chơi đ ùa cho

đỏ cả mắt, rồi đi đến ho àng môn tóc tai

áo quần lấm bê bết, tay cầm dây thừng, gậy gộc,

đất đá, nhờ tâu tr ình với đức vua rằng

các ông đ ã đến chầu, v à khi các

ông được phép v ào cung, hãy tâu với

ngài: -"Tâu Đại vương, v ì

Đại vương ban lệnh cho dân Đông thị trấn dâng

ng ài một hồ nước, chúng thần đ ã

mang đến đấy một hồ nước thật lớn để đẹp ý Đại

vương nhưng hồ n ày quen sống ở rừng nên vừa thấy thị thành với hào

lũy tháp canh thì nó sợ hãi bức tung dây thừng chạy trốn vào rừng, chúng

thần đ ã ném

đất đá v ào nó, lấy gậy gộc đán h

đập nó nhưng cũng không bắt nó trở lại được.

Vậy xin cho chúng thần chiếc hồ cũ m à chúng thần nghe nói

Đại vương đ ã mang từ rừng về, chúng thần

sẽ buộc chúng chung với nhau để mang chiếc hồ

kia trở l ãi đây". Đức vua sẽ bảo: "Trẫm

chẳng hề bảo ai đem hồ từ rừng về đây cả v à cũng không hề bảo buộc hồ

lại rồi đem hồ kia về đây". Khi ấy các ông sẽ

phải tâu: "Nếu vậy th ì làm sao dân làng chúng thần dâng

Đại vương m ột hồ nước

được?".

Họ y theo vậy mà làm khiến đức vua rất đẹp l òng

khi nghe nói bậc Trí giả đ ã nghĩ ra

chuyện ấy.

17. HOA VIÊN.

Lại một ngày kia, vua ban lệnh:

- Trẫm muốn giải trí trong hoa viên và hoa viên của trẫm

đ ã xưa cũ quá rồi. Dân chúng

Đông thị trấn phải dâng trẫm một hoa vi ên

mới đầy đủ kỳ hoa dị thảo...

Bậc Trí giả lại trấn an dân chúng như trước kia, rồi cho người

đi đối đáp với vua như tr ên.

18. YẾT KIẾN VUA VỚI CON LỪA

Lúc ấy vua rất hoan hỷ bảo Senaka:

- Này khanh, trẫm có nên triệu bậc Trí giả ấy về triều ch ăng?

Nhưng ông ganh ghét vì thấy kẻ khác được

vinh hiển, liền tâu:

- Như thế chẳng có gì phải gọi là bậc Trí giả cả, ta hãy chờ xem.

Nghe vậy vua nghĩ thầm: "Hiền giả Mahosadha thật là tài trí dù còn bé

khiến ta rất ái mộ. Trong những cuộc thử thách

đầy bí hiểm v à những lần đối đáp phản

công vừa qua, vị n ày đ ã ứng

đối như một vị Phật. Tuy nhi ên một người

tài trí như vậy thì Senaka lại không muốn ta triệu hồi về triều cho ta. Vậy

ta cần gì Senaka đ ã chứ? Ta cứ triệu vị

ấy về đây".

Thế là vua cùng với một đám đông t ùy

tùng khởi hành đến ngôi l àng ấy và vua

ngự trên vương mã. Nhưng vừa lên đường th ì

con ngựa sụp hố gãy chân, vua phải trở về cung. Senaka liền vào yết kiến vua

và nói:

- Tâu Đại vương, phải chăng Đại vương đ ã

đi về Đông thị trấn để đem bậc Trí giả v ào

triều?

- Chính phải, hiền khanh.

Senaka lại tâu:

- Đại vương xem tiểu thần chẳng v ào

đâu cả. Tiểu thần xin Đại vương chờ đợi một ít

lâu, nhưng Đại vương cứ vội ra đi v à vừa lên

đường th ì vương mã bò gãy chân.

Vua không nói gì với ông nữa. Một ngày kia, vua lại hỏi Senaka:

- Trẫm triệu hồi vị Hiền trí này về triều

được chăng, hiền khanh Senaka?

- Tâu Đại vương, nếu vậy xin Đại vương đừng

tự thân h ành ngự đi, m à chỉ cần

cho sứ giả đến bảo: "N ày Hiền giả, trẫm

đ ã thân hành

đi tri ệu hồi ngài và con ngựa của trẫm

bị gãy chân, vậy hãy tiến cung một con ngựa tốt hơn và một

đại tuấn m ã". Nếu vị ấy chọn chuyện

đầu ti ên, vị ấy sẽ

đích thân về triều, nếu chọn chuyện thứ hai, vị

ấy sẽ nhờ thân phụ đi thế. Như vậy cũng l à việc

để thử thách vị ấy nữa.

Vua cho sứ giả đem lệnh ấy ra đi. Bậc Trí

giả khi nghe vậy, hiểu ngay rằng vua mong muốn gặp Ng ài và phụ thân

ngài. Ngài liền đi t ìm phụ thân và chào

hỏi:

- Thưa phụ thân, đức vua muốn gặp cha con

ta. Xin phụ thân l ên đường trước c ùng

đo àn tùy tùng gồm cả ngàn thương nhân.

Khi đi đường, phụ thân đừng đi hai tay không, m à

đem theo một hộp bằng gỗ đ àn hương

đựng đầy bơ tươi. Đức vua sẽ ân cần ch ào

hỏi thân phụ và mời thân phụ ngồi ghế gia chủ, xin thân phụ cứ ngồi xuống.

Khi ấy, con sẽ đến, đức vua cũng lại ân cần ch ào

đón con v à mời con ngồi một ghế như vậy.

Rồi con sẽ nhìn thân phụ; thân phụ đưa ám hiệu

v à đứng l ên bảo: "Hiền giả

Mahosadha nam tử, hãy ngồi xuống đi". Vấn đề

lúc ấy sẽ chín muồi để ta giải quyết.

Thân phụ ngài làm theo như vậy. Khi đến

cung, ông xin tr ình vua họ đ ã

đến, rồi được vua cho v ào, ông

đến tung hô chúc tụng vua xong v à

đứng sang một b ên. Vua ân cần chào

đón ông v à hỏi th ăm

bậc Trí giả Mahosadha nam tử ở đâu.

- Tâu Đại vương, hiền nhi sẽ đến sau tiểu

thần.

Vua hài lòng khi nghe bậc Trí giả sắp đến,

liền mời thân phụ ng ài ngồi xuống một nơi thích hợp. Ông ngồi xuống.

Trong lúc ấy, bậc Đại Sĩ được trang sức xi êm

y cực kỳ lộng lẫy, cùng với một ngàn nhi đồng

theo hầu, ngồi tr ên chiếc xe thật sang trọng uy nghi. Khi

đến kinh th ành, ngài thấy một con lừa

đứng cạnh một cái hố, liền bảo mấy người bạo

dạn bịt miệng con lừa lại để cho nó khỏi k êu, xong bỏ nó vào bao vát

lên vai. Họ làm như vậy, rồi Bồ-tát vào cung với

đo àn tùy tùng

đông đảo của ng ài. Dân chúng không ngớt

tán thán ngài. Họ la lên:

- Đây l à bậc Trí giả Mahosadha, nam

tử của phú ông Sirivaddhaka, người ta bảo ngài sinh ra có cây thuốc thần

trong tay, chính ngài đ ã biết cách giải

đáp mọi vấn đề được đặt ra để thử t ài

ngài.

Khi đến trước cung, ng ài bảo trình

vua ngài đ ã

đến. Vua rất đẹp ý, liền bảo:

- Hãy mời Trí giả Mahosadha nam tử của trẫm mau vào chầu.

Vì thế ngài liền vào cung cùng đám t ùy

tùng. Tung hô vua xong, ngài đứng sang một b ên.

Vua rất hoan hỷ khi trông thấy ngài nên nói giọng rất ngọt ngào, ban lệnh

cho ngài tìm một nơi thích hợp mà ngồi. Ngài liền nhìn cha, ông thấy ám hiệu

liền đứng dậy mời con ngồi chỗ ấy, ng ài

liền ngồi ngay. Thế là các kẻ ngu si đằng kia

như Senaka, Pukkusa, K àvinda, Devinda cùng nhiều kẻ khác nữa, thấy

ngài ngồi như vậy, liền vỗ tay cười rộ lên và bảo:

- Đây l à thằng ngốc

đui m ù mà chúng bảo là bậc Trí giả. Nó

bảo cha nó đứng dậy để nó ngồi v ào chỗ

ấy. Chắc chắn không thể gọi nó là bậc Trí giả

được.

Vua cũng tiu nghỉu như mèo cụt tai. Bậc Trí giả liền hỏi:

- Tâu Đại vương, Đại vương không đẹp ý

chăng?

- Đúng vậy, n ày Hiền giả, trẫm buồn

lắm. Trước đây trẫm rất hoan hỷ khi nghe nói về

Hiền giả, nhưng nay gặp Hiền giả trẫm lại không được vừa l òng.

- Tại sao như vậy?

- Chỉ vì khanh bảo thân phụ khanh đứng dậy

để khanh ngồi v ào chỗ ấy.

- Tâu Đại vương, ng ài cho rằng lúc

nào cha ông cũng hơn con cái cả hay sao?

- Đúng vậy, n ày Hiền giả.

- Thế Đại vương đ ã không ban lệnh cho

tiểu thần tiến dâng một tuấn mã tốt hơn nữa hoặc một

đại tuấn m ã ưu tú nhất

đó sao?

Nói xong, ngài đứng dậy nh ìn các nhi

đồng theo hầu ng ài và bảo:

- Đem con lừa của các bạn v ào

đây.

Đặt con lừa trước mặt vua, ngài tiếp tục hỏi:

- Tâu Đại vương, con lừa n ày

đáng giá bao nhi êu?

Vua đáp:

- Nếu dùng được th ì nó

đáng giá tám đồng tiền (ru-pi).

- Nhưng nếu nó tạo được một con la con với

một ngựa cái thuần giống Sindh th ì giá con la sẽ bao nhiêu?

- Thế thì nó vô giá.

- Tâu Đại vương, tại sao ng ài lại nói

vậy? Ngài chẳng vừa bảo là bất cứ lúc nào ông cha cũng hơn con cái cả hay

sao? Theo như ngài nói thì con lừa phải đáng

giá hơn con la chứ! Giờ đây các bậc Trí giả của ng ài

đ ã không vỗ tay chế nhạo tiểu thần chỉ

vì họ không biết điều ấy đó sao? Vậy t ài

trí của các bậc Trí giả ấy ở đâu chứ? Đại vương

đ ã tìm họ ở đâu ra vậy?

Rồi tỏ vẻ khinh thường cả bốn vị kia, ngài

đọc b ài kệ này trong Chương một (số 111) trình vua:

Tâu Đại vương, ng ài vẫn nghĩ rằng

Con luôn thua kém bậc cha ông?

Thế thì lừa phải hơn la chứ,

Lừa ấy với la chính phụ thân!

Sau đó, ng ài tiếp tục nói:

- Tâu Đại vương, nếu ông cha phải hơn con

cái th ì xin Đại vương h ãy sử dụng

thân phụ của tiểu thần; còn nếu con cái hơn ông cha thì xin sử dụng tiểu

thần.

Vua rất đẹp ý v à tất cả quần thần reo

hò nhiệt liệt tán thán cả ngàn lần:

- Bậc Đại trí giải quyết vấn đề thật vi diệu

thay !

Tiếng vỗ tay vang dậy và cả ngàn chiếc kh ăn

qu àng giơ lên vẫy tưng bừng khiến bốn vị kia tiu nghỉu.

Thời bấy giờ không ai hiểu rõ hơn Bồ-tát về giá trị của phụ mẫu mình. Nếu

ai hỏi lúc ấy tại sao ngài lại làm như vậy, thì

đó không phải l à vì ngài xem thường thân phụ ngài, nhưng chỉ vì khi

vua ban lệnh tiến dâng một tuấn mã tốt hơn hoặc một tuấn mã ưu tú

đệ nhất, ng ài phải làm như thế

để giải quyết vấn đề vua đặt ra, để l àm

hiển lộ tài trí của ngài vượt hẳn bốn vị kia.

Vua rất hoan hỷ, cầm chiếc bình vàng đựng

nước hương, rót nước l ên bàn tay của vị phú thương kia và phán:

- Khanh hãy thọ hưởng Đông thị trấn l à

tặng vật trẫm ban thưởng cho khanh. Các phú thương trong vùng phải thần phục

vị này.

Sau đó vua lại ban thưởng mẫu thân của

Bồ-tát đầy đủ các loại nữ trang. V ì đẹp

ý trước cách Bồ-tát giải quyết vấn đề con lừa, vua ước mong nhận Bồ-tát l àm

con mình, liền nói với người cha ngài:

- Này hiền khanh, hãy để bậc Đại trí l àm

con trẫm.

Ông đáp:

- Tâu Đại vương, nay con của Tiểu thần c òn

quá thơ dại, miệng còn hôi sữa; nhưng khi lớn khôn, tiểu nhi xin

đến hầu hạ Đại vương.

Tuy thế, vua vẫn phán:

- Này hiền khanh, từ nay đừng lưu luyến cậu

bé n ày nữa, từ hôm nay nó là con của trẫm. Trẫm có thể nuôi nấng con

của trẫm, vậy khanh hãy đi về.

Rồi vua ban lệnh cho ông ra về. Ông tuân lệnh vua, ôm lấy con

trong đôi v òng tay mình, hôn lên

đầu v à nhắn nhủ

đôi điều. Cậu bé gi ã biệt phụ thân,

khuyên cha chớ lo âu, rồi để cha ra đi.

Sau đó vua hỏi bậc Trí giả muốn d ùng

cơm bên trong cung hay ở ngoài. Ngài nghĩ rằng với

đám t ùy tùng

đông đảo như vậy, tốt nhất n ên

ăn uống b ên ngoài cung

điện, n ên tâu trình vua theo mục

đích ấy. Vua liền ban cho ng ài một ngôi

nhà hợp ý, cung cấp vật dụng đầy đủ cho một ng àn

nhi đồng ăn ở tại chỗ, từ đó bậc Trí giả phụng

sự vua.

19. VIÊN BẢO NGỌC.

Lúc bấy giờ vua lại muốn thử tài ngài. Thời

đó có một vi ên bảo châu nằm trong tổ quạ trên cây cọ dừa (tàla) bên

bờ hồ cạnh Nam môn và ảnh của viên bảo ngọc thường phản chiếu trên mặt hồ.

Dân chúng trình vua rằng có viên bảo ngọc dưới hồ. Vua liền triệu Senaka

đến bảo:

- Dân chúng bảo có viên bảo ngọc dưới hồ, làm thế nào

để lấy l ên

được?

Senaka tâu:

- Cách tốt nhất là tát cạn nước.

- Vua bảo ông thi hành, ông liền tập họp một

đám người tát nước v à lấy bùn ra, rồi đ ào

đất dưới đáy h ồ, nhưng chẳng thấy ngọc

đâu. Thế m à khi hồ

đầy nước lại, ánh ngọc vẫn phản chiếu tr ên

hồ như cũ. Senaka lại cho tát nước nữa và cũng không tìm thấy ngọc. Sau

đó vua triệu bậc Trí giả v à bảo:

- Dân chúng có thấy viên ngọc trong hồ, Senaka

đ ã cho tát nước bùn ra và

đ ào đất l ên

mà chẳng thấy ngọc đâu, nhưng vừa khi nước hồ

đầy th ì ngọc lại hiện lên, hiền nhi có thể lấy ngọc lên ch ăng?

- Tâu phụ vương, chuyện đó không khó g ì,

thần nhi xin đi lấy ngọc về dâng phụ vương.

Vua rất đẹp ý khi nghe ng ài hứa, rồi

cùng một đám đông cận thần theo hầu, vua ngự ra

hồ, sẵn s àng chứng kiến oai lực đại trí

của bậc Hiền giả. Bậc Đại Sĩ đứng tr ên hồ quan sát, ngài nhận xét

rằng ngọc không ở trong hồ, mà phải ở trên cây, nên ngài nói to:

- Tâu phụ vương, ngọc không có trong hồ.

- Sao không thấy ngọc dưới nước ch ăng?

Thế là ngài bảo đem đến một th ùng

nước và nói:

- Tâu phụ vương, đây chẳng phải l à ta

thấy ngọc trong thùng nước và cả trong hồ sao?

- Thế thì ngọc ở đâu?

- Tâu phụ vương, đây chỉ l à ánh ngọc

phản chiếu trong hồ nước lẫn trong thùng, còn ngọc ở trong tổ quạ ở trên cây

cọ dừa kia. Xin phụ vương cho người lên lấy ngọc và

đem xuống đây.

Vua y lời, cho người đem ngọc xuống v à

bậc Hiền trí đặt vi ên ngọc vào tay vua.

Mọi người tán dương bậc Trí giả và nhạo báng Senaka:

- Đây l à viên bảo ngọc nằm trong tổ

quạ trên cây, thế mà Senaka lại bảo đám người

lực lưỡng đ ào hồ. Chắc chắn một bậc Trí giả phải như Mahosadha này.

Họ cứ ca ngợi bậc Đại Sĩ như vậy, c òn

vua rất đẹp ý, ban cho ng ài xâu chuỗi

ngọc mà vua đang đeo tr ên cổ và ban

đủ chuỗi ngọc cho cả ng àn nhi

đồng kia, xong lại cho phép từ nay ng ài

và đám t ùy tùng của ngài vào chầu vua

được miễn lễ.

20. CON TẮC KÈ.

Một ngày kia, vua cùng bậc Trí giả bước vào ngự viên, thì một con tắc kè

ở trên chiếc cổng vòng cung trông thấy vua, liền bò xuống, nằm sát

đất. Vua thấy vậy, hỏi:

- Này bậc Trí giả, nó làm gì vậy?

- Tâu Đại vương, nó tỏ l òng cung kính

đối với phụ vương.

- Nếu vậy ta chẳng nên bỏ qua việc nó cung kính mà không thưởng nó, hãy

cho nó thật nhiều tặng vật.

- Tâu phụ vương, tặng vật chẳng ích lợi gì cho nó, cái nó cần là thức

ăn.

- Vậy nó ăn g ì?

- Tâu phụ vương, thịt.

- Nó cần ăn độ bao nhi êu?

- Chừng một xu, tâu phụ vương.

- Chỉ đáng một xu th ì chẳng xứng quà

thưởng của vua ban-Vua bảo.

Rồi ngài truyền cho một người đến, ban lệnh

đem cho con tắc k è đều đều mỗi ng ày

n ăm xu thịt. Việc n ày

được thi h ành sau

đó. Nhưng v ào ngày trai giới, không có

sát sinh, người đó không kiếm ra thịt, n ên

gã đục một lỗ qua đồng h ào nửa, buộc một

sợi dây vào cổ con tắc kè. Việc ấy làm con tắc kè sinh kiêu mạn.

Một ngày kia, vua lại vào ngự viên, nhưng con tắc kè thấy vua

đến gần, m à nó

đang ki êu mạn vì cho rằng nó cũng nhiều

của cải như vua, nó nghĩ thầm: " Đại vương gi àu

có lắm, này Đại vương Videha, nhưng ta đây cũng

vậy". Thế l à nó không bò xuống, mà cứ nằm yên trên cổng vòng cung gõ

nhịp chiếc đầu. Vua thấy vậy liền hỏi:

- Này bậc Trí giả, hôm nay con vật kia không xuống

đây như lệ thường, cớ sao vậy?

Rồi ngài ngâm vần kệ đầu ti ên:

1. Tắc kè thuở trước chẳng bò lên,

Khung cửa vòng cung, bậc Trí hiền,

Hãy giải thích ngay cho trẫm rõ,

Tắc kè sao cứng cổ như trên?

Bậc Trí giả nhận thấy rằng có lẽ gã kia không kiếm

đâu ra thịt v ào ngày trai giới cấm sát

sinh, nên con vật này ắt sinh lòng kiêu mạn vì

đồng tiền buộc v ào cổ nó; bởi thế ngài ngâm kệ này:

2. Con tắc kè kia được thưởng cho,

Món tiền nó chẳng có bao giờ,

Nửa h ào, nên nó không tôn trọng,

Đại đế Vi-đề Mi-thi-la.

Vua truyền triệu gã kia đến hỏi chuyện v à

gã kể mọi sự đúng như vậy. Vua lại c àng

đẹp ý về bậc Trí giả hơn nữa v ì hình như

ngài biết được ý con tắc k è mà chẳng cần

hỏi han gì cả, thật tài trí chẳng khác nào trí tuệ tối thượng của một vị

Phật. Vì thế vua cho phép ngài thu lợi tức cả bốn cửa thành. Vua giận con

tắc kè, muốn gián đoạn việc ban thưởng cho nó,

nhưng bậc Trí giả bảo đó l à việc không nên làm và khuyên can vua.

21.

ĐẠI PHƯỚC V À BẤT HẠNH

Thời bấy giờ một thiếu sinh tên gọi Pinguttara ở thành Mithilà

đến Takkasil à học với một danh sư. Sau

thời kỳ tinh cần học tập đ ã viên mãn,

chàng tạ từ sư phụ ra về.

Nhưng trong gia tộc của danh sư này có tục lệ: nếu con gái

đến tuổi lấy chồng, th ì phải gả cho môn

đồ lớn tuổi nhất. Vị danh sư n ày có cô

con gái đẹp như ti ên, do

đó bảo môn đồ:

- Này đệ tử, ta sẽ gả con gái ta cho đệ tử,

vậy con h ãy đem con ta c ùng

đi về với con.

Lúc ấy cậu thiếu sinh thật là kẻ bất hạnh, thiếu may mắn, còn cô gái kia

thật có phước lớn. Khi chàng ta thấy nàng, chàng chẳng hề quan tâm

đến n àng, nhưng nghe thầy bảo vậy, chàng

cũng đồng ý v ì không muốn xem thường lời

dạy của thầy, thế là vị Bà-la-môn này gả con gái cho chàng.

Đ êm động ph òng

hoa chúc, chàng lên giường nằm; nàng vừa mới leo lên giường thì chàng càu

nhàu leo xuống đất, n àng cũng bước xuống

nằm cạnh chàng, chàng liền đứng dậy leo l ên

giường lại, nàng cũng bước lên giường, chàng lại bước xuống, vì kẻ bất hạnh

không đi đôi với người đại phước được. Thế l à

cô gái nằm trên giường, cậu trai nằm dưới đất.

Cứ thế bảy ng ày trôi qua.

Sau đó ch àng trai tạ từ sư phụ và ra

đi với vợ ch àng. Trên

đường đi chẳng có g ì hơn ngoài vài câu

chuyện trao đổi giữa hai vợ chồng. Cả hai đều

buồn khổ đi đến th ành Mithilà. Không xa thành mấy, Pinguttara thấy

một cây sung đầy trái v à

đang lúc đói bụng, ch àng trèo lên cây

hái vài quả ăn. Cô gái cũng đói bụng đến gốc

cây gọi l ên:

- Xin chàng ném xuống cho thiếp vài quả.

- Ô hay, chàng bảo, nàng không có tay chân sao? Trèo lên mà tự hái lấy.

Nàng đ ành trèo lên hái sung

ăn. Ch àng vừa thấy nàng trèo lên, liền

nhanh chân trèo xuống, chất gai góc quanh gốc cây và bỏ

đi, tự nhủ thầm: "Nay ta đ ã thoát

được người đ àn bà tồi tệ này rồi". Nàng

không leo xuống được đ ành ngồi trên cây.

Lúc bấy giờ vua đang vui chơi trong rừng đến

chiều, rồi ngự l ên vương tượng trở về thành. Khi thấy nàng, vua

đem l òng yêu ngay, vì thế vua cho người

hỏi nàng có chồng chưa, nàng đáp:

- Tiện thiếp đ ã có chồng do gia

đ ình gả cho, nhưng người ấy

đ ã ra đi v à

bỏ tiện thiếp lại đây một m ình.

Vị cận thần trình chuyện với vua, ngài bảo:

- Thật là bảo vật đưa về tay vua.

- Nàng liền được mang xuống, đặt l ên

voi chở về triều. Tại đây n àng

được rảy nước phong chức ho àng hậu. Nàng

được vua rất sủng ái v à

được mệnh danh l à Udumbarà hay "Hoàng

hậu cây Sung" vì vua thấy nàng trên cây sung lần

đầu ti ên.

Một ngày nọ, dân chúng ở cạnh cổng kinh thành phải dọn

đường cho vua ngự du v ào hoa viên và

Pinguttara phải đi kiếm ăn n ên cũng xắn

áo quần lên và dùng cái cào dọn đường. Trước

khi đường sá dọn dẹp xong, vua c ùng hoàng hậu Udumbarà

đ ã ngự đến

tr ên vương xa, hoàng hậu trông thấy kẻ khốn khổ ấy

đang dọn đường, không giữ được vẻ đắc thắng, n àng

nhìn chàng ta mỉm cười. Vua nổi giận khi nàng mỉm cười, liền hỏi tại sao.

Nàng đáp:

- Tâu Đại vương, kẻ dọn đường kia l à

chồng cũ của thần thiếp, người đ ã bắt

thần thiếp trèo lên cây sung rồi chất gai quanh gốc cây xong lại bỏ

đi, bây giờ gặp lại g ã, thần thiếp không

sao khỏi thấy đắc thắng về số phận may mắn của

thần thiếp v à mỉm cười khi gặp gã đằng

kia.

Vua bảo:

- Ngươi nói láo, ngươi cười với một kẻ khác, ta sẽ giết ngươi.

Và vua rút kiếm ra. Nàng hoảng hốt kêu lên:

- Tâu Đại vương, xin Đại vương vấn ý các vị

hiền thần của Đại vương.

Vua hỏi Senaka xem ông có tin lời nàng hay ch ăng.

Ông đáp:

- Tâu Đại vương, thần không tin được v ì

ai có thể bỏ một mỹ nhân đẹp thế kia khi đ ã

chiếm được n àng?

Nàng nghe vậy càng run sợ hơn nữa. Nhưng vua nghĩ thầm: "Senaka làm sao

biết được chuyện n ày,

để ta hỏi bậc Hiền trí xem sao", rồi vua ngâm

kệ hỏi ng ài:

3. Một nữ nhi đức hạnh, diễm kiều,

Nhưng nam nhân ấy chẳng thương y êu,

Hiền khanh có thể tin không chứ?

Trí giả Sa-dha hãy nói nào.

Bậc Trí giả đáp:

4. Thần vẫn tin điều ấy, Đại vương,

Kẻ kia thật bất hạnh bần c ùng,

Người nhiều ân phước và vô phước,

Chẳng có bao giờ kết bạn chung.

Những lời này làm dịu cơn thịnh nộ của vua, lòng ngài bình tĩnh lại và

rất hân hoan ngài bảo:

- Này bậc Trí giả, nếu khanh không ở đây, ắt

hẳn trẫm đ ã nghe lời kẻ ngu si Senaka kia và mất nữ báu này, khanh

đ ã cứu hoàng hậu cho trẫm.

Vua liền ban thưởng bậc Trí giả một ngàn

đồng tiền. Rồi ho àng hậu kính cẩn tâu với vua:

- Tâu Đại vương, chính nhờ bậc Hiền trí n ày

mà thần thiếp được cứu sống. Vậy xin Đại vương

ban cho thần thiếp một điều ước: Đó l à cho phép thần thiếp

đối xử với bậc Trí giả như một tiểu đệ.

- Được, n ày ái khanh, trẫm chấp thuận

ban điều ước ấy.

- Tâu Đại vương, nếu được như vậy, bắt đầu

từ hôm nay thần thiếp không thể d ùng cao lương mỹ vị mà không có tiểu

đệ, từ nay đúng m ùa hay trái mùa thiếp

điều mở cửa cung đem bánh trái cho tiểu đệ,

thần thiếp tha thiết ước ao như vậy.

- Ái khanh cũng được toại nguyện nữa-Vua

bảo.

Đến đây chấm dứt chuyện Đại phước và Bất hạnh.

22. CON DÊ VÀ CON CHÓ.

Một ngày kia, sau bữa điểm tâm, vua dạo chơi

tr ên lối đi bộ chợt thấy qua bậc cửa một

con d ê và một con chó đang đánh bạn với

nhau. Lúc bấy giờ con d ê có thói quen ăn

cỏ ném cho bầy voi cạnh chuồng voi trước khi voi ăn, cho n ên những

người quản tượng đánh đuổi con d ê

đi. Trong khi nó vừa chạy vừa k êu be be

thì một người rượt theo lấy gậy đánh v ào

lưng nó. Con dê oằn lưng lại vì đau đớn, chạy

đến nằm cạnh trường th ành của hoàng cung, trên chiếc ghế dài.

Lúc bấy giờ có một con chó đ ã

ăn hết xương, da v à vật thừa trong nhà

bếp của hoàng cung, cùng ngày hôm ấy, người đầu

bếp đ ã nấu nướng thức ăn xong, để v ào

dĩa hẳn hoi. Trong khi gã đang lau mồ hôi tr ên

mình thì con chó nghe mùi thơm của cá thịt, chịu không nổi, liền vào bếp giở

nắp đậy ra v à bắt

đầu ăn thịt. Những người đầu bếp nghe tiếng bát

đĩa rổn rảng liền chạy v ào thấy chó đang

ăn thịt, g ã đóng cửa lại, lấy đá v à

gậy đánh nó. Con chó thả miếng thịt vừa chạy

vừa la ẳng ẳng, người đầu bếp thấy nó chạy, c òn rượt theo

đánh một gậy đích đáng v ào lưng. Con chó

cong lưng lại co rút một chân lên, chạy đến nơi

con d ê đang nằm. Con d ê hỏi:

- Này bạn, tại sao bạn cong lưng lại, bạn

đau bụng chăng?

Con chó đáp:

- Bạn cũng đang cong lưng lại đấy chứ, bạn

cũng đau bụng chăng?

Con chó liền kể chuyện của nó xong, con dê hỏi thêm:

- Thế bạn có vào nhà bếp được nữa không?

- Không, chuyện này cũng đáng đời ta lắm

rồi, thế bạn có đến chuồng voi được nữa chăng?

- Cũng chẳng hơn gì bạn, chuyện đó cũng đáng

đời ta lắm rồi.

- Thế rồi chúng bắt đầu băn khoăn không biết

l àm cách nào để sống đây. D ê nói:

- Hay là ta cùng chung sống được chăng? Tôi

có ý kiến n ày.

- Xin cho ta biết ngay.

- Này bạn, bạn hãy đi đến chuồng voi, những

người quản tượng sẽ không để ý đến bạn v ì họ nghĩ rằng chó không

ăn cỏ đâu, thế l à bạn mang cỏ về cho

tôi. Tôi sẽ đến nh à bếp và người

đầu bếp sẽ không chú ý đến tôi v ì nghĩ

rằng tôi không ăn cá thịt được đâu. Thế l à

tôi sẽ đem thịt về cho bạn.

- Thật là diệu kế ! Con chó đáp.

Rồi chúng giao hẹn: Con chó đến chuồng voi

tha về một nắm cỏ trong mồm v à đặt cạnh

trường th ành và con dê vào nhà bếp mang ra một miếng thịt lớn

đặt v ào cùng chỗ ấy, con chó

ăn thịt v à con dê

ăn cỏ. Theo cách nầy chúng sống chung h òa

hợp cạnh bức trường thành .

Khi vua thấy tình bằng hữu của chúng, ngài suy nghĩ: "Trước kia ta chưa

từng thấy một việc kỳ lạ như thế: Hai kẻ thù truyền kiếp lại sống chung

đầy thân t ình với nhau. Ta sẽ

đưa câu chuyện n ày thành một vấn

đề b àn cãi cho các hiền thần của ta. Nếu

họ không hiểu nổi, ta sẽ đuổi họ ra khỏi triều,

c òn nếu ai đoán được, ta sẽ tuy ên

dương là bậc Trí giả vô thượng và sẽ tỏ lòng tôn kính vị ấy. Hiện nay không

có việc, nhưng ngày mai, khi họ đến chầu ta, ta

sẽ đem vấn đề ra hỏi".

Thế là hôm sau, khi các hiền thần vào chầu vua, ngài liền

đặt vấn đề qua vần kệ:

5. Hai kẻ thù theo lẽ tự nhiên,

Chưa từng bảy bước đứng kề b ên,

Trở thành bạn thiết không rời nữa,

Duyên cớ là đâu? Các bậc hiền!

Sau đó, vua ngâm th êm một vần kệ:

6. Nếu không giải đáp trước trưa nay,

Trẫm sẽ đuổi luôn hết cả bầy,

Trẫm không cần những người ngu nữa,

Vậy h ãy tìm lời giải đáp ngay.

Lúc bấy giờ Senaka ngồi trên chiếc cẩm đôn h àng

đầu, bậc Trí giả ngồi cẩm đôn cuối c ùng,

ngài tự nhủ thầm: Đức vua chậm hiểu không tự nghĩ ra cách giải quyết

vấn đề này, chắc ngài phải thấy một chuyện gì đấy. Nếu ta được gia hạn một

ngày, ta sẽ giải quyết xong việc này. Senaka chắc chắn sẽ tìm kế hoãn lại

một ngày. Còn bốn vị kia chẳng thấy việc gì cả, chẳng khác nào ở trong phòng

tối, Senaka nhìn Bồ-tát xem ngài sẽ làm gì, Bồ-tát liền nhìn lại Senaka.

Nhìn vẻ mặt bậc Trí giả Mahosadha, Senaka hiểu

được tâm trạng ng ài, ông thấy rằng ngay cả bậc Trí giả cũng không

hiểu vấn đề, ng ài chưa giải

đáp được hôm nay m à cần gia hạn thêm một

ngày nữa, ngài sẽ hoàn thành việc giao ước này. Thế là ông cười to

để trấn an v à nói:

- Tâu Đại vương, Đại vương sẽ

đuổi chúng thần nếu chúng thần không giải đáp được vấn đề này chăng?

- Chính phải, hiền khanh.

- Đại vương biết đây l à một vấn

đề rắc rối, chúng thần không thể giải đáp nổi,

vậy xin Đại vương đợi một thời gian. Một vấn đề rắc rối không thể giải quyết

giữa đám đông. Xin cho chúng thần suy nghĩ thật kỹ rồi sẽ giải đáp sau. Xin

h ãy cho chúng thần một cơ hội.

Ông nói vậy vì tin tưởng bậc Đại Sĩ, rồi

ngâm hai vần kệ:

7. Giữa đám đông người tụ tập trung,

Thật ồn ào quá, trí mông lung,

Không sao tập hợp tư duy được,

Để giải đáp ngay, tâu Đại vương.

8. Nhưng hễ khi nào được độc cư,

B ình tâm tĩnh trí để suy tư,

Vấn đề xem xét cho tường tận,

Sẽ giải đáp ngay, h ãy đợi chờ.

Mặc dù nổi giận khi nghe lời này, vua vẫn

đáp lại giọng đe dọa:

- Được lắm, các khanh cứ suy nghĩ cho kỹ rồi

trả lời trẫm, nếu không được, trẫm sẽ đuổi hết đi.

Bốn vị hiền thần rời triều ra về, Senaka bảo ba vị kia:

- Chư hiền, đức vua đặt một vấn đề gay go,

nếu chúng ta không giải quyết n ổi thì thật

đại họa cho chúng ta. Vì vậy ta hãy

ăn uống no say rồi suy nghĩ cho kỹ.

Sau đó mỗi vị về tư dinh, c òn bậc Trí

giả đi t ìm hoàng hậu Udumbarà và thưa

bà:

- Tâu hoàng hậu, hôm qua và hôm nay thánh thượng thường ở

đâu?

- Này bậc Trí giả, ngài dạo chơi trên lối đi

v à nhìn ra cửa sổ.

Bồ-tát liền nghĩ: "Ồ, thế thì phải thấy chuyện gì

đó". Bồ-tát liền đến nơi ấy nh ìn ra và

thấy việc làm của con chó và con dê. "Vấn đề

của đức vua đ ã được giải quyết rồi", ng ài

kết luận và đi về nh à.

Ba vị hiền thần kia chẳng tìm thấy gì liền

đi đến Senaka, ông hỏi: Các vị đ ã tìm ra vấn

đề ấy chưa?

- Thưa ngài, chưa.

- Nếu vậy, đức vua sẽ đuổi các vị, tính sao

đây?

- Còn ngài đ ã nghĩ ra chưa?

- Cũng chưa nghĩ ra.

- Ngài còn chưa tìm ra, huống hồ chúng tôi? Chúng ta

đ ã rống lên như sư tử trước mặt

đức vua l à xin

để chúng ta suy nghĩ rồi sẽ giải quyết; nay ta

l àm không được ắt vua sẽ tức giận.Vậy ta

phải l àm thế nào đây?

- Vấn đề n ày chúng ta giải quyết

không được đâu. Chắc chắn bậc Trí giả đ ã

giải quyết cả tr ăm cách rồi.

- Thế thì ta đi đến ng ài xem sao.

Cả bốn vị kéo nhau đến trước cửa nh à

Bồ-tát, nhờ thông báo việc họ đến gặp ng ài,

rồi bước vào kính cẩn chào ngài xong, họ đứng

sang một b ên hỏi bậc Đại Sĩ:

- Thưa ngài, ngài đ ã nhìn ra vấn

đề ấy chưa?

- Nếu ta chưa nghĩ ra thì còn ai nghĩ ra đó

chứ. Dĩ nhi ên ta đ ã nghĩ ra rồi.

- Vậy xin ngài cho chúng tôi biết với.

Ngài nghĩ thầm: "Nếu ta không nói cho họ biết,

đức vua sẽ đuổi họ v à ban thưởng cho ta

bảy báu vật nhưng thôi, chớ để những t ên

ngu si kia tàn đời, ta sẽ cho họ biết". Rồi ng ài

bảo họ ngồi xuống ghế thấp, đưa tay l ên

chào ngài, sau đó, không nói thẳng cho họ biết

những g ì vua đ ã thấy tận mắt,

ngài chỉ làm bốn vần kệ, dạy cho mỗi vị một vần bằng tiếng Pàli

để đọc l ên trình vua khi

được hỏi đến, xong cho họ ra về.

Ngày hôm sau khi họ vào chầu vua, rồi ngồi xuống chỗ

được vua cho phép, vua liền hỏi Senaka:

- Hiền khanh đ ã giải

đáp vấn đề được chưa, Senaka?

- Tâu Đại vương, nếu thần không giải đáp

được th ì còn ai nữa chứ?

Vậy nói cho trẫm biết .

- Xin Đại vương nghe đây.

Rồi vị này đọc b ài kệ

đ ã học

được:

9. Bọn hành khất trẻ, các ông hoàng,

Rất thích thịt dê đực ngọt ngon,

Thịt chó, họ đều không thọ dụng,

Nhưng d ê- chó giữ mối thân bằng.

Mặc dù Senaka đọc kệ, ông vẫn chẳng hiểu ý

nghĩ g ì, còn phần vua lại hiểu, vì ngài

đ ã chứng kiến sự việc ấy. Ngài nghĩ: "Senaka

đ ã tìm ra rồi". Ngài liền quay sang

Pukkusa và hỏi ông ta:

- Tại sao thế tâu Đại vương, tiểu thần không

phải l à người có trí ch ăng?

Pukkusa hỏi vua, rồi đọc b ài kệ

đ ã học

được:

10. Họ lấy da dê phía núi rừng,

Phủ che ngựa quý ở trên lưng,

Còn da của chó không dùng được,

Nhưng chó d ê cùng kết bạn thân.

Ông này cũng chẳng hiểu chuyện gì, nhưng vua tưởng ông hiểu vì chính ngài

đ ã chứng kiến sự việc. Rồi ngài lại hỏi

Kàvinda và ông cũng đọc vần kệ:

11. Cặp sừng cong xoắn, chú dê rừng,

Nhưng chó lại không có cặp sừng,

Một con ăn cỏ, con ăn thịt,

Tuy thế, chó, d ê, kết bạn thân.

"Vị này cũng tìm ra rồi". Vua nghĩ thầm, rồi hỏi

đến Devinda, ông ta cũng như các vị kia, đọc l ên

bài kệ đ ã học

được:

12. Cừu dê ăn cỏ, lá cây luôn,

Cỏ, lá thì con chó chẳng ăn,

Chó thích ăn mèo hay thịt thỏ,

Nhưng dê- chó giữ mối thân bằng.

Kế đó vua hỏi bậc Trí giả.

- Này vương nhi, con có hiểu vấn đề n ày

ch ăng?

- Tâu Đại vương, c òn ai khác nữa hiểu

được nó từ địa ngục Av ìci (A-tỳ hay vô

gián) đến từng trời Bhavagga (Hữu đảnh), từ địa

ngục thấp nhất đến v ùng trời cao nhất?

- Vậy thì hãy nói cho trẫm.

- Xin phụ vương nghe đây.

Rồi ngài nói rõ sự hiểu biết vấn đề của ng ài

qua hai bài kệ này:

13-14. Con dê cao tám tất dùng chân,

Tám móng, không ai thấy, vội mang,

Món thịt về cho con chó ấy,

Chó đem cỏ đến chú d ê rừng.

Vi- đề-ha, chúa to àn dân chúng,

Đứng tại thượng lầu tận mắt trông,

Việc lấy thức ăn trao đổi ấy,

Giữa d ê, chó kết mối thân bằng.

Vua không hiểu các vị kia đ ã biết câu

chuyện nhờ Bồ-tát, nên rất hoan hỷ cho rằng cả n ăm

vị đều t ìm ra câu giải đáp vấn đề nhờ t ài

trí riêng của mình, và ngài cũng ngâm kệ:

15. Trẫm có các bậc hiền giả tại triều

Thật là ích lợi biết bao nhiêu,

Vấn đề tế nhị v à uyên áo,

Họ thấu triệt, lời lẽ tối ưu.

Rồi ngài bảo họ kẻ có công sẽ được đền đáp

xứng đáng. V à ngài ân thưởng qua câu kệ:

16. Cứ mỗi hiền khanh, trẫm thưởng ban,

Một xe, la cái, một ngôi làng,

Giàu sang thượng hạng cho người trí,

Trẫm thích thú lời lẽ ngọc vàng !

Rồi ngài ban thưởng tất cả các thứ ấy.

Đến đây chấm dứt vấn đề con Dê trong Chương mười hai.

*

Nhưng hoàng hậu Cây Sung biết rõ các kẻ kia hiểu

được vấn đề nhờ bậc Trí giả, b à nghĩ

thầm: " Đức vua ban thưởng giống nhau cho cả năm vị, chẳng khác nào một

kẻ không phân biệt được đậu nhỏ và đậu lớn, chắc chắn hiền đệ của ta phải

được phần thưởng đặc biệt hơn".

Rồi bà đến hỏi vua:

- Tâu Đại vương, ai đ ã giải

đáp câu đố ấy cho Đại vương?

- Này ái khanh, cả n ăm hiền giả.

- Nhưng tâu Đại vương, nhờ ai m à bốn

vị kia biết được?

- Ái khanh, trẫm không rõ.

- Tâu Đại vương, các vị kia biết g ì?

Chính bậc Trí giả muốn các vị ấy khỏi bị suy tàn vì ngài, nên cho họ biết

vấn đề ấy. Thế m à

Đại vương ban thưởng cho cả năm vị giống nhau.

Như vậy không công bằng, Đại vương n ên có phần thưởng

đặc biệt cho bậc Trí giả.

Vua rất đẹp ý v ì bậc Trí giả không

tiết lộ chuyện các vị kia biết được nhờ ng ài

và muốn ân thưởng thật trọng hậu cho ngài, vua nghĩ: "Không hề gì. Ta sẽ hỏi

con ta một vấn đề nữa, nếu con ta đáp trúng ta

sẽ hậu thưởng". Nghĩ vậy xong, vua đặt ra Vấn đề Gi àu Nghèo.

23. GIÀU VÀ NGHÈO.

Một ngày kia, khi n ăm bậc hiền thần v ào

chầu vua và khi họ đ ã an tọa, vua hỏi:

- Senaka, ta sẽ hỏi hiền khanh một chuyện.

- Tâu Đại vương, xin cứ hỏi.

Vua liền đọc vần kệ đầu trong Vấn đề Gi àu-Nghèo:

17. Có trí khôn nhưng thiếu bạc vàng,

Hoặc giàu tiền lại kém khôn ngoan,

Se-na-ka, trẫm hỏi khanh nhé:

Bậc trí gọi ai tốt đẹp hơn?

Lúc bấy giờ vấn đề n ày

được truyền lại từ đời n ày sang

đời khác trong gia tộc Senaka, n ên ông

đáp ngay:

18. Quả thật, kẻ ngu hoặc trí nhân,

Vô v ăn ph àm tục, hoặc

đa văn,

Đều hầu hạ những người gi àu có,

Dù họ cao sang hoặc hạ tầng,

Nhìn thấy điều n ày, thần mới nói:

Trí nhân thua kém kẻ giàu sang.

Vua nghe đáp xong không nói g ì thêm

ba vị kia mà nói với bậc Trí giả Mahosadha ngồi bên cạnh :

19. Ta cũng hỏi con, Đại trí nhân,

Bậc tinh thông vạn pháp tr ên trần:

Kẻ ngu lắm của, người khôn khó,

Bậc trí gọi ai tốt bội phần?

Bậc Đại Sĩ đáp:

- Xin Đại vương nghe đây:

20. Người ngu phạm tội, nghĩ suy rằng:

"Trên cõi đời, ta thắng thế hơn",

Họ thấy đời n ày, không cõi kế,

Nên mang tai họa cả hai đường.

Điều n ày con thấy, nên con nói:

Bậc trí hơn xa trọc phú đần.

Nghe nói vậy, vua nhìn Senaka và nói:

- Này hiền khanh, có thấy Mahosadha bảo bậc Trí nhân là cao hơn cả

đấy chăng?

Senaka đáp:

- Tâu Đại vương, Mahosadha chỉ l à một

trẻ thơ, miệng còn hôi sữa, đ ã biết gì?

Và ông ngâm kệ:

21. Kiến thức không đem lại bạc v àng,

Cũng không gia thế hoặc dung nhan,

Hãy nhìn ngốc tử Go-ri ấy,

Đang hưởng vinh hoa, đại phú cường,

V ì Đại vận chìu người hạ tiện.

Điều n ày thần thấy, mới thưa rằng:

Bậc hiền trí chịu phần hèn mọn,

Còn kẻ giàu tiền thắng thế hơn.

Nghe vậy, vua bảo:

- Này vương nhi Mahosadha, bây giờ con nghĩ sao?

Ngài đáp:

- Tâu phụ vương, Senaka có biết gì? Lão chỉ như con quạ thấy nơi nào có

thóc vãi, hay như con chó cố liếm cho hết sữa, chỉ thấy mình mà không thấy

chiếc gậy đang sẵn s àng giáng xuống

đầu. Xin phụ vương h ãy nghe

đây:

22. Một người tiểu trí hóa mê man.

Bị nhiễm độc khi hưởng bạc v àng:

Nếu gặp tai ương, thành ngớ ngẩn,

Rủi may số phận đến không lường,

Nó v ùng như cá phơi ngoài nắng,

Khi thấy điều tr ên, trẻ nói rằng:

Người trí hơn xa người có của,

Giàu tiền nhưng trí óc ngu đần.

- Này Đại Sư, thế th ì sao?

Vua bảo khi nghe ngài nói vậy, Senaka liền

đáp:

- Tâu Đại vương, cậu ấy n ào biết gì?

Chẳng nói gì đến người, m à ngay cả cây

tốt tươi, đầy quả ngọt, chim chóc cũng bay đến

đậu.

Rồi ông ngâm kệ:

23. Trong rừng, chim chóc tự mười phương,

Tụ tập trên cây có trái ngon,

Cũng vậy, người nhiều tiền lắm của,

Đám đông hám lợi đến quây quần.

Thấy vầy, thần nói: người hiền trí,

H èn kém, kẻ giàu thắng thế hơn.

- Này vương nhi, bây giờ con nghĩ sao? Vua hỏi.

Bậc Trí giả đáp:

- Lão bụng bự ấy nào có biết gì? Xin phụ vương nghe

đây.

Rồi ngài ngâm kệ:

24. Kẻ ngu quyền thế chẳng hiền lương,

Dùng bạo lực khi chiếm bạc vàng,

Nó rống thật to tùy ý thích,

Quỷ nhân kéo nó xuống âm cung!

Thấy điều n ày, tiểu nhi xin nói:

Bậc trí hơn xa trọc phú đần.

Vua lại bảo:

- Này Senaka?

Senaka liền đáp:

25. Mọi dòng nước đổ xuống sông Hằng,

Đều mất tánh danh với giống d òng,

Đổ xuống biển, sông Hằng cũng sẽ,

Không c òn phân biệt được th ành

phần.

Vậy đời phục vụ người gi àu của;

Nhìn thấy điều tr ên, thần nói rằng:

Người có trí chịu phần thấp kém,

Còn người giàu của chiếm phần hơn.

Vua lại bảo:

- Này bậc Trí giả nghĩ sao?

Ngài liền đáp:

- Xin phụ vương nghe đây.

Rồi ngài ngâm vần kệ:

26-27. Biển cả, người kia nói, lệ thường,

Muôn sông đổ xuống, đập không ngừng,

V ào bờ, nhưng chẳng bao giờ vượt,

Bờ nọ, dù hùng vĩ đại dương.

Cũng vậy, lời người ngu nhảm nhí,

Phồn vinh không thể vượt hiền nhân,

Thấy điều n ày, tiểu nhi xin nói:

Người trí hơn xa trọc phú đần.

- Khanh nghĩ sao? Senaka? Vua hỏi.

- Xin Đại vương nghe đây.

Ông đáp v à ngâm vần kệ:

28. Người giàu ở địa vị cao sang,

Có thể thiếu ph òng hộ bản thân,

Nhưng nếu nói gì cùng kẻ khác,

Lời kia giá trị giữa nhân quần.

Trí khôn không thể gây uy tín,

Cho kẻ nào không có bạc vàng.

Thấy vầy thần nói: người hiền trí,

Thấp kém, người giàu thắng thế hơn.

- Con nghĩ sao? Vua hỏi.

- Tâu Đại vương, xin nghe đây. Kẻ ngu si

Senaka ấy n ào có biết gì?

Rồi ngài ngâm vần kệ:

29. Vì kẻ khác hay chính bản thân,

Kẻ ngu thường chẳng nói chân ngôn,

Chịu ô nhục giữa nơi quần chúng,

Đời kế nó rơi cảnh khổ buồn.

V ì thấy điều n ày, con trẻ nói:

Trí nhân hơn trọc phú ngu đần.

Sau đó Senaka lại ngâm vần kệ:

30. Cho dù người Đại trí khôn ngoan,

Thiếu gạo thóc, lâm cảnh khốn n àn,

Nếu có nói điều g ì phải trái,

Cũng không giá trị giữa thân nhân,

Phồn vinh không đến nhờ tri kiến.

Nh ìn thấy điều tr ên, thần nói

rằng:

Người trí phải chịu phần thấp kém,

Còn người giàu của thắng phần hơn.

Vua lại hỏi:

- Vương nhi nói sao về việc này?

Bậc trí đáp:

- Senaka nào có biết gì? Lão chỉ nhìn đời n ày,

chứ không thấy đời sau.

Và ngài ngâm vần kệ:

31. Chẳng vì mình, cũng chẳng vì người,

Bậc Đại trí nhân phải dối lời,

Người được tôn s ùng trong hội chúng,

Đời sau hưởng hạnh phúc an vui.

Thấy điều n ày trẻ thơ xin nói:

Bậc trí hơn người trọc phú thôi.

Sau đó Senaka lại ngâm vần kệ:

32. Voi, ngựa, bò, vòng ngọc, nữ nhân,

Thấy nhiều trong các hộ giàu sang,

Để d ành cho các người giàu hưởng,

Mà chẳng cần uy lực thánh thần,

Nhìn thấy điều n ày, thần dám nói:

Bậc hiền thấp kém, phú gia hơn.

Bậc trí giả đáp:

- Lão ấy nào có biết gì?

Rồi ngài ngâm kệ, tiếp tục giải thích vấn

đề:

33. Người ngu hành động thiếu suy tư,

Nói những lời ngu xuẩn, dại rồ;

Vô trí bị quăng v ì Đại vận,

Như con rắn bỏ lớp da khô.

Thấy điều n ày, trẻ thơ xin nói:

Bậc trí hơn xa phú hộ ngu.

- Khanh nghĩ sao? Vua hỏi.

Senaka liền đáp:

- Tâu Đại vương, trẻ thơ n ày nào biết

gì, xin Đại vương nghe đây !

Rồi lão ngâm kệ, vì tưởng rằng sẽ làm cho bậc Trí giả không nói thêm gì

được nữa:

34. N ăm trí nhân l à bọn chúng thần,

Thảy đều hầu cận đấng tôn quân,

Hết l òng kính trọng ngài là chúa,

Là chủ nhân ông của thứ dân.

Như Đế Thích l à vua vạn vật,

Chính là chúa tể của thiên nhân.

Thấy vầy thần nói: người hiền trí,

Thấp kém, người giàu thắng thế hơn.

Khi vua nghe vậy, liền nghĩ thầm: " Điều ấy đ ã

được Senaka nói thẳng ra, ta không biết con ta

có bác bỏ được v à nói gì thêm không đây"

. Vì thế vua hỏi:

- Này, bậc Trí giả nghĩ sao đây?

Tuy nhiên lý luận này của Senaka không ai bác bỏ

được, trừ Bồ-tát thế l à bậc

Đại Sĩ liền bác bỏ ngay, ng ài

đáp:

- Tâu phụ vương, kẻ ngu ngốc kia nào biết gì? Lão chỉ nhìn thấy mình mà

không biết đến tính si êu việt của trí

tuệ, xin Đại vương h ãy nghe

đây.

Rồi ngài ngâm kệ:

35. Người ngu nô lệ của người hiền,

Khi vấn đề n ày phát khởi lên,

Bậc trí giải đề khôn khéo lắm,

Kẻ ngu rối trí tựa cuồng đi ên.

Thấy điều n ày, trẻ thơ xin nói:

Bậc trí hơn xa kẻ lắm tiền.

Bậc Đại Sĩ đưa ra lý luận n ày biểu lộ

đại trí của ng ài, chẳng khác nào ngài

đ ào được

cát v àng dưới chân núi Tu-di hay đem

vầng trăng tr òn sáng tỏ lên bầu trời.

- Này Senaka, nếu được th ì khanh cứ

đối đáp lại đi.

Nhưng cũng như kẻ đ ã dùng hết thóc

gạo trong kho, Senaka ngồi yên, rầu rĩ, lòng phiền muộn không nói n ăng

g ì được nữa. Nếu ông t ìm ra

được một lý luận khác, chắc cả ng àn câu

kệ nữa cũng chưa hết chuyện Tiền thân này, nhưng khi ông ấy không trả lời

được nữa, bậc Đại Sĩ lại tiếp tục ngâm kệ tán

thán trí tuệ, chẳng khác n ào ngài để d òng

hồng thủy tuôn tràn:

36. Trí tuệ được s ùng bởi thiện nhân,

Bạc vàng được chuộng bởi người trần,

Đắm say hưởng thụ bao tham dục.

Tri kiến Phật-đ à thật tuyệt luân;

Vàng bạc chẳng bao giờ vượt quá

Trí cao siêu việt, tấu vương quân.

Nghe xong vua rất hoan hỷ với cách giải đáp

vấn đề của bậc Đại Sĩ, đến độ vua ban thưởng ng ài vô số tài sản và

ngâm kệ:

37. Con đáp mọi câu hỏi của ta,

Pháp Sư độc nhất, Ma-ho-sa,

Ng àn bò cái, một voi, bò đực,

Tuấn m ã kéo mười cỗ đại xa,

Mười sáu ngôi l àng giàu đẹp nhất,

Hân hoan ta tặng thưởng con thơ.

Đến đây chấm dứt Vấn đề "Giàu Nghèo" (Chương XX).

24. CON

ĐƯỜNG BÍ MẬT.

Từ ngày ấy, vinh quang của Bồ-tát thật lẫy lừng và hoàng hậu Udumbarà

điều h ành chu

đáo mọi việc ch o ngài.

Khi ngài được mười sáu tuổi, b à nghĩ

thầm: "Tiểu đệ đ ã lớn, danh vọng thật

lẫy lừng, vậy ta phải tìm nơi xe duyên cho tiểu

đệ". B à liền tâu chuyện này với vua, và vua rất hài lòng:

- Tốt lắm, ái khanh, cứ nói chuyện cho vương nhi biết.

Bà nói với ngài chuyện ấy, ngài ưng thuận và bà nói:

- Vậy để ta t ìm tân nương cho con.

Bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Ta s ẽ chẳng

bao giờ vừa ý cho ai chọn vợ cho ta, ta sẽ tự chọn lấy mà thôi". Ngài liền

đáp:

- Tâu hoàng hậu, khoan nói chuyện này với thánh thượng trong vài ngày nữa

đ ã, xin để

tiểu đệ tự đi tìm vợ cho hợp ý mình, rồi tiểu đệ sẽ tâu trình sau.

- Được rồi, em cứ l àm như vậy.

Ngài từ giã hoàng hậu, đi về nh à

thông báo cho các thân hữu. Rồi ngài tìm cách kiếm

được bộ đồ nghèo của thợ may, một mình

đi ra cửa Bắc, tiến v ào Bắc thị trấn.

Lúc bấy giờ ở đó có một gia đ ình

thương nhân cổ kính bị suy sụp, là gia đ ình

của cô gái tên là Amarà (Bất tử) rất xinh đẹp,

khôn ngoan, có đầy đủ mọi tướng tốt của phúc phận. Sáng sớm hôm ấy cô gái đi

đến nơi cha n àng cày ruộng, để đem cháo

n àng nấu cho cha, tình cờ nàng cũng đi

tr ên con đường ấy. Khi bậc Đại Sĩ thấy n àng

đi đến, ng ài tự nhủ: "Một nữ nhân

đủ mọi tướng tốt l ành thay! Nếu nàng

chưa có gia thất, nàng phải làm vợ ta". Còn nàng khi vừa trông thấy ngài,

cũng tự nhủ: "Nếu ta được chung sống với một

nam nhân như vậy, ta có thể khôi phục cơ đồ sự nghiệp".

Bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Ta không biết n àng

có gia thất chưa, vậy ta sẽ hỏi nàng bằng cách ra dấu tay và nếu nàng thông

minh, nàng sẽ hiểu". Thế là đứng đằng xa, ng ài

nắm chặt tay lại. Nàng hiểu rằng ngài hỏi nàng có chồng chưa, liền xoe tay

ra. Thế rồi ngài vội đi đến hỏi t ên

nàng. Nàng đáp:

- Tên thiếp là cái hiện nay không có, trước kia

đ ã không có và sau này cũng sẽ không có

được.

- Thưa nương tử, không có gì trên đời n ày

bất tử cả, vậy chắc hẳn tên quý nương là Amarà, người Bất tử, phải ch ăng?

- Đúng vậy, thưa công tử.

- Nương tử đem cháo cho ai?

- Cho vị thần ngày xưa.

- Các thần ngày xưa là cha mẹ ta. Vậy chắc quý nương muốn nói

đến quý phụ thân?

- Đúng vậy, thưa công tử.

- Quý thân phụ hiện đang l àm gì?

- Người đang l àm một thành hai.

Lúc bấy giờ làm một thành hai là cầy ruộng.

- Người đang cầy ruộng chăng, hỡi quý nương?

- Thưa công tử, phải.

- Thế ruộng người cày ở đâu?

- Ở nơi người ra đi nhưng không trở lại nữa.

- Nơi người ra đi không trở lại l à

nghĩa địa, vậy người đang cầy ruộng gần nghĩa

địa?

- Đúng thế, thưa công tử.

- Quý nương có trở lại đây nữa chăng?

- Nếu nó đến th ì thiếp không

đến, c òn nếu nó không

đến th ì thiếp sẽ

đến, thưa công tử.

- Có lẽ quý thân phụ cày ruộng cạnh bờ sông, nên nếu nước dâng thì quý

nương không trở lại được, c òn nước không

dâng thì quý nương sẽ trở lại, phải ch ăng?

Sau cuộc trò chuyện trao đổi n ày,

nàng Amarà mời ngài uống nước cháo. Bậc Đại Sĩ

nghĩ nếu từ chối th ì khiếm nhã, nên ngài nhã nhặn xin nàng một ít.

Khi nàng để b ình nước cháo xuống

đất, ng ài nghĩ thầm: "Nếu nàng mời ta mà

không rửa cái hũ và cho ta nước rửa tay, ta sẽ từ giã nàng ra

đi".

Nhưng nàng lấy nước trong hũ đưa ng ài

rửa tay, rồi đặt chiếc hũ không xuống đất chứ

không đưa ng ài cầm, khuấy nước cháo trong bình xong, nàng

đổ đầy v ào hũ. Nhưng thấy rất ít gạo

trong nước cháo, ngài bảo:

- Này quý nương, có ít gạo quá!

- Thưa công tử, trước đây chúng tôi không có

nước.

- Quý nương muốn bảo là lúa đang mọc, quý

nương không đưa nước v ào đó chăng?

- Đúng vậy, thưa công tử.

Rồi nàng để lại một ít nước cháo cho cha, v à

mời Bồ-tát một ít. Ngài uống xong, súc miệng và hỏi:

- Thưa quý nương, ta muốn đến thăm nh à

quý nương, xin quý nương làm ơn chỉ đường.

Nàng chỉ đường cho ng ài bằng cách

đọc b ài kệ

đ ã được đưa ra trong Chương Một:

38. Nhờ món bánh và cháo nấu nhừ,

Cùng cây song điệp trổ muôn hoa,

B àn tay thiếp để ăn v à chỉ,

Chẳng phải bàn tay thiếp bỏ qua,

Đó chính l à

đường đi thị trấn,

Con đường bí mật phải t ìm ra.

Đến đây chấm dứt Vấn đề Con đường Bí mật.

25. BẬC TRÍ GIẢ

ĐI CƯỚI VỢ.

Ngài đến nh à nàng theo cách

đ ã chỉ dẫn, mẹ Amarà thấy ngài, liền mời

ngài ngồi:

- Ta muốn mời công tử dùng cháo, được chăng?

- Xin cám ơn hiền mẫu, hiền muội Amarà đ ã

cho tiểu sinh ăn cháo rồi.

Bà mẹ liền nhận ra ngay là chắc hẳn ngài đến

đây v ì ái nữ của bà. Bậc Đại Sĩ thấy

cảnh ngh èo túng của họ, lại nói:

- Thưa hiền mẫu, tiểu sinh làm nghề thợ may, hiền mẫu cần may vá gì

không?

- Thưa công tử, có chứ, nhưng không có tiền

để trả công.

- Thưa hiền mẫu, không cần phải trả công, hiền mẫu cứ

đem các thứ ra đây cho tiểu sinh may vá.

Bà liền đem áo quần cũ ra, Bồ-tát vá từng

thứ, công việc của người có trí bao giờ cũng trôi chảy v à ngài lại

bảo bà:

- Hiền mẫu đi báo cho dân chúng ngo ài

đường biết nhé.

Bà liền thông báo khắp làng, chỉ một ngày nhờ công việc may vá, bậc

Đại Sĩ kiếm được một ng àn

đồng tiền. B à lão nấu cơm trưa cho ngài

ăn v à buổi chiều bà hỏi cần nấu bao

nhiêu nữa.

- Thưa hiền mẫu, nấu đủ cho mọi người trong

nh à thôi.

Bà liền đi nấu cơm với c à ri và thêm

các thứ gia vị vào.

Buổi xế chiều, Amarà từ khu rừng trở về nhà, mang theo một bó củi trên

đầu v à bó lá quanh hông. Nàng vứt củi

xuống ở cửa trước và đi v ào cửa sau. Cha

nàng cũng về sau đó. Bậc Đại Sĩ ăn một bữa cơm

thật ngon miệng; cô gái hầu cơm cha mẹ trước khi ăn, rồi rửa chân cho cha

mẹ cùng Bồ-tát. Ngài ở đó v ài

ngày th ăm d ò nàng. Rồi một ngày kia,

để thử n àng, ngài bảo:

- Ái nương Amarà ơi, đem nửa đấu thóc ra l àm

cho ta một cái bánh, một nồi cháo và một nồi cơm.

Nàng bằng lòng ngay, đi s àng gạo sạch

trấu, lấy hột lớn nấu cháo, hột vừa nấu cơm, hột nhỏ làm bánh, thêm gia vị

cho đầy đủ. N àng

đem nấu cháo đ ã nêm gia vị mời bậc

Đại Sĩ.

Ngài vừa ăn một miếng đ ã cảm thấy mùi

thơm đặc biệt thấm qua cổ họng, tuy nhi ên

để thử n àng, ngài bảo:

- Quý nương ơi, nếu nàng không biết nấu, sao nàng lại làm hỏng gạo cơm

của ta?

Rồi ngài nhổ cháo xuống đất, nhưng n àng

không hề giận, chỉ trao bánh cho ngài và bảo:

- Nếu cháo không ngon, thì xin ăn bánh.

Các bánh kia ngài cũng nói như thế và từ chối món cơm, ngài bảo :

- Nếu nàng không biết nấu nướng sao lại phí phạm của cải ta?

Rồi như thể giận dữ lắm, ngài trộn cả ba thứ với nhau bôi khắp người nàng

từ đầu đến chân, bảo n àng ngồi xuống bậc

cửa.

- Hay lắm, thưa công tử.

Nàng vâng lời ngồi xuống, không tỏ vẻ giận dữ gì. Thấy nàng không có vẻ

cao ngạo, ngài bảo:

- Quý nương ơi, đến đây.

Vừa nghe ngài gọi tiếng đầu, n àng

đ ã đến

ngay.

Khi Đại Sĩ đến đây, ng ài có

đem theo một ng àn

đồng tiền v àng và một chiếc áo trong giỏ

cau trầu.

Bấy giờ ngài lấy nó ra, đưa cho n àng

và bảo :

- Quý nương ơi, hãy cùng bạn hữu đi tắm v à

mặc áo này vào và đến đây với ta.

Nàng vâng lời. Bậc Trí giả trao cho cha mẹ nàng tất cả số tiền ngài

đem theo v à vừa kiếm

được, khuy ên nhủ

đôi lời, rồi đem n àng lên kinh thành.

Tại đây ng ài muốn thử nàng, liền bảo

nàng ngồi trong nhà người canh cổng, nói cho bà vợ người canh cổng biết mưu

kế của ngài, rồi về nhà ngài. Tại đó ng ài

cho gọi các quân hầu của ngài đến v à

bảo:

- Ta có để lại một nữ nhân ở nh à kia,

hãy đem một ng àn

đồng tiền đến thử n àng xem.

Ngài đưa tiền v à bảo họ

đi. Họ l àm theo lời ngài dặn. Nàng từ

chối, bảo:

- Số tiền này không đáng giá bằng đám đất

bụi bám tr ên chân công tử của ta.

Đám quân hầu tr ở về kể lại cho ngài

nghe kết quả cuộc thử. Ngài lại bảo họ đi lần

nữa, đến lần thứ ba, thứ tư, rồi bảo họ kéo n àng

đi bằng vũ lực. Họ vâng theo v à khi nàng

nhìn thấy bậc Đại Sĩ uy nghi rực rỡ, n àng

không nhận ra ngài, mà chỉ cười rồi khóc khi nhìn ngài. Thấy thế ngài hỏi cớ

sao, nàng đáp:

- Thưa công tử, thiếp mỉm cười khi ngắm vẻ huy hoàng của công tử và nghĩ

rằng công tử được hưởng cảnh huy ho àng

này không phải là không có nhân duyên, mà là do thiện nghiệp của công tử

đời trước: "H ãy xem quả phước báo".

Thiếp nghĩ vậy và mỉm cười. Nhưng rồi thiếp khóc khi nghĩ rằng công tử sẽ

gây tội ác phá hại tài sản mà kẻ khác ch ăm sóc

trông nom v à sẽ xuống địa ngục, n ên

vì thương cảm, thiếp phải khóc.

Sau lần thử này, ngài biết nàng rất tiết hạnh, nên bảo họ

đem n àng về chỗ cũ. Ngài giả dạng người

thợ may, trở về với nàng và ở lại đ êm

đó.

Sáng hôm sau, ngài trở về cung, kể mọi chuyện với hoàng hậu Udumbarà.

Bà báo cho vua biết xong, trang điểm cho Amar à

đủ ngọc v àng trân bảo

đặt n àng ngồi trên một cỗ xe sang trọng,

đầy vẻ uy nghi, vinh hiển rước n àng về

cung của bậc Đại Sĩ v à mở ngày lễ hội

vương hầu.

Vua ban thưởng Bồ-tát món quà đáng giá một

ng àn đồng tiền, dân chúng trong th ành

đem qu à đến

dâng, từ người giữ cửa trở đi. N àng Amarà chia quà vua ban làm hai

phần, gửi lại một phần dâng lên vua; các quà dân chúng tặng, nàng cũng chia

như vậy, trả về cho họ một nửa, vì thế rất được

l òng dân. Từ ngày ấy, bậc Đại Sĩ c ùng

nàng sống rất hạnh phúc và chỉ bảo cho vua mọi thế sự cũng như thánh sự.

Một ngày kia Senaka bảo ba người kia nhân lúc họ

đến thăm:

- Này các bạn, chúng ta chưa đấu trí nổi vôí

Mahosadha con nh à dân giả này, nay nó tìm

được vợ khôn lanh hơn cả nó nữa, l àm sao

chúng ta kiếm kế ly gián nó với đức vua đây?

- Thưa Tôn sư, làm sao chúng tiểu đệ biết

được? Chuyện đó t ùy ngài định đoạt.

- Được rồi đừng lo g ì, ta

đ ã có cách. Ta sẽ trộm hạt bảo châu trên

vương miện, hiền hữu Pukkusa trộm chuỗi đeo cổ

bằng v àng của đức vua, hiền hữu Kavinda

trộm chiếc áo lông của ng ài và hiền hữu Devinda lấy

đôi h ài bằng vàng của ngài.

Cả bốn người ấy tìm cách làm các việc này. Sau

đó Senaka nói:

- Song ta phải bỏ vào nhà gã này mà không cho nó biết.

Thế là Senaka để hạt bảo châu v ào

bình hạt dẻ, bảo một tỳ nữ:

- Nếu ai mua bình hạt dẻ này, ngươi đều từ

chối, chỉ bán cho người nh à Mahosadha mà thôi.

Người tỳ nữ đem lọ đến nh à bậc Trí

giả đi l ên

đi xuống v à rao:

- Ai muốn mua hạt dẻ?

Nhưng nàng Amarà đứng b ên cửa nhìn

thấy rõ, nàng nhận xét cô nữ tỳ nọ không đi nơi

n ào khác ngoài nhà nàng, chắc phải có

điều g ì bên trong chuyện này. Nàng liền ra dấu cho tỳ nữ của nàng lại

gần, còn chính nàng kêu to gọi cô gái:

- Đến đây cô bé, ta muốn mua hạt dẻ.

Khi cô gái đến, b à chủ gọi các nữ tỳ

ra, nhưng không có ai trả lời cả, nên phải nhờ cô gái

đi kiếm hộ. Khi cô gái đi rồi, Amar à

thọc tay vào bình tìm ra hạt bảo châu. Khi cô gái trở lại, Amarà liền hỏi:

- Cô là tỳ nữ nhà ai?

- Thưa phu nhân, nhà bậc Trí giả Senaka ạ.

Nàng liền hỏi tên họ tỳ nữ cùng tên mẹ cô gái rồi bảo:

- Nào cho ta ít hạt dẻ.

- Thưa hiền mẫu, nếu mẹ cần thì cứ lấy cả bình, con không lấy tiền

đâu.

- Vậy thì cô về đi.

Amarà bảo người tỳ nữ ra rồi, nàng viết trên một ngọn lá: Vào ngày ấy

tháng ấy, đại sư Senaka gửi đến một hạt bảo

châu tr ên vương miện để l àm quà

tặng do một nữ tỳ tên họ ấy đem đến.

Pukkusa gửi đến chuỗi đeo cổ bằng v àng

giấu trong giỏ hoa lài, Kàvinda gửi đến chiếc

cẩm y giấu trong giỏ rau, Devinda gửi đến đôi h ài bằng vàng

để trong bó rơm. N àng nhận tất cả và

viết tên họ vào ngọn lá, cất đi rồi kể lại cho

bậc Đại Sĩ nghe mọi chuyện. Khi năm vị hiền thần kia v ào cung, liền

hỏi vua:

- Tâu Đại vương, sao Đại vương không đội

vương miện có bảo châu?

- Được đem nó ra đây cho trẫm mang v ào.

Vua bảo.

Nhưng họ không kiếm ra viên bảo châu và các thứ kia. Thế là cả bốn vị

bảo:

- Tâu Đại vương, các vật trang sức của Đại

vương đều nằm trong nh à Mahosadha, gã ấy

đang d ùng chúng đấy, g ã con trai

nhà dân giả ấy chính là kẻ thù của Đại vương

đấy.

Họ vu cáo cho ngài như vậy. Sau đó những kẻ

tốt bụng đi t ìm Mahosadha kể chuyện cho ngài, ngài bảo:

- Để ta yết kiến đức vua v à

đi t ìm.

Ngài đến chầu vua. Đang cơn thịnh nộ, vua

phán:

- Trẫm chẳng nhìn nhận tiểu tử kia nữa, nó còn muốn gì ở

đây?

Vua không cho phép ngài vào trần tình. Khi bậc Trí giả biết vua

đang cơn thịnh nộ, ng ài trở về nhà. Vua

ban lệnh bắt ngài và ngài biết được nhờ những

kẻ tốt bụng, n ên bảo cho Amarà biết đ ã

đến lúc ng ài phải ra

đi, r ồi ngài trốn ra khỏi kinh thành,

đến Nam thị trấn giả dạng l àm nghề thợ

đồ gốm ở trong một l ò gốm. Cả kinh thành

loan tin ngài bỏ trốn. Khi Senaka và ba vị kia hay tin ấy mỗi người liền gửi

cho phu nhân Amarà một bức thư mà không cho ba vị biết, nhắn tin với nàng:

Xin phu nhân đừng ngại g ì, chúng ta

không phải là những trí giả hay sao?

Nàng cất cả bốn bức thư rồi trả lời cho mỗi vị

đến gặp n àng vào một ngày giờ nào

đó. Khi họ đến, n àng cho người lấy dao

cạo râu tóc họ sạch nhẵn, ném họ vào buồng tắm, hành hạ họ thật khổ sở, rồi

lấy mền quấn họ lại và thông báo cùng vua biết. Nàng

đem họ c ùng bốn bảo vật

đến cung đ ình, tung hô vua xong, nàng

nói:

- Tâu Đại vương, bậc Trí giả Mahosadha không

phải l à kẻ trộm, mà chính đây l à

các kẻ trộm: Senaka trộm bảo châu, Pukkusa trộm dây chuyền vàng, Devinda

trộm đôi gi ày mạ bằng vàng vào ngày ấy

tháng ấy, do tay của một nữ tỳ, các vật này

được gửi đến l àm quà tặng. Xin Đại vương

nh ìn ngọn lá này và nhận lại các bảo vật rồi thả các kẻ trộm ra.

Làm cho các vị kia chịu muôn phần sỉ nhục như thế xong, nàng liền ra về.

Tuy nhiên, vua lại bối rối trước chuyện này, vì từ khi Bồ-tát ra

đi v à không có bốn bậc hiền thần kia,

ngài không nói gì nữa, chỉ bảo họ tắm rửa rồi ra về.

27. VỊ NỮ THẦN VÀ CON

ĐOM ĐÓM.

Lúc bấy giờ vị nữ thần ở trong chiếc lọng hoàng gia không

được nghe giọng Bồ-tát thuyết pháp, không hiểu

nguy ên nhân gì và khi bà biết được, liền

quyết định đem bậc Trí giả trở về.

Vì thế ban đ êm, bà hiện ra từ một cái

lỗ quanh lọng, hỏi vua bốn vấn đề được t ìm

thấy trong "Các vấn đề của Nữ thần" Chương IV,

với các vần kệ bắt đầu: "Kẻ ấy đánh bằng chân lẫn tay". Vua không trả lời

được, nhưng hứa sẽ hỏi các vị hiền thần v à xin gia hạn một ngày.

Hôm sau, vua ban lệnh triệu hồi họ, nhưng họ

đều đáp:

- Chúng thần hổ thẹn nếu xuất hiện trước công chúng. Vì chúng thần bị cạo

râu tóc sạch nhẵn.

Thế là ngài gửi cho họ bốn chiếc mão đội đầu

(dân chúng cho rằng đó l à nguồn gốc các chiếc mão).

Khi họ đến, họ được mời ngồi xong, vua bảo:

- Này Senaka, đ êm qua vị thần ở trong

chiếc lọng của trẫm hỏi trẫm bốn vấn đề m à

trẫm không giải đáp được, phải bảo l à

trẫm sẽ hỏi các hiền thần. Vậy các khanh hãy giải

đáp cho trẫm.

Và ngài đọc b ài kệ thứ nhất:

39. Kẻ ấy đánh bằng chân lẫn tay,

Đánh luôn cả mặt mũi tai mày,

Tuy nhiên kẻ ấy, tâu Hoàng thượng;

Thân thiết hơn chồng nữa, lạ thay !

Senaka lắp bắp các chữ đầu:

- Đánh l àm sao,

đánh ai đ ã chứ?

Rồi ông chẳng tìm ra đầu đuôi g ì cả.

Ba vị kia đều im lặng . Vua hết sức túng thế. Đ êm

đến nữ thần lại hỏi ng ài

đ ã giải đáp

câu đố được chưa, ng ài bảo:

- Trẫm đ ã hỏi bốn hiền thần mà không

ai nói được cả.

Bà đáp:

- Họ có biết gì đ ã chứ, trừ bậc Trí

giả Mahosadha, chẳng ai giải đáp được cả. Nếu

Đại vương không triệu ng ài về giải đáp

các vấn đề n ày, ta sẽ chặt đầu Đại vương

với lưỡi dao oan nghiệt n ày.

Sau khi dọa vua như vậy, bà nói tiếp:

- Tâu Đại vương, khi Đại vương cần lửa, đừng

thổi con đom đóm, khi cần sữa đừng vắt cái sừng b ò.

Rồi bà lập lại Vấn đề con Đom đóm trong

Chương V:

- Khi lửa tắt, có ai đi t ìm lửa từng

nghĩ rằng con đom đóm có thể l àm mồi lửa

được chăng, nếu người ấy trông thấy đom đóm ban

đ êm? Nếu người ấy vò vụn phân bò và cỏ chất lên nó thì thật là

đi ên rồ, vì không thể làm nó bắt lửa

được.

Cũng vậy, một thú vật không ích lợi gì cho ta nếu ta dùng nó theo cách

sai lạc, ví như vắt sữa sừng bò, thì chẳng bao giờ sữa chảy ra. Con người

được lợi lạc nhờ nhiều phương tiện như l à

trừng phạt kẻ thù và tỏ tình thân ái với bằng hữu. Nhờ chinh phục các tướng

lãnh giữa chốn ba quân và lời bằng hữu khuyên r ăn,

các vị chúa tể tr ên thế gian ngự trị cả thế gian và hưởng thụ trọn

vẹn.

Các vị vua ấy chẳng giống Đại vương đang

thổi con đom đóm v à tưởng đó l à

lửa. Đại vương giống như người thổi con đom đóm

khi ngọn lửa đang sẵn s àng bên cạnh, như người ném cái cân xuống và

đo lường bằng tay, như người cần sữa vắt sừng b ò,

khi ngài đem các vấn đề sâu xa như vậy m à

hỏi Senaka và những kẻ tương tự lão ấy, chúng nó biết gì

đâu chứ? Chúng chỉ l à những con

đom đóm, c òn Mahosadha sáng ngời trí tuệ

mới là ngọn lửa vĩ đại đang cháy b ùng

rực rỡ, nếu Đại vương không t ìm ra lời

giải đáp vấn đề n ày,

Đại vương sẽ l à cái xác không hồn.

Sau khi dọa cho vua khiếp sợ như thế, bà biến mất.

Đến đây chấm dứt Vấn đề con Đom đóm.

*

Từ đấy vua kinh ho àng vì sợ chết.

Sáng hôm sau vua ra lệnh bốn cận thần lên bốn cỗ xe

đi ra bốn ho àng môn và bất kỳ nơi nào họ

tìm được vương tử, bậc Trí giả Mahosadha, đều

phải đón ch ào ngài thật trọng thể rồi lập tức rước ngài về hoàng

cung. Ba vị trong số này không tìm được bậc Trí

giả ; nhưng vị thứ tư đi ra phía Nam môn t ìm thấy bậc

Đại Sĩ ở Nam thị trấn, lúc ấy đang ngồi tr ên

bó rơm lấm lem bùn đất, ăn những vắt cơm chấm

ít nước canh sau khi đ ã kiếm xong đất

sét v à quay bánh xe cho chủ lò gốm. Ngài

đ ã làm như vậy là vì ngài nghĩ rằng vua có thể nghi ngờ ngài muốn lên

cầm vương quyền, nhưng nếu vua hay tin ngài

đang sống bằng nghề thợ gốm th ì mối nghi kỵ sẽ tan ngay. Khi ngài

trông thấy vị cận thần, ngài hiểu ông đi đến t ìm

ngài, ngài hiểu rằng vinh quang của ngài đ ã

được phục hồi, ng ài sẽ

được thưởng thức mọi cao lương mỹ vị do phu

nhân Amar à dọn ra thiết đ ãi, vì

thế ngài thả vắt cơm đang cầm v à

đứng dậy súc miệng. Vừa lúc ấy vị cận thần đi

đến, đây l à một người trong vây cánh của Senaka nói với ngài một cách

thô lỗ như sau:

- Thưa Tôn sư, những lời mà bậc hiền giả Senaka nói

đều l à những

điều báo trước rất hữu ích cho ng ài:

vinh quang của ngài đ ã mất, tài trí của

ngài chả ích lợi gì, bây giờ đây ng ài

ngồi trên đống rơm b ê bết bùn lầy

đất m à ăn

cơm như vậy đó.

Rồi gã này đọc b ài kệ trong chuyện

Bhùri-pãnha hay Vấn đề Trí tuệ, Chương X:

40. Có thật ngài là bậc Trí nhân,

Như người đồn có trí uy ên thâm,

Vậy tài trí, đại vinh quang ấ y,

Chẳng phục vụ ngài đúng nghĩa chăng,

V à đ ã trở thành không ý nghĩa,

Trong khi ngài nuốt chút cơm hầm?

Bậc Đại Sĩ liền đáp lại:

- Tên ngu si mê muội kia, nhờ tài trí của ta, khi nào ta muốn phục hồi

vinh quang đều được cả.

Rồi ngài ngâm hai vần kệ:

41. Vinh quang ta tạo bởi gian truân,

Đúng lúc, trái thời, ta biệt phân,

Để ẩn náu m ình theo ý muốn,

Mở toang các cửa lợi vô ngần,

Cho nên ta biết điều tri túc,

Với chút cơm hầm, vẫn muốn ăn.

42. Khi ta nhận thấy đúng thời cơ,

Nỗ lực tạo th ành mối lợi to,

Theo kế hoạch, ta liền chịu đựng,

Can cường chẳng khác một thanh sư,

Và nhờ n ăng lực oai h ùng ấy,

Ông sẽ thấy ta trở lại mà.

Lúc ấy vị cận thần đáp:

- Thưa bậc Trí giả, vị thần ở trong chiếc lọng hoàng gia

đặt một câu hỏi cho đức vua, ng ài liền

hỏi cả bốn vị hiền thần nhưng không ai giải đáp

nổi, v ì thế đức vua ra lệnh tiểu thần đi

rước ng ài về.

Bậc Đại Sĩ đáp:

- Trong trường hợp như thế mà ông chưa thấy

được uy lực của trí tuệ hay sao? Những lúc như vậy của cải n ào có ích

gì, chỉ có trí là hữu ích.

Ngài tán thán trí tuệ như vậy. Sau đó vị cận

thần trao cho bậc Đại Sĩ ng àn đồng tiền

v à bộ y phục vua ban, để ng ài tắm

rửa và thay quần áo ngay. Người chủ lò gốm kinh hãi vì

đ ã lầm tưởng bậc Trí giả Mahosadha là

thợ gốm của lão, tuy nhiên bậc Đại Sĩ liền trấn

an l ão:

- Tôn ông đừng sợ, ông đ ã cứu giúp ta

thật quý giá vô cùng.

Rồi ngài tặng lão ngàn đồng tiền v à

với thân mình còn lấm lem bùn đất, ng ài

đ ã leo lên xe về kinh thành ngay. Viên

cận thần báo tin cho vua biết ngài đ ã

về.

- Này hiền khanh đ ã tìm ra bậc Trí

giả, vương nhi ở đâu?

- Tâu Đại vương, vương tử đang sống bằng

nghề l àm đồ gốm ở Nam thị trấn, nhưng

vừa được tin Đại vương tri ệu ngài về là ngài về ngay chẳng

đợi tắm rửa g ì,

đất c òn lấm lem cả người.

Vua nghĩ thầm: "Nếu nó là kẻ thù của ta thì nó

đ ã trở về trong cảnh xa hoa long trọng

có tùy tùng hầu hạ kia chứ, như vậy nó chẳng phải là

đối thủ của ta rồi".

Vua liền ban lệnh đưa ng ài về tư thất

tắm rửa, trang sức cho ngài rồi trở lại chầu vua với lễ nghi rực rỡ long

trọng mà vua đ ã ban. Khi mọi việc xong

xuôi, ngài trở vào triều, tung hô vua xong, liền

đứng sang một b ên. Vua nói n ăng

ôn tồn với ng ài, rồi muốn thử ngài, ông ngâm kệ này:

43. Lắm kẻ không gây tạo lỗi lầm,

Bởi vì họ đ ã

được gi àu sang,

Nhưng nhiều người chẳng gây lầm lỗi,

Vì sợ bùn nhơ cấu uế tâm,

Con đủ t ài n ăng

l àm sự nghiệp,

Sao con không hãm hại vương quân?

Bồ Tát đáp lại:

44. Bậc Trí giả không tạo lỗi lầm,

Chỉ vì lạc thú hưởng giàu sang,

Thiện nhân dù gặp cơn tai họa,

Và bị lâm vào cảnh khốn nàn,

Chẳng vì thân hữu hay thù hận,

Mà phải khước từ đạo chánh chân .

Vua lại đọc b ài kệ này, là những lời

huyền bí của một vị Sát- đế-lị (quý tộc):

45. Người nào vì bất cứ nguyên nhân,

Dù nhỏ, dù to, với bản thân,

Đưa chính m ình lên từ chỗ thấp,

Về sau tiến bước đạo Như chân.

Còn bậc Đại Sĩ đọc kệ n ày lấy ví dụ

cái cây để minh họa:

46. Dưới một gốc cây bóng mát lành,

Nếu ta ngồi xuống nghỉ thân mình,

Chặt cành lá ấy là làm phản,

Bọn giả dối, ta phải ghét khinh.

Rồi ngài tiếp tục:

- Tâu Đại vương, nếu chặt c ành của

một cây mà ta đ ã hưởng lợi lạc là chuyện

phản bội, thì còn nói gì đến kẻ sát nhân? Đại

vương đ ã ban cho phụ thân tiểu thần hưởng

đại phú quý v à sủng ái tiểu thần phúc

lộc tràn trề, làm sao tiểu thần có thể phản trắc làm hại

Đại vương được?

Sau khi bày tỏ lòng trung thành của mình, ngài lại khiển trách vua về lầm

lỗi ấy:

47. Nếu một người khai đạo chánh chân,

Đánh tan nghi hoặc của tha nhân,

Người n ày thành một nơi nương tựa,

Và bảo hộ cho chính bản thân,

Bậc Trí không bao giờ hủy diệt,

Mối dây này kết hợp thân bằng.

Bấy giờ để khuyến giáo vua, ng ài ngâm

hai vần kệ:

48. Ta ghét thế nhân đắm dục t ình,

Giả tu là dối gạt rành rành,

Hôn quân xử án không nghe thấy,

Sân hận người hiền chẳng biện minh.

49. Vị vua thận trọng suy tư kỹ,

Xử án đầy suy xét tận t ình,

Vua chúa suy tư phân xử đúng,

Đời đời danh vọng m ãi quang vinh.

Khi vua nghe xong liền mời bậc Đại Sĩ ngồi l ên

ngai vàng dưới chiếc lọng hoàng gia mở rộng, còn chính vua ngồi xuống một

ghế thấp và nói:

- Thưa bậc Trí giả, vị thần ở trong chiếc lọng trắng này hỏi trẫm bốn

câu. Trẫm đ ã vấn ý bốn hiền thần mà

không ai tìm ra giải đáp. Vậy xin vương nhi

giải đáp cho trẫm.

- Tâu Đại vương, d ù là vị thần trong

chiếc lọng, hay bốn Đại thi ên vương,

hoặc dù ai đi nữa, xin cứ hỏi, tiểu thần sẽ

giải đáp.

Vua liền đưa câu hỏi nữ thần đ ã

đọc ra v à nói:

50. Kẻ ấy đán h bằng chân lẫn tay,

Đánh luôn cả mặt, mũi, tai, m ày,

Tuy nhiên kẻ ấy, tâu Hoàng thượng,

Thân thiết hơn chồng nữa, lạ thay!

Khi bậc Đại Sĩ nghe câu hỏi xong, ng ài

thấy ý nghĩa lộ rõ ràng, chẳng khác nào vầng tr ăng

hiện l ên bầu trời:

- Xin Đại vương nghe đây, Ng ài nói.

Khi đứa bé ngồi trong l òng mẹ sung sướng

chơi đ ùa lấy tay

đánh mẹ nó, kéo tóc mẹ nó, nắm tay lại đấm mẹ

nó, mẹ nó bảo: "N ày ranh con, sao dám

đánh mẹ?". Rồi b à âu yếm ôm sát con vào ngực và không nén

được l òng thương yêu con, bà mẹ hôn hít

con, vào lúc đó đứa con c òn thân thiết

với bà còn hơn là cha nó nữa.

Ngài đ ã làm sáng tỏ vấn

đề như thể đem vầng nhật l ên bầu trời,

nghe xong, nữ thần hiện nửa thân qua kẽ hở của chiếc lọng và nói bằng một

giọng dịu dàng:

- Câu hỏi đ ã

được giải đáp thỏa đáng.

Sau đó b à tặng bậc

Đại Sĩ một giỏ đầy hoa ti ên và hương

thần, rồi biến mất.

Vua cũng ban thưởng ngài các loại hương hoa như vậy rồi

đọc câu kệ thứ hai, hỏi vấn đề thứ hai:

51. Bà mắng kẻ kia thật tệ tàn,

Nhưng bà muốn nó ở kề gần,

Kẻ kia, tuy vậy, tâu Hoàng thượng,

Còn thiết thân hơn chính cả chồng.

Bậc Đại sĩ:

- Tâu Đại vương, đứa bé l ên bảy, có

thể làm theo lời mẹ dặn. Khi bà bảo nó ra đồng

hay đến tiệm tạp hóa, nó đáp: "Nếu mẹ cho con bánh kẹo con sẽ đi"; b à

mẹ bảo: "Bánh kẹo đây con", rồi đưa bánh kẹo cho

nó. Nó ăn xong lại nói: "N ày mẹ, mẹ ngồi trong nhà im mát mà con lại

phải đi ra ngo ài làm công việc cho mẹ".

Nó nh ăn mặt, l àm bộ

điệu chế nhạo mẹ nó, rồi không chịu đi. B à

nổi giận chụp lấy chiếc gậy la lên: "Mày ăn các

thứ ta cho m ày rồi lại không chịu ra

đồng l àm việc cho ta". Bà dọa nó, nó vụt chạy thật nhanh, bà theo

không kịp bà liền la lên: " Đi đi cho kẻ trộm xé

xác m ày ra". Thế là bà mắng nhiếc nó thật thậm tệ, nhưng dù miệng nói

gì đi nữa, b à cũng không muốn thế tí

nào, bà chỉ muốn nó ở gần bà. Nó đi chơi lang

thang suốt ng ày, đến tối không dám tr ở

về nhà, nó đến nh à bà con. Bà mẹ trông

ra đường chờ nó về m à không thấy, nghĩ

rằng nó không dám về, lòng bà đau đớn, nước mắt

r àn rụa, bà đi đến nh à các quyến

thuộc tìm nó. Khi thấy con, bà ôm nó hôn hít kéo nó sát vào lòng và thấy

thương yêu nó hơn bao giờ hết, bà kêu lên: "Con tưởng mẹ nói thật sao?", thế

là tâu Đại vương, lúc giận người mẹ lại thương

con hơn trước nữa.

Ngài giải đáp vấn đề thứ hai như vậy. Nữ

thần lại tặng thưởng ng ài như lần trước và vua cũng thế. Sau

đó vua hỏi ng ài vấn

đề thứ ba qua một vần kệ khác:

52. Nàng mắng nhiếc chàng chẳng lý do,

Và nàng trách móc thật vu vơ,

Tuy nhiên, chàng ấy, tâu Hoàng thượng,

Thân thiết hơn chồng nữa, lạ chưa?

Bậc Đại Sĩ đá p:

- Tâu Đại vương, khi một đôi uy ên

ương lén lút hưởng lạc thú ái tình, người nọ bảo người kia: "Người chẳng hề

để ý đến ta, ta biết tâm hồn người để tận đâu

đâu". Tất cả đều ngụy tạo v à không có lý do gì cả, họ la mắng trách

móc lẫn nhau, rồi họ càng thân thiết nhau hơn.

Đó l à ý nghĩa câu hỏi trên.

Nữ thần lại tặng quà cho ngài và vua cũng vậy. Sau

đó vua lại hỏi câu nữa qua vần kệ thứ tư:

53. Lấy thực phẩm, y phục, tọa sàng,

Thiện nhân mang mọi vật lên đ àng,

Tuy nhiên, các vị, tâu Hoàng thượng,

Còn thiết thân hơn chính cả chồng.

Ngài đáp:

- Tâu Đại vương, vấn đề n ày liên hệ

đến các khất sĩ B à-la-môn chân chính.

Các gia đ ình sùng

đạo tin tưởng v ào

đời n ày và

đời sau, thường cúng dường các vị n ày và hoan hỷ lúc cúng dường. Khi

họ thấy các Bà-la-môn nhận vật cúng dường và ăn

uống liền nghĩ thầm "Chính các vị n ày

đến nh à ta khất thực để thọ dụng", họ c àng

t ăng mối cảm t ình

đối với các vị n ày. Thật vậy, các vị này

nhận phẩm vật, đặt l ên vai mọi vật cúng

dường và trở thành thân thiết với gia chủ.

Khi ngài giải đáp xong vấn đề n ày, nữ

thần bày tỏ mối đồng t ình bằng tặng vật

như trước và đặt dưới chân bậc Đại Sĩ một giỏ

quý đựng đầy bảy báu vật xin ng ài nhận lấy. Vua cũng hoan hỷ phong

ngài làm đại tướng.

Từ đó vinh quang của ng ài càng chói

lọi huy hoàng hơn nữa.

Đến đây chấm dứt Vấn đề của Nữ thần.

27. N ĂM

VỊ HIỀN NHÂN.

Bốn vị hiền thần lại bảo nhau:

- Gã thường dân lại càng cao danh vọng hơn nữa, ta phải làm sao

đây?

Senaka bảo họ:

- Được rồi, ta đ ã có kế, ta cứ

đến gặp g ã và hỏi: Ta nên nói chuyện bí

mật với ai? Nếu gã bảo: Không nên nói với ai cả, ta sẽ nói xấu

để hại g ã với

đức vua v à bảo gã là tên phản bội.

Cả bốn vị liền kéo đến nh à bậc Trí

giả và chào ngài xong, liền bảo:

- Thưa bậc Trí giả, ta muốn hỏi bậc Trí giả một chuyện.

Ngài bảo:

- Xin cứ nói ngay.

Senaka nói:

- Thưa bậc Trí giả, con người phải an trú vững chắc ở

đâu?

- Ở chân lý.

- Xong rồi, còn phải làm gì nữa?

- Phải tạo sự nghiệp.

- Rồi phải làm gì nữa?

- Phải học hỏi các lời khuyến thiện.

- Và sau đó nữa?

- Đừng nói với ai chuyện bí mật của m ình.

- Xin đa tạ bậc Trí giả.

Họ nói xong sung sướng ra về và nghĩ: "Hôm nay ta sẽ tống cổ gã

đi khuất mắt". Rồi họ v ào yết kiến vua

và tâu:

- Tâu Đại vương, g ã ấy là tên phản

bội Đại vương.

Vua đáp:

- Trẫm không tin các khanh đâu, bậc Trí giả

không bao giờ phản bội trẫm.

- Tâu Đại vương, xin h ãy tin chúng

thần vì đó l à sự thật, nếu

Đại vương không tin, xin cứ hỏi g ã: "Ta

nên nói điều bí mật với ai, nếu g ã không

phản bội, gã sẽ bảo nói với người này người nọ, còn nếu gã phản bội, gã sẽ

bảo: "Không nên nói điều bí mật với ai cả. Khi

nguyện ước đ ã thành tựu rồi mới nói

được". Xin Đại vương h ãy tin chúng thần,

đừng nghi ngờ g ì nữa.

Thế là một ngày kia, khi cùng ngồi với các cận thần, vua

đọc b ài kệ

đầu trong "Vấn đề của bậc Trí giả" Chương XX:

54. N ăm vị hiền nhân họp buổi nay ,

Vấn đề trẫm chợt nghĩ, nghe đây:

C ùng ai, bí mật nên bày tỏ,

Dù tốt xấu, hay dở, nói ngay!

Senaka muốn kéo vua về phe mình, liền ngâm kệ:

55. Xin Đại vương cho biết ý trời,

Muôn tâu Chúa thượng ở tr ên đời,

L à người bảo hộ, cưu mang nặng,

N ăm trí giả mong hiểu ý ng ài,

Cùng sở thích ngài, xin hãy nói,

Muôn tâu chúa tể cõi trần ai!

Vua vốn bản chất yếu đuối, liền ngâm kệ:

56. Nếu nữ nhân đức hạnh phục t ùng,

Tuân theo ý nguyện của phu quân,

Đầy t ình thân ái thì nên nói,

Điều bí mật, hay dở mặc l òng!

"Nhà vua theo phe ta rồi". Senaka nghĩ thầm, sung sướng

đọc câu kệ nói r õ lối xử thế của mình:

57. Ai bảo vệ người bệnh khốn cùng,

Là nguồn cấp dưỡng, chốn nương thân,

Thì nên bày tỏ cùng thân hữu.

Điều bí mật, hay dở mặc l òng.

Rồi vua lại hỏi Pukkasa:

- Hiền khanh nghĩ sao, Pukkasa? Phải nói chuyện bí mật với ai?

Pukkasa liền ngâm kệ:

58. Dù già hay trẻ, hoặc trung niên,

Nếu chú em đức hạnh, đáng khen,

Với chú em n ày, điều bí mật,

D ù là tốt xấu, hãy nêu lên.

Kế đó vua hỏi K àvinda và ông ngâm kệ:

59. Khi đứa con vâng phục ý cha,

Con trai th ành thật, trí cao xa,

Với con như vậy, thì nên nói,

Điều bí mật, d ù tốt xấu mà.

Sau đó, vua hỏi Devinda v à ông ngâm

kệ:

60. Muôn tâu Chúa tể của quần sinh,

Nếu mẹ yêu con thật tận tình,

Đối với mẹ n ày,

điều bí mật

Dở hay, có thể nói cho r ành.

Sau khi hỏi bọn họ xong, vua hỏi:

- Này bậc Trí giả, con nghĩ sao về việc này?

Và ngài ngâm kệ:

61. Giữ gìn bí mật chính là hay,

Chẳng đáng khen cơ mật tỏ b ày,

Người khôn phải giữ điều thầm kín,

Khi việc chưa th ành tựu, khéo thay!

Sau lúc thực hành điều bí mật,

Khi người muốn, có thể n êu ngay.

Khi bậc Trí giả nói xong, vua phật ý nên nhìn Senaka và Senaka cũng nhìn

lại vua. Bồ-tát thấy ngay điều n ày và

nhận rõ sự thật là trước kia bốn kẻ này đ ã

vu cáo ngài với vua, còn vấn đề n ày ắt

hẳn cũng được đặt ra để thử ng ài.

Lúc bấy giờ trong lúc họ đang đ àm

luận thì mặt trời đ ã lặn,

đ èn đ ã

được thắp sáng. Ng ài nghĩ thầm: Cung

cách vua chúa thật khó lắm thay, chẳng ai còn biết sẽ xảy ra chuyện gì nữa,

thôi ta phải lo nhanh chân tẩu thoát mới đượ c".

Thế là ngài liền đứng dậy, vái ch ào

vua rồi ra về, và nghĩ thầm: "Trong bốn vị này, người thì bảo phải nói với

bạn, người thì bảo nói với anh em, người thì bảo với con trai, người thì bảo

nói với mẹ, chắc hẳn họ đ ã làm hay thấy

cái gì rồi, hoặc ta chắc chắn rằng họ đ ã

nghe các kẻ kia kể những điều trông thấy. Thôi

được rồi, ta phải t ìm ra nội hôm nay".

Lúc bấy giờ vào các ngày khác, khi bốn vị này ra khỏi cung, thường ngồi

trên ống dẫn nước ở cửa cung, bàn bạc mưu kế trước khi về nhà, vì thế bậc

Trí giả nghĩ rằng ngài phải núp dưới ống dẫn nước

đó mới có thể biết được những chuyện bí mật của

họ. Do vậy, ng ài giở ống nước lên, trải một tấm nệm phía dưới và bò

vào, ra lệnh cho quân hầu của ngài tìm ngài khi bốn vị kia ra về sau cuộc

bàn bạc.

Đám quân hầu tuân lệnh ra đi. Trong lúc ấy Senaka tâu với vua:

- Tâu Đại vương, ng ài không tin chúng

thần, bây giờ Đại vương tính sao?

Vua liền công nhận lời của các kẻ gây hận thù này mà không cần tìm hiểu

điều tra g ì cả, hốt hoảng hỏi:

- Hiền khanh Senaka, bây giờ phải làm sao

đây?

- Tâu Đại vương, phải giết nó đi, không được

tr ì hoãn, không được tiết lộ với ai.

- Này Senaka, không ai lưu tâm đến quyền lợi

của trẫm ngo ài ái khanh. Vậy hiền khanh hãy

đem thân hữu đến đợi ở cửa, sáng mai g ã

đến chầu trẫm, h ãy lấy kiếm chặt

đầu g ã đi.

Nói xong, vua trao cho họ thanh bảo kiếm của mình.

- Tâu Đại vương, tuyệt quá. Đại vương ch ớ

sợ gì, chúng thần quyết giết nó cho được.

Họ đồng bước ra v à nói:

- Chúng ta đ ã tống cổ

được kẻ th ù

đi rồi.

Và họ ngồi trên ống xối. Rồi Senaka hỏi:

- Này các hiền hữu, ai sẽ hạ thủ thằng đó?

Các vị kia đáp:

- Thưa Đại sư, chính ng ài.

Họ giao trách nhiệm cho lão.

Senaka lại hỏi:

- Này các hiền hữu, các vị đ ã nói

rằng nên tiết lộ bí mật với người nọ người kia, vậy các vị

đ ã làm hay nghe thấy chuyện

đó chăng?

- Thưa Đại Sư, đừng ngại gì,

khi ngài bảo nên tiết lộ bí mật với một thân hữu, vậy chính ngài đã làm điều

đó chăng?

- Điều ấy có li ên quan gì

đến các vị đâu? L ão hỏi.

Họ đồng đáp:

- Xin Đại Sư cho chúng tiểu đệ biết với.

Lão đáp:

- Giá như đức vua biết chuyện n ày thì

đời ta phải ti êu ma.

- Xin Đại Sư đừng sợ, không ai ở đây tiết lộ

bí mật của ng ài đâu, xin Đại sư cho

chúng tiểu đệ biết với.

Senaka liền đập tr ên ống xối và bảo;

- Nếu thằng nhà quê ấy núp dưới này thì sao?

- Thưa Đại Sư, thằng nh ãi ấy

đang hưởng vinh hoa, đời n ào lại bò

xuống dưới chỗ này làm gì? Chắc nó đang m ê

mẩn trong cảnh phú quý rồi, xin Đại Sư nói đi.

Senaka liền kể bí mật của mình ra:

-Các vị có biết cô ả bán phấn nọ trong kinh thành này ch ăng?

- Thưa Đại Sư, chúng đệ có biết.

- Giờ đây có ai thấy ả chăng?

- Thưa Đại Sư, không.

- Trong khóm Sà-la kia, ta đ ã ân ái

cùng ả, sau đó giết ả đi để lấy nữ trang, ta đ ã

buộc thành một gói đem về nh à treo trên

chiếc ngà voi để trong ph òng kia của

tầng lầu nọ, nhưng ta chưa dùng chúng được cho

đến khi câu chuyện ch ìm đi, ta đ ã

tiết lộ tội ác này với một người bạn. Người này không nói với ai nữa, nên ta

mới bảo là có thể tiết lộ bí mật với bạn.

Bậc Trí giả nghe chuyện bí mật của Senaka liền ghi nhớ thật kỹ. Sau

đó Pukkasa kể bí mật của l ão:

- Trên đ ùi

đệ có một vết hủi lở. Buổi sáng em trai của đệ

rửa ráy nó xong, bôi thuốc rồi băng lại m à chẳng hề nói với ai. Những

khi đức vua yếu l òng, ngài kêu lên: "Này

Pukkasa đến đây". V à ngài thường

đặt đầu l ên

đ ùi của đệ, nhưng nếu ng ài biết,

chắc ngài giết đệ mất. M à chẳng ai biết

trừ em trai của đệ, v ì thế

đệ nói: "Có thể kể chuyện bí mật với anh

em".

Kàvinda lại kể chuyện bí mật của lão:

- Về phần đệ, trong nửa tháng tối trời v ào

ngày trai giới, một con yêu quỷ tên Naradeva cứ cắn lấy

đệ v à đệ

sủa như chó dại. Đệ kể chuyện với con trai đệ, n ên con trai

đệ mỗi khi thấy đệ bị quỷ ám, liền trói đệ

trong nh à, rồi đóng cửa lại, tổ chức đám

hội đông đảo để che lấp tiếng sủa ồn ào của

đệ. V ì thế

đệ mới nói l à có thể tiết lộ bí mật với con trai..

Sau đó cả ba vị hỏi Devinda v à ông

tiết lộ bí mật.

- Đệ l à viên tuần tra các

đồ trang sức của đức vua v à

đệ đ ã trộm một viên ngọc thần ban phúc

lộc, đó l à tặng vật của Sakka Thiên chủ

ban vua Kusa và đệ đ ã

đem về cho mẹ. Mỗi khi đệ v ào cung, mẹ

của đệ lại trao cho đệ m à không nói với

ai. Nhờ có viên ngọc ấy đệ tr àn

đầy phúc phận mỗi khi v ào cung,

Đức vua ban phán với đệ trước các vị, cho đệ ti êu

dùng tám đồng tiền hoặc mười sáu hoặc ba mươi

hai , hoặc sáu mươi bốn. Nếu Đức vua biết

đệ lấy vi ên ngọc ấy, chắc đệ phải chết

mất! V ì lẽ đó đệ bảo chuyện bí mật có

thể nói với mẹ.

Bậc Đại Sĩ ghi nhớ cẩn thận mọi chuyện bí

mật của họ, c òn bọn họ, sau khi tiết lộ bí mật như thể mổ bụng phơi

bày gan ruột rồi, liền đứng dậy đi về bảo nhau:

- Chắc chắn ta phải đến sớm m à giết

thằng khốn đó mới được!

Khi họ đi rồi, đám quân hầu của bậc Trí giả

đến lật ống xối l ên đưa bậc Đại Sĩ về nh à.

Ngài tắm rửa, thay áo quần ăn uống xong xuôi v à

ngài biết rằng chị ngài, hoàng hậu Udumbarì ngày hôm ấy sẽ gửi cho ngài một

thông điệp từ ho àng cung, nên ngài cử

người thân tín ra canh chừng, bảo gã thấy ai từ hoàng cung

đến phải đưa v ào trong lập tức. Rồi ngài

nằm ngủ trên giường.

Lúc ấy vua cũng nằm trên vương sàn nhớ lại công

đức của bậc Trí giả: "Bậc Trí giả Mahosadha đ ã

phụng sự ta từ khi mới bảy tuổi, chưa bao giờ làm gì sai trái cả. Khi nữ

thần hỏi ta, giá như không có bậc Trí giả thì ta

đ ã chết rồi, nay tin theo lời các kẻ báo

thù, trao kiếm cho chúng rồi ra lệnh giết bậc Trí giả vô thượng, thật là

chuyện ta chẳng nên làm, từ ngày mai ta chẳng còn thấy bậc Trí giả nữa".

Ngài buồn bã, mồ hôi đổ ra như tắm, l òng

nặng trĩu ưu phiền, ngài thấy bất an. Hoàng hậu Udumbarì ở bên cạnh ngài

trên long sàng, thấy tâm trạng ngài như vậy, liền hỏi:

- Tâu Đại vương, thần thiếp có l àm gì

xúc phạm đến Đại vương chăng? Chẳng hay việc g ì

khiến Đại vương sầu muộn?

Rồi bà ngâm kệ:

62. Vì sao lo lắng, tâu Quân vương?

Thần thiếp chẳng nghe giọng Chúa công,

Hoàng thượng nghĩ gì sinh khổ não,

Có gì lầm lỗi, thiếp làm ch ăng?

Vua liền ngâm kệ:

63. Chúng tâu: "Trí giả Đại Sa-dha

Phải bị giết ngay v ì đức vua",

Đệ nhất hiền nhân, ta xử trảm,

Khi ta nghĩ vậy, trí buồn lo.

Không g ì lầm lỗi từ khanh cả,

Hỡi ái hậu yêu dấu của ta.

Nghĩ đến việc n ày, trẫm buồn phiền

lắm, Ái khanh không có lỗi gì.

Nghe xong, nỗi sầu muộn âu lo vì bậc Đại Sĩ

đ è nặng bà như cả tảng đá, b à

nghĩ thầm: "Ta biết kế an ủi đức vua rồi, khi

ng ài ngủ ta sẽ gửi thông điệp cho em

ta". B à liền thưa:

- Tâu Đại vương, chính nhờ Đại vương trọng

dụng m à gã thường dân ấy được l ên

đ ài vinh quang,

Đại vương phong g ã làm tổng tư lệnh. Bây

giờ họ bảo gã đ ã trở thành kẻ thù của

Đại vương. Không có kẻ th ù nào không

đáng kể đâu, phải giết g ã

đi, vậy xin Đại vương đừng ưu phiền.

Nàng cứ thế an ủi vua, khiến nỗi buồn của vua vơi dần và ngài ngủ thiếp

đi, ho àng hậu Cây Sung liền trở dậy về

phòng bà viết thư báo tin như sau: Mahosadha, bốn vị hiền thần

đ ã vu cáo hiền

đệ, khiến đ ức vua phẫn nộ, ngày mai ra

lệnh giết hiền đệ tại cửa cung. Vậy đừng v ào

cung sáng mai, hoặc hiền đệ có đến, th ì

phải đặt to àn kinh thành dưới quyền

điều khiển của hiền đệ.

Bà đặt thư trong gói kẹo, buộc dây, bỏ v ào

một cái bình mới, rảy nước hoa xong, dán kín lại, trao cho một nữ tỳ và dặn:

- Đem gói kẹo n ày cho em ta.

Nàng ấy tuân lệnh. Ta không lạ gì chuyện nàng ấy ra khỏi cung ban

đ êm, vì vua

đ ã ban đặc ân n ày cho hoàng hậu,

nên không ai cản trở nàng. Bồ-tát nhận được qu à

tặng ấy, rồi bảo tỳ nữ ra về. Nàng này về tường trình việc

đ ã giao xong, lúc ấy hoàng hậu trở lại

nằm cạnh vua. Bồ-tát mở gói kẹo, đọc thư xong

hiểu r õ mọi chuyện, sau khi tính toán mọi việc phải làm rồi ngài

đi nghỉ.

Sáng hôm sau, bốn vị hiền thần cầm kiếm đứng

ở cung môn, nhưng không thấy bậc Trí giả, họ thất vọng buồn b ã

đi v ào yết kiến vua.

Vua hỏi:

- Này, tên khốn kiếp ấy đ ã bị giết

chưa?

Họ đáp:

- Tâu Đại vương, chúng thần không thấy g ã

đâu cả.

Còn bậc Đại Sĩ, lúc tảng sáng, nắm to àn

binh lực trong tay, cử quân thị vệ khắp nơi, rồi ngài lên xe cùng

đo àn tùy tùng rầm rộ uy nghi tiến vào

cung môn. Vua đứng nh ìn ra từ cửa sổ.

Khi ấy bậc Đại Sĩ xuống xe liền vái ch ào

vua và vua nghĩ thầm: "Nếu gã là kẻ thù của ta, thì gã

đ ã không vái chào ta". Rồi vua cho mời

ngài vào, xong ngồi trên ngai. Bậc Đại Sĩ bước

v ào, ngồi qua một bên, bốn vị hiền thần cùng ngồi xuống

đó. Vua l àm như thể không biết chuyện gì

cả, ngài bảo:

- Này vương nhi, hôm qua vương nhi bỏ ra về, hôm nay lại

đến đây, tại sao vương nhi thờ ơ đối với ta như

vậy?

Rồi vua ngâm kệ:

64. Chiều tối hôm qua, con đ ã

đi,

Bây giờ lại đến, hỡi vương nhi!

Điều g ì lo sợ trong tâm trí,

Hoặc giả con nghe nói những gì?

Ai bảo con làm, này Trí giả,

Nào ta lắng đợi, nói ngay đi!

Bậc Đại Sĩ bảo:

-Tâu Đại vương, Đại vương đ ã nghe lời

bốn hiền thần này, ra lệnh giết tiểu thần vì thế tiểu thần không

đến.

Rồi ngài ngâm kệ trách vua:

65. Bậc hiền trí Đại O-sadha,

Phải bị giết ngay, nếu tối qua,

Ng ài kể chuyện này cho chánh hậu,

Thì điều bí mật bị phơi ra!

Vua nghe vậy giận dữ nhìn hoàng hậu, cho rằng có lẽ bà

đ ã nhắn tin này lập tức cho ngài. Thấy

vậy bậc Đại Sĩ bảo:

- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương nổi thịnh

nộ với ho àng hậu? Tiểu thần biết việc quá khứ, hiện tại và vị lai mà.

Giả sử hoàng hậu tiết lộ bí mật của Đại vương,

th ì ai tiết lộ bí mật của các vị Senaka, Pukkusa và

đồng bọn? Nhưng tiểu thần biết hết cả.

Rồi ngài kể chuyện bí mật của Senaka qua câu kệ:

66. Tội ác bạo tàn Se-na-ka,

Đã làm trong bụi rậm Sà-la,

Lão cho bạn biết nơi thầm kín,

Thần đã nghe: cơ mật lộ ra!

Nhìn Senaka, vua hỏi:

- Có thật không?

- Tâu Đại vương, có thật.

Vua ra lệnh bắt giam lão lại. Rồi bậc Đại Sĩ

kể chuyện bí mật của Pukkusa qua vần kệ:

67. Trong người này, lão Pu-ku-sa,

Có một bệnh không thích hợp cho,

Một đấng quân vương n ào

đụng chạm,

L ão đem bí mật nói ri êng tư,

Cho em mình biết, điều thầm kín,

Thần đ ã nghe, được tiết lộ ra.

Vua nhìn lão và hỏi:

- Có đúng không?

- Tâu Đại vương, đúng.

Vua lại bắt giam lão. Rồi bậc Trí giả kể bí mật của Kàvinda qua vần kệ:

68. Kẻ kia bệnh hoạn, tính tà gian,

Bị quỷ Na-ra ám ảnh tâm,

Lão nói cho con điều bí mật,

Thần nghe bí mật bị phơi trần!

Vua hỏi:

- Có đúng không K àvinda?

Lão đáp:

- Tâu Đại vương, đúng.

Vua lại bắt giam lão. Bấy giờ bậc Trí giả nói chuyện bí mật của Devinda

qua vần kệ:

69. Bát giác ngọc thần ấy thuở xưa,

Thượng hoàng được tặng bởi Sak-ka,

De-vin-da giữ trong tay l ão,

Lão kể chuyện kia với mẹ già,

Trong chỗ kín, thần nghe thấy được,

Điều cơ mật ấy được phôi ra!

- Có đúng không Devinda? Vua hỏi.

Lão đáp:

- Tâu Đại vương, đúng.

Thế là vua bắt giam lão. Như vậy, những kẻ âm mưu giết Bồ-tát

đều bị giam cầm. Bồ-tát lại nói:

- Vì thế tiểu thần bảo là ta không nên tiết lộ bí mật với ai cả, kẻ nào

bảo phải tiết lộ bí mật, kẻ đó s ẽ bị suy

tàn.

Rồi ngài ngâm các vần kệ tuyên thuyết đạo lý

cao si êu hơn:

70. Giữ điều bí mật mới l à hay,

Bí mật không nên được tỏ b ày,

Người trí phải duy trì bí mật,

Khi người thành tựu mục tiêu này,

Thì người hãy nói như mình muốn.

Vậy chớ phơi ra bí mật vầy,

Phải giữ nó như kho bảo vật,

Người khôn chẳng lộ việc riêng tây.

71. Người trí chẳng nên nói lộ ra,

Một điều bí mật với đ àn bà,

Với cừu địch, người ham tư lợi,

Hoặc bởi t ình thân ái thiết tha.

Người tiết lộ ra điều bí mật,

V ì lo sợ bạn chẳng tin ta,

Về sau phải chịu làm nô lệ,

Cho chính kẻ kia thật dại khờ!

72. Càng nhiều người biết chuyện riêng tư,

Càng có thêm nhiều mối sợ lo,

Vậy chẳng nên phơi bày bí mật,

Ban ngày hãy đến một nơi xa,

Nói điều bí mật, c òn đ êm tối,

Hãy nói giọng nho nhỏ ấy mà,

Vì lắm người nghe lời nói ấy,

Nên lời ấy thoáng chốc tuôn ra.

Khi vua nghe bậc Đại Sĩ nói xong, liền nổi

trận lôi đ ình và nghĩ thầm: "Các tên kia phản bội quân vương mà lại

bảo bậc Trí giả phản bội ta". Vua liền bảo:

- Đem chúng ra khỏi th ành

đóng cọc qua thân chúng hay chặt đầu đi.

Bậc Trí giả thưa:

- Tâu Đại vương, họ l à những cựu

Đại thần của Đại vương, xin tha tội cho họ.

Vua chấp thuận, cho họ làm nô lệ, rồi phóng thích họ ra. Vua lại bảo:

- Thôi, chúng không được sống trong quốc độ

ta nữa.

Rồi vua ban lệnh đuổi họ đi. Nhưng bậc Trí

giả van xin vua tha tội lỗi m ù quáng của họ, ngài xoa dịu vua và

thuyết phục vua cho họ phục hồi chức vị cũ. Vua rất

đẹp ý v ì bậc Trí giả:

đối với các kẻ th ù ngài mà ngài từ bi

như vậy, huống gì đối với các người khác. Từ

đó, bốn vị hiền nhân như rắn mất răng, nọc độc đ ã hết, nên không còn

nói gì được nữa, ta cũng biết vậy.

Đến đây chấm dứt Vấn đề Năm vị Hiền nhân hay chuyện Đại vu cáo.

28. CUỘC

ĐẠI CHIẾN.

Sau thời kỳ này, ngài thường khuyến cáo vua về thế sự cũng như thánh sự,

ngài nghĩ thầm: "Ta thật đúng l à chiếc

lọng trắng của đức vua, chính ta điều khiển

việc nước. Vậy ta phải cảnh giác mới được".

Ngài truyền xây thành lũy quanh kinh thành. Dọc theo trường thành là các

tháp canh, tại cửa thành giữa các tháp canh, ngài cho

đ ào ba hào, một hào nước, một hào

đất sét v à một hào khô.

Bên trong kinh thành ngài bảo trùng tu các nhà xưa cũ,

đắp bờ đ ê thật lớn làm hồ chứa nước kho

vựa chứa đầy thóc. Các bậc khổ hạnh thân tín

phải đem đất sét v à hột giống sen ăn

được từ v ùng Tuyết Sơn về. Các ống nước

được ch ùi rửa sạch sẽ, nhà cửa cũ ở ngoài thành cũng

được tr ùng tu. Mọi việc

đó được l àm

để ph òng hiểm họa trong tương lai. Các thương nhân từ mọi nơi

đến đây đều được hỏi họ từ đâu lại, khi họ nói

xong, họ được hỏi vua của họ thích g ì, họ lại

được ân cần tiếp đ ãi trước khi ra

đi.

Rồi ngài cho triệu một tr ăm lẻ một quân sĩ

đến bảo họ:

- Hỡi các binh sĩ của ta, các bạn hãy đem

các tặng vật n ày đến một trăm lẻ một

kinh th ành dâng lên các vị vua ở đó để l àm

đẹp l òng các ngài. Hãy ở lại

đó hầu hạ các ng ài, vâng theo công việc

và kế hoạch của các ngài và nhắn tin về cho ta rõ. Ta sẽ ch ăm

sóc vợ con các bạn.

Ngài trao cho người này các hoa tai, người nọ

đôi h ài bằng vàng, vòng

đeo cổ bằng v àng có khắc chữ lên

đó m à ngài

định sẽ cho chúng lộ ra khi cần ph ù hợp với mục

đích của ng ài.

Đám quân sĩ ra đi mọi nơi, đem tặng vật dâng

các quốc vương, v à tâu rằng họ đến để

phụng sự các ng ài. Khi được hỏi họ từ

đâu đến, họ nói t ên của các kinh thành khác với nơi họ

đ ã thực sự ra

đi. Lễ vật được nhận xong xuôi, họ ở lại đó

phục dịch v à cố gây lòng tin cậy.

Lúc bấy giờ tại quốc độ Ekabala có vị vua

danh hiệu Samkhap àla đang chi êu

mộ binh khí và tập hợp binh chủng. Người đi sứ

đến yết kiến vua n ày liền gửi điệp về

cho bậc Trí giả, nói: Ở đây hiện có tin

loan như vậy, nhưng vị vua n ày dự mưu gì thì tiểu thần chưa rõ, xin

ngài phái người đến t ìm hiểu sự thật của

vấn đề n ày.

Bậc Đại Sĩ liền gọi một con két v à

bảo:

- Hiền hữu hãy đi t ìm xem vua

Samkhapàla đang l àm gì ở Ekabala, rồi

chu du qua khắp cõi Diêm phù- đề (Ấn độ) v à

đem tin về cho ta.

Ngài cho nó ăn mật ong v à hạt

đậu, uống nước ngọt, xoa dầu v ào các

khớp xương cánh bằng một loại dầu thơm đ ã

lọc cả tr ăm ng àn lần, rồi ngài

đứng b ên cửa sổ hướng

Đông thả nó đi. Con két đi đến người ấy v à

tìm ra sự thật. Khi nó bay về, nó ngang qua toàn cõi Diêm-phù- đề

đến kinh th ành Uttarapañcàla thuộc quốc

độ Kampilla.

Vị vua cai trị xứ này danh hiệu là Cùlani-Brahamadatta, có một quân sư về

thế sự và thánh sự là một Bà-la-môn tên Kaevatta, một bậc hiền trí thông

thái. Vị Bà-la-môn ấy, một buổi sáng kia, thức dậy nhìn quanh tư thất tráng

lệ của mình dưới ánh sáng ngọn hoa đăng v à

trong khi nhìn vẻ nguy nga của tư thất, ông nghĩ thầm: "Cảnh huy hoàng này

thuộc quyền ai? Chẳng ai hết ngoại trừ vua Cùlani. Một vị vua ban cảnh huy

hoàng như thế này phải làm đại ho àng

đế to àn cõi Diêm-phù- đề

v à ta sẽ là đại sư trưởng của ng ài".

Thế là ông đi chầu vua thật sớm, sau khi vấn

an vua có được ngon giấc chăng, ông thưa:

- Tâu Đại vương, tiểu thần có điều n ày

xin tâu trình Đại vương.

- Đại sư cứ nói đi.

- Tâu Đại vương, chuyện bí mật không n ên

tiết lộ giữa kinh thành, xin hãy vào ngự viên .

- Được rồi, Đại sư.

Vua đi đến ngự vi ên cùng ông,

để quân hầu ở ngo ài, vào hoa viên xong,

ngài ngồi xuống vương tọa. Con két trông thấy vậy, nghĩ chắc phải có

điều g ì dưới kia: "Hôm nay ta sẽ nghe

được câu chuyện, phải nhắn tin về bậc Trí giả,

chủ nhân của ta".

Thế là nó bay vào hoa viên, đậy giữa đám lá

S àla của hoàng cung. Vua vừa bảo:

- Nói đi, Đại sư.

Ông đáp:

- Tâu Đại vương, xin Đại vương cúi xuống

đây, kế n ày chỉ vừa cho bốn tai nghe thôi. Nếu

Đại vương chịu nghe lời tiểu thần khuy ên

nhủ, tiểu thần sẽ tôn Đại vương l ên làm

Đại ho àng

đế to àn cõi Diêm-phù- đề.

Vua nôn nóng nghe nên hoan hỷ đáp:

- Đại sư nói đi, trẫm sẽ l àm theo

ngay.

- Tâu Đại vương, ta h ãy khởi binh,

trước tiên tấn công một kinh thành ấy bằng cửa hậu và bảo vua ở

đó: "Tâu Đại vương, Đại vương có

chiến đấu cũng chẳng ích gì, hãy về phe tiểu thần, quốc

độ của Đại vương xin cứ giữ lấy, c òn nếu

Đại vương chống binh h ùng tướng mạnh của

tiểu thần thì Đại vương sẽ đại bại". Nếu vị vua

đó l àm theo lời khuyên của tiểu thần, ta sẽ thâu nhận vị ấy, nếu

không ta sẽ đánh v à giết

đi, rồi với hai đạo binh ta sẽ đi đánh chiếm

một kinh th ành khác, rồi một kinh thành khác nữa, cứ thế ta sẽ thâu

nhập giang sơn toàn cõi Diêm-phù- đề v à

nâng chén rượu khải hoàn. Rồi ta sẽ đem cả trăm

lẻ một vị vua về th ành của ta, xây tửu

điếm trong ngự vi ên, bắt các vua ấy vào

đó uống độc dược, thế l à giết toàn thể

và qu ăng thây xuống sông Hằng. Ta nắm được cả

trăm lẻ một kinh th ành trong tay và Đại

vương sẽ l à chúa tể toàn cõi Diêm-phù- đề.

- Này Sư trưởng, thật là diệu kế, ta sẽ làm như vậy. Vua

đáp.

- Tâu Đại vương, kế n ày chỉ cho bốn

tai nghe mà thôi, không ai được biết đến. Không

n ên trì hoãn, mà phải tiến hành ngay lập tức.

Vua rất đẹp ý về lời khuy ên này, nên

quyết định l à làm ngay. Nghe xong câu

chuyện này, con két làm rớt cục phân trên đầu

quân sư Kevatta như thể từ tr ên cành cây.

- Cái gì thế này?

Lão vừa kêu vừa nhìn lên, hoác há mồm, con két lại thả thêm một cục phân

vào mồm lão vừa bay vụt đi vừa k êu:

- Két két, này Kevatta, ông tưởng kế của ông chỉ có bốn tai nghe thôi ư,

nhưng bây giờ là sáu tai nghe rồi, dần dần sẽ

đến tám tai v à còn cả tr ăm tai nữa.

- Bắt lấy nó, bắt lấy nó!

Họ la lên, nhưng nhanh như gió, két đ ã

bay về kinh thành Mithilà và vào cung thất của bậc Trí giả. Lúc bấy giờ két

có thói quen như vầy: nếu là tin riêng từ bất cứ nơi nào chỉ dành cho bậc

Trí giả mà thôi thì nó sẽ đậu tr ên vai

ngài, nếu phu nhân Amarà cũng nghe được th ì

nó đậu tr ên lòng ngài, nếu cả hội chúng

nghe được th ì nó

đậu dưới đất. Lần n ày nó

đậu tr ên vai ngài, thấy dấu hiệu ấy, hội

chúng của ngài đều rút lui, biết l à

chuyện bí mật.

Bậc Trí giả đem nó l ên thượng lầu và

hỏi:

- Này, két yêu quý, bạn đ ã nghe thấy

gì?

Nó đáp:

- Thưa công công, tiểu thần không thấy hiểm họa từ vị vua nào trên toàn

cõi Diêm-phù- đề, nhưng chỉ có Kevatta, sư

trưởng của vua C ùlani tại kinh thành Uttarapañcàla,

đem vua v ào ngự viên bàn mưu tính kế

riêng giữa hai người. Tiểu thần đậu tr ên

cành cây thả cục phân vào mồm lão và bay về

đây!

Rồi nó kể cho bậc Trí giả mọi điều nó đ ã

nghe thấy. Ngài hỏi:

- Thế vua có chấp thuận ch ăng?

Con két đáp:

- Thưa có.

Sau đó bậc Trí giả chăm sóc con két thật chu

đáo, đặt nó v ào lồng vàng trải thảm thật êm. Ngài nghĩ thầm: "Chắc

Kevatta không hề biết ta là Trí giả Mahosadha, ta không thể cho lão hoàn tất

mưu kế được đâu". Ng ài liền di cư

đám người ngh èo khó ra khỏi kinh thành

và đem về từ khắp nơi trong nước, từ thôn qu ê,

ngoại thành đến kinh đô định cư cho những gia đ ình

giàu có thế lực và thu góp thật nhiều thóc lúa.

Còn vua Cùlani làm theo mưu kế của Kevatta,

đem binh đi tấn công một kinh th ành. Như lão

đ ã đưa ý

kiến, l ão vào thành giải thích sự việc cho vua tại

đó v à chinh phục vị vua ấy. Rồi nhập hai

đạo binh lại, vua C ùlani theo lời quân

sư Kevatta tiến vào một quốc độ khác, cho đến

khi thâu trọn các vua chúa tr ên toàn cõi Diêm-phù

đề dưới quyền m ình trừ vua Vedeha. Quân

hầu của Bồ-tát vẫn tiếp tục thông báo cho ngài rõ tin: "Vua Brahmadatta

đ ã chiếm các kinh thành kia, xin

Đại sư canh ph òng nghiêm mật". Ngài

đáp lại: "Ta vẫn canh ph òng ở

đây, các người h ãy cẩn thận, giữ mình

đừng vô tâm xao l ãng". Trong bảy n ăm

bảy tháng bảy ng ày vua Brahmadatta xâm chiếm toàn cõi Diêm-phù- đề,

trừ th ành Vedeha. Lúc ấy vua bảo Kevatta:

- Này Đại sư, chúng ta h ãy

đánh chiếm vương quốc Vedeha ở Mithil à.

- Tâu Đại vương-l ão

đáp-chúng ta sẽ chẳng bao giờ chiếm được kinh

th ành bậc Trí giả Mahosadha đang ở, vị

ấy đầy t ài trí và rất mưu lược.

Rồi lão kể dông dài về tài đức của bậc Đại

Sĩ như thể vẽ v òng trên mặt tr ăng. Lúc

bấy giờ chính l ão ta cũng đầy mưu trí, n ên

lão nói:

- Quốc độ Mithil à quá nhỏ bé, toàn

cõi Diêm-phù- đề cũng đủ cho ta lắm rồi.

Lão an ủi như vậy. Nhưng các vương hầu kia bảo:

- Không, ta sẽ đánh chiếm quốc độ Mithil à

rồi hãy nâng chén rượu khải hoàn.

Kevatta lại phải ng ăn cản họ, l ão

bảo:

- Chiếm quốc độ Vedaha n ào có ích gì?

Vua đó l à chư hầu của ta rồi, trở lui

đi.

Lão khuyến cáo họ như vậy. Họ đ ành

nghe theo và rút lui. Quân hầu của bậc Đại Sĩ

báo cho ng ài biết vua Brahmadatta cùng một tr ăm

lẻ một vị vua khác đang tiến tới Mithil à

đ ã rút lui về kinh thành của họ. Ngài trả lời, bảo họ phải quan sát

kỹ những việc mà vua này làm.

Lúc bấy giờ vua Brahmadatta bàn tính với Kevatta những việc làm kế tiếp.

Đầy hy vọng sẽ nâng chén rượu khải ho àn,

họ trang hoàng ngự viên, cho thị vệ đem rượu cả

ng àn bình, bày yến tiệc linh đ ình

đầy sơn h ào hải vị, quân của bậc Trí giả

cũng báo tin này cho ngài biết mưu kế đầu độc

các vua bại trận, nhưng bậc Đại Sĩ đ ã biết nhờ con két kể lại với

ngài. Ngài liền gửi lệnh bảo họ phải báo cho ngài biết ngày tổ chức

đại lễ. Họ tuân lệnh. Lúc ấy ng ài nghĩ

thầm: "Nhiều vị vua phải chết như vậy trong lúc một kẻ có trí như ta còn

sống là điều không hợp lý. Ta phải cứu giúp họ

mới được". Ng ài cho triệu mười ngàn binh sĩ cùng quê với ngài

đến v à bảo họ:

- Này các hiền hữu, có người cho ta biết vào ngày kia vua Cùlani muốn

trang hoàng ngự viên để đối ẩm c ùng một

tr ăm lẻ một v ì vua khác. Các hiền hữu

hãy đến đó v à trước khi có người nào

ngồi xuống bảo tọa dành cho các vị vua, các bạn hãy chiếm lấy chỗ danh dự kế

vua Cùlani, bảo: "Chỗ này dành cho Đại vương

chúng thần." Khi họ hỏi các bạn l à người của ai, xin cứ bảo họ là

người của vua Vedeha. Họ sẽ la lớn lên: "Sao, trong bảy n ăm

bảy tháng bảy ng ày chúng ta đ ã

chinh phục mọi quốc độ, m à chưa lần nào

chúng ta thấy Đại vương Vedeha của các người.

Vị vua ấy ra sao? H ãy đi t ìm chỗ

vua ấy ở cuối bàn tiệc". Các bạn phải la ầm ó lên và bảo: " Trừ

vua Brahmadatta ra, không vị vua nào cao hơn

Đại vương của chúng ta cả. Nếu chúng ta không t ìm

được bảo tọa cho Đại vương của chúng ta th ì

chúng ta sẽ không để y ên cho quý

đại vương hưởng yến tiệc đâu"…Rồi cứ thế la hét

nhảy nhót khắp nơi, lấy gậy lớn đập các b ình rượu, làm vung vãi thức

ăn ra để không thể n ào

ăn được nữa, cứ chạy v ùn vụt qua

đám tiệc ấy gây náo loạn như thể các thần Asura

(A-tu-la) đánh chiếm kinh th ành của chư Thiên, và gọi to lên: " Chúng

ta là người của bậc Trí giả Mahosadha ở thành Mithilà, có giỏi thì cứ bắt

chúng ta đi"…Như thế cho họ biết các hiền hữu đ ã

đến đó, rồi trở về đâ y.

Họ tuân lệnh ra đi, đem đủ năm loại vũ khí v à

khởi hành. Họ vào ngự viên đ ã

được trang ho àng chẳng khác nào vườn

Nandana (Lạc Viên) trên thiên giới, ngắm mọi cảnh nguy nga lộng lẫy, các bảo

tọa dành cho một tr ăm lẻ một vị vua, các lọng

trắng được giương l ên cùng nhiều bảo vật khác. Họ làm theo lời dặn

của bậc Đại Sĩ, sau khi gây náo loạn giữa đám

tiệc xong, họ trở về Mithil à.

Thị vệ của nhà vua tâu trình mọi sự việc xảy ra, vua Brahmadatta nổi trận

lôi đ ình, vì mưu kế

đầu độc các quốc vương kia đ ã hỏng,

trong khi các quốc vương kia lại thịnh nộ vì mất uống chén rượu khải hoàn,

quân sĩ cũng thịnh nộ vì lỡ dịp chè chén thỏa thích. Vì vậy Brahmadatta bảo

các quốc vương kia:

- Này các hiền hữu, ta hãy cùng đến Mithil à

chém đầu vua Vedeha, đạp chân l ên

đầu nó, rồi h ãy trở về nâng chén khải

hoàn, bảo ba quân sẵn sàng.

Rồi vị vua này đi nói ri êng với

Kevatta:

- Này, ta sẽ bắt lấy kẻ thù đ ã phá

hoại diệu kế này với một tr ăm lẻ một quốc vương

v à mười tám đạo binh h ùng hậu, ta

sẽ đánh chiếm kinh th ành

đó. Mau l ên

Đại Sư.

Nhưng lão Bà-la-môn này đủ trí khôn để hiểu

rằng họ sẽ không bao giờ bắt được bậc Trí giả Mahosadha, m à chỉ chuốc

lấy nhục nhã thôi, phải can gián vua mới được.

V ì thế lão nói:

- Tâu Đại vương, vua xứ Vedaha n ày

không tài hùng trí dũng đâu, mọi việc trị dân

đều ở trong tay bậc Trí giả Mahosadha, vị n ày rất thế lực. Thành

Mithilà được vị n ày bảo vệ, chẳng khác

nào con sư tử bảo vệ hang động của nó, không ai

chiếm được đâu. Chúng t a sẽ chuốc lấy nhục nhã mà thôi.

Đại vương đừng suy nghĩ đến việc đi đánh nữa.

Nhưng vua đang đi ên cuồng vì tính

kiêu ngạo của chiến sĩ và say sưa đi chiếm nước

chư hầu, liền k êu lên:

- Gã ấy làm gì được?

Rồi vua tiến lên, cùng với một tr ăm lẻ một

vị quốc vương v à mười tám đạo binh h ùng

hậu. Kevatta không thể nào thuyết phục vua nghe theo mình và cho rằng cản

trở vua cũng hoài công, nên đ ành

đi theo.

Nhưng một đ êm kia các chiến sĩ về

đến Mithil à tường trình với bậc Trí giả

mọi việc đ ã xảy ra. Và các quân hầu mà

ngài đ ã gửi

đi phục dịch trước kia cũng nhắn tin rằng vua C ùlani

đang c ùng một tr ăm

lẻ một quốc vương tiến l ên đánh bắt vua

Vedeha, vậy ng ài phải đề ph òng

cẩn mật.

Các thông điệp gửi về tới tấp: "Hôm nay vua

đang ở chốn n ày, hôm nay họ đ ã

đến chỗ kia, hôm nay họ sẽ đến kinh th ành".

Nghe vậy bậc Đại Sĩ tăng cường ph òng vệ

gấp đôi. Vua Vedeha nghe tin đồn đ ãi

khắp nơi rằng vua Brahmadatta đang tiến quân

đến chiếm kinh th ành.

Bấy giờ trời mới sẩm tối, vua Brahmadatta bao vây kinh thành bằng ánh

sáng cả tr ăm ng àn ngọn

đuốc. Vua n ày lại xiết chặt vòng vây

bằng những hàng rào voi ngựa, chiến xa và sắp

đặt từng đám quân sĩ v ào những khoảng cách

đều nhau, họ đứng đó la hét, búng tay, reo h ò,

nhảy múa, kêu gào dưới ánh sáng của ngọn đuốc v à

ánh phản chiếu của vũ khí, toàn kinh thành Mithilà như một

đám lửa bừng sáng suốt bảy dặm, tiếng voi ngựa,

xe pháo v à người ta ầm ỉ làm mặt đất

cũng muốn nứt ra. Bốn vị hiền thần nghe những l àn âm thanh vang dội

như thế, không biết phải xử trí ra sao, liền yết kiến vua:

- Tâu Đại vương, có cảnh tượng đại náo loạn

m à chúng thần không biết chuyện gì, xin

Đại vương hỏi xem sao?

Nghe vậy, vua nghĩ: "Chắc chắn Brahmadatta đ ã

đến".

Ngài mở cửa sổ nhìn ra, khi ngài thấy vị vua kia

đ ã đến

thật, th ì hốt hoảng bảo họ:

- Chúng ta sắp chết rồi, ngày mai chắc chắn chúng sẽ giết sạch chúng ta.

Vua quan cứ ngồi bàn bạc như vậy. Còn bậc

Đại Sĩ khi thấy vua kia đ ã đến, ng ài

oai dũng như con sư tử, sắp đặt quân ph òng

vệ khắp kinh thành rồi đi l ên cung

điện trấn an vua. Vái ch ào vua xong,

ngài đứng sang một b ên. Vua phấn khởi

khi thấy ngài, nghĩ thầm: Không ai có thể cứu ta

được trừ bậc Trí giả Mahosadha".

Rồi vua nói với ngài như sau:

- Brahmadatta đ ã

đến c ùng với

đám chư hầu, đạo binh Pa ñcàla này thật

vô địch. N ày Mahosadha, quân hầu

đầu đội vai mang, bộ binh bao kẻ thiện chiến,

sẵn s àng đi t àn sát, một cảnh

đại náo loạn, tiếng trống chi êng vang

dậy ngập trời, đây l à nơi trổ tài sử

dụng binh khí, nào cờ xí, kỵ binh mặc áo giáp, chiến sĩ anh hùng thắng trận

vẻ vang. Cả mười bậc Trí giả lại đây, uy ên

thâm trí tuệ, mưu lược thần kỳ và vị thứ mười một chính là thái hậu

đang cổ v õ

đạo binh Pa ñcàla. Đây l à cả một

tr ăm lẻ một vị vương hầu thiện chiến l àm

tùy tướng, quốc độ của họ đ ã bị chiếm

đóng, họ đang kinh ho àng và chịu thần

phục trước đạo binh của Pa ñcàla. Họ thề

nguyện phụng sự vò vua này, dù muốn dù không, họ cũng nói thẳng họ phải làm

như vậy, nay họ bắt buộc phải theo phe vua Pañcàla, vì họ ở dưới quyền vua

này. Kinh thành Mithilà đang bị bao vây bởi đạo

binh d àn trận ở ba chặng đường, tấn công

v ào đủ mọi mặt, th ành bị bao vây

mọi phía như thể muôn sao trên trời. Này Mahosadha, làm cách nào giải vây

được chăng?

Khi bậc Đại Sĩ nghe vậy, ng ài nghĩ

thầm: "Vua này quá lo sợ cho mạng sống của mình. Lương y là nơi an trú của

bệnh nhân, thức ăn l à nơi an trú của

người đói, thức uống l à nơi an trú của

người khát, nhưng chỉ mình ta là nơi an trú của vua này, ta phải trấn an

ngài mới được". Rồi chẳng khác n ào con

sư tử gầm thét trên cao nguyên Hồng thổ ở Tuyết Sơn, ngài la to:

- Xin Đại vương chớ sợ, xin cứ an hưởng cảnh

cung đ ình. Như tiểu thần thường ném hòn

đất dọa con quạ, lấy cung dọa con khỉ, thần sẽ giải tán đạo quân ấy, cho

chúng không c òn một manh giáp nữa.

Rồi ngài ngâm kệ:

70. Đại vương h ãy duỗi thẳng

đôi chân,

Mở hội vui chơi, tiệc uống ăn,

Chốc lát Brah-ma, vua địch ấy,

Sẽ đ ào tẩu, bỏ mặc binh hùng.

Sau khi trấn an vua, bậc Trí giả ra ngoài ban lệnh

đánh trống hội khắp kinh th ành cùng với

lời huấn dụ:

- Nghe đây, to àn dân chớ kinh sợ. Hãy

sắm sửa tràng hoa, hương trầm, nước hoa, thức

ăn uống mở hội trong bảy ng ày. Dân chúng muốn ở

đâu t ùy ý, uống rượu thật say sưa, ca

múa vui chơi, gào thét, nô đ ùa, búng tay

tùy thích, mọi phí tổn ta sẽ chịu hết. Ta là bậc Trí giả Mahosadha, hãy xem

oai lực của ta đây.

Cứ thế ngài khích lệ toàn dân. Họ vâng lệnh ngài, người bên ngoài nghe

tiếng ca nhạc tưng bừng, người ta ra vào bằng cửa hậu. Lúc bấy giờ họ không

có tục lệ bắt kẻ lạ mặt trừ ra kẻ thù địch, cho

n ên lối ra vào mở ngỏ. Do đó, những kẻ n ày

thấy dân chúng đang mải m ê vui

đ ùa ca hát, còn vua Cùlani nghe tiếng ồn

ào trong kinh thành liền bảo các quần thần:

- Này các khanh, xem đây quân ta bao vây

kinh th ành này với mười tám đạo binh h ùng

hậu, thế mà dân chúng không tỏ vẻ lo âu sợ hãi, lại còn vui chơi thỏa thích,

ca hát, búng tay, nhảy nhót tưng bừng, thế là nghĩa lý gì?

Lúc ấy các quân hầu được ng ài gửi

đi phục dịch ở nước ngo ài trước

đây liền nói dối như sau:

- Tâu Đại vương,chúng thần có việc v ào

thành bằng cửa hậu, thấy dân chúng đang mải m ê

vui chơi đ ã hỏi: "Tại sao các người quá

vô tâm chểnh mảng trong khi mọi quân vương toàn cõi Diêm-phù- đề

đang bao vây kinh th ành của các ngươi?" Họ liền

đáp: "Khi quốc vương của chúng ta c òn

bé, ngài có ước nguyện tổ chức hội hè bao giờ tất cả quốc vương toàn cõi

Diêm-phù- đề đến bao vây kinh th ành. Bây

giờ ước nguyện đ ã thành nên ngài liền

ban lệnh khắp nơi và chính ngài cũng tổ chức hội hè trong cung".

Nghe vậy vị vua này nổi trận lôi đ ình,

gọi một đo àn quân ra ban lệnh:

- Hãy phân tán ra khắp kinh thành, lấp hào phá thành, san bằng tháp canh,

vào thành, chặt đầu vua Vedeha đem đến đây cho

ta.

Thế là các chiến sĩ dũng cảm trang bị đủ

loại vũ khí, rầm rộ tiến v ào cổng thành, lại

được quân của bậc Trí giả hỗ trợ với vũ khí

nóng đỏ rực, nhưng rồi họ bị ném b ùn, đá

như mưa r ào. Khi họ đứng dưới h ào

phá tường, quân lính trên tháp canh chống trả bằng cung tên, lao, giáo

bắn xuống, quân của bậc Trí giả vừa chế nhạo quân của vua Brahmadatta bằng

bộ điệu tay chân, vừa la lớn:

- Nếu các ngươi không bắt được ta, th ì

hãy ăn uống một tí n ào.

Họ giơ ra những chén rượu nồng và xiên cá thịt mà họ

đang ăn uống dạo chơi quanh tường. Quân địch

không l àm gì được, đ ành trở về

trình với vua Cùlani:

- Tâu Đại vương, chẳng ai v ào thành

được trừ khi kẻ có thần thông.

Vua kia đợi bốn năm ng ày không tìm

được kế g ì chiếm thành như ý muốn, lại

hỏi Kevatta:

- Này Đại Sư, ta không thể chiếm th ành

này, không ai có thể đến gần th ành

được cả, l àm sao bây giờ?

- Tâu Chúa thượng, đừng ngại g ì, kinh

thành này lấy nước từ bên ngoài, ta sẽ cắt nguồn nước và chiếm

được th ành. Chúng sẽ kiệt quệ vì thiếu

nước và sẽ mở cửa thành.

Vua đáp:

- Thật là diệu kế.

Sau đó họ cản trở dân chúng đến gần nguồn

nước. Quân do thám của bậc Trí giả viết tin tr ên một ngọn lá buộc vào

mũi tên bắn đi nhắn c ùng ngài rõ. Lúc

bấy giờ ngài đ ã ra lệnh hễ ai thấy ngọn

lá buộc vào mũi tên phải đem dâng ng ài.

Một người thấy vật này liền đem tr ình

bậc Trí giả. Ngài đọc tin xong, nghĩ thầm: "Vua

ấy không biết ta l à bậc Trí giả Mahosadha". Ngài cho lấy những thanh

tre dài chừng sáu mươi cubit (gần ba mươi mét) chẻ

đôi ra, bỏ hết các mắt, rồi cột lại, bọc da b ên

ngoài và trét bùn lên.

Ngài lại cho lấy đất v à hột sen do

các ẩn sĩ đem về từ Tuyết Sơn, trồng hột sen

trong b ùn bên cạnh hồ nước, đặt tre l ên

và đổ đầy nước v ào. Qua một

đ êm sen mọc và trổ hoa, cao hơn

đọt tre chừng hai thước. Ng ài nhổ lên

đưa cho quân hầu mang đến dâng vua Brahmadatta.

Họ cuộn tr òn cọng sen lại, ném qua thành, kêu to:

- Này quân hầu của vua Brahmadatta, đừng để

chết đói v ì thiếu lương thực, đây ta cho

các ngươi mang hoa l ên và ăn ngó sen v ào

cho đầy bụng.

Một người trong đám quân do thám của bậc Trí

giả lượm cọng sen mang v ào dâng vua:

- Tâu Đại vương, đây l à cọng sen,

chưa bao giờ có cọng sen dài như thế này cả.

Vua bảo:

- Đo thử xem.

Họ đo v à thấy chúng dài cả gần bốn

mươi mét chứ không phải ba mươi. Vua hỏi:

- Sen này mọc ở đâu?

Họ bịa chuyện đáp:

- Tâu Đại vương, một ng ày nọ, vì thèm

rượu, tiểu thần vào thành bằng cửa hậu và thấy các hồ nước lớn

được đ ào cho dân chúng vui chơi. Có một

đám người tr ên thuyền

đang hái sen. Cây sen n ày mọc cạnh bờ

hồ, chứ còn những cây mọc dưới nước sâu chắc phải cao cả tr ăm

cubit.

Nghe vậy, vua bảo Kevatta:

- Này Đại Sư, ta không thể chiếm th ành

bằng cách cắt nguồn nước đâu, thôi đừng cố đánh

chiếm th ành này nữa.

Lão đáp:

- Thôi được, ta sẽ chiếm th ành bằng

cách cắt nguồn lương thực vì kinh thành này lấy lương thực từ ngoài vào.

- Này Đại sư, thật l à diệu kế.

Bậc Trí giả đ ã biết trước việc này

nên nghĩ thầm: "Vua ấy không biết ta là bậc Trí giả Mahosadha".

Dọc theo trường thành ngài đổ đất b ùn

và trồng lúa. Lúc bấy giờ ước nguyện của Bồ-tát bao giờ cũng

đạt th ành, nên qua một

đ êm lúa mọc vượt lên cả ngọn thành. Vua

Brahmadatta thấy vậy liền hỏi:

- Này hiền hữu, cây gì mọc xanh um trên ngọn thành vậy?

Quân do thám của bậc Trí giả đáp lại ngay

như thể chụp lấy lời nói của vị vua n ày:

- Tâu Đại vương, bậc Trí giả Mahosadha l à

con nhà nông, đ ã thấy trước tai hoạ sắp

đến n ên đ ã

thu góp thóc khắp nơi về chứa đầy kho vựa, ném

đồ dư thừa tr ên trường thành, chắc chắn lúa này gặp

đủ nắng mưa sẽ mọc cây rất nhanh. Một bữa nọ,

chính tiểu thần có việc v ào thành bằng cửa hậu, lượm một nắm thóc

trong đống thóc tr ên thành vãi ra

đường, liền bị dân chúng chế nhạo, la l ên:

-"Chắc anh đói lắm, vậy h ãy lấy một ít

thóc buộc vào chéo vạt áo, mà đem về nh à

nấu ăn".

Nghe vậy vua bảo Kevatta:

- Này Đại sư, cắt nguồn lương thực ta cũng

không chiếm được th ành này đâu, việc đó

không đúng cách.

- Tâu Đại vương, thế th ì ta sẽ chiếm

thành bằng cách cắt nguồn cung ấp than củi từ bên ngoài.

- Được rồi, Đại sư.

Bồ-tát cũng đ ã biết trước chuyện này

nên ngài cho chặt củi thành đống, cao hơn cả

lúa nữa. Dân chúng lại chế nhạo quân lính của vua Brahmadatta, bảo:

- Nếu các anh đói th ì lấy củi này mà

nấu nướng thức ăn.

Vừa nói họ vừa ném những thanh củi lớn xuống.

Vua hỏi:

- Củi nào chất cao hơn cả trường thành vậy?

Các thám tử đáp:

- Vị này con nhà nông thấy được hiểm họa sắp

đến, n ên thu góp than củi chất đống

trước mọi nh à còn thừa ngài chất bên lề thành

đó.

Vua bảo Kevatta:

- Này Đại sư, ta cũng không thể chiếm th ành

bằng cắt nguồn than củi đâu, kế n ày

chẳng cần thiết nữa.

- Tâu Đại vương chớ ngại, tiểu thần đ ã

có cách khác.

- Kế gì vậy Đại sư? Trẫm thấy các mưu kế của

khanh đều không có kết quả g ì, ta không thể chiếm

được Vedeha đâu. Thôi ta h ãy rút quân

về.

- Tâu Đại vương, nếu có ai bảo vua C ùlani

cùng một tr ăm lẻ một quốc vương không chiếm nổi

th ành Vedeha thì chúng ta sẽ mang nhục mà thôi. Mahosadha không phải

là một bậc Trí giả duy nhất trên đời, v ì

tiểu thần cũng là bậc Trí giả, tiểu thần sẽ dùng mưu lược.

- Mưu gì vậy, Đại sư?

- Chúng ta sẽ bày trận Pháp chiến.

- Thế nghĩa là gì?

- Tâu Đại vương, l à không cần

đánh trận n ào cả, chỉ có hai bậc Trí giả

của hai vị vua đến một nơi n ào

đó v à kẻ nào cúi chào người kia, sẽ bại

trận.

Mahosadha không biết ý định n ày, tiểu

thần già hơn, gã ấy trẻ tuổi hơn, nên khi gã thấy tiểu thần, gã sẽ chào

trước. Thế là ta sẽ chiếm lấy Vedeha, xong việc này ta sẽ hồi hương và như

vậy ta mới khỏi bị nhục. Đó l à trận Pháp

chiến mà tiểu thần muốn tâu trình.

Nhưng Bồ-tát đ ã biết trước chuyện bí

mật này rồi: "Nếu ta để cho Kevatta thắng ta

như vậy th ì ta đâu phải l à người

có trí". Còn vua Brahmadatta bảo:

- Thật là đại diệu kế.

Rồi vua viết điệp g ửi cho vua Vedeha

bằng cửa hậu, báo tin: "Ngày mai sẽ có trận Pháp chiến giữa hai vị trí giả,

vị nào không chịu tham chiến được xem như bại

trận".

Nhận được điệp n ày, vua Vedeha cho

triệu bậc Trí giả đến kể chuyện, ng ài

đáp:

- Hay lắm, tâu Đại vương, xin Đại vương

truyền sứ giả đưa tin chuẩn bị nơi chốn d ành cho trận Pháp chiến; bên

cổng Tây, sẽ dàn binh ở đó.

Rồi ngài trao bức điệp cho sứ giả, v à

hôm sau chuẩn bị nơi dành cho trận Pháp chiến

để chứng kiến cảnh thảm bại của Kevatta. Nhưng cả trăm lẻ một vị quốc vương

không biết chuyện sẽ xảy ra, n ên vây quanh Kevatta

để bảo vệ l ão. Các vị vua này

đến nơi chiến địa, đứng nh ìn về phía

đông, nơi bậc trí giả Kevatta đ ã

đến. Tuy nhi ên, sáng hôm

đó, Bồ-tát đ ã tắm rửa nước thơm, mặc cẩm

bào Kàsi trị giá cả tr ăm ng àn

đồng tiền, trang sức lộng lẫy v à sau một

bữa điểm tâm thịnh soạn, ng ài cùng

đám t ùy tùng

đông đảo đi đến cửa cung. Khi được triệu v ào,

ngài vái chào vua xong, ngồi sang một bên.

- Sao đó, Trí giả Mahosadha? Vua hỏi.

Ngài đáp:

- Tâu Đại vương, tiểu thần sắp ra chỗ lâm

chiến.

- Thế còn trẫm phải làm gì đây?

- Tâu Đại vương, tiểu thần muốn thắng

Kevatta bằng vi ên bảo ngọc, vậy tiểu thần cần có viên bảo ngọc bát

giác ấy.

- Vương nhi cứ lấy đi.

Ngài nhận lấy bảo ngọc, tạ từ vua ra đi, có

cả ng àn chiến sĩ vây quanh, đó l à

các thân hữu từ thuở bé của ngài, ngài ngồi vào chiếc bảo xa do

đo àn bạch mã thuần giống kéo,

đáng giá cả chín mươi ng àn

đồng tiền . V ào giờ ngọ ngài

đến cổng th ành.

Kevatta đứng chờ ng ài

đến, vừa bảo:

- Kìa gã đến, k ìa gã

đến!

- Lão vừa nghểnh cổ dài ra, ướt mồ hôi dưới ánh nắng gay gắt. Bậc

Đại sĩ c ùng

đo àn tùy tùng như biển dậy sóng, như sư tử vươn mình, oai nghi trầm

tĩnh ban lệnh mở cửa thành, ra khỏi kinh thành xong, ngài xuống xe như con

sư tử vùng dậy, rảo bước. Cả tr ăm lẻ một vị

quốc vương chi êm ngưỡng vẻ uy nghi cao cả của ngài, liền reo hò tung

hô ngài vang dậy:

- Đây bậc Trí giả Mahosadha, nam tử của

Sirivaddha, người có trí tuệ tối thượng trong to àn cõi Diêm-phù- đề.

Chẳng khác nào Thiên chủ Sakka được chư thi ên

vây quanh, trong vẽ huy hoàng cao cả vô thượng, ngài cầm viên bảo ngọc trong

tay, đứng trước Kevatta. C òn Kevatta vừa

trông thấy ngài đ ã không thể nào

đứng y ên

được m à tiến lên đón ng ài bảo:

- Này bậc Trí giả Mahosadha, hai ta đều l à

bậc trí giả và dù xưa nay ta ở gần ngài, ngài chưa hề gửi tặng ta vật nào

cả, vì cớ gì vậy?

Bậc Đại Sĩ bảo:

- Thưa bậc Trí giả, tiểu đệ đ ã cố

công kiếm một tặng vật thật xứng đáng với ng ài

và hôm nay tiểu đệ t ìm ra viên ngọc bảo

châu này, xin bậc Trí giả nhận lấy, vì không có viên ngọc thứ hai như vậy

trên đời.

Vị kia thấy viên bảo ngọc sáng ngời trong tay ngài tưởng rằng ngài muốn

đưa ra tặng, liền bảo:

- Vậy thì xin trao ngọc cho ta.

Rồi lão đưa tay ra, xin nhận lấy. Bậc Đại Sĩ

vừa nói, vừa dang tay ném vi ên ngọc trên

đầu ngón tay của b àn tay lão dang ra. Nhưng lão Bà-la-môn không

đỡ được vi ên ngọc trong các ngón tay nên

nó tuột xuống và l ăn tới chân Bồ-tát. L ão

lại quá thèm viên ngọc nên cúi xuống chân ngài. Lúc ấy bậc

Đại sĩ không để cho l ão ngẩng lên, lấy

một tay ấn vai lão xuống và tay kia chộp bụng lão, kêu to:

- Này Đại sư, ngẩng l ên chứ, ngẩng

lên chứ, ta trẻ hơn ngài nhiều, chỉ đáng cháu

chắt ng ài, đừng cúi ch ào ta chứ!

Ngài vừa nói vậy mãi, vừa chà mặt mũi lão xuống

đất đến chảy máu, rồi lại bảo:

- Này tên ngu si mê muội kia, ngươi cứ tưởng sẽ

được ta cúi đầu ch ào ngươi hay sao?

Ngài chụp lấy cổ áo lão ném thật xa. Lão v ăng

đi xa cả bốn mươi thước mới b ò dậy chạy trốn mất. Lúc ấy quân hầu của

bậc Đại Sĩ lượm vi ên bảo ngọc lên, nhưng

âm thanh của lời Bồ-tát: "Ngẩng lên đi, đừng

cúi đầu ch ào ta như vậy!" vang dội át cả tiếng reo hò của

đám đông. Dân chúng reo h ò nhất loạt:

- Bà-la-môn Kevatta cúi chào chân bậc Trí giả!

Tất cả các vua, từ Brahmadatta đến các vị

vua kia, đều thấy Kevatta cúi đầu xuống chân bậc Đại sĩ. Họ đều nghĩ thầm:

"Bậc Trí giả của ta đ ã cúi đầu ch ào

bậc Đại Sĩ, chúng ta thua trận rồi. Ng ài

sẽ giết hết bọn ta bây giờ", ai nấy đều l ên

ngựa chạy trốn đến th ành Uttarapañcàla .

Quân của Bồ-tát thấy họ chạy trốn, lại la hét vang trời:

- Vua Cùlani đang tẩu thoát c ùng một

tr ăm lẻ một vị vương hầu.

Nghe vậy, các vương hầu càng hoảng hốt, chạy dài, tan rã cả

đại đạo binh trong khi quân của Bồ tát reo h ò

mỗi lúc càng vang dậy hơn. Bậc Đại Sĩ c ùng

đám t ùy tùng trở về kinh thành trong khi

đạo binh của vua Brahmada tta tháo chạy

tán loạn suốt ba dặm đường. Kevata lên ngựa gặp

đạo binh, liền ch ùi vết máu trên trán,

la lên:

- Này đừng chạy, ta có cúi đầu ch ào

thằng khốn kiếp đó đâu. Dừng lại, dừng lại!

Nhưng đạo binh không nghe, c òn chế

nhạo, phỉ báng lão:

- Này lão Bà-la-môn khốn nạn kia, lão là kẻ có tội, lão bày ra trận Pháp

chiến rồi lại cúi đầu ch ào thằng trẻ

ranh chỉ đáng cháu chắt l ão, chuyện ấy

chẳng đáng đời l ão hay sao?

Họ không còn nghe lão nữa và cứ tiếp tục đi

về. L ão chạy vụt vào đám quân k êu

lên:

- Này các người phải nghe ta, ta có cúi chào nó

đâu, nó lấy vi ên ngọc lừa ta mà.

Rồi lão dùng đủ mọi cách thuyết phục các vị

vương hầu tin lời l ão và thu nhập đám t àn

quân.

Lúc bấy giờ đám quân n ày quá

đông đảo, ví thử mỗi người trong đó lượm được

một h òn đá hay nắm đất ném v ào

hào cũng đủ lấp đầy h ào và còn chất

đống cao l ên bằng trường thành; nhưng ta

biết rằng ý nguyện của Bồ-tát đ ã

đạt th ành, nên không có ai ném

đất đó v ào kinh

đô cả. Họ rút lui về vị trí cũ, rồi vua hỏi

Kevatta:

- Này Đại sư, ta phải l àm gì bây giờ?

- Tâu Đại vương, ta đừng cho ai ra cửa hậu

nữa v à cắt mọi mối giao thông. Dân chúng không ra vào

được sẽ sinh chán nản v à mở cửa thành.

Lúc ấy ta sẽ bắt được quân th ù.

Bậc Trí giả cũng được báo tin về vấn đề n ày

như trước, nên ngài nghĩ thầm: "Nếu họ đóng

quân ở đây lâu, th ì chúng ta không sống yên ổn

được, vậy ta h ãy tìm cách tống họ

đi, ta sẽ đặt chiến lược đuổi họ về".

Thế là ngài đi t ìm một người thông

thạo các việc này và kiếm ra được một kẻ t ên

Anukevatta. Ngài bảo ông này:

- Này Đại sư, ta có một việc muốn nhờ ông

thi h ành.

- Thưa bậc Trí giả, tiểu thần phải làm gì? Xin cho biết.

- Ông hãy đứng tr ên trường thành,

thừa lúc quân ta vô ý, hãy lập tức ném kẹo bánh, cá thịt và các thức

ăn khác xuống cho quân của Brahmadatta, rồi

bảo: "N ày ăn đi đừng ng ã lòng,

gắng ở đây th êm ít hôm nữa, chẳng mấy

chốc dân chúng như gà mái trong rọ sẽ tự mở cổng thành rồi các người vào mà

bắt lấy vua Vedeha và gã con trai nông dân khốn kiếp kia". Quân ta nghe vậy

sẽ mắng nhiếc ông tàn tệ rồi trói tay chân ông lại trước quân của

Brahmadatta và giả bộ lấy gậy tre đập ông, kéo

ông xuống, buộc tóc ông th ành n ăm ch òm,

phết đất b ùn lên người ông,

đeo ch ùm hoa Kanavera dành cho tử tội

vào cổ ông, quất ông vun vút cho đến khi nổi

lằn roi tr ên lưng ông, rồi lại đem ông l ên

trường thành trói ông lại, thòng dây thừng thả ông xuống chỗ

đóng quân của Brahmadatta thét to: "Cút đi,

quân phản bội".

Lúc ấy ông sẽ được dẫn đến trước vua vua

Brahmadatta, vua n ày sẽ hỏi ông về việc sỉ nhục kia, ông phải trình

bày với vua ấy: "Tâu Đại vương, ng ày xưa

tiểu thần đ ã

được nhiều vinh hiển nhưng g ã con trai

nhà nông ấy đ ã vu cáo tiểu thần phản bội

đức vua, n ên tiểu thần bị tước

đoạt tất cả gi àu sang danh vọng. Tiểu

thần muốn lấy đầu kẻ đ ã phá hại mình và

vì thương tưởng quân của Đại vương đang thối

chí nản l òng, nên đem cho họ thức ăn

uống. Do vậy nhớ đến mối th ù cũ trong lòng, gã lại làm tiểu thần thân

tàn ma dại như thế này. Tâu Đại vương, quân của

Đại vương đều biết r õ chuyện này".Như vậy bằng mọi cách ông phải

chiếm được l òng tin của vua rồi tâu với

vua ấy: "Tâu Đại vương, bây giờ đ ã có

tiểu thần, xin Đại vương chớ lo âu nữa. Vua

Vedeha v à gã con trai nông dân kia phải chết thôi! Thần biết rõ mọi

yếu điểm c ùng nhược

điểm của bức trường th ành này. Tiểu thần

biết nơi nào dưới hào có cá sấu, nơi nào không. Chẳng mấy chốc tiểu thần xin

dâng trọn kinh thành này vào tay Đại vương".

Vua ấy sẽ tín dụng ông và quý trọng ông, giao cho ông thống lãnh

đạo binh. Sau đó ông phải đưa đạo binh xuống

nơi đầy đặc rắn rít, cá sấu, chúng sợ h ãi sẽ không chịu xuống. Lúc ấy

ông phải trình vua: "Tâu Đại vương, quân sĩ của

Đại vương đ ã bị gã con trai nhà nông ấy làm tan rã mất rồi, không còn

người nào, thậm chí cả Đại sư Kevatta v à

các vương hầu đều bị mua chuộc . Họ chỉ rảo

quanh quẩn r ình rập Đại vương thôi, chứ

họ th ành người tay chân của gã nông dân ấy cả rồi, chỉ còn một mình

tiểu thần là tôi trung của Đại vương, nếu Đại

vương không tin tiểu thần, xin Đại vương ban lệnh cho các vương hầu mặc

triều phục đến chầu Đại vương. Sau đó, Đại vương quan sát y phục của họ, đồ

trang sức, cung kiếm của họ xem, thảy đều do g ã con trai nhà nông dân

ấy tặng và khắc tên gã vào, rồi ngài biết chắc mọi việc".

Vua ấy sẽ y lời và tin chắc như vậy, nên lo sợ phải

đuổi các vương hầu về xứ. Rồi vua ấy sẽ hỏi:

"Kế đó phải l àm gì". Ông phải đáp: "Tâu

Đại vương, g ã nông dân ấy đầy mưu lược t ài

trí, nếu Đại vương c òn ở

đây v ài ngày nữa, gã sẽ chiếm cả

đạo quân v à bắt lấy

Đại vương. Vậy xin Đại vương chớ chậm trễ ngay

đ êm nay vào canh giữa ta hãy lấy ngựa lên

đường đừng để phải chết trong tay kẻ th ù". Vua

ấy sẽ nghe theo lời khuyên của ông và trong khi vua ấy

đ ào tẩu, ông hãy trở lui báo cho dân

chúng ta rõ.

Nghe vậy Anukevatta đáp:

- Thưa bậc Trí giả, được lắm, tiểu thần xin

nghe theo lời của ng ài.

- Vậy thì xin ông ráng chịu vài cái đấm đá.

- Thưa bậc Trí giả, ngài muốn làm gì tấm thân hèn này cũng

được, chỉ xin tha mạng v à toàn gia

được an l ành.

Thế là sau khi tỏ lòng ân cần quý trọng gia quyến Anukevatta, ngài ban

lệnh đem ông ấy ra h ành hạ tàn tệ như

trên rồi mang giao cho quân của vua Brahmadatta. Vua này thử lòng ông xong

lại tin dùng, quý trọng và giao cho ông việc

điều khiển đạo binh. Ông liền mang quân sĩ đến những nơi đầy rắn rít, cá

sấu, khiến họ kinh hoảng, rồi lại bị t ên giáo, lao trên pháo

đ ài bắn xuống bị thương nên sau

đó không c òn ai dám cả gan

đến gần nữa.

Lúc ấy, Anukevatta yết kiến vua và nói:

- Tâu Đại vương, không c òn ai chiến

đấu cho Đại vương nữa rồi, tất cả đều bị mua

chuộc. Nếu Đại vương không tin tiểu thần, xin Đại vương triệu các vương hầu

đến chầu rồi xem chữ khắc tr ên y phục và quân trang của họ.

Vua y lời và khi thấy những chữ khắc trên quân trang quân phục của họ,

ông tin chắc họ đều bị mua chuộc cả, n ên

ông hỏi:

- Đại sư, vậy phải l àm gì bây giờ?

- Tâu Đại vương, không c òn làm gì

được nữa cả.

Nếu Đại vương chậm trễ, g ã nông dân

ấy sẽ bắt lấy Đại vương mất thôi. Tâu Đại

vương, nếu Đại sư Kevatta phải ra đường với vết thương tr ên trán,

Đại sư cũng đ ã lấy của

đút lót, Đại sư đ ã nhận viên bảo ngọc

ấy, khiến Đại vương phải t ìm

đường tẩu thoát suốt cả ba dặm đường rồi lại

được Đại vương tin cậy v à rước Đại vương

trở về. Đó l à một phản thần! Tiểu thần không thể tuân lệnh lão ấy dù

chỉ một đ êm, vậy ngay

đ êm nay vào canh giữa

Đại vương phải tẩu thoát. Đại vương không c òn

ai là thân hữu trừ tiểu thần cả.

- Này Đại sư, vậy th ì khanh phải

đem ngựa v à xe của trẫm

đến đây sẵn s àng.

Thấy vua đ ã quyết tâm

đ ào tẩu, ông liền trấn an vua bảo

đừng lo sợ g ì, rồi

đi t ìm các thám tử bảo rằng vua sẽ

đ ào tẩu đ êm

nay, họ đừng tính chuyện ngủ nghỉ nữa. Kế đó

ông lại chuẩn bị vương m ã, sắp đặt đây

cương sẵn s àng để cho vua c àng

kéo dây thì ngựa càng chạy nhanh hơn. Vào nửa đ êm,

ông tâu:

- Tâu Đại vương, vương m ã

đ ã sẵn sàng,

đến giờ khởi h ành rồi.

Vua liền lên ngựa tẩu thoát, Anukevatta cũng lên ngựa như thể tháp tùng

vua, nhưng chỉ được một khoảng, ông trở lui v à

vương mã theo sự sắp xếp dây cương sẵn sàng, đ ã

phi thật nhanh khi vua kéo dây thúc ngựa. Sau

đó Anukevatta đến giữa ba quân thét vang:

- Vua Cùlani Brahmadatta đ ã tẩu

thoát!

Các thám tử và tùy tùng đều thét l ên

như vậy.Các vương hầu kia, nghe tiếng ồn ào, hoảng hốt nghĩ thầm: "Bậc Trí

giả Mahosadha ắt hẳn đ ã mở cổng thành,

ta sẽ chết mất thôi".

Họ chỉ còn nhìn thoáng các vật dụng cùng các món giải trí, rồi chạy trốn.

Đám người kia lại la to hơn:

- Các vương hầu đ ã tẩu thoát!

Nghe tiếng ồn ào các quân sĩ đang ở cổng th ành

và các tháp canh la hét vỗ tay ầm ĩ.

Rồi toàn thể nội thành cũng như ngoại thành

đều ra hô vang dậy như thể quả đất nứt nẻ ra hay đại dương tan t ành,

trong khi vô số quân sĩ trong đạo binh h ùng

mạnh kia kinh hoảng vì sợ chết, lại không nơi nương tựa hay ẩn náu, liền

thét vang:

- Vua Brahmadatta đ ã bị bậc Trí giả

Mahosadha bắt đi c ùng với một tr ăm

lẻ một vương hầu rồi!

Họ liền tháo chạy tán loạn, ném bỏ cả tấm khố quanh lưng. Chiến trường bị

bỏ hoang, vua Cùlani về kinh thành của mình cùng với một tr ăm

lẻ một tướng l ãnh vương hầu kia.

Sáng hôm sau, quân sĩ mở cửa thành đi v ào

thấy đủ các chiến lợi phẩm, liền tr ình

với bậc Đại Sĩ v à hỏi ý những việc phải

làm. Ngài bảo:

- Các vật dụng họ để lại đều l à của

ta. Các ngươi hãy dâng đức vua những vật dụng

của các vương hầu, đem cho ta những vật dụng của Kevatta v à của những

tướng lãnh khác, còn lại bao nhiêu để cho dân

chúng lấy đi.

Cả nửa tháng ròng mới lấy hết các châu báu và vật dụng quý giá, bốn tháng

sau mới thu dọn hết mọi đồ vật khác. Bậc Đại Sĩ

ban tặng đại vinh hiển cho Anukevatta. Từ đó dân chúng Mithil à có vô

số vàng ngọc.

29.

ĐƯỜNG HẦM VĨ ĐẠI.

Lúc bấy giờ vua Brahmadatta cùng các vương hầu ấy

đ ã sống một n ăm

ở kinh th ành Uttarapãncàla.

Một ngày kia, Kevatta nhìn bóng mình trong gương, thấy vết sẹo trên trán,

nghĩ thầm: "Cái này là do gã nông dân ấy gây ra, gã biến ta thành trò cười

trước các vương hầu ấy". Lão thấy uất hận tràn ngập trong lòng, lão nghĩ

thầm: "Làm sao trừ khử nó? Ồ mưu kế này đây.

Công chúa của ta l à Pãncàlacandì, có nhan sắc tuyệt thế, chẳng khác

nào tiên nữ trên trời. Ta sẽ cho vua Vedeha thấy nàng. Vua ấy sẽ say mê nàng

như thể cá mắc câu. Ta sẽ bắt lấy vua cùng gã Mahosadha và giết trọn cả hai

rồi nâng chén rượu mừng chiến thắng". Quyết

định như thế xong, l ão đến chầu vua:

- Tâu Đại vương, thần xin dâng ý kiến n ày.

- Này Đại sư, ý kiến của khanh đ ã làm

trẫm không còn mảnh vải che thân nữa. Bây giờ khanh còn muốn gì nữa

đây? H ãy bình tâm lại.

- Tâu Đại vương, chưa bao giờ có mưu kế n ào

sánh với kế này được.

- Vậy khanh hãy nói đi.

- Tâu Đại vương, xin chỉ nói ri êng

giữa Đại vương v à tiểu thần.

- Thì hẳn là vậy.

Lão Bà-la-môn liền đưa vua l ên thượng

lầu và nói:

- Tâu Đại vương, thần sẽ lôi cuốn vua Vedeha

bằng tham dục để đem cho được vua ấy về đây v à giết

đi.

- Này Đại sư, thật l à diệu kế, nhưng

phải làm sao để gợi tham dục của vua ấy được?

- Tâu Đại vương, công chúa P ãncàlacandì

có sắc đẹp vô song, ta sẽ bảo các thi sĩ ca

tụng nhan sắc v à đức hạnh của n àng

bằng thi ca rồi phổ biến các bài ca đó tại th ành

Mithilà. Khi nào ta thấy vua ấy tự nhủ thầm: "Nếu vị anh quân Vedeha không

chiếm được nữ báu n ày, thi ngai vàng

cùng quốc độ n ày còn nghĩa lý gì nữa

đối với ta!". Khi vua ấy đ ã bị lôi cuốn

vào tư tưởng kia, thần sẽ đi định ng ày

sính lễ, vào ngày đ ã

định, vua ấy sẽ đến. Như cá nuốt câu, g ã

nông dân kia cũng đến với vua, thế l à ta

sẽ nuốt trọn.

Vua nghe vậy đẹp ý v à chấp nhận ngay.

- Này Đại sư, thật l à diệu kế, ta sẽ

làm như vậy.

- Nhưng có một con chim mayneh đứng b ên

cạnh vương sàng, đ ã ghi nhận sự việc

trên.

Sau đó vua cho gọi các thi sĩ t ài

hoa, ban tiền bạc rất hậu hỷ, cho họ được chi êm

ngưỡng công chúa rồi bảo họ làm thơ ca tụng nhan sắc nàng, nên họ làm những

bài ca vô cùng du dương rồi ngâm thơ cho vua nghe. Vua lại ban thưởng họ rất

trọng hậu. Các nhạc sĩ học các bài ca này từ các thi sĩ kia,

đem ra hát giữa dân chúng, nhờ vậy chúng được

truyền bá rất nhanh ra ngoại th ành. Khi chúng

đ ã lan rộng khắp nơi, vua cho triệu các

ca sĩ vào và phán:

- Này các con, ban đ êm hãy trèo lên

cây cùng với chim chóc và ca hát, rồi sáng mai, buộc chuông lục lạc vào cổ

chúng, thả chúng bay đi xong, tr èo

xuống.

Vua cho thi hành việc này để thế nhân có thể bảo

chính chư Thi ên ca tụng sắc đẹp của công

chúa P ãncàla. Vua lại triệu các thi sĩ kia vào và phán:

- Này các con hãy làm thơ đưa tin n ày:

Công chúa diễm lệ kia không dành cho vua nào ở cõi Diêm-phù- đề

trừ vua Vedeha ở th ành Mithilà. Các con hãy ca tụng oai danh của vua

ấy cùng nhan sắc của công chúa.

Họ vâng theo, rồi tường trình công việc ấy, vua ban thưởng họ rất hậu,

rồi bảo họ đi Mithil à, ca hát trên

đường v à tán tụng như trên. Họ liền

đến Mithil à. Dân chúng tụ tập lại nghe

hát rất đông v à hoan hô nhiệt liệt. Ban

đ êm họ trèo lên cây ca hát, buổi sáng họ

lại buộc chuông lục lạc vào cổ chim rồi mới trèo xuống.

Dân chúng nghe tiếng lục lạc trên không, rồi khắp kinh thành vang dậy tin

đồn rằng chính các Thi ên thần

đang tán tụng nhan sắc diễm k iều của

công chúa. Vua hay tin cho triệu các thi sĩ vào và mở hội ngay trong cung

điện. Vua tưởng rằng họ muốn dâng công chúa

diễm lệ vô song của vua C ùlani cho ngài, nên ngài ban thưởng họ rất

hậu. Sau đó, về nước, họ tr ình vua

Brahmadatta, Kevatta liền thưa:

- Tâu Đại vương, đ ã

đến lúc thần đi định ng ày sính lễ.

- Này Đại sư, thật l à tuyệt diệu,

khanh muốn đem theo vật g ì?

- Xin cho thần một tặng vật nhỏ.

Vua liền ban nó ngay. Lão đem qu à

đi, c ùng với một

đo àn tùy tùng

đông đảo hộ tống đến kinh đô Vedeha. Khi l ão

cho báo tin lão đ ã

đến, cả th ành chấn

động l ên:

- Hai vua Cùlani và Vedeha sẽ kết tình thân hữu - họ bảo nhau như vậy - vua

Cùlani sẽ gả công chúa cho Đại vương của ta v à

Kevatta đến đấy định ng ày sính lễ.

Vua Vedeha nghe tin này và bậc Đại Sĩ cũng

nghe tin, liền nghĩ thầm: "Ta không thích l ão ấy

đến đây, ta phải t ìm hiểu xem sao cho

đúng". Thế l à ngài thông tin với các

thám tử đang ở tại nước vua C ùlani. Họ

trả lời:

- Chúng thần không hiểu rõ việc này. Vua cùng Kevatta ngồi

đ àm đạo ri êng

trong vương thất, nhưng có con chim Maynah đứng

cạnh b ên vương sàng hiểu rõ việc này.

Nghe vậy, bậc Đại S ĩ nghĩ thầm: "Muốn

cho kẻ thù ta không đắc thắng lợi, ta phải ngăn

chia kinh th ành từng phần và trang hoàng cho

đẹp, m à

đừng cho Kevatta thấy được

Thế là từ cổng thành đến cung điện v à

từ cung điện đến tư dinh ng ài, hai bên

đường ng ài cho dựng hàng rào lưới, phủ

thảm lên trên, treo đầy tranh ảnh, rải hoa khắp

mặt đường, đặt b ình nước khắp nơi, cờ xí rợp trời. Khi Kevatta vào

thành, lão không thể thấy mọi việc sắp đặt như

tr ên, lão tưởng vua trang hoàng kinh thành

để đón l ão, chứ không hiểu người ta làm

vậy để che mắt l ão. Khi lão yết kiến

vua, lão dâng tặng vật, cung kính chúc tụng rồi ngồi xuống một bên.

Sau khi được đón tiếp trọng thể, l ão

đọc hai vần kệ tuy ên bố lý do lão xin

yết kiến:

74. Một vì vua muốn kết thân bằng,

Tặng bảo vật này đến Đại vương,

Mong các sứ thần lời êm dịu,

Từ nơi chốn nọ chóng lên đường.

75. Ước mong lời lẽ họ ôn h òa,

Đem lại hân hoan cho chúng ta,

Mong ước thần dân Vi-đề quốc,

H òa đồng với tộc Pa ñ-cà-la.

Lão lại tiếp tục nói:

- Tâu Đại vương, đáng lẽ quốc vương của thần

sai kẻ khác đi thay thần nhưng ng ài đ ã

phái thần đi, v ì tin chắc rằng không ai

nói chuyện này dễ nghe cho bằng thần. Ngài bảo: "Này

Đại sư, Đại sư h ãy

đi thuyết phục đức vua ấy xem xét chuyện n ày

thật thuận lợi và rước đức vua ấy về đây". Vậy

tâu Đại vương, xin Đại vương ngự l ên xe

giá, Đại vương sẽ đón về một công chúa tuyệt

trần diễm lệ v à tình thân hữu sẽ được

tạo lập giữa Đại vương v à quốc vương của thần.

Vua rất đẹp ý khi nghe lời tâu tr ình

này, ông say sưa vì ý tưởng sắp đón về một công

chúa diễm lệ vô song, liền phán:

- Này Đại sư, trước kia có mối bất h òa

giữa Đại sư v à bậc Trí giả Mahosadha tại

trận Pháp chiến. Nay Đại sư h ãy

đi gặp vương tử của trẫm, hai bậc Trí giả h ãy

hòa giải và sau khi đ àm

đạo c ùng nhau, xin trở lại

đây.

Lão Kevatta hứa đi hội kiến bậc Trí giả, rồi

lui ra.

Ngày ấy, bậc Đại Sĩ quyết định tránh mọi

việc đ àm luận với con người độc ác kia,

n ên buổi sáng ngài uống một chút bơ tươi rồi bảo quân hầu bôi phân bò

ướt trên sàn nhà, bôi dầu vào cột nhà, dẹp hết mọi ghế ngồi, sàng tọa trừ

một sàng tọa nhỏ hẹp vừa cho ngài nằm. Ngài ra lệnh cho quân hầu:

- Khi lão Bà-la-môn ấy bắt đầu nói, các

ngươi h ãy bảo: "Thưa Tôn sư Bà-la-môn, xin ngài

đừng tr ò chuyện với bậc Trí giả, hôm nay

bậc Trí giả đ ã dùng một liều bơ tươi".

Và khi ta làm như thể muốn trò chuyện với lão thì phải ng ăn

lại v à bảo: "Tâu Chúa công, ngài đ ã

dùng một liều bơ tươi, xin đừng nói chuyện

nữa".

Sau khi c ăn dặn họ, bậc Đại Sĩ khoác hồng y

nằm tr ên sàng tọa, cùng sắp đặt quân hầu

ở bảy tháp canh xong xuôi. Khi Kevatta

đến cổng th ành thứ nhất, liền hỏi bậc

Đại Sĩ ở đâu, các quân hầu trả lời:

- Thưa Tôn giả Bà-la-môn, xin đừng gây tiếng

ồn ào, nếu ngài muốn vào thành, xin giữ yên lặng. Hôm nay bậc Trí giả

dùng bơ tươi, nên cử tiếng ồn.

Khi đến các cổng th ành kia, họ cũng

bảo như vậy. Đến cổng thứ bảy, l ão hội

kiến bậc Đại Sĩ v à bậc

Đại Sĩ ra vẻ muốn nói chuyện, quân hầu liền

thưa:

- Thưa Chúa công, ngài vừa uống một liều bơ tươi thật mạnh, cớ sao ngài

lại trò chuyện với lão Bà-la-môn khốn nạn này?

Thế là họ ng ăn ng ài lại. Khi lão kia

bước vào, lão không tìm được chỗ ngồi cũng

không có chỗ n ào đứng b ên tọa

sàng của ngài được, l ão liền bước qua

lớp phân bò ẩm ướt rồi đứng lại. Lúc ấy một kẻ

nh ìn thấy lão, liền dụi mắt, một kẻ nhướng mày và một kẻ gãi cùi chỏ.

Lão thấy vậy, bực mình bảo:

- Thưa bậc Trí giả, ta đi đây.

Một kẻ khác đáp:

- Ô hay, tên Bà-la-môn khốn nạn kia, đừng l àm

ồn ào, nều không ta sẽ bẻ gãy xương ngươi ra.

Lão hoảng hốt nhìn lui, thì một kẻ lấy gậy

đánh lưng l ão, kẻ khác nắm cổ lão đẩy

ra, kẻ khác đấm v ào lưng lão cho đến lúc

l ão kinh hoàng bỏ chạy như con hươu trong miệng hổ báo và trở về

cung.

Lúc bấy giờ vua nghĩ thầm: "Hôm nay vương nhi sẽ hài lòng khi

được tin n ày. Hai bậc Trí giả sẽ

đ àm đạo

tương đắc biết bao về đạo pháp. Hôm nay họ sẽ giải h òa và ta sẽ là

người thắng cuộc", vì thế khi vua thấy Kevatta, ông liền ngâm kệ hỏi về cuộc

đ àm đạo ấy:

76. Việc ngài hội kiến Ma-sa-dha,

Diễn tiến ra sao, Ke-vat-ta,

Xin hãy nói ngay cho trẫm biết,

Ma-sa-dha có muốn cầu hòa?

Kevatta đáp lại:

- Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ đó l à

bậc Trí giả, nhưng thật chẳng có kẻ nào tồi tệ hơn nữa.

Và lão ngâm kệ:

77. Kẻ kia bản chất thật gian tà,

Tâu Đại vương, ngoan cố, xấu xa,

Khó ch ịu, tính tình đầy độc ác,

Như người câm điếc, chẳng lời ra.

Lời này không làm vừa lòng vua, nhưng vua cũng không bắt bẻ gì

được. Vua liền ban cho Kevatta v à

đám hầu cận mọi thứ cần d ùng và một ngôi

nhà để ở, rồi bảo l ão lui về an nghỉ.

Sau khi lão đi rồi, vua nghĩ thầm: "Vương nhi l à

bậc Trí, biết rõ cách cư xử nhã nhặn, tuy thế vương nhi lại không muốn nói

chuyện lịch sự với lão này, cũng không muốn thấy lão, chắc hẳn vương nhi

đ ã thấy nguyên cớ bất an sau này rồi".

Và ông ngâm kệ:

78. Quyết định n ày sao khó hiểu vầy,

Một nguyên nhân thật rõ ràng thay,

Được người dũng cảm n ày tiên

đoán,

V ì vậy thân ta rung động đây,

Ai sẽ l à người mất tính mạng,

Và rơi vào địch thủ cao tay?

Chắc chắn vương nhi đ ã thấy mối nguy

hại nào đó trong cuộc viếng thăm cũa l ão

Bà-la-môn này. Lão chẳng đến đây v ì mục

đích thân hữu đâu. Ắt hẳn l ão muốn lôi

kéo ta bằng sắc dục, khiến ta phải đến kinh th ành

của lão rồi bắt lấy ta. Bậc Trí giả chắc thấy trước nguy cơ nào đó sắp xảy ra?". Trong

lúc vua đang quay cuồng lo lắng với những ý nghĩ trong đầu, th ì bốn

hiền thần bước vào. Ông bảo Senaka:

- Này Senaka, khanh nghĩ trẫm có nên đến th ành

Uttarapãncàla và cầu hôn công chúa Cùlani ch ăng?

Lão đáp:

- Tâu Đại vương, sao Đại vương lại nói vậy?

Khi duy ên lành đến Đại vương, ai dám xua

đuổi nó được? Nếu Đại vương đến đó v à cầu hôn công chúa, thì chẳng có

vị vua nào sánh bằng Đại vương trong toàn cõi Diêm-phù đề trừ vua Cùlani

Brahmadatta, vì Đại vương đã kết duyên được với công chúa của vị Đại đế đệ

nhất. Đại đế kia biết các vương tử khác đều chỉ là chư hầu của ngài, còn vua

Vedeha duy nhất có thể sánh bằng ngài thôi, nên mới mong gả công chúa diễm

lệ vô song ấy. Xin Đại vương cứ l àm theo

lời ngài và chúng thần cũng sẽ được ban tặng y

phục c ùng vật trang hoàng.

Khi vua hỏi các vị kia, họ cũng đều trả lời

như vậy. Trong lúc họ đang đ àm đạo th ì

lão Bà-la-môn Kevatta từ tư dinh đến tạ từ vua

để ra về, l ão nói:

- Tâu Đại vương, thần không thể ở lại đây

được nữa, xin cho phép thần ra về, tâu Chúa thượng.

Vua trọng đ ãi lão rồi cho lão ra về.

Khi bậc Đại Sĩ hay tin l ão

đi rồi, ng ài tắm rửa, thay quần áo và

vào chầu vua, cung kính bái vua rồi ngồi qua một bên. Vua nghĩ thầm: "Vương nhi

Mahosadha là bậc Trí giả vĩ đại, đầy t ài

ứng biến, thông hiểu quá khứ hiện tại và vị lai, vậy sẽ biết

được ta n ên

đi hay không". Tuy thế, bị m ê mờ vì tham dục, vua không giữ

được quyết định đầu ti ên, và ngâm kệ

hỏi:

79. Sáu người một ý thật hòa đồng

L à các bậc hiền trí thượng nhân,

Đi, hoặc không đi v à ở lại,

Ma-ho-sad hãy nói ta cùng.

Lúc ấy bậc Trí giả nghĩ thầm: "Vua này ham

đắm sắc dục quá độ, n ên mù quáng đi ên

rồ nghe theo lời bốn lão kia. Ta sẽ bảo cho vua biết việc ra

đi tai hại dường n ào và can gián ngài".

Thế là ngài ngâm bốn vần kệ sau:

80. Ngài có biết ch ăng, tâu Đại vương,

C ù-la-ni thế lực hùng cường,

Vua kia muốn giết ngài như thể,

Lập hố bắt nai với lúa hương!

81. Như cá tham ăn, không nhận thấy,

Lưỡi câu giấu kín dưới mồi ngon,

Một người đời chẳng hề trông thấy,

Bóng dáng đâu đây của tử thần.

82. Cũng vậy, đầy tham dục, Đại vương,

Không sao nhận thấy vị công nương,

Con C ù-la đế l à thần chết,

Vì chính ngài là một thế nhân.

83. Đại vương cứ đến P ãn-cà-la,

Và tự diệt vong chốc lát mà,

Như chú nai kia lâm đại nạn,

Tr ên con đường nọ bị sa cơ.

Nghe lời quở trách nặng nề như thế, vua nổi cơn thịnh nộ: "Gã này tưởng

ta là nô lệ của gã". Ông nghĩ thầm: "Gã quên rằng ta là vị chúa tể,

gã biết rằng vị Đại đế kia nhắn gả công chúa

cho ta m à không nói ra được một lời chúc

tụng tốt l ành nào, lại dám tiên đoán ta

sẽ bị bắt, rồi bị giết như con nai ngu xuẩn hay con cá mắc câu hoặc

con hươu bị bắt trên đường". Lập tức vua ngâm

kệ:

84. Trẫm thật điếc ngấm câm, ngu dại thay,

Hỏi ngươi những việc tối cao vầy!

L àm sao ngươi hiểu như người khác

Khi đ ã lớn lên bám lưỡi cày?

Cùng với những lời thóa mạ này, vua phán:

- Gã nông dân này đang cản trở duy ên

may của trẫm, hãy cút đi!

Rồi ông ngâm kệ, để tống ng ài ra:

85. Bắt lấy gã này, tóm cổ mau,

Tống ra khỏi xứ sở ta nào,

Con người dám nói hòng ng ăn cản,

Việc trẫm sắp đi lấy bảo châu!

Nhưng ngài thấy vua thịnh nộ, liền nghĩ thầm: "Nếu có kẻ nào tuân lệnh

vua lôi cổ, nắm tay ta hay đụng v ào thân

ta, ta sẽ bị ô nhục đến ng ày tàn, vậy ta

muốn tự mình ra đi m à thôi". Thế là ngài

từ tạ vua về tư dinh.

Lúc bấy giờ vua chỉ nói thế trong cơn thịnh nộ, nhưng vì kính nể bậc

Đại Sĩ n ên ông không ra lệnh cho ai thi

hành điều ấy cả. Bậc Đại Sĩ lại nghĩ thầm: "Vua

n ày thật ngu muội, không biết chuyện lợi hại cho mình. Vua lại

đang si t ình, nên

định đi đón công chúa về, m à không thấy

hiểm họa đang kề gần, sẽ đi đến chỗ diệt vong.

Ta không n ên bận tâm đến lời lẽ của vua.

Đó l à Đại ân nhân của ta, đ ã hậu

đ ãi ta lâu nay. Ta phải tỏ lòng trung

thành với vua, nhưng trước hết ta phải cho gọi chim két vào và tìm hiểu sự

thật, rồi ta sẽ đích thân đi việc n ày".

Thế là ngài cho gọi chim két.

*

Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như

sau:

86. Sau đó ng ài

đi khuất mắt vua,

Nói cùng chim két Mà-tha-ra:

" Đến đây, anh vũ m àu xanh lục,

Bạn hãy làm công việc giúp ta.

87. Pãn-cà Đại đế có May-nah,

Canh giữ vương s àng của đức vua,

Hỏi nó ngọn nguồn, v ì nó biết,

Điều cơ mật của Ko-si-ya".

88. M à-tha-ra, trí điểu nghe rồi,

Két lục bay đi đến tận nơi,

Trú ngụ chim May-nah quý tộc,

Ma-tha-ra trí điểu trao lời,

Với May-nah giọng du dương ấy,

Trong chiếc lồng son đẹp tuyệt vời:

89.- Bạn ơi, bạn có được khang an,

Trong chiếc lồng v àng của bạn ch ăng,

Hạnh phúc có tr àn đầy, Vệ-xá,

Họ cho bạn đủ mật, ngô rang?

90. Em đầy an lạc, hỡi Tôn ông,

Quả thật nơi đây hạnh phúc tr òn,

Họ tặng em ngô rang, mật ngọt;

Hỡi Anh vũ có trí tinh thông,

Sao ngài đến, vậy ai sai đến,

Em chẳng hề nghe thấy quý ông?

Khi nghe vậy, két nghĩ thầm: "Nếu ta bảo ta từ Mithilà

đến, chắc nó chẳng bao giờ tin cậy ta, v ì

lo bảo vệ sinh mạng mình. Trên đường đi ta có

thấy kinh th ành Aritthapura, trong quốc

độ Sivi, vậy ta sẽ bịa chuyện nói l à vua Sivi phái ta

đến đây". Két bảo:

91. Ta là thị giả Chúa Si-vi,

Ở chính trong cung điện xứ kia,

Từ đó vị minh quân giải thoát,

Các t ù nhân được tự do đi.

Chim Maynah liền cho két bắp rang tẩm mật cùng nước mật

để sẵn cho nó tr ên dĩa vàng, rồi bảo:

-Thưa Tôn ông, ngài từ phương xa đến, ng ài

mang theo những vật gì?

Két bịa chuyện, vì muốn biết điều bí mật v à

đáp:

92. Ta có vợ hiền một thuở xưa,

Du dương tiếng hót, một May-nah,

Rồi chim ưng nọ vồ nàng chết,

Mang xác nàng đi trước mắt ta.

Chim Maynah hỏi:

- Làm thế nào diều hâu giết hại hiền tỷ

được?

Két liền kể câu chuyện này:

- Cô nương hãy nghe đây. Một ng ày nọ

vua ta cho phép ta dự tiệc nước của ngài. Ta và hiền thê cùng

đến nô đ ùa. Buổi chiều tối chúng ta cùng

vua trở về cung, muốn cho lông khô ráo, ta cùng hiền thê bay ra

đậu tr ên nóc cung

điện. Lúc ấy một con diều hâu s à xuống

chụp lấy chúng ta khi chúng ta vừa rời nóc cung, ta kinh hoảng bay nhanh

để bảo vệ tính mạng, c òn hiền thê ta

đang thai nghén n ên không bay nhanh

được, thế l à nó giết hại nàng ngay trước

mắt ta và tha đi. Đức vua thấy ta thương khóc v ì

mất nàng nên hỏi nguyên do. Khi nghe sự việc xảy ra, ngài phán: "Thôi hiền

hữu, thế là đủ rồi, đừng khóc nữa, hiền hữu h ãy

đi t ìm vợ khác".Ta

đáp: "Tâu Chúa công, tiểu thần đâu cần cưới một

vợ khác độc ác xấu xa? Tiểu thần sống một m ình tốt hơn". Ngài bảo:

-"Này hiền hữu, trẫm biết một con chim đức hạnh

như vợ bạn, cận thần của vua C ùlani cũng là một chim Maynah như vợ

bạn vậy. Hãy đi cầu hôn n àng. Xin nàng

đáp lại. Nếu n àng ưng thuận, hãy

đến nói cho trẫm r õ, trẫm hoặc hoàng hậu

sẽ đi cưới n àng về thật trọng thể". Nói

xong, ngài phái ta đi, v ì thế ta

đến đây.

Két lại nói:

93. Yêu quý vợ hiền, ta đến đây,

Nếu nàng cho phép, tự hôm nay,

Chúng ta có thể cùng nhau hưởng,

Cuộc sống lứa đôi hạnh phúc thay.

Lời này khiến Maynah vô cùng đẹp ý nhưng

không muốn lộ ý ra, n àng đáp như thể

không ưng thuận:

94. Anh vũ phải yêu Anh vũ thôi,

May-nah kết hợp May-nah hoài,

Làm sao có thể đem h òa hợp,

Anh vũ, May-nah thật đẹp đôi?

Két nghe vậy nghĩ thầm: "Nàng đâu khước từ

ta, n àng chỉ làm ra vẻ quan trọng thế thôi, chắc chắn nàng yêu ta

thật tình rồi. Ta sẽ tìm lời ví von cho nàng tin tưởng ta". Vì thế két bảo:

95. Khi kẻ si tình yêu quý ai,

Dù Chiên- đ à hạ liệt mà thôi,

Họ đều đồng đẳng b ên nhau cả,

Trong ái tình không có khác sai.

Nói xong, két lại tiếp tục hỏi về mức độ

khác nhau trong d òng giống loài người:

96. Mẫu thân của Chúa thượng Si-vi,

Tên gọi là Jam-bà-va-tì,

Bà đ ã được

l ên ngôi chánh hậu,

Và Su Hắc đế vẫn y êu vì.

Lúc bấy giờ mẫu hậu của vua Sivi, bà Jambàvatì, thuộc dòng Chiên- đ à-la,

là ái hậu của vua Vàsudeva, một vị vua trong bộ tộc Kanhàgana, vị thái tử

trong số mười hoàng tử. Chuyện kể rằng, một ngày nọ ngài từ cung Dvàravatì

vào ngự viên, trên đường ng ài gặp một

kiều nữ đứng b ên vệ

đường, trong lúc n àng

đi l àm công chuyện từ làng Chiên- đ à-la

của nàng đến thị trấn, vua y êu nàng ngay

rồi hỏi gốc gác nàng, khi nghe là một kẻ Chiên- đ à-la,

vua rất buồn phiền, song khi biết nàng chưa chồng, ngài trở về cung ngay,

mang theo nàng về cung và trang điểm n àng

với đủ loại trân bảo rồi phong n àng làm

chánh hậu. Nàng sinh hạ được một ho àng

nam Sivi sau đó cai trị thần dân Dvàravatì

khi vua cha mất.

Sau khi nêu gương ấy xong, két lại tiếp tục:

- Như vậy, ngay một vương tử như vua kia còn sánh duyên với một thiếu nữ

Chiên- đ à-la, huống hồ chúng ta chỉ ở thế

giới loài vật? Nếu ta muốn sánh duyên với nhau thì chẳng có gì phải nói thêm

nữa.

Và két đưa ra một gương khác như sau:

97. Ra-tha-va nọ, một tiên nga,

Cũng đ ã từng yêu quý Vac-cha,

Người ấy đ ã yêu loài thú vật,

Trong tình yêu chẳng khác nhau mà.

Vaccha là một ẩn sĩ và cách chàng yêu nàng như sau: Ngày xưa, một

Bà-la-môn thấy rõ những tội lỗi của tham dục, nên từ bỏ cảnh phú quý xuất

gia tu hành, sống trong vùng Tuyết Sơn dưới túp lều lá tự xây. Không xa lều

này có một bầy tiên (nửa người nửa thú) sống trong hang

đá, c ùng nơi ấy lại có một con nhện. Con

nhện này thường gi ăng tơ đâm thủng đầu các ti ên

nữ này để hút máu. Lúc bấy giờ các ti ên

cô yếu đuối v à nhút nhát, con nhện thì

hung bạo độc ác, n ên họ không làm gì

chống lại nó được, liền đến gặp ẩn sĩ. Đảnh lễ

xong. họ kể cho ông nghe câu chuyện con nhện đang t àn phá họ như thế

nào và họ bơ vơ không ai giúp đỡ, n ên họ

xin ông giết con nhện để cứu họ. Nhưng vị ẩn sĩ

đuổi họ ra v à la lên:

- Người như ta không sát sinh.

Một tiên nữ trong đám n ày tên là

Rahavati chưa chồng và họ trang điểm cho n àng

thật diễm lệ rồi đem đến ẩn sĩ bảo:

- Xin cho nàng này làm thị nữ của ngài và xin ngài giết kẻ thù của chúng

tiện nữ.

Khi ẩn sĩ thấy nàng đem l òng yêu ngay

và giữ nàng lại với mình, rồi nằm đợi con nhện

ở miệng hang, khi nó b ò ra kiếm mồi, liền lấy gậy giết nó, sau

đó vị n ày sống với cô tiên, sinh con

đẻ cái với n àng rồi qua

đời, như vậy ti ên nữ

đ ã yêu vị này.

Con két kể gương này xong, liền bảo:

- Ẩn sĩ Vaccha, dù là người, vẫn sống với một tiên nữ thuộc nòi giống

vật. Thế thì sao ta lại không làm như vậy, khi ta

đều l à loài chim?

Nghe xong, nàng đáp lại:

- Thưa tôn ông, con tim không phải lúc nào cũng chung thủy, em rất sợ

cảnh chia ly với bạn tình.

Nhưng két ta là con vật khôn ngoan hiểu rõ mọi trò quyến rủ của nữ giới,

nên ngâm kệ này thử nàng thêm nữa:

98. Quả thật ta gần cất cánh xa,

Hỡi nàng thánh thót giọng May-nah,

Đây là lời chối từ ta đấy,

Chắc chắn nàng đang khinh bỉ ta.

Nghe vậy nàng thấy tim dường như muốn vỡ ra, nhưng trước mắt chàng, nàng

làm như thể đang bừng cháy l ên một tình

yêu mới mẻ đối với ch àng, liền ngâm một

vần kệ rưỡi như sau:

99-100. Không phước lành cho kẻ vội vàng

Mà-tha-ra, két lục khôn ngoan,

Ở đây cho đến khi triều kiến,

Chúa thượng v à nghe tiếng dậy vang,

Của các trống chiêng khua đủ loại,

V à nhìn Đại đế đẹp huy ho àng.

Thế rồi lúc hoàng hôn xuống, chúng vui chơi cùng nhau, hưởng trọn tình

bằng hữu hân hoan thích thú. Lúc ấy, két nghĩ thầm: "Nay nàng không giấu bí

mật với ta nữa, ta phải hỏi nàng rồi ra đi".

- Này nàng Maynah hỡi-Chàng bảo.

- Thưa chàng, có việc gì?

- Ta muốn hỏi nàng một vài chuyện. Có nên nói ch ăng?

- Xin chàng cứ nói.

- Thôi được, không hề g ì, hôm nay là

ngày hội, để ng ày kia sẽ xem lại sao.

- Nếu thuận tiện trong ngày hội xin chàng cứ nói, còn nếu không thì thôi

đừng nói nữa, thưa ch àng.

- Đúng ra chuyện n ày thuận tiện trong

ngày hội.

- Vậy xin chàng nói đi.

- Nếu nàng muốn nghe, ta mới nói.

Rồi két hỏi chuyện bí mật trong một vần kệ rưỡi như sau:

100-101. Tiếng đồn n ày thật lớn

truyền ra,

Khắp cả miền đất nước của ta:

Công chúa P ãn-cà-la Đại đế,

Như sao rực sáng, được vua cha,

Đem gả Vi-đề-ha quý tộc,

Lễ th ành hôn sắp đến đây m à!

Nghe vậy, nàng bảo:

- Này chàng ơi, trong ngày hội này mà chàng nói chuyện xui xẻo quá!

- Ta cho đó l à chuyện may mắn, sao

nàng lại bảo xui xẻo, thế là nghĩa gì?

- Thưa chàng em không nói được đâu.

- Cô nương ơi, từ giờ phút nàng từ chối cho ta rõ bí mật mà nàng biết,

thì mối lương duyên của đôi ta chắc phải đứt

đoạn.

Nghe chàng nài nỉ, nàng liền đáp:

- Vậy thì chàng hãy nghe đây:

102. Đừng để cho ai, dẫu kẻ thù,

Tác thành hôn lễ, Ma-tha-ra,

Giống như cách của hai vua ấy,

Pãn-cà-la và Vi- đế-ha.

Két hỏi:

- Cô nương ôi, tại sao nàng bảo như vậy?

Nàng đáp:

- Xin hãy nghe đây, em sẽ nói mọi tai hại

của việc n ày.

Rồi nàng ngâm kệ:

103. Vua hùng của xứ Pañ-cà-la,

Sẽ quyến rủ vua Vi- đế-ha,

V à sẽ giết vua kia lập tức,

Nàng đây chẳng phải bạn đâu m à.

Nàng kể mọi chuyện bí mật cho két khôn ngoan và con két khôn ngoan nghe

vậy cứ khen ngợi Kevatta hết lời:

- Vị Đại sư thật l à

đa mưu túc kế, giết vua kia như vậy thật l à

diệu kế. Nhưng việc rủi ro nào sẽ xảy ra cho ta

đây?

- Vậy giữ yên lặng là thượng sách.

- Thế là cuộc hành trình của két đ ã

đạt kết quả. Sau khi ở lại đó một đ êm

với nàng, két bảo:

- Cô nương ơi, ta phải về xứ vua Sivi và tâu trình vua là ta

đ ã tìm được

một ái th ê.

- Rồi két từ giã nàng qua câu kệ:

104. Nay xin từ giã bảy đ êm trường,

Ta sẽ tâu trình với Đại vương,

Của xứ Sivi, ta đ ã gặp,

May-nah và lập tổ uyên ương.

Lúc bấy giờ chim Maynah, dù không muốn xa két cũng không thể nào từ chối

được, liền ngâm kệ sau:

105. Em để ch àng

đi trong bảy đ êm,

Sau nếu chàng không trở lại em,

Em sẽ tự mình tìm nắm mộ,

Chàng về em cũng sẽ quy tiên!

Két đáp lại:

- Cô nương ơi, sao nàng lại nói thế, nếu sau bảy ngày ta không gặp nàng,

làm sao ta sống được?

Miệng nói thế, nhưng trong lòng két nghĩ thầm: "Nàng sống hay chết, ta

đâu có quan tâm đến l àm gì?". Két vươn

cao đôi cánh, sau khi bay một khoảng ngắn về

phía xứ Sivi, nó quay lại về hướng th ành Mithilà. Rồi

đứng tr ên vai bậc Trí giả, khi bậc

Đại Sĩ đem nó l ên thượng lầu và hỏi tin

tức, nó kể với ngài tất cả. Ngài ban thưởng nó trọng thể như trước kia.

*

Bậc Đạo Sư giải thích chuyện n ày như

sau:

106. Rồi Mà-tha, két khôn ngoan,

Trình Ma-ho-sad Trí nhân sự tình.

*

Nghe xong bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Nh à

vua sẽ đi, d ù ta muốn hay không cũng vậy

và nếu ngài đi, ng ài sẽ bị tiêu diệt

ngay. Còn nếu ta cứ oán hận một vị vua đ ã

ban cho ta nhiều phú quý vinh hoa như vậy mà không giúp ích ngài, thì thật

đáng hổ thẹn. Khi t ìm

được một người t ài trí như ta, làm sao

người bị tàn hại được? Ta sẽ khởi h ành

trước vua và sẽ gặp vua Cùlani, ta sẽ sắp đặt

mọi việc chu đáo. Ta sẽ xây một kinh th ành cho vua Vedeha ngự với một

lối đi nhỏ hơn d ài một dặm và một

đường hầm lớn d ài nửa dặm. Ta sẽ làm lễ

thụ phong công chúa của vua Cùlani làm vương hậu của vua ta, rồi ngay khi

kinh thành bị một tr ăm lẻ một vương hầu c ùng

đạo binh mười tám vạn quân sĩ bao vây, ta sẽ

cứu chúa như thể mặt trăng được cứu khỏi móng vuốt của thần R àhu

(La-hầu) rồi đưa ng ài về nước. Việc ngài

hồi cung chỉ ở trong tay ta".

Khi ngài nghĩ như vậy, nỗi hân hoan tràn ngập khắp châu thân, rồi do niềm

hân hoan thúc đẩy, ng ài thốt lên ước

nguyện này:

107. Con người luôn phải thực hành,

Vì quyền lợi của người mình thọ ân.

Sau đó ng ài tắm rửa xoa dầu thơm

xong, phục sức cực kỳ sang trọng đi v ào

cung, kính lễ vua, rồi liền đứng sang một b ên.

- Tâu chúa thượng-ngài tâu-Chúa thượng sắp ngự xa giá

đến kinh th ành Uttarapãncàla ch ăng?

- Phải đấy vương nhi, nếu trẫm không chiếm

được công chúa Pa ñcàlacandì, thì vương quốc này có nghĩa gì

đối với trẫm? Vương nhi đừng rời trẫm nữa, h ãy

cùng đi với trẫm. Đến đó, trẫm sẽ được hai mối

lợi lớn: "Trẫm sẽ được đệ nhất nữ báu v à kết thân với vị vua kia ".

Bậc Đại Trí liền đáp:

- Tâu Chúa thượng, tiểu thần sẽ đi trước,

xây cung điện cho Chúa thượng ngự, Chúa thượng sẽ đến khi tiểu thần tâu tr ình

về.

Nói xong ngài ngâm hai vần kệ:

108. Thần sẽ ra đi trước Đại vương,

Đến kinh th ành tráng lệ huy hoàng,

Pãn-cà-la để xây cung điện,

Dâng chúa Vi-đề- ha vẻ vang.

109. Khi n ào thần đ ã dựng xây

xong

Dâng chúa Vi- đề m ỹ lệ cung,

Thần sẽ tâu trình ngài đến ngự,

Hỡi vị chúa tể đại anh h ùng!

Vua nghe vậy rất đẹp l òng, vì thấy

ngài không bỏ mặc ông, nên bảo:

- Này vương nhi, nếu con đi trước, con có

cần g ì ch ăng?

- Tâu Đại vương, tiểu thần cần một đạo binh.

- Vương nhi muốn cứ đem bao nhi êu tùy

ý.

Bậc Trí giả nói tiếp:

- Tâu Chúa thượng, xin cho mở bốn ngục thất, phá xiềng xích các kẻ cướp

bóc và cho họ cùng đi với tiểu thần.

- Vương nhi cứ làm như ý muốn- Vua bảo.

Bậc Đại Sĩ cho mở các cửa ngục, đem ra những

kẻ anh h ùng, dũng mãnh, có thể làm phận sự khi

được giao v à bảo họ phụng sự ngài. Ngài

trọng đ ãi các kẻ này và

đem theo ng ài mười tám

đo àn thợ hồ, thợ rèn, thợ mộc, thợ sơn,

những người có tài thủ xảo, mỹ thuật trang bị

đầy đủ lưỡi dao, xẻng cuốc v à nhiều dụng cụ khác. Với

đo àn tùy tùng rầm rộ như vậy, ngài từ

giã kinh thành.

*

Bậc Đạo Sư diễn tả việc n ày qua vần

kệ sau:

110. Bậc Đại trí liền cất buớc ra,

Đến th ành hoa lệ Pañ-cà-la,

Để xây dựng thật nhiều cung điện,

Dâng chúa vinh quang Vi-đế-ha.

*

Trên đường đi, bậc Đại Sĩ xây l àng ở

mỗi dặm đường, giao cho một vi ên quan ở

lại đảm trách mỗi ngôi l àng, với lời c ăn

dặn:

- Để dự ph òng việc vua hồi cung cùng

công chúa Pañcàlacandì, các ông phải chuẩn bị voi ngựa, chiến xa

để đánh đuổi quân th ù, rồi tức tốc

đưa đức vua về th ành Mithilà.

Khi đến bờ sông Hằng, ng ài gọi

Ànandakumara đến v à bảo:

- Này Ànanda, hãy đem ba trăm thợ mộc đến

thương lưu sông Hằng, t ìm loại gỗ thật tốt,

đóng ba trăm chiếc thuyền, bảo họ chặt thật

nhiều gỗ tích trữ cho kinh th ành, chở gỗ nhẹ cho

đầy thuyền v à mang về

đây.

Ngài cũng đích thân đi thuyền vượt qua sông

Hằng v à từ chỗ ngài cập bến, ngài tính khoảng cách và nghĩ thầm:

"Khoảng cách này chừng nửa dặm, phải có một

đường hầm lớn, ch ỗ này phải xây thành cho vua ngự, từ chỗ này về

cung, xa chừng một dặm phải có lối đi nhỏ". Ng ài

đánh dấu chỗ đó xong rồi v ào thành.

Khi vua Cùlani nghe tin Bồ-tát đến, ông rất

h ài lòng, vì ông nghĩ: "Bây giờ tâm nguyện của ta

đ ã thỏa mãn, gã ấy

đ ã đến,

chẳng bao lâu vua Vedeha cũng đến, thế l à ta giết trọn cả hai và biến

toàn cõi Diêm-phù- đề th ành một quốc

độ".

Cả kinh thành sôi động l ên. Họ

đồn đại:

- Đấy l à bậc Trí giả Mahosadha, người

đ ã đánh

đuổi một trăm lẻ một vương tử như thể con quạ bị ném h òn

đá cho hoảng sợ.

Bậc Đại Sĩ tiến v ào cổng thành trong

lúc dân chúng chiêm ngưỡng dung mạo tuyệt đẹp

của ng ài, rồi ngài xuống xe, nhờ người trình vua. Vua bảo:

- Đưa vị ấy v ào.

Và ngài vào cung, triều bái vua rồi ngài ngồi xuống một bên. Vua nhã nhặn

nói chuyện với ngài, rồi hỏi :

- Này vương tử, khi nào đại vương đến?

- Tâu Chúa thượng, khi nào tiểu thần thỉnh cầu ngài.

- Nhưng cớ sao vương tử đến đây?

- Thần đến để xây cung điện cho Đại vương

của thần ngự, tâu Chúa thượng.

- Này vương tử, thế thì tốt lắm.

Vua liền cho phép ngài được một đám cận vệ

theo hầu, trọng đ ãi ngài rất hậu hỷ, ban cho ngài một tư thất rồi

phán:

- Này vương tử, cứ ở đây cho đến khi Đại

vương ngự đến, nhưng đừng ăn không ngồi rồi, m à phải làm những việc

đáng l àm.

Ngay khi ngài vào cung, đứng ở bậc thang

gác, ng ài nghĩ thầm: "Ở đây phải l àm

cửa hầm nhỏ ấy", ngài lại nghĩ đến điều n ày:

"Nhà vua này bảo ta phải làm những việc cần làm, vậy ta phải cẩn thận

để thang gác n ày khỏi sập trong khi ta

đang đ ào hầm". Rồi ngài tâu vua:

- Tâu Chúa thượng, khi tiểu thần bước vào

đứng b ên chân cầu thang, nhìn vào công trình mới xây này, tiểu thần

thấy một khuyết điểm trong cầu thang lớn n ày.

Nếu Chúa thượng ưng thuận, xin phán bảo cho phép tiểu thần sửa sang lại.

- Này vương tử, tốt lắm, cứ làm đi.

Ngài quan sát chỗ ấy cẩn thận, định nơi l àm

lối ra của đường hầm rồi ng ài dời cầu

thang đi nơi khác v à

để cho đất chỗ ấy khỏi sụp, ng ài

đặt một s àn gỗ giữ cầu thang thật chắc

chắn cho nó khỏi sụp. Nhà vua vô tình tưởng ngài làm việc này vì thiện ý cho

mình. Bậc Đại Sĩ ở đó một ng ày xem xét

việc sửa chữa, rồi hôm sau trình vua:

-Tâu Chúa thượng, nếu tiểu thần được biết

Đại vương của tiểu thần sẽ phải ngự ở đâu, tiểu thần sẽ xin thu xếp chu đáo

việc đó.

- Này bậc Trí giả, tốt lắm, ngài cứ chọn nơi nào ngài muốn trong kinh

thành này, trừ cung điện trẫm ra thôi.

- Tâu Đại vương, chúng thần l à ngoại

nhân, Đại vương có nhiều bậc trọng thần, nếu

chúng thần chiếm tư dinh của họ, binh sĩ của Đại vương sẽ gây chiến với

chúng thần. Vậy chúng thần phải l àm sao

đây?

- Này bậc Trí giả, đừng nghe họ, cứ chọn nơi

n ào vừa ý ngài là được.

- Tâu Đại vương, họ sẽ đến k êu nài

với Đại vương m ãi, việc ấy sẽ không làm

Đại vương h ài lòng

đâu. Song nếu Đại vương ban phép, chúng thần sẽ

đến canh giữ cho đến khi chiếm xong các tư thất ấy, họ sẽ không đi ra cửa

được, m à rồi phải bỏ đi thôi. Như vậy cả

Đại vương lẫn chúng thần đều được toại ý.

Vua chấp thuận.

Bậc Đại Sĩ liền cho quân hầu canh ở chân v à

đầu cầu thang, ở đại ho àng môn và khắp

nơi, rồi ra lệnh không cho ai đi qua cả. Ng ài

lại ra lệnh cho quân hầu đến cung thái hậu, l àm

như thể sắp phá cung. Khi họ bắt đầu gỡ ngói,

gạch, đất sét khỏi cổng v à tường, thái hậu nghe tin vội nói hỏi:

- Này các ngươi sao lại phá sập cung của ta?

- Bậc Trí giả Mahosadha muốn phá cung này để

xây cung khác cho đức vua của ng ài ngự.

- Nếu vậy thì các ngươi cứ ở cung này cũng

được.

- Đo àn tùy tùng của

Đại vương chúng thần rất đông đảo, cung n ày

không đủ, chúng thần phải xây cung rộng hơn cho

ng ài.

- Các ngươi không biết ta ư, ta là thái hậu, ta sẽ

đi gặp vương nhi xem lại việc n ày.

- Chúng thần đang thi h ành lệnh vua,

nếu lệnh bà ng ăn cản được th ì cứ làm.

Thái hậu nổi giận bảo:

- Để ta xem cách g ì trị các ngươi

đây. Rồi b à

đến cung môn, nhưng họ không để b à đi v ào.

- Này các khanh, ta là thái hậu mà.

- Chúng thần biết lệnh bà, nhưng đức vua ra

lệnh không cho ai v ào cả. Xin lệnh bà lui ra.

Bà không vào cung được đ ành

đứng nh ìn. Một tên quân hầu bảo:

- Lệnh bà làm gì đây, xin lui ra.

Gã nắm lấy cổ bà ném xuống đất. B à

nghĩ thầm: "Chắc chắn phải có lệnh vua, nếu không chúng không dám làm vậy

đâu. Ta t ìm gặp bậc Trí giả mới

được". B à hỏi ngài:

- Này Vương tử Mahosadha, tại sao Vương tử phá sập cung của ta?

Song ngài không muốn nói chuyện với bà. Một người

đứng cạnh đó hỏi:

- Tâu lệnh bà nói gì?

- Này nam tử, tại sao bậc Trí giả phá sập cung của ta?

- Để xây cung cho vua Vedeha ngự.

- Cớ sao vậy

n ày nam tử, trong kinh thành rộng lớn này ngài không tìm

được một cung thất n ào

để vua ngự sao? H ãy nhận lễ vật mọn này,

một tr ăm ng àn

đồng tiền v à thưa với ngài

đi xây dựng nơi khác.

- Tâu lệnh bà, thế thì tốt lắm, chúng thần sẽ

để y ên cung của lệnh bà, nhưng xin lệnh

bà chớ cho ai biết việc nhận lễ vật này để họ

khỏi lo lót cho chúng thần để y ên nhà của họ.

- Này nam tử, nếu họ kháo nhau rằng thái hậu phải cần lo lót thì nhục nhã

cho ta biết bao! Ta không cho ai hay đâu.

Người kia bằng lòng nhận một tr ăm ng àn

đồng tiền rồi rời cung. Sau đó g ã

đến cung Kevatta, l ão này vừa

đến cửa cung, đ ã bị cây tre quất vào

lưng tét cả da thịt mà cũng không vào cung

được, n ên cũng lo lót một tr ăm ng àn

đồng tiền . Cứ bằng cách n ày họ chiếm

nhà khắp kinh thành, để đ òi của

đút lót, họ thu được chín mươi triệu đồng tiền

v àng.

Sau đó bậc Đại Sĩ đi khắp kinh th ành,

rồi trở về cung. Vua hỏi ngài đ ã tìm ra

chỗ chưa. Ngài bảo:

- Tâu Đại vương, dân chúng đều muốn dâng nh à

cửa, nhưng khi chúng thần đến nhận gia sản, họ

hết sức âu sầu, chúng thần không muốn gây n ên sự bất mãn. Ngoài kinh

thành, khoảng một dặm, giữa kinh thành và sông Hằng có một nơi chúng thần có

thể xây cung điện cho Đại vương của chúng thần.

Vua nghe vậy liền đẹp ý, rồi ông nghĩ thầm:

"Đánh nhau trong kinh th ành thật nguy hiểm, vì khó phân biệt bạn thù,

chứ ngoại thành thì dễ đánh, vậy ta sẽ đánh

giết chúng ở ngoại th ành".

Thế là vua bảo:

- Được lắm, n ày Vương tử, cứ xây cung

ở chốn đ ã tìm

được.

- Tâu Đại vương, xin vâng lệnh. Nhưng dân

chúng không được đến nơi chúng thần xây cất để kiếm củi hay cây thuốc, nếu

không, chắc chắn sẽ có tranh chấp c ãi cọ không hay gì cho

Đại vương lẫn chúng thần.

- Tốt lắm, này Vương tử, cứ cấm hết lối ra vào phía ấy.

- Tâu Đại vương, bầy voi của chúng thần

thích vui đ ùa dưới nước, nếu nước sông bị khuấy

đục bẩn b ùn và dân chúng than phiền vì

Trí giả Mahosadha đến đây m à họ không có

nước sạch để uống, th ì xin

Đại vương lượng thứ việc ấy.

Vua đáp:

- Được, cứ cho voi xuống vui chơi.

Rồi vua truyền đánh trống ra lệnh:

- Kẻ nào đến chỗ bậc Trí giả Mahosadha đang

xây cung sẽ bị phạt một ng àn đồng tiền.

Sau đó, bậc Đại Sĩ tạ từ vua, c ùng

đám t ùy tùng ra ngoài thành bắt

đầu xây một th ành trì ở nơi

đ ã được d ành

riêng ra. Bên kia sông Hằng ngài đ ã xây

một ngôi làng đặt t ên là Gaggali. Nơi

đó ng ài dự trữ voi ngựa, xe pháo, trâu,

bò.

Chính ngài đích thân xây th ành ấy và

giao cho mỗi người một phận sự. Khi đ ã

phân chia nhiệm vụ xong, ngài bắt đầu xây đường

hầm lớn, miệng hầm ở tr ên bờ sông Hằng, có sáu mươi ngàn quân sĩ

đ ào hầm. Họ bỏ

đất mới đ ào vào các bao da vứt xuống

sông, hễ nơi nào đất được thả xuống th ì

bầy voi đến dẫm l ên, khiến sông Hằng vẩn

đục cả b ùn. Dân chúng than phiền rằng từ

khi ngài Mahosadha đến đây, họ không có nước

sạch để uống, nước sông vấy b ùn, phải làm sao

đây? Quân thám tử của bậc Đại Sĩ bảo họ rằng

bầy voi của ng ài đang chơi đ ùa

dưới nước làm khuấy bùn lên, cho nên nước mới

đục.

Lúc bấy giờ mọi dự định của Bồ-tát đều được

th ành tựu, vì thế trong hầm mới, các rễ cây, sỏi

đá đều ch ìm xuống

đất. Lối v ào

đường hầm nhỏ ở b ên trong kinh thành, có

bảy tr ăm quân đang đ ào hầm nhỏ ấy. Họ

mang đất trong bao da đổ v ào thành, mỗi

lần mang đến một đố ng, họ lại trộn với

nước xây một bức thành để d ùng vào việc

khác.

Còn lối vào hầm lớn nằm trong kinh thành có cửa vào, cao mười tám gang

tay, có máy móc để khi bấm một nút th ì

tất cả đều đóng chặt. Phía b ên kia hầm

được xây bằng gạch v à hồ vữa, mái lợp

ván, trét hồ vữa và sơn trắng. Bên trong có tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn

cửa nhỏ, tất cả đều được đóng lại hoặc mở ra

bằng một nút bấm. Tr ên mỗi phía đều có h àng

tr ăm ổ đ èn trang bị máy móc,

để khi một đ èn

được bật sáng th ì tất cả

đều bật, khi một đ èn

được tắt th ì tất cả

đều tắt.

Mỗi phía có một tr ăm lẻ một gian ph òng

cho một tr ăm lẻ một chiến vương. Trong mỗi ph òng

đặt một tọa s àng

đủ m àu, trong

đó lại có một trường kỷ lớn được che bằng lọng

trắng, mỗi ph òng lại có một chiếc ngai

đặt gần trường kỷ lớn ấy, một tượng mỹ nhân, nếu không sờ tay v ào thì

không ai bảo các tượng đó không phải người

thật.

Ngoài ra, trong mọi phía hầm, các họa sĩ tinh xảo

đ ã vẽ đủ

loại tranh: Cảnh huy ho àng của Thiên chủ

Đế Thích, các miền núi Sineru (Tu-di), các biển cả c ùng

đại dương bốn châu, d ãy Himavat (Tuyết

Sơn), hồ Anotatta, núi Hồng Thổ, mặt tr ăng, mặt

trời, c õi Tứ Thiên vương với sáu tầng trời cõi Dục và các thành phần

trong đó.

Tất cả đều hiện ra trong địa đạo n ày,

nền đất rải cát trắng như một phiến bạc, tr ên

các mái đầy hoa sen nở. Hai b ên có lều

quán đủ loại, rải rác các r èm hoa lơ

lững tỏa mùi thơm ngát. Như vậy họ trang hoàng

địa đạo rực rỡ chẳng khác n ào thiên đ ình

Sudhamma (Thiện Pháp đường ở c õi trời ba

mươi ba).

Lúc bấy giờ sau khi ba tr ăm thợ đóng ba trăm

chiếc thuyền xong, họ liền chất đầy thuyền mọi dụng cụ sẵn s àng lúc

cần đến, rồi đem xuống tr ình bậc Trí

giả. Ngài dùng họ ở kinh thành, bảo họ giấu chúng ở một nơi bí mật

để đưa chúng ra khi có lệnh ng ài.

Trong kinh thành các hào nước, trường thành, hoàng môn, tháp canh, cung

thất cho vương tử và nhà dân chúng, chuồng voi, hồ nước

đều đ ã xong xuôi. Như vậy

đại địa đạo v à tiểu

địa đạo c ùng toàn kinh thành

được xây xong trong bốn tháng .

Sau đó, bậc Đại Sĩ gởi sớ tr ình xin

vua đến ngự.

Khi vua được sớ, ông rất đẹp l òng,

liền cùng đo àn xa giá rầm rộ lên

đường.

*

Bậc Đạo Sư bảo:

111. Vị Đại vương c ùng bốn

đạo binh,

Bấy giờ liền ngự giá du h ành,

Cùng vô số cỗ xe hầu cận,

Đến viếng Kam-pil-la hiển vinh.

Vào giờ đ ã

định, vua đến sông Hằng, bậc Đại Sĩ ra lệnh đón

vua v ào kinh thành ngài vừa xây xong. Vua vào cung hưởng một bữa tiệc

cao lương mỹ vị và sau khi nghỉ ngơi một lát xong, về buổi chiều ông gửi

thông điệp báo cho vua C ùlani biết ông

đ ã đến.

*

Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như

sau:

112. Khi đến nơi, vua nhắn gửi lời,

Với Brah-ma: "Kính lễ chân ng ài,

Xin ban công chúa làm vương hậu,

Nữ báu dung nhan thật tuyệt vời,

Đầy vẻ y êu kiều và khả ái,

Được đo àn thị nữ hộ lên ngôi".

Vua Cùlani hoan hỷ nhận được thông điệp,

nghĩ thầm: "Các quốc th ù của ta sẽ đến

đâu đây? Ta sẽ chặt đầu chúng ra v à nâng chén khải hoàn". Nhưng ông

chỉ làm ra vẻ hân hoan đón sứ giả rất trọng thể

rồi ngâm kệ sau:

113. Cung nghênh Đại chúa Vi-đề-ha,

Hạnh ngộ ng ày nay quả thật là!

Hãy chọn giờ lành mang hạnh phúc,

Trẫm đem công chúa tặng vương gia,

N àng đầy vẻ đẹp y êu kiều ấy,

Được đám cung tần hộ tống ra.

Sứ giả liền đi về tr ình vua Vedeha:

- Tâu Chúa công, Đại vương truyền: "H ãy

chọn giờ lành cho mối lương duyên này và trẫm sẽ kết duyên công chúa cho

ngài."

Vua gửi sứ giả trở lại tâu:

-Hôm nay chính là giờ lành!

*

Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như

sau:

114. Vi- đề chúa chọn giờ l ành xong,

Trình với Brah-ma-at Đại vương:

Xin gả công nưông l àm ái hậu,

Nữ nhân diễm lệ tuyệt trần gian,

Tròn đầy mọi vẻ y êu kiều ấy,

Được các cung phi hộ tống n àng.

115. Đại đế C ù-la-ni

đáp lại:

Ta ban ng ài nữ báu siêu phàm,

Tròn đầy mọi vẻ y êu kiều ấy,

Được các cung phi hộ tống n àng.

Nhưng khi vua bảo:

- Trẫm sẽ đưa công chúa vu quy ngay bây giờ.

Vua đ ã nói dối và ông ra lệnh cho một

tr ăm lẻ một vương hầu kia:

- Hãy chuẩn bị sẵn sàng ra trận với mười tám

đạo binh của các vị v à tiến lên, ta sẽ chặt

đầu hai kẻ th ù của ta và nâng chén khải

hoàn.

Vua để mẫu hậu ở lại trong cung cùng

hoàng hậu Nandà, hoàng tử Pañcàlacanda, công chúa Pañcàlacandì, cùng các

cung nga thị nữ khác rồi ra đi.

Bồ-tát tiếp đ ãi rất nồng hậu

đo àn đại

binh c ùng đến với vua Vedeha, kẻ uống

rượu, người ăn thịt, có kẻ nằm nghỉ mệt v ì

đường xa. C òn vua Vedeha, cùng với

Senaka và các vị kia ngồi trên bảo tọa cùng đám

cận thần.

Nhưng vua Cùlani đ ã bao vây thành bốn

vòng trong ba khoảng cách, thắp hàng tr ăm ng àn

ngọn đuốc rực trời, đứng sẵn s àng chiếm

lấy kinh thành ấy khi mặt trời mọc. Hay tin này, bậc

Đại Sĩ ra lệnh cho ba trăm chiến sĩ của ng ài:

- Các ngươi hãy đi theo đường hầm nhỏ, đưa

thái hậu, ho àng hậu, hoàng tử và công chúa về

đây qua đường hầm lớn nhưng đừng để cho các vị

ấy ra ngo ài bằng cửa hầm lớn, mà phải bảo vệ các vị ấy an toàn trong

đường hầm cho đến khi ta tới, rồi h ãy

đem họ ra khỏi hầm v à dẫn các vị vào

Đại sảnh.

Khi họ nhận chỉ thị xong, họ đi dọc đường

hầm nhỏ, đẩy tấm s àng dưới cầu thang, bắt lấy quân canh ở

đầu v à chân cầu thang, trên thượng lầu,

những tên gù cùng nhiều người khác, trói tay chân lại, nhét giẻ vào mồm họ

rồi giấu họ rải rác đây đó, xong lấy một số

thức ăn dâng l ên vua, phá hủy số thức ăn

c òn lại rồi lên thượng lầu.

Lúc ấy thái hậu Talatà không biết việc gì sẽ xảy ra, nên

đ ã bảo hoàng hậu Nandà cùng hoàng tử,

công chúa đến nằm chung với b à trên

giường. Ba chiến sĩ đứng ở cửa ph òng gọi

họ. Bà bước ra bảo:

- Việc gì thế các con?

Họ đáp:

- Tâu lệnh bà, Đại vương đ ã giết vua

Vedeha và Mahosadha, rồi biến toàn cõi Diêm-phù- đề

th ành một đế quốc. Ng ài

đang được một trăm lẻ một vị vương hầu vây

quanh nâng chén đại khải ho àn.Vì thế ngài phái chúng thần

đến đây rước lệnh b à cùng các vị kia

đến c ùng ngài.

Các vị ấy đi xuống tới chân cầu thang. Khi

quân sĩ đem họ v ào hầm, họ bảo:

- Suốt đời ta sống ở đây, chưa từng đi đường

n ày bao giờ.

Quân sĩ đáp:

- Người ta thường ít đi đường n ày hầm

này, đây l à con

đường hưởng lạc, v ì hôm nay là ngày hội

vui chơi nên thánh thượng bảo chúng thần đưa

các ng ài về lối này.

Họ tin lời ngay. Sau đó v ài quân sĩ

dẫn họ đi, c òn các người khác trở lại

cung vua, phá cửa kho tàng mang đi hết mọi báu

vật họ muốn lấy. Bốn vị kia đi v ào đường

hầm lớn, thấy chẳng khác n ào sảnh đường

huy ho àng của chư Thiên, nên cứ tưởng nơi này dành cho vua. Rồi họ

được đưa đến một nơi không d òng sông,

vào một cung thất đẹp trong đường hầm. V ài

quân sĩ canh chừng họ, còn các kẻ khác đi tâu

tr ình với Bồ-tát rằng họ đ ã

đến.

Bồ tát nghĩ thầm: "Nay tâm nguyện của ta sẽ tự viên mãn". Lòng

đầy hoan h ỷ, ngài bước vào yết kiến vua

rồi đứng qua một b ên. Vua

đang nôn nao khát vọng, nghĩ thầm: "Ng ài

đang đưa công chúa đến bây giờ, chính bây giờ

đây!". Rồi vua đứng dậy nh ìn qua cửa sổ. Lúc bấy giờ cả kinh thành

đang rực sáng trong h àng ngàn bó

đuốc v à bị bao vây trong

đạo binh rầm rộ gh ê hồn.

Đầy kinh h ãi và nghi hoặc, vua kêu lên:

- Cái gì thế?

Và ông ngâm kệ với các bậc Trí giả:

116. Voi, ngựa, cỗ xe, các đạo quân.

Mang b ào giáp đứng cả đo àn

đông

Rực trời ánh đuốc đang bừng cháy.

Ý nghĩ ý g ì ch ăng, các Trí nhân?

Senaka đáp:

- Xin Đại vương chớ sợ. Đám đuốc cháy rực,

thần đoán l à đức vua đang đem công chúa

đến cho Đại vương.

Pukkasa lại nói:

- Chắc chắn vua ấy muốn đón Đại vương thật

trọng thể n ên đ ã

đến đây với đo àn hộ tống.

Họ mặc tình tâu vua những điều họ thích.

Nhưng vua nghe các hiệu lệnh:

- Để một chi đội ở đây, một đội ph òng

vệ đằng kia, h ãy cẩn mật.

Vua lại thấy quân sĩ cầm khí giới, nên ông sợ mất hồn mong nghe

được một lời g ì của bậc

Đại Sĩ, liền ngâm kệ nữa :

117. Voi, ngựa, cỗ xe, các đạo quân,

Mang b ào giáp đứng cả đo àn

đông,

Rực trời ánh đuốc đang bừng cháy,

Ý nghĩa g ì ch ăng, hỡi Trí nhân.

Lúc ấy bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Trước hết ta

phải l àm cho hôn quân si ám này khiếp

đảm một hồi đ ã, rồi ta sẽ tỏ oai lực của ta và trấn an sau". Ngài

liền nói:

118. Hoàng đế C ù-la-ni

đại cường,

Đang vây ng ài chặt, tấu minh quân,

Brah-ma-dat chính người gian trá,

Vua ấy sẽ tàn sát đại vương!

Nghĩ thế mọi người đều kinh hoảng đến mất

vía, cổ họng của vua khô cứng lại, không c òn nước bọt nữa, cơ thể ông

như đang bị thi êu

đốt, hoảng hồn như sắp chết, ông r ên rỉ

ngâm hai vần kệ sau:

119. Tim ta hồi hộp miệng khô rang,

Lòng dạ ta nay thật bất an,

Ta giống một người được đốt lửa,

Rồi đem phơi dưới nắng chang chang.

120. Như cháy b ên trong, lửa thợ rèn,

Bên ngoài chẳng có thể nào xem,

Lòng ta cũng vậy, đang bừng cháy,

Nhưng chẳng một ai có thể nh ìn.

Khi bậc Đại Sĩ nghe lời than thở ấy, ng ài

nghĩ thầm: "Hôn quân ngu muội này thường chẳng nghe lời ta lúc trước, nay ta

phải trừng phạt thêm nữa mới được". Ng ài

liền nói:

- Hỡi chiến vương, ngài thật bất cẩn, không quan tâm

đến lời khuyến cáo v à thiếu tài trí, giờ

đây xin để các quân sư của ng ài giải cứu

ngài. Một vị vua không làm theo lời khuyên của quân sư trung tín và tài trí,

chỉ tham đắm dục lạc ri êng của mình, thì

có khác gì con nai bị bắt trong lưới? Như con cá ham mồi không

để ý tới lưỡi câu giấu trong miếng thịt bao

quanh, không nhận biết chỗ chết của m ình. Tâu

Đại vương, ng ài cũng vậy, tham

đắm sắc dục, như con cá kia, không nhận thấy

công chúa con vua C ùlani chính là tử thần của mình. Thần

đ ã nói rằng nếu

Đại vương đi Pa ñcàla, ngài sẽ mất ngay

phúc lạc như con nai bị bắt trên đường sẽ gặp

đại nạn. Tâu Chúa thượng. một ác nhân sẽ cắn v ào bụng ngài như con

rắn độc. Không một hiền nhân n ào nên kết

bạn với kẻ ác, kết bạn với kẻ ác sẽ gặp bất hạnh. Tâu Chúa thượng, bất cứ

người nào mà ta nhận ra là có đức hạnh v à

thông thái thì đó chính l à người mà bậc

trí kết bạn. Kết bạn với thiện nhân chính là hạnh phúc.

Rồi để nhấn mạnh sự khiển trách một người

không n ên đối xử với kẻ khác như thế, ng ài

nhắc lại những lời lẽ mà vua đ ã nói

trước kia và nói tiếp:

121. Ngài điếc câm, ngu muội, Đại vương,

Khinh lời khuy ên tối thượng từ thần,

Hỏi: "Sao thần hiểu như người khác,

Khi lớn lên cày cấy ruộng đồng?

122. "Bắt lấy g ã kia, tóm cổ mau,

Tống ra khỏi xứ sở ta nào,

Con người dám nói hòng ng ăn cản,

Việc trẫm sắp đi lấy bảo châu!"

Sau khi ngâm hai vần kệ xong, ngài bảo:

- Tâu Đại vương, l àm sao một kẻ nông

dân như thần lại biết được chuyện g ì là

tốt là hay như Senaka và các trí giả kia được?

Chuyện đó không phải l à tài nghệ của thần, thần chỉ biết nghề cày sâu

cuốc bẫm, còn chuyện này thì Senaka và phe nhóm của lão biết rõ lắm, họ là

những trí giả. Vậy hôm nay xin để họ giải thoát

ng ài khỏi trùng vây của mười tám đạo

quân h ùng mạnh kia đang bao quanh ng ài

và xin ra lệnh cho họ tóm cổ thần vứt đi, tại

cớ sao Đại vương lại hỏi han đến thần?

Ngài trách móc vua không tiếc lời như vậy. Vua nghe xong nghĩ thầm: "Bậc

hiền trí đang kể lại những việc sai trái m à

ta đ ã làm. Trước kia ngài

đ ã biết trước tai họa sắp

đến, n ên nay ngài mới trách cứ ta gay

gắt như vậy. Nhưng chắc ngài không bỏ phí mọi thì giờ một cách phù phiếm

đâu, chắc hẳn ng ài

đ ã sắp xếp cho ta

được an to àn". Vì thế vua ngâm kệ khiển

trách ngài:

123. Bậc Trí không nhai chuyện đ ã

qua,

Giữa hàm r ăng, hỡi Ma-sa-dha,

Cớ sao khanh cứ rầy r à trẫm,

Như ngựa bị dây trói chặt à?

124. Nếu thấy được đường lối giải vây,

Cách an toàn thoát nạn giờ này,

Hãy mau làm trẫm yên lòng nhé,

Sao trút chuyện xưa xuống trẫm đây?

Lúc ấy bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Vua n ày

rất mê muội mù quáng, chẳng phân biệt được các

hạng người tr ên đời. Vậy ta phải h ành

hạ một lát đ ã rồi sẽ giải cứu vua". Và

ngài đáp:

125. Hành động giờ đây quá muộn m àng,

Vô cùng nguy hiểm, lại gian nan,

Thần không giải cứu quân vương được,

Ng ài phải tự lo liệu số phần.

126. Có giống voi bay giữa cõi không,

Lực thần đầy đủ, thật vinh quang,

Người n ào có được lo ài voi ấy,

Có thể bay cùng chúng thoát thân.

127. Có giống ngựa bay giữa cõi không,

Lực thần đầy đủ,thật vinh quang,

Người n ào có được lo ài phi mã,

Có thể bay cùng chúng thoát nàn.

128. Có các loài chim hoặc quỷ thần,

Đủ t ài bay bổng giữa không gian,

Còn nay quá muộn nên người tục,

Không thể làm vì quá khó kh ăn,

Thần chẳng thế n ào cứu Chúa thượng,

Ngài cần quyết định việc ri êng phần.

Nghe vậy, vua ngồi yên lặng không thốt một lời, nhưng Senaka nghĩ thầm:

"Không ai cứu giúp được vua v à bọn ta

trừ bậc Trí giả. Tuy thế vua lại quá kinh sợ nên không

đáp lời ng ài

được. Vậy ta sẽ hỏi ng ài xem". Rồi lão

cầu xin ngài qua hai vần kệ:

129. Một người không thể thấy bờ xa,

Ở giữa đại dương rộng lớn m à,

Khi nó tìm ra nơi trú ngụ,

Đủ đầy hạnh phúc với hoan ca.

130. Cũng vậy với quân sĩ, Đại vương,

Ng ài là đất trú ngụ an to àn,

Ngài là tối thượng quân sư báu,

Xin giải cứu toàn thể thoát nàn.

Bậc Đại Sĩ quở trách l ão qua vần kệ:

131. Hành động giờ đây quá muộn m àng,

Vô cùng nguy hiểm, lại gian nan,

Ta không giải cứu cho ngài được,

Ng ài phải tự lo liệu số phần.

Vua không tìm được lối thoát v à quá

khiếp sợ cho mạng sống của mình, nên không thể nói

được lời g ì với bậc

Đại Sĩ cả, m à chỉ nghĩ rằng chắc lão

Senaka có mưu kế, liền ngâm kệ này:

Senaka nghĩ thầm: "Nhà vua hỏi mưu kế, thôi dù hay dù dở, ta cũng phải

nói ra một kế cho ngài". Lão liền ngâm kệ:

133. Ta hãy đốt l ên ngọn lửa cao,

Ở bên cửa lớn lấy gươm dao,

Chúng ta cùng đả thưông nhau chết,

Chốc lát ta không sống nữa n ào.

Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,

Giết ta bằng cái chết dài lâu!

Vua nghe vậy nổi cơn thịnh nộ nghĩ thầm: "Cái

đó thật xứng l àm giàn hoả cho ngươi cùng

con cháu ngươi". Ông lại hỏi Pukkusa và các người kia, kẻ nào cũng

đều thưa tr ình ngu ngốc theo kiểu của

mình, và đây l à câu chuyện của họ. Vua

hỏi:

134. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:

Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,

Puk-ku-sa, trẫm hỏi khanh nhé,

Khanh nghĩ làm gì được ở đây?

Pukkusa đáp:

135. Chúng ta uống thuốc độc từ trần,

Chốc lát ta không phải sống c òn,

Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,

Giết ta bằng cái chết dần m òn!

Vua hỏi:

136. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:

Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,

Kà-vin-da, trẫm hỏi khanh nhé,

Khanh nghĩ làm gì được ở đây?

Kàvinda đáp:

137. Chúng ta thắt cổ họng lìa đời,

Chốc lát ta không sống nữa rồi,

Đừng để Brah-ma-dat Đại đế,

Giết ta bằng các chết lần hồi!

Vua hỏi:

138. Hãy lắng nghe lời trẫm nói vầy:

Khanh nhìn thấy mối hiểm nguy này,

De-vin-da, trẫm hỏi khanh nhé,

Khanh nghĩ làm gì được ở đây?

Devinda đáp:

139. Ta hãy đốt l ên ngọn lửa cao,

Ở bên cửa lớn lấy gươm dao,

Chúng ta cùng đả thương nhau chết,

Chốc lát ta không sống nữa nào.

Thần không thể cứu nguy chư vị,

Chỉ Đại Trí nhân có phép mầu!

Devinda nghĩ thầm: "Nhà vua đang l àm

gì thế? Ngọn lửa đây m à ngài lại

đi thổi con đom đóm! Trừ Mahosadha ra, không ai

giải cứu được ta. Thế m à nhà vua lại bỏ ngài và hỏi kế chúng ta, làm

sao chúng ta biết được?"

Nghĩ thế xong, lão không thấy ai có mưu kế gì, lão liền lập lại mưu kế

Senaka đ ã

đưa ra, rồi ca ngợi bậc Đại Sĩ qua hai vần kệ:

140-141. Tâu Đại vương, thần muốn nói đây:

Chúng ta c ùng hỏi Trí nhân này,

Nếu như việc hỏi han đầy đủ,

Bậc Trí nhân không thể giải vây,

Thì chúng ta cùng theo cách nọ,

Se-na-ka đ ã khuyến ta vầy.

Nghe vậy, vua nhớ lại mình đ ã bạc

đ ãi Bồ-tát trước kia, nên không thể nói

gì thêm với ngài nữa, chỉ than thở khi lão nói vậy thôi:

142. Giống kẻ đi t ìm chất nhựa thông,

Ở trong cây chuối hoặc cây bông,

Nên không thấy nhựa, như ta vậy,

Không thể tìm lời giải khó kh ăn.

143. Chỗ trú ta đây thật h ãi hùng,

Như bầy voi ở chốn khô cằn,

Với người vô dụng và ngu xuẩn,

Chẳng biết làm gì để thoát thân.

144. Tim ta hồi hộp, miệng khô ran,

L òng dạ ta nay thật bất an,

Ta giống một người được đốt lửa,

Rồi đem phơi dưới nắng chang chang.

145. Như cháy b ên trong, lửa thợ rèn,

Bên ngoài chẳng có thể nào xem,

Lòng ta cũng vậy, đang bừng cháy,

Nhưng chẳng một ai có thể nh ìn!

Nghe vậy bậc Trí giả nghĩ thầm: "Nhà vua đ ã

vô cùng lo sợ, nếu ta không trấn an ngài, chắc ngài sẽ vỡ tim ra mà chết!".

Thế là ngài trấn an vua.

*

Bậc Đạo Sư diễn tả cảnh n ày qua các

vần kệ:

146. Thế rồi Trí giả Ma-sa-ha,

Nhận thức điều hiền thiện tối đa,

Khi ng ài thấy mặt vua sầu thảm,

Ngài nói như vầy với đức vua:

147. - Xin đừng sợ h ãi, tấu Anh quân,

Chúa tể đo àn xa mã

đại h ùng,

Thần sẽ giải vây phò Chúa thượng,

Như tr ăng bị nuốt bởi La Thần,

148. - Như vầng dương bị La Thần nuốt,

Như thể voi ch ìm xuống dưới bùn,

Như rắn bị giam trong giỏ kín,

Như con cá lọt lưới quay cuồng.

149. - Thần sẽ giải vây cứu Đại vương,

C ùng đo àn xa mã, với

đo àn quân,

Sẽ làm kinh hãi Pãn-cà- đế,

Như quạ bị quăng đá hoảng hồn!

150. - Có ích lợi g ì là trí tuệ,

Hoặc quân sư thuộc hạng tầm thường,

Không tài giải cứu phò Minh chúa,

Ra khỏi gian nguy, bước cuối đường?

Vua nghe vậy an lòng ngay: "Thế là ta được b ình

an rồi". Ông nghĩ thầm. Mọi người đều hoan hỷ

khi Bồ-tát nói lớn như sư tử rống. Lúc ấy Senaka hỏi:

- Thưa bậc Trí giả, làm thế nào ngài thoát ra cùng chúng thần cả

đây?

- Bằng một đường hầm được trang ho àng

thật đẹp, Ng ài bảo. Hãy chuẩn bị sẵn

sàng.

Nói xong, ngài ra lệnh cho quân hầu mở địa

đạo n ày.

- Này các người hãy đến mở cửa miệng hầm ra,

vua Vedeha c ùng quần thần sẽ đi qua địa

đạo n ày.

Họ đứng l ên mở cửa hầm, toàn

địa đạo sáng ngời như cung đ ình

được trang ho àng của chư Thiên.

*

Bậc Đạo Sư giải thích chuyện n ày như

sau:

Nghe lệnh bậc Trí giả, quân hầu của ngài mở cửa hầm và các then tự

động.

Họ trình bậc Đại Sĩ rằng cửa đ ã mở và

ngài bảo vua:

- Tâu Chúa thượng, đ ã

đến thời, xin bước xuống khỏi thượng lầu.

Vua liền bước xuống và Senaka cởi kh ăn tr ùm

đầu, buông áo ra. Bậc Đại Sĩ hỏi l ão làm

gì, lão đáp:

- Thưa bậc Trí giả, khi đi qua đường hầm, ta

phải cởi khăn tr ùm đầu v à buộc áo

quần quanh mình cho chặt.

Ngài đáp:

- Này Senaka, đừng tưởng l à ông phải

bò lết suốt đường hầm, nếu ông muốn cỡi voi cứ

cỡi, hầm của ta cao ngất mười tám gang tay, cửa rộng r ãi, cứ mặc xiêm

y tốt đẹp v ào như ông muốn, rồi

đi trước đức vua.

Nói xong, Bồ-tát bảo Senaka đi trước, ng ài

đi cuối c ùng, vua

đi giữa v à

đây l à lý do : Trong hầm là cả một thế giới

đồ ẩm thực, người ta vừa ăn uống vừa ngắm đường

hầm, bảo nhau:

- Đừng đi vội, cứ ngắm đường hầm trang ho àng

tuyệt đẹp n ày

đ ã.

Nhưng bậc Đại Sĩ đi sau vua, thúc giục ông

bước nhanh, trong lúc ông chi êm ngưỡng

đường hầm được trang ho àng đẹp như cung

đ ình chư Thiên.

*

Bậc Đạo sư giải thích việc n ày như

sau:

Senaka đi trước, Mahosadha đi sau, vua ở

giữa c ùng đám quân thần.

Bấy giờ khi được biết vua đến nơi, quân hầu

đem ra khỏi đường hầm b à thái hậu, hoàng tử, công chúa của vua kia,

để họ ở trước sân chầu rộng lớn. Vừa lúc ấy vua cùng Bồ-tát bước ra khỏi

hầm. Khi bốn vị kia trông thấy vua và bậc Trí giả, họ kinh hoàng đến chết

cứng, hoảng sợ thét lên:

- Chắc chắn ta đ ã ở trong tay

địch rồi, chắc chắn quân sĩ của bậc Trí giả đến

bắt ta đấy.

Còn vua Cùlani sợ vua Vedeha trốn thoát. Lúc bấy giờ vua ấy ở cách sông

Hằng khoảng một dặm, nghe tiếng họ thét to trong

đ êm vắng, ông muốn bảo: "Hình như giọng

của hoàng hậu Nandà". Nhưng ông sợ bị cười nhạo vì nghĩ quẩn như thế, nên

không nói gì.

Lúc ấy bậc Đại Sĩ đặt công chúa Pa ñcàlacandì

trên một đám trân bảo v à ra lệnh vẩy

nước thánh lễ trong khi ngài nói:

- Tâu Đại vương, v ì nữ nhân này,

Đại vuơng đến đây, vậy xin sắc phong n àng

làm vương hậu.

Họ mang đến ba trăm chiếc thuyền, vua bước

ra khỏi sân chầu rộng lớn, ngự l ên một chiếc thuyền

được trang ho àng lộng lẫy và bốn vị kia

cùng bước lên cùng vua .

*

Bậc Đạo sư giải thích việc n ày như

sau:

Vua Vedeha bước ra khỏi đường hầm ngự l ên

thuyền và khi ông đ ã an vị, Mahosadha

khuyên nhủ ông:

- Đây l à quốc trượng,

đây l à quốc mẫu, tâu Chúa thượng, ngài

thường phụng dưỡng mẫu hậu ra sao thì xin phụng dưỡng quốc mẫu như vậy.

Đây l à hoàng tử cùng cha cùng mẹ với

vương hậu, xin Đại vương h ãy bảo hộ

Pañcàlacandì, tâu Chúa tể đo àn chiến xa.

Còn Pañcàlacandì là công chúa rất được nuông ch ìu,

xin Đại vương h ãy yêu quý nàng, nàng là

vương hậu của Đại vương.

Vua chấp thuận ngay, nhưng tại sao bậc Đại

sĩ không nói g ì đến ho àng thái

hậu? Chỉ vì đó l à một bà già. Bồ-tát nãy

giờ đứng tr ên bờ nói

đủ mọi việc như thế. Vua vừa thoát khỏi đại nạn

chỉ muốn ra khỏi ngay, liền nói:

- Vương nhi nói chuyện mà vẫn đứng tr ên

bờ thế?

Rồi vua ngâm kệ:

151. Nào, hãy nhanh chân bước xuống đ ò,

Sao vương nhi mãi đứng tr ên bờ,

Ta vừa thoát được nơi nguy hiểm.

Ta h ãy đi mau, Ma-sa-dha.

Bậc Đại Sĩ đáp:

- Tâu Chúa thượng, thần đi c ùng Chúa

thượng thì chẳng thuận tiện.

Rồi ngài ngâm kệ:

152. Việc này không đúng, tâu Quân vương,

Thần thủ l ãnh toàn thể đạo quân,

Nếu bỏ đo àn quân và tẩu thoát.

Vậy toàn quân lính ở trong làng,

Rồi đây thần sẽ đem về cả,

Theo lệnh Brah-ma-dat Thượng ho àng.

Trong đám quân sĩ n ày, có kẻ ngủ mệt

vì đường xa, có kẻ ăn uống, không biết ta khởi

h ành và kẻ bệnh hoạn vì đ ã làm

việc cùng thần bốn tháng nay, họ lại có kẻ hầu cận của thần. Thần không thể

bỏ lại một tên lính nào mà đi cả, n ên

thần sẽ trở lui. Thần sẽ mang đi to àn

quân sĩ ấy theo lệnh của vua Brahmadatta mà không cần một trận

đánh n ào, xin

Đại vương h ãy lên

đường thật nhanh, không tr ì hoãn ở nơi

nào, thần đ ã sắp

đặt những trạm voi v à xe ngựa trên lộ

trình, nên Đại vương có thể để lại những con

vật n ào mỏi mệt, còn những voi ngựa mạnh khỏe sẽ trở về Mithìlà nhanh

chóng.

Lúc ấy vua ngâm kệ:

153. Một đo àn quân quá nhỏ nhoi,

Làm sao thắng nổi đo àn người

đông hơn?

Đo àn quân yếu bị diệt vong,

Bởi đo àn quân mạnh, Trí nhân hỡi ngài!

Bồ-tát ngâm kệ tiếp:

154. Một đo àn quân quá ít oi,

Có minh sư sẽ thắng người đông hơn,

Nhưng không có vị dẫn đường,

Một vua thắng lắm quốc vương lẽ thường,

Khác g ì với ánh chiêu dương,

Đánh tan bóng tối, vinh quang mọi nh à.

Nói lời này xong, bậc Đại Sĩ vái ch ào

vua và tiễn ngài lên đường. Vua nhớ lại m ình

đ ã được

giải cứu khỏi b àn tay kẻ thù như thế nào và chiếm

được công chúa l à

đ ã đạt được

tâm nguyện, suy xét kỹ đến công đức của Bồ-tát, vua hân hoan diễn tả cho

Senaka nghe những công đức ấy của bậc Trí giả qua vần kệ sau:

155. Quốc sư hỡi, Se-na-ka,

Sống cùng người trí thật là lạc hoan !

Như Chim thoát khỏi lồng giam,

Như con cá thoát lưới càng vui thay,

Ma-sa-dha cứu ta đây

Khi ta c òn ở trong tay quân thù.

Senaka ngâm kệ khác đáp lời vua, vừa tán dư ơng

bậc trí giả:

156. Muôn tâu Chúa thượng, chúng ta,

Sống cùng người trí thật lạc hoan!

Như chim thoát khỏi lồng giam,

Như con cá thoát lưới càng vui thay.

Ma-sa-dha cứu ta đây,

Khi ta c òn ở trong tay quân thù.

Lúc ấy vua Vedeha đ ã qua sông cách

chừng một dặm. Ông thấy ngôi làng mà Bồ-tát đ ã

dựng sẵn, quân hầu do Bồ-tát giao nhiệm vụ tại

đó cung cấp voi ngựa v à các phương tiện chuyên chở khác, rồi dâng

thức ăn uống. Vua giao lại những voi ngựa chuy ên

chở nào đ ã mệt mỏi rồi nhận thứ khác và

đi đến l àng kế cận, cứ thế ông vượt qua

cuộc hành trình dài tr ăm dặm đường v à

sáng hôm sau ông đến Mithil à.

Còn Bồ-tát khi đi đến cổng địa đạo, rút kiếm

đeo tr ên vai ra đem giấu trong cát, rồi

ng ài trở vào địa đạo đi đến kinh th ành,

tắm gội nước thơm, ăn uống cao lương mỹ vị

xong, nghỉ ngơi tr ên bảo tọa, sung sướng nghĩ rằng tâm nguyện của

ngài đ ã thành

đạt. Khi đ êm tàn, vua Cùlani ra lệnh

quân sĩ vào kinh thành.

*

Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như

sau:

157. Hoàng đế C ù-la-ni

đại cường,

Đ ã canh giữ kỹ suốt đ êm trường,

Rạng đông vừa đến th ành U-pak,

Đang ngự tr ên lưng của tượng vương.

158. Mãnh tượng sáu mươi tuổi đ ã già,

Đại vương h ùng dũng Pañ-cà-la,

Quân trang vũ khí toàn châu báu,

Cung nắm trong tay cất tiếng ra:

Sau đó vua mi êu tả chúng

đủ loại:

159. - Truyền lệnh đại quân tề tựu ngay,

L ên voi vệ sĩ chiến xa này,

Các người thiện xạ và cung thủ,

Tất cả cùng nhau tụ họp đây.

Bấy giờ vua ra lệnh họ bắt sống vua Vedeha:

160. Đưa hết các voi chiến có ng à,

Sáu mươi tuổi thọ, dẫm tan ra,

Kinh thành mới dựng cao sang ấy,

Do chính Đại vương Vi-đế-ha.

161. H ãy bắn tên ra mọi phía này,

Từ bao cung nọ, đám t ên bay,

Như r ăng b ò nghé,

đầu t ên nhọn,

Đâm thủng tận xương bọn chúng ngay.

162. Anh h ùng tiến tới, giáp bào mang,

Vũ khí cầm tay khéo điểm trang,

Dũng m ãnh can trường và tự nguyện,

Sẵn sàng đối diện với voi đ àn.

163. Các gươm giáo được tẩm dầu trong,

Đầu nhọn lung linh tựa lửa hồng,

Lấp lánh như ch ùm sao hội tụ,

Cả tr ăm tinh tú giữa hư không.

164. Khi các anh h ùng ấy tấn công,

Mang bào giáp, vũ khí hiên ngang,

Không hề tháo chạy bao giờ cả,

Như vậy làm sao Vi- đế vương,

Có thể t ìm đường n ào tẩu thoát,

Cho dù bay lượn tựa chim muông?

165. Ba vạn chín ngàn chiến sĩ ta,

Ta chưa từng thấy thế bao giờ,

Toàn quân được chọn rất tinh nhuệ,

Tất cả h ùng quân của nước nhà.

166-167. Hãy nhìn voi mạnh đủ đôi ng à,

Tô điểm cân đai đẹp mắt ta,

Tuổi thọ sáu mươi, lưng ngất ngưỡng,

Các vương tử rực rỡ, xa hoa,

Trang ho àng lộng lẫy bao xiêm áo,

Như các Thiên thần Nan-da-na.

168. Gươm màu cá bạc tẩm dầu trơn,

Lấp lánh anh hùng, nắm vững vàng,

Bén nhọn, sáng ngời, hoàn hảo quá,

Được l àm bằng thép luyện nhiều lần.

169-170. Gươm mạnh, do bao dũng sĩ cầm,

Những người chiến đấu m ãi không ngừng,

Kim hoàn vàng ánh, đai m àu

đỏ,

Gươm sáng lung linh lúc vẫy v ùng,

Như chớp lòe trong mây xám ngắt.

Anh hùng mang giáp vẫy cờ tung,

Có tài dùng kiếm và khiên mộc,

Nắm chặt chuôi gươm, thiện chiến quân.

171. Bị vây bởi chiến sĩ anh hùng,

Như vậy trên lưng voi tấn công,

Ngươi chẳng có nơi nào tẩu thoát,

Ta không thấy một lực oai thần,

Giúp ngươi trở lại kinh thành cũ,

Ở tại Mi-thi-là, biết ch ăng?

Vua này h ăm dọa vua Vedeha như vậy, nghĩ

rằng sẽ bắt được vua kia lúc ấy ngay tại chỗ, n ên thúc voi

đi nhanh hơn, ban lệnh quân sĩ bắt được l à

đánh v à giết

đi. Vua C ùlani tiến vào thành Upakàri

như dòng thác lũ.

Lúc ấy các thám tử của bậc Đại Sĩ nghĩ thầm:

"Ai biết được chuyện g ì sẽ xảy ra?". Và

đám hầu cận xúm xít quanh ng ài. Ngay lúc này Bồ-tát

đứng dậy khỏi tọa s àng, quân hầu giúp

ngài tắm rửa xong, ngài dùng điểm tâm rồi mặc

xi êm y kàsi trị giá cả tr ăm đồng tiền v àng,

hồng y khoác lên, bên vai, mang gậy biểu thị tước vị của ngài có gắn bảy bảo

vật, đôi h ài vàng mang ở chân, phe phẩy

quạt sơn ngưu như một vị Thiên thần được trang

ho àng rực rỡ, bước lên thượng lầu mở cửa sổ, xuất hiện trước vua

Cùlani, đi đi lại lại với dáng điệu uy nghi của

một vị Thi ên chủ.

Còn vua Cùlani trông thấy dung sắc của ngài, không thể nào giữ

được l òng bình thản, mà vội lao lên mình

voi, tưởng rằng có thể bắt được ng ài

ngay lúc đó. Bậc Trí giả nghĩ thầm: "Vua ấy vội

đến chỗ kia v ì tưởng vua Vedeha sẽ bị bắt, mà không biết rằng chính

các hoàng tử, công chúa đ ã bị bắt, còn

Đại vương ta đ ã

đi rồi. Ta sẽ xuất đầu lộ diện như một tấm

gương v àng chói và nói chuyện với vua này". Thế là

đứng ở cửa sổ, ng ài thốt lên những lời

này với giọng ngọt ngào như mật:

172-173. Sao ngài thúc giục mãi con voi,

Ngài đến với khuôn mặt thật tươi,

Ng ài nghĩ là ngài tròn ước muốn,

Ném cung ấy xuống, ném tên thôi.

Cởi ngay bào giáp kia ngời sáng,

Cùng với san hô, các ngọc trai.

Khi vua nghe lời ấy của ngài, ông nghĩ thầm: "Tên nông dân kia

đang chế nhạo ta, hôm nay ta sẽ chứng kiến điều

cần l àm cho gã ấy". Rồi ông nói giọng h ăm

dọa:

174. Trông ngươi có dáng điệu vui tươi,

Ngươi nói lời ra với nụ cười,

Giờ chết của ngươi nay sắp đến,

Cho n ên vẻ đẹp hiện ra ngo ài!

Khi hai vị đang nói chuyện như tr ên,

đám quâm sĩ chú ý đến hảo tướng của bậc Đại Sĩ,

liền bảo nhau:

- Đại vương đang đ àm

đạo với bậc Trí giả Mahosadha. Các ng ài

đang b àn luận gì

đây? Ta thử nghe xem sao.

Rồi họ đến gần vua, nhưng bậc Trí giả khi

nghe vua nói xong, liền đáp lại:

- Đại vương không biết ta l à bậc Trí

giả Mahosadha, ta không để Đại vương giết ta

đâu. Mưu kế Đại vương đ ã hỏng, những

điều Đại vương c ùng Kevatta đ ã

nghĩ trong tâm không xảy ra đâu, m à vừa

xảy ra những việc Đại vương chỉ nói đầu môi

chót lưỡi.

Rồi ngài giải thích sự việc như sau:

175. Sấm sét của ngài thật uổng công,

Âm mưu đ ã hỏng, hỡi Quân vương!

Vua ta khó bắt cho ngài quá,

Như tuấn mã so với ngựa thường!

176. Vua ta đ ã vượt quá sông Hằng,

Vào tối qua cùng các cận thần,

Ngài sẽ giống như con quạ nọ,

Cố công s ăn bắt thi ên nga vương!

Một lần nữa, như con sư tử giương bờm dũng mãnh, ngài phát họa một ảnh dụ

qua các lời sau:

177. Chó rừng đang ở giữa đ êm trường,

Nhìn thấy hoa cây phượng đỏ hồng,

Cứ tưởng hoa kia l à miếng thịt,

Súc sinh hạ liệt họp từng đ àn.

178. Khi các canh khuya ấy đ ã qua,

Mặt trời đ ã xuất hiện dần ra,.

Chó nhìn cây phượng đầy hoa nở,

Thất vọng, súc sinh thật xấu xa!

179. Hỡi Đại vương, cũng giống các vua,

Đ ã bao vây chúa Vi- đề-ha,

Sẽ tan hy vọng v à đi mất,

Như lũ chó rừng tránh phượng hoa!

Khi vua nghe những lời lẽ can trường như vậy, nghĩ thầm: "Tên nông dân

này nói n ăng thật bạo dạn, chắc chắn vua Vedeha

đ ã trốn thoát".

Vua liền nổi cơn thịnh nộ, nghĩ thầm: "Xưa kia vì tên nông dân này mà ta

chẳng còn mảnh vải che thân, nay cũng vì gã mà kẻ thù

đ ã làm hại ta quá nhiều, ta phải trả thù

gã cả hai chuyện mới được".Vua liền ban lệnh

như sau:

180. Cắt hết tay chân, tai mũi ra,

Vì tên kia thả Vi- đề-ha,

Kẻ th ù đ ã thoát tay ta

đó,

Xẻo thịt, đem chi ên nấu chín mà,

Vì tên kia thả Vi- đề chúa,

Kẻ th ù đ ã thoát khỏi tay ta !

181. Như tấm da trâu trải đất bằng,

Hoặc da sư, hổ được đem căng,

Bằng cây cọc, vậy ta mong muốn,

Căng nọc nó v à lấy giáo đâm,

V ì nó thả Vi- đề chúa tể,

Kẻ th ù ta thoát khỏi giam cầm!

Nghe vậy bậc Đại Sĩ mỉm cười nghĩ thầm: "Vua

n ày không biết là hoàng hậu và hoàng gia

đ ã được ta chở về Mithil à rồi,

nên mới ra lệnh bắt ta như vậy. Nhưng trong cơn thịnh nộ, vua ấy có thể lấy

cung tên đâm xuy ên thân ta, hay làm một

chuyện gì đó cho hả dạ, vậy ta phải l àm

cho vua ấy hoảng hốt đau buồn, rồi ngất xỉu tr ên

lưng voi khi ta kể chuyện cho vua nghe mới

được". Ng ài liền nói:

182. Nếu chặt tay chân, tai mũi ta,

Vi- đề chúa sẽ chặt Can-da,

Can-d ì, hoàng hậu Nan-dà nữa,

Công chúa cùng hoàng tử cả nhà!

183. Nếu xẻo ta rồi xiên thịt ta,

Vi- đề chúa sẽ xẻo Canda

Can-d ì, hoàng hậu Nandà nữa,

Công chúa và hoàng tử cả nhà!

184. Nếu đóng cọc ta, đâm giáo ta,

Vi-đề sẽ đóng cọc Can-da,

Can-d ì, hoàng hậu Nan-dà nữa,

Công chúa và hoàng tử cả nhà!

185. Vậy việc kia đ ã

được mật b àn,

Giữa ta và chính Vi- đề vương,

Giống như tấm chắn bằng da thuộc,

Dầy một trăm tầng được khéo l àm,

Bởi các thợ da, là vật dụng,

Đề ph òng tên nọ bắn xuyên ngang.

186. Ta mang hạnh phúc, tránh đau buồn,

Cho chúa Vi-đề-ha vẻ vang,

Ta thoát âm mưu ng ài dự tính,

Như khiên tránh khỏi mũi tên đâm.

Nghe thế, vua nghĩ thầm: "Tên nông dân này nói gì thế, nếu ta làm gì gã

thì vua Vedeha cũng sẽ làm thế cho gia quyến ta ư? Gã chẳng biết ta

đ ã cho canh phòng thê tử ta rất cẩn mật,

nên cứ dọa ta như thế vì sợ chết ngay đây, ta

không tin lời g ã nói đâu".

Bậc Đại Sĩ đoán biết rằng vua tưởng ng ài

nói thế vì sợ chết, nên ngài quyết định giải

thích r õ. Ngài nói:

187. Đại vương xin h ãy bước vào

trong,

Các nội cung đều đ ã trống không:

Hoàng hậu, hoàng nhi, hoàng thái hậu,

Thảy đều được dẫn xuống đường hầm.

Chiến vương hỡi! họ được giao phó,

Vi-đề vương giám sát hộ ph òng.

Lúc ấy vua nghĩ thầm: "Bậc Trí giả này nói có vẻ chắc chắn, ta

đ ã nghe đ êm

qua bên sông Hằng có giọng của hoàng hậu Nandà, bậc Trí giả này thật là tài

tình, chắc đang nói sự thật đây". Vua thốt nhi ên

đau khổ gh ê gớm, nhưng cố thu hết can

đảm giấu nỗi buồn phiền, phán bảo thị vệ đi

điều tra tin tức v à ngâm bài kệ này:

188. Mau bước vào trong các nội cung,

Xem lời tên nọ đúng hay không?

Tên thị giả cùng quân hầu đi ra mở cửa cung

bước v ào, ở đó to àn kẻ tay chân

bị trói, nhét giẻ vào mồm, treo trên cọc, gã thấy quân canh hậu cung, những

tên lùn, gù lưng đều thế, cả chén bát đổ vỡ

vung v ãi khắp nơi, cùng với thức ăn

uống, cửa kho t àng đều bị mở tung, kho đ ã

bị cướp phá sạch, các phòng ngủ mở toang cửa, bầy quạ bay qua cửa sổ mở vào

trong, chẳng khác nào một làng bỏ hoang hay bãi tha ma.

Gã thấy cung điện trong cảnh ti êu

điều ấy, liền báo tin cho vua:

189. Ma-ho-sad nói đúng, Minh quân,

Nội điện ho àng cung đ ã trống

không,

Như một làng bên bờ bến nước,

Được bầy quạ trú ẩn nương thân.

Vua run rẩy buồn rầu sợ mất các người thân yêu, liền nói:

- Ta gặp nỗi đau buồn n ày cũng do gã

nông dân kia.

Rồi giống như con rắn bị đánh một gậy, ông

hết sức phẫn nộ với Bồ-tát. Khi bậc Đại Sĩ thấy dáng điệu của vua như vậy,

ng ài nghĩ thầm: "Nhà vua này đang được

đại vinh hiển, nếu trong cơn thịnh nộ liền nói: Ta phải l àm gì trước

những việc như thế? Vì lòng kiêu mạn của chiến sĩ, vua ấy có thể làm hại ta.

Giả sử ta tả sắc đẹp của ho àng hậu Nandà

cho vua nghe, làm như thể ông chưa từng gặp

được ho àng hậu, ông sẽ thương nhớ bà và hiểu rằng ông sẽ không bao

giờ thấy lại được nữ báu ấy nếu giết ta đi. Như

vậy v ì thương yêu hoàng hậu, vua sẽ không làm hại ta nữa".

Thế là đứng an to àn trên thượng lầu,

ngài khoát cánh tay sắc vàng óng từ dưới vạt hồng y của ngài lên và chỉ về

hướng hoàng hậu đ ã ra

đi, ng ài tả dung sắc của hoàng hậu như

vầy:

190. Giai nhân có sắc đẹp to àn thân,

Đ ã bước lối này, hỡi

Đại vương,

Giọng nói b à: thiên nga trổi nhạc,

Môi bà như các phiến vàng ròng,

191. Giai nhân có sắc đẹp to àn thân,

Được dẫn lối n ày, hỡi

Đại vương,

Đ ã khoác xiêm y màu lụa sẩm,

Đai lưng sáng rực kết v àng ròng.

192. Đôi chân hồng đỏ trông kiều diễm,

Đai kết v àng ròng với bảo trân,

Đôi mắt bồ câu, h ình yểu

điệu,

Đôi môi như trái bim-ba rừng.

193. Lưng eo thon dịu, dáng cao sang,

Như một cây leo, giống cát đằng,

Hoặc chỗ tế đ àn cao, giữa hẹp,

Tóc dài đen nhánh, dưới cong cong,

Như nai tơ, thuộc d òng cao quý,

Như ngọn lửa hồng giữa tiết đông!

194. Như d òng sông ẩn dưới sườn non,

Trong đám cây leo bé cỏn con,

Tuyệt sắc giai nhân ho àn hảo quá,

Ngực đầy như trái tin-dook tr òn,

Cũng không ngắn quá, không dài quá,

Cũng chẳng nhiều lông, chẳng trụi lông!

Trong lúc bậc Đại Sĩ ca tụng dung sắc diễm

kiều của b à như vậy, vua cảm thấy như thể mình chưa gặp bà bao giờ

cả, một nỗi khát khao ghê gớm khởi lên trong lòng ông. Bậc

Đại Sĩ nhận thấy thế, lại ngâm kệ sau:

195. Vậy ngài, Đại đế vinh quang,

Thấy Nan-d à chết, hân hoan trong lòng,

Thì Nan-dà sẽ cùng thần,

Đến tr ình diện trước Diêm vương bây giờ!

Bậc Đại Sĩ ca tụng ho àng hậu Nandà

như vậy, chứ không ca tụng ai khác, lý do là: Người ta không thương yêu ai

bằng ái thê của mình. Ngài chỉ ca tụng bà, vì ngài nghĩ nếu vua nhớ

đến b à, ông cũng sẽ nhớ

đến các con. Trong lúc bậc Đại Sĩ ca tụng b à

bằng giọng ngọt như mật, hoàng hậu Nandà như thể hiển diện toàn thân ra

trước mắt vua. Lúc ấy ông nghĩ thầm: "Không ai ngoài Mahosadha có thể

đem ái hậu về cho ta". Nhớ đến b à, nỗi

đau buồn lại dâng l ên trong lòng ông.

Bậc Đại Sĩ nói:

- Tâu Đại vương, xin đừng sầu khổ, ho àng

hậu, hoàng tử và hoàng thái hậu sẽ trở về đây,

với điều kiện duy nhất l à thần được trở

về trước, xin Đại vương h ãy an lòng.

Ngài trấn an vua và vua lại nói:

- Ta canh phòng kinh thành của ta thật cẩn mật, ta

đ ã bao vây thành Upakàri này với

đo àn quân sĩ thật

đông đảo, thế m à kẻ tài trí này vẫn

đem ra khỏi th ành

được canh k ỹ kia toàn thể hoàng hậu,

hoàng tử, hoàng thái hậu và đưa họ đến th ành

Vedeha. Trong lúc ta đang vây h ãm thành

này, mà không một ai hay biết, kẻ này lại đưa

vua Vedeha thoát đi c ùng quân sĩ và voi ngựa chuyên chở, có thể rằng

kẻ này có thần thông hay là có cách làm mờ mắt ta ch ăng?

Và ông hỏi ngài như sau:

196. Nhà ngươi có pháp thuật ư?

Hay là ngươi đ ã làm mờ mắt ta?

Nên ngươi cứu chúa Đề-ha,

Kẻ th ù ta thoát tay ta giam cầm?

Nghe thế, bậc Đại Sĩ đáp:

-Tâu Đại vương, tiểu thần có thần thông biến

hóa, v ì các Trí giả học được phép thần

thông, sẽ giải cứu luôn bản thân c ùng các người khác, khi tai họa

đến.

197. Tâu Đại vương, các trí nhân,

Vẫn thường học phép thần thông ở đời;

Trí nhân đầy đủ kế t ài,

Bản thân giải thoát ra ngoài gian lao.

198. Tiểu thần có các quân hầu,

Khéo tài phá vỡ các hào lũy ra,

Họ làm cách ấy giúp vua,

Vi- đề đ ã

đến Mi-la kinh th ành.

Câu này ám chỉ vua kia đ ã ra

đi bằng địa đạo được trang ho àng như

trên, vì thế vua hỏi:

- Địa đạo ấy ra sao?

Và vua muốn xem nó. Bậc Đại Sĩ thấy vẻ mặt

vua, biết rằng đây l à vua muốn biết, nên ngài sẵn sàng chỉ nó cho vua

xem:

199. Đường hầm xây thật t ài tình,

Ngự du, xin hãy thân hành, Đại vương!

Hầm to đủ chứa voi đ àn,

Đo àn xe, bầy ngựa, hàng hàng lục quân,

Bên trong đ èn thắp sáng trưng,

Một đường hầm quả kỳ công thực l à!

Rồi ngài tiếp tục nói:

- Tâu Đại vương, xin ngự l ãm

địa đạo do trí tuệ thần xây dựng n ên,

sáng ngời như thể đôi vầng nhật nguyệt mọc l ên

trong đó, được trang ho àng thật lộng lẫy

với tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn cửa nhỏ, một tr ăm

lẻ một loan ph òng, hằng tr ăm ổ đ èn,

xin Đại vương hoan hỷ ngự giá c ùng tiểu

thần và quân cận vệ vào kinh thành Upakàri.

Nói xong, ngài bảo cổng thành mở toang và vua cùng một tr ăm

lẻ một vị vương hầu ngự v ào. Bậc Đại Sĩ

bước xuống khỏi thượng lầu triều bái vua v à

đưa ng ài cùng

đo àn tùy tùng vào trong

địa đạo. Khi vua thấy địa đạo đẹp như kinh th ành

được trang ho àng của chư Thiên, vua liền

ca tụng Bồ-tát:

200. Lợi thay chúa tể Đề-ha,

Có nhiều người trí trong nh à như khanh,

Hoặc trong đất nước của m ình,

Ma-ho-sad hỡi, thông minh tuyệt trần!

Sau đó bậc Đại Sĩ dẫn vua đến một trăm lẻ

một loan ph òng, hễ mở một cửa thì tất cả

đều mở v à một cửa đóng th ì tất cả

đều đóng lại. Vua bước v ào trước, chiêm

ngưỡng địa đạo, bậc Đại Sĩ theo sau, rồi tất cả

quân sĩ đều v ào trong hầm. Nhưng khi bậc Trí giả biết vua

đ ã ra khỏi

địa đạo, ng ài liền ng ăn đám người kia

bước ra bằng cách đi đến một nút bấm v à

đóng cửa hầm lại. Thế l à tám mươi cửa lớn và sáu mươi bốn cửa nhỏ,

các cửa của cả tr ăm lẻ một loan ph òng và

cửa của hàng tr ăm ổ đ èn

đều đóng chặt lại, to àn thể

địa đạo tối đen như địa ngục.

Tất cả đám người đông đảo ấy đều kinh ho àng.

Bấy giờ bậc Đại Sĩ tuốt kiếm ra, cây kiếm m à

ngài đ ã giấu hôm qua khi ngài vào

địa đạo. Từ dưới đất, ng ài phóng mình

lên không chừng tám thước rồi hạ xuống chụp lấy cánh tay vua, vung kiếm ra

và thét lên h ăm dọa:

- Này Đại vương, tất cả vương quốc ở c õi

Diêm -phù- đề thuộc về ai?

- Thưa bậc Trí giả, của khanh tất cả, xin tha mạng trẫm.

Ngài đáp:

- Xin Đại vương chớ sợ, thần không có ý g ì

lấy kiếm ra sát hại Đại vương đâu, m à

chỉ để b ày tỏ trí khôn của thần

đó thôi.

Rồi ngài trao kiếm cho vua, khi vua đ ã

cầm kiếm xong, ngài lại nói:

- Tâu Đại vương, nếu ng ài muốn giết

thần xin hãy lấy kiếm này giết đi, c òn

nếu muốn tha cho thần, xin hãy tha cho.

Vua đáp:

- Này bậc Trí giả đừng sợ, trẫm hứa bảo to àn

tánh mạng của khanh.

Thế là khi vua giơ kiếm lên, cả hai đều kết

t ình bằng hữu rất chân thật. Rồi vua bảo Bồ-tát:

- Này bậc Trí giả, hiền khanh thật nhiều tài trí, tại sao khanh không

chiếm lấy vương quốc này?

- Tâu Đại vương, nếu thần muốn, chỉ nội hôm

nay thần có thể thu trọn mọi vương quốc ở c õi Diêm-phù- đề

n ày và giết hại mọi vị vua, nhưng một hiền nhân không

đạt vinh quang bằng cách giết hại kẻ khác.

- Này bậc Trí giả, đám đông đang khổ sở v ì

không đi ra được, vậy khanh h ãy mở cửa

địa đạo v à tha mạng cho hết thảy.

Ngài mở cửa, cả địa đạo sáng l òa, mọi

người đều b ình tâm trở lại, vua chúa

cùng các đo àn tùy tùng bước ra,

đến gần bậc Trí giả đan g

đứng giữa sân chầu rộng lớn với vua, rồi

các vua này bảo:

- Thưa bậc Trí giả, ngài đ ã tha mạng

cho tất cả chúng ta, nếu cửa địa đạo đóng lâu

hơn ch ốc nữa, chắc cả đám chết hết rồi.

- Tâu các vị Chúa công, đây không phải lần

đầu ti ên các ngài được thần cứu giá đâu.

- Thế thì khi nào nữa, thưa bậc Trí giả?

- Các ngài còn nhớ khi tất cả vương quốc ở cõi Diêm-phù- đề

đều bị chinh phục trừ kinh th ành của tiểu thần và khi các vị

đến vườn Thượng uyển Uttarapa ñcàla sẵn

sàng nâng chén khải hoàn ch ăng?

- Thưa bậc Trí giả, còn nhớ.

- Lúc ấy chính vua này cùng lão Kevatta đ ã

dùng độc kế, đầu độc thức ăn thức uống v à

mưu toan sát hại các vị, nhưng tiểu thần lại không muốn

để các vị chịu một cái chết ngu si như vậy

trước mắt thần, n ên thần cho người vào

đánh vỡ hết chén bát nồi ni êu, phá hỏng kế hoạch của họ, cứu mạng các

vị đấy!

Các vua đều kinh h ãi hỏi lại vua

Cùlani:

- Tâu Đại vương, có thật vậy chăng?

- Thật vậy, các việc ta làm đều do lời b àn

của Kevatta. Bậc Trí giả nói đúng thật đấy.

Thế là các vua đều ôm lấy bậc Đại Sĩ v à

bảo:

- Thưa bậc Trí giả, ngài là vị cứu tinh của chúng ta, ngài

đ ã giải cứu chúng ta.

Các vua ấy ban tặng vật trang sức cho ngài

để tỏ l òng quý trọng.

Bậc Đại Sĩ nói với vua C ùlani:

- Xin Đại vương chớ sợ, lỗi lầm n ày

do kết giao với một bạn ác, xin Đại vương y êu

cầu các vua kia lượng thứ cho.

Vua bảo:

- Ta đ ã làm như vậy vì một kẻ ác,

đó l à lỗi lầm của ta, xin các vị hãy

khoan dung, ta không bao giờ tái phạm điều ấy

nữa.

Vua này liền được các vua kia tha thứ, tất

cả đều thú tội cho nhau nghe v à trở thành thân hữu, sau

đó vua truyền đem đến đủ thứ sơn h ào hải

vị, hương thơm tràng hoa và suốt bảy ngày liền họ liên hoan trong

địa đạo, rồi v ào kinh thành ban

đại vinh hiển cho bậc Đại Sĩ. Vua ngự tr ên

ngai vàng, có cả tr ăm lẻ một vương hầu vây

quanh. V à ước mong giữ bậc Trí giả ở lại triều

đ ình này, vua liền bảo:

201. Trẫm ban thế lực, vinh quang,

Gấp đôi thực phẩm, tiền lương công thần,

V à thêm nhiều thứ đặc ân,

Mong khanh hưởng thụ to àn phần tự do,

Đừng về với Chúa Đề-ha,

Vua kia l àm được g ì cho khanh à?

Nhưng bậc Trí giả tìm lời lẽ chối từ:

202-203. Đại vương, rời bỏ chủ ta,

Chỉ v ì lợi lộc thật là nhục thay,

Cho người kia lẫn ta đây;

Trong đời Vi-đế vương n ày trị dân,

Thần không hầu hạ tha nhân,

Thần không thể sống giang sơn người ngoài.

Lúc ấy vua bảo ngài:

- Này bậc Trí giả, được rồi, khi n ào

Đại vương của khanh l ên chầu trời, xin

hiền khanh hãy hứa đến đây với trẫm.

- Tâu Đại vương, nếu thần c òn sống,

thần xin đến đây.

Thế là vua tiếp đ ãi ngài trọng thể

trong bảy ngày. Sau đó, khi ng ài tạ từ,

vua ngâm kệ hứa hẹn ban tặng ngài thứ nọ kia:

204. Ban khanh ngàn nén vàng thoi,

Ở Kà-si đủ tám mươi ngôi l àng,

Bốn tr ăm tỳ nữ gia nhân,

Một trăm th ê thiếp, trẫm ban trọn phần.

Rồi đem tất cả đo àn quân,

Ma-ho-sad, hãy lên đường b ình an.

- Khi đức vua của thần về bổn quốc, thần có

tâu ng ài phải tiếp đ ãi mẫu hậu

Nandà như mẹ ngài, hoàng tử Pañcàlacanda như vương

đệ của ng ài và thần

đ ã kết duyên công chúa cho ngài bằng

nghi lễ vẩy nước thánh. Chẳng bao lâu nữa thần xin

đưa thái hậu c ùng hoàng hậu, hoàng tử

trở về.

- Tốt lắm.

Vua phán, truyền ban hồi môn cho công chúa, cùng thị vệ nữ tỳ, xiêm y, nữ

trang ngọc vàng trân bảo, voi ngựa, vương xa trang hoàng rực rỡ. Rồi vua ra

lệnh cho quân sĩ thi hành:

205. Hãy cho bầy ngựa, voi đ àn,

Gấp đôi số thực phẩm ban ng ày,

Toàn quân mở tiệc liên hoan,

Quản xa, lính bộ uống ăn thỏa l òng!

Nói vậy xong, vua truyền bậc Trí giả ra về với những lời này:

206. Lên đường, hỡi bậc Trí nhân,

Đo àn xe, voi ngựa, lục quân ra về,

Để cho chúa tể Vi-đề

Thấy khanh trở lại Mi-thi-la th ành.

Vua tiễn đưa bậc Trí giả vô c ùng

trọng thể như thế. Cả tr ăm lẻ một vương hầu c ùng

đưa tiễn ng ài linh

đ ình và trao quà tặng vô số.

Các thám tử theo phụng sự các vương hầu kia cũng

đến vây quanh bậc Trí giả. Ng ài rầm rộ

lên đường. Tr ên lộ trình, ngài gửi người

hầu đi thu lợi tức ở các ngôi l àng mà

vua Cùlani đ ã ban ngài. Rồi ngài trở về

vương quốc Vedeha.

Bấy giờ Senaka đ ã phái một người hầu

lên đường để r ình xem vua Cùlani có

đến hay không v à phi báo cho lão biết

bất kỳ ai đến. G ã kia trông thấy bậc

Đại S ĩ cách ba dặm

đường, liền trở về báo cho l ão biết bậc

Trí giả đang c ùng

đám t ùy tùng

đông đảo rầm rộ trở về. Được tin ấy l ão

liền đến ho àng cung. Vua cũng nhìn ra

cửa sổ trên thượng lầu thấy một đám đông rầm rộ

th ì đâm hoảng sợ. "Đám t ùy tùng

của bậc Đại Sĩ c òn ít lắm, còn

đám n ày lại quá

đông, phải chăng đích thân vua C ùlani

đến đây?". Ng ài liền hỏi như sau:

207. Ngựa voi, xe pháo, bộ binh,

Đạo quân rầm rộ hiện h ình trước ta,

Bốn đo àn khủng khiếp lộ ra,

Việc này có ý nghĩa là sao đây?

Senaka đáp:

208. Hân hoan lớn nhất đời n ày,

Đại vương c òn thấy vui vầy nào hơn?

Ma-ho-sad được b ình an,

Trở về cùng cả đo àn quân của ngài.

Vua bảo:

- Này Senaka, quân sĩ của bậc Trí giả ít lắm, mà

đám n ày lại quá

đông?

- Tâu Đại vương, ắt hẳn vua C ùlani

đẹp ý v ì ngài lắm nên

đ ã ban cho ngài

đám tùy t ùng

đông như vậy.

Vua liền cho lệnh truyền đi khắp nơi kinh th ành

bằng tiếng trống:

- Cả kinh thành hãy trang hoàng để ngh ênh

đón bậc Trí giả về.

Dân chúng tuân lệnh, bậc Trí giả về thành, liền vào cung vua. Lúc ấy vua

đứng dậy ôm hôn ng ài, rồi lui về ngai và

hoan hỷ bảo ngài:

209-210. Giống như có bốn người trai,

Để thi thể nọ ra ngo ài nghĩa trang,

Chúng ta để bậc Trí nhân.

Tại Kam-pil quốc, nhanh chân trở về.

Nhưng khanh có đặc tính g ì,

Lập mưu, phương tiện, cứu nguy an toàn?

Bậc Đại Sĩ đáp:

211. Vi- đề-ha, tấu Đại vương,

Thần nhờ một đích phá tan địch th ù,

Dùng quân cơ thắng quân cơ,

Và thần vây hãm vị vua đại cường,

Như l à biển lớn, Chiến vương,

Bao vây khắp cả giang sơn Diêm-Phù.

Nghe thế vua rất đẹp l òng. Rồi bậc

Đại Sĩ kể cho vua nghe những tặng vật m à

vua Cùlani đ ã ban :

212. Được ban ng àn nén vàng thoi,

Ở Kà-sì đủ tám mươi ngôi l àng

Bốn tr ăm tỳ nữ gia nhân,

Một trăm th ê thiếp được ban cho thần.

Rồi c ùng tất cả đo àn quân,

Tiểu thần trở lại quê hương an toàn.

Lúc ấy vua hết sức vui mừng, hoan hỷ thốt lời ca ngợi tán thán

đầy cung kính trước t ài

đức của bậc Đại Sĩ:

213. Thật là hạnh phúc muôn vàn,

Khi ta được sống c ùng hàng trí nhân.

Như chim thoát khỏi lồng giam,

Như con cá thoát lưới càng vui thay,

Ma-ho-sad cứu ta đây,

Khi ta c òn ở trong tay quân thù.

Senaka đáp lại như sau:

214. Muôn tâu chúa thượng, chúng ta,

Sống cùng bậc Trí thật là lạc quan,

Như chim thoát khỏi lồng giam,

Như con cá thoát lưới càng vui thay,

Ma-ho-sad cứu ta đây,

Khi ta c òn ở trong tay quân thù.

Sau đó vua cho trống hội đánh khắp kinh th ành:

Hãy làm hội hè trong bảy ngày, những kẻ nào có thiện ý với trẫm thì hãy

phụng sự cung kính bậc Trí giả.

*

Bậc Đại Sư giải thích việc n ày như

sau:

Dân chúng hãy trổi vang mọi loại đ àn

sáo trống chiêng, tù và trong xứ Ma-kiệt- đ à

hãy khua vội lên, thanh la rung thật nhộn nhịp.

Dân chúng từ thành thị đến thôn qu ê

đều ước ao tỏ l òng tôn kính bậc

Đại Sĩ, khi nghe công bố như vậy, liền mở hội

li ên hoan cho thỏa thích. Bậc Đạo Sư

giải thích việc n ày như sau:

215. Đ àn bà, con gái mọi nhà,,

Thương gia cùng vợ, các Bà-la-môn

Đem đầy đủ thức uống ăn,

Đến dâng bậc Trí nhân l àm quà.

216. Luyện voi, vệ sĩ, quản xa,

Bộ binh, tất cả đem qu à

đến, dâng.

To àn dân làng xã hợp quần

Người người vui thấy Trí nhân khải hoàn.

Trong khi tiếp đón ch ào mừng,

Trên không phất phới kh ăn qu àng vẫy

tung.

Khi tan hội hè, bậc Đại Sĩ v ào cung

và thưa:

- Tâu Đại vương, mẫu hậu v à hoàng

hậu, hoàng nam của vua Cùlani phải được đưa về

nước ngay lập tức.

- Vương nhi, tốt lắm. con hãy đưa họ trở về.

Ngài liền cư xử rất cung kính đến với ba

người kia v à tiếp đ ãi ân cần

đám t ùy tùng

đ ã đi theo

ng ài, rồi ngài đưa ba vị ấy về nước với

đầy đủ đo àn hầu cận của ngài cùng một tr ăm

th ê thiếp và bốn tr ăm nữ tỳ m à

vua kia đ ã ban cho ngài, ngài

đều đưa về theo ho àng hậu Nandà và

đo àn quân sĩ

đ ã đến đây

với ng ài, ngài cũng cho về luôn.

Khi đo àn

đại binh n ày đến th ành

Uttarapañcàla, vua hỏi mẫu hậu:

- Tâu mẫu hậu, vua Vedeha có tiếp đ ãi

mẫu hậu nồng nhiệt ch ăng?

- Này hoàng nhi, con hỏi sao vậy? Ngài đ ã

tiếp đ ãi ta vinh dự chẳng khác nào

đón ti ên nữ trên trời.

Rồi bà lại kể hoàng hậu Nandà được tiếp đ ãi

như bà mẹ ra sao và Pañcàlacandà như một vương

đệ thế n ào. Việc này khiến vua rất hài lòng và truyền gửi nhiều tặng

vật rất hậu hỷ. Từ đó hai nước sống trong t ình

thân hữu mật thiết.

Lúc bấy giờ công chúa Pancàlacandì rất được

vua y êu quý, n ăm sau n àng hạ sinh

được một vương tử. Mười năm sau, vua Vedeha từ

trần. Bồ-tát giương chiếc lọng ho àng gia lên cho vương tử, rồi xin

giã từ về để đi đến với tổ phụ của ng ài

là vua Cùlani. Vương tử bảo:

- Thưa bậc Trí giả, xin đừng bỏ trẫm lúc c òn

thơ ấu, trẫm sẽ tôn trọng ngài như cha trẫm vậy.

Công chúa Pañcàlacandì lại bảo:

- Thưa bậc Trí giả, xin đừng đi, không có ai

bảo vệ mẹ con ta nếu ng ài ra đi.

Nhưng ngài đáp:

- Thần đ ã hứa lời, vậy thần phải ra

đi.

Thế là giữa đám đông k êu than thảm

thiết, ngài ra đi c ùng

đám hầu cận đến th ành Uttarapañcàla. Vua

này hay tin ngài đến, liền ra đón tiếp, đưa ng ài

vào thành rất trọng thể, ban cho ngài dinh cơ rộng lớn ngoài tám mươi làng

đ ã ban trước kia, lại ban thêm tặng vật

khác và từ đó ng ài phụng sự vua này.

30. VẤN

ĐỀ THỦY QUÁI.

Thời ấy có một nữ tu sĩ tên là Bheri, vẫn thường dùng cơm trong cung. Bà

này thông thái tài trí và chưa hề tiếp kiến bậc

Đại Sĩ, nay nghe báo tin bậc Trí giả Mahosadha đang phụng sự vua. Ng ài

cũng chưa hề thấy bà này bao giờ, nhưng ngài nghe rằng một nữ tu sĩ tên là

Bheri thường ăn cơm c ùng vua.

Lúc bấy giờ hoàng hậu Nandà không hài lòng Bồ-tát vì ngài

đ ã làm bà mất tình yêu của vua khiến bà

sinh lòng phiền muộn, nên bà cho gọi n ăm tỳ nữ

thân tín đến v à dặn:

- Các ngươi rình tìm cho được lỗi lầm của

bậc Trí giả, rồi ta cố l àm cho gã bị thất sủng.

Thế là họ đi t ìm cơ hội chống phá

ngài. Một hôm vị nữ ẩn sĩ ấy sau buổi ăn,

đang đi ra ngoài thì gặp Bồ-tát trên sân chầu đến yết kiến vua. Ngài vái

chào bà rồi đứng yên. Bà nghĩ thầm: "Họ bảo đây là một trí giả, vậy ta thử

xem ngài có thật là một trí giả hay không". Bà liền hỏi ngài bằng cách ra dấu

tay, bà mở bàn tay ra trong khi nhìn về phía Bồ-tát. Ý bà muốn hỏi vua có ân

cần chu đáo với bậc Trí giả m à vua

đ ã đưa về

từ ngoại quốc chăng. Khi Bồ-tát thấy b à hỏi ngài bằng cách ra dấu,

ngài đáp bằng cách nắm tay lại, ý ng ài

muốn nói: "Thưa hiền tỷ, nhà vua đem ta về đây

để l àm tròn một lời hứa, nay ngài nắm chặt tay lại, chẳng cho ta gì

cả". Bà hiểu ý, giơ tay ra xoa đầu như muốn

nói: "Hiền giả, nếu ng ài không toại ý, cớ sao ngài không

đi l àm ẩn sĩ như ta". Thấy thế, bậc

Đại Sĩ vỗ bụng như muốn bảo: "Hiền tỷ ta c òn

phải cấp dưỡng nhiều người nên ta chưa làm ẩn sĩ

được". Sau lần chất vấn không lời ấy, b à

trở về nơi ẩn cư.

Bậc Đại Sĩ ch ào bà và

đến yết kiến vua. Lúc bấy giờ các kẻ tâm phúc

của ho àng hậu thấy rõ cảnh trên từ cửa sổ nên

đến tr ình vua:

- Tâu hoàng thượng, Ngài Mahosadha đang âm

mưu với nữ ẩn sĩ Bheri để chiếm vương quốc n ày,

đó chính l à kẻ thù của ngài.

Rồi họ vu khống cho ngài. Vua hỏi:

- Các ngươi đ ã nghe thấy gì?

Họ đáp:

- Tâu hoàng thượng, khi nữ ẫn sĩ ra về sau buổi

ăn, thấy bậc Đại Sĩ, b à mở bàn tay ra

như muốn bảo: "Ngài không thể đ è bẹp nhà

vua như lòng bàn tay này hay cái sàn đập lúa

rồi chiếm lấy vương quốc n ày cho ngài sao?". Và ngài Mahosadha nắm

tay lại như thể cầm thanh kiếm và bảo: "Vài ngày nữa ta sẽ chém

đầu vua v à cầm quyền". Bà ra dấu: "Hãy

chém đầu vua", bằng cách lấy tay xoa đầu. Bậc

Đại Sĩ lại ra dấu: "Ta sẽ chặt vua l àm

đôi" bằng cách xoa bụng. Xin ho àng thượng hãy

đề ph òng, phải giết Mahosadha ngay mới

được.

Vua nghe vậy, nghĩ thầm: "Ta không thể làm hại bậc Trí giả

được, ta phải hỏi lại nữ tu sĩ kia". V ì

thế ngày hôm sau, lúc bà đang d ùng cơm,

vua liền đến hỏi:

- Này hiền tỷ có gặp Trí giả Mahosadha ch ăng?

- Tâu Đại vương, hôm qua sau khi d ùng

cơm xong thần có gặp.

- Thế các vị có đ àm luận gì với nhau

ch ăng?

- Đ àm luận ư? Thưa không, nhưng vì

thần nghe nói về tài trí của ngài, nên để thử t ài

ngài, thần đ ã ra dấu hỏi ngài bằng cách

nắm tay lại, xem thử đức vua có rộng r ãi

hay hẹp hòi đối với ng ài,

đức vua có ân cần đối với ng ài ch ăng?

Ng ài nắm tay lại, ám chỉ rằng đức vua đ ã

bảo ngài đến đây để l àm tròn một lời

hứa, nay chẳng ban cho ngài gì cả. Sau đó thần

xoa đầu để hỏi tại sao ng ài không xuất gia tu hành nếu ngài không

toại ý, ngài vỗ bụng muốn bảo là ngài còn phải cấp dưỡng nhiều người và nuôi

họ ăn uống đầy đủ, n ên chưa xuất gia

được.

- Thế Mahosadha có phải là bậc Trí giả ch ăng?

- Quả thật vậy, tâu Đại vương, khắp thế gian

n ày chẳng có ai tài trí như ngài cả.

Sau khi nghe bà tường thuật, vua cho bà lui ra. Sau khi bà

đi về, bậc Trí giả v ào chầu. Vua hỏi:

- Này bậc Trí giả, khanh đ ã gặp nữ ẩn

sĩ Bheri chưa?

- Tâu Đại vương, thần gặp b à ấy hôm

qua trên đường về, b à hỏi thần bằng cách

ra dấu, thần trả lời bà ấy ngay.

Rồi ngài kể lại câu chuyện như bà ấy đ ã

kể trước đây. Vua đẹp l òng, ngay hôm sau

phong cho ngài chức đại tướng quân v à

giao một mình ngài đảm chức vụ ấy. Vinh quang

của ng ài thật lừng lẫy, chỉ đứng sau vua

m à thôi.

Ngài nghĩ thầm: "Nhà vua bỗng dưng ban cho ta vinh quang tột bực lẫy

lừng; đây l à chuyện vua chúa thường làm

ngay cả khi họ muốn sát hại ai. Để ta thử xem

nh à vua có thiện ý với ta hay không. Không ai có thể làm việc này trừ

ẩn sĩ Bheri đầy t ài trí ấy và bà ấy sẽ

có cách".

Thế là ngài đem hương hoa đến thăm nữ ẩn sĩ,

sau khi vái ch ào bà, liền bảo:

- Thưa hiền tỷ, từ khi hiền tỷ khen ngợi tài n ăng

của ta với đức vua, ng ài liền ban tặng ta nhiều bảo vật, nhưng ngài

có thực tâm không thì ta chưa rõ. Vậy nếu hiền tỷ chịu khó tìm hiểu dùm cho

ta về tâm ý đức vua th ì hay quá.

Bà hứa sẽ làm thế và hôm sau bà vào cung, bà chợt nghĩ

đến câu chuyện Thủy quái Dakarakkhasa. Lúc ấy b à

suy nghĩ: "Ta không nên làm như một thám tử, ta phải tìm cơ hội hỏi chuyện

này xem đức vua có thiện ý với bậc Trí giả

chăng?. Rồi b à đi v ào, sau buổi

ăn b à ngồi yên. Vua vái chào bà và ngồi

sang một bên, bà nghĩ thầm: "Nếu đức vua có ác

ý với bậc Trí giả v à khi ngài được hỏi

vấn đề kia, ng ài bày tỏ ác ý của ngài trước mặt nhiều người,

điều ấy không có lợi g ì, vậy ta phải hỏi

riêng mới được". B à liền bảo:

- Tâu hoàng thượng, thần ao ước được đ àm

luận riêng với ngài.

Vua liền bảo cận thần lui ra, bà nói:

- Thần mong muốn hỏi hoàng thượng một điều.

- Hiền tỷ cứ nói, nếu ta biết, ta sẽ đáp

ngay.

Bà liền đọc vần kệ thứ nhất về chuyện Thủy

quái Dakarakkhasa:

217. Bảy người thân của hoàng cung,

Ngự du trên chốn ngàn trùng đại dương,

Quỷ thần đ òi hỏi tế đ àn,

Khi vừa chụp lấy thuyền vàng của vua,

Những ai ngài sẽ đưa ra,

Dần theo thứ tự để m à cứu nguy?

Vua liền đáp kệ hết sức chân th ành:

218. Trước tiên mẫu hậu tức thì,

Kế là hoàng hậu chánh phi Nandà,

Tiếp theo tiểu đệ ho àng gia,

Thứ tư thân hữu, n ăm b à-la-môn,

Chính ta thứ sáu bản thân,

Nhưng ta không hiến Trí nhân của mình!

Như thế ẩn sĩ đ ã thấy rõ thiện tâm

của vua đối với bậc Đại Sĩ, nhưng t ài

trí của ngài chưa được công bố cho mọi người r õ

nên bà liền nghĩ đến một chuyện khác nữa:

"Trước công chúng, ta sẽ ca ngợi t ài đức

của nhiều người khác, v à để đức vua tán

dương t ài trí của bậc Trí giả, như vậy tài trí ngài sẽ sáng tỏ như

mặt tr ăng tr ên trời". Bà liền tập hợp

tất cả mọi người ở trong hậu cung; trước mặt họ, bà cũng hỏi câu trên và

được đáp lại như thế, rồi b à nói:

- Tâu Hoàng thượng, ngài bảo sẽ đem thái hậu

ra tế lễ trước ti ên, nhưng một bà mẹ thật nhiều công

đức. Hơn nữa thái hậu lại chẳng giống các b à

mẹ khác, mẫu hậu thật đắc dụng.

Rồi bà kể công đức của mẫu hậu trong hai vần

kệ sau:

219. Lệnh bà dưỡng dục sinh thành,

Bao n ăm tận tụy nhiệt t ình với con,

Khi Cham-bhì hại hoàng nam,

Khôn ngoan bà thấy việc làm lợi vua,

Đem người thế chỗ vương gia,

N ên ngài đ ã

được chính b à cứu nguy.

220. Mẹ cho đời sống từ bi,

Chính b à mang nặng hoàng nhi trong lòng.

Vì đâu l à các lỗi lầm,

Ngày đem hiền mẫu hiến dâng thủy thần?

Nghe vậy vua liền đáp:

- Mẫu hậu rất nhiều tài đức, trẫm thừa nhận

mẫu hậu có nhiều công đức với trẫm, nhưng lỗi lầm của b à còn nhiều

hơn nữa.

Rồi vua tả các lỗi lầm của mẹ trong hai vần kệ:

221-222. Giống như thiếu nữ còn xuân

Bà đeo các món bội ho àn nữ trang

Mà bà già chẳng nên mang.

Phi thời bà chế nhạo quân canh phòng.

Lại thường gửi điệp địch vương,

M à không được lệnh của ho àng gia

đây.

Chính v ì các lỗi lầm này,

Nên ta đem hiến b à ngay thủy thần!

- Tâu Hoàng thượng, đ ã

đ ành vậy, nhưng hoàng hậu cũng có nhiều

tài đức.

Và bà kể tài đức của ho àng hậu:

223-224. Lệnh bà đệ nhất hồng quần,

Cực kỳ diễm lệ, nói năng ân cần,

Tr àn đầy đức hạnh, nhiệt tâm,

Kề b ên hoàng hậu uyên ương bóng hình,

Chẳng hề giận dỗi bất bình,

Khôn ngoan, thận trọng, chân thành lợi vua.

Vậy vì lầm lỗi đâu m à

Ngài đem ho àng hậu hiến dâng thủy thần?

Vua liền kể các lỗi lầm của bà:

225-226. Nhờ bao vẻ đẹp m ê hồn,

Bà hoàng đ ã khiến vương quân phục tòng,

Chịu nhiều ảnh hưởng bất nhân,

Và đ òi những thứ bà không nên

đ òi

Dành cho con của bà thôi.

Vì ta say đắm ban ho ài

đặc ân.

Ta ban những vật khó ban,

Về sau hối hận muôn v àn đắng cay,

Chính v ì các lỗi lầm này.

Ta đem ho àng hậu tế ngay thủy thần!

Nữ ẩn sĩ đáp:

- Đ ã đ ành

vậy, nhưng còn hoàng đệ Tikhinamat ì rất

lợi ích cho Hoàng thượng. Vì lỗi gì ngài đem ch àng

cho thủy quái?

Và bà ngâm kệ:

227. Chàng đem phồn thịnh cho dân,

Khi ng ài đang ở tha phương xứ người,

Ch àng đưa Ho àng thượng tái hồi,

Chàng không hề bị cuốn lôi bạc vàng.

228. Anh hùng thiện xạ vô song,

Ti-khi-na thật tinh thông muôn phần,

Vậy đâu l à các lỗi lầm,

Ngài đem ho àng

đệ tế dâng thủy thần?

Vua kể lỗi lầm của chàng:

229. "Ta đem phồn thịnh cho dân,

Khi ng ài đang ở tha phương xứ người,

Ta đưa Ho àng thượng tái hồi,

Ta không hề bị cuốn lôi bạc vàng.

Ta là thiện xạ vô song,

Anh hùng vô địch tinh thông trí t ài.

Ta tôn Hoàng thượng lên ngôi".

Chàng suy nghĩ vậy, thế rồi về sau.

230. Chàng không đi đến cung chầu,

Như thường thuở trước ch àng hầu bên ta.

Chính vì lầm lỗi kia mà,

Ta đem ho àng

đệ tế dâng thủy tề.

Ẩn sĩ bảo:

- Hoàng đệ nhiều lỗi lầm như thế, nhưng c òn

hoàng tử Dhanusekha thương yêu ngài rất tận tụy lại rất hữu ích.

Bà tả tài đức của ch àng:

231. Ngài và Dha-nu-sek-ha,

Cùng mang tên tộc Pañ-cà-la-mà.

Một đ êm hai vị sinh ra,

Vừa là thân hữu vừa là đồng môn,

Suốt đời hầu cận minh quân,

Đồng cam cộng khổ vui buồn b ên nhau.

232. Nhiệt tình thận trọng bấy lâu,

Hết lòng phục vụ kể đâu đ êm ngày.

Vậy thì lầm lỗi nào đây,

Ng ài đem thân hữu tế ngay thủy thần?

Vua liền tả lỗi lầm của chàng:

233. Suốt đời, thưa nữ đạo nhân,

Ch àng thường vui thú chung cùng bên ta.

Chính vì duyên cớ ấy mà,

Nay chàng hành động quá l à tự do.

234. Nếu ta nói chuyện riêng tư,

Cùng hoàng hậu, cứ xông vô phi thời,

Mà không có lệnh ta đ òi,

Cũng không thông báo cho người nào hay.

235. Nếu cho chàng một dịp may,

Làm điều bất kính, nhục đầy xấu xa,

Chính v ì lầm lỗi ấy mà

Ta đem thân hữu hiến cho thủy thần.

Nữ ẩn sĩ đáp:

- Lỗi lầm của chàng thật nhiều đấy, song c òn

vị quân sư rất hữu dụng cho Hoàng thượng.

Bà liền tả tài đức của vị n ày:

236. Tế sư quả thật tinh khôn,

Biết nhiều điềm triệu, thanh âm ở đời,

Chuy ên môn đoán rộng, v ãng lai,

Am tường dấu hiệu đất trời, trăng sao,

Vậy th ì do lỗi lầm nào,

Đại vương đem đạo sĩ trao thủy thần?

Vua giải thích lỗi lầm của vị ấy:

237. Dù ngay ở giữa quần thần,

Lão thường mở mắt trừng trừng nhìn ta,

Nên ta muốn hiến lão già,

Nh ăn m ày quỷ quái ấy cho thủy thần!

Lúc ấy vị ẩn sĩ nói:

- Tâu Hoàng thượng, ngài phán rằng ngài sẽ

đem năm người n ày cho thủy quái và sẽ hy sinh thân mình cho bậc Trí

giả Mahosadha mà không nghĩ gì đến ngai v àng

vinh hiển của mình. Vậy Hoàng thượng thấy vị ấy có tài

đức g ì?

Và bà ngâm các vần kệ này:

238. Đại vương ở giữa triều thần,

Trong châu lục lớn, ng àn trùng biển xanh,

Thay vì thành lũy bao quanh,

Ngự trên đế quốc h ùng anh

đại cường,

Độc tôn ho àng đế trần gian,

Thật l à vĩ đại vinh quang vô v àn.

239. Nữ nhi một vạn sáu ngàn,

Điểm tô châu ngọc, nữ trang sáng ngời,

Giai nhân từ khắp mọi nơi,

Khác n ào tiên nữ cao vời thiên cung.

240. Được dâng mọi thứ cần dùng,

Mọi điều ước nguyện cầu mong vẹn to àn,

Đại vương đ ã sống trường tồn,

Trong niềm hạnh phúc hân hoan tột cùng.

Đâu l à duyên cớ nguyên nhân,

Hy sinh ngọc thể hộ phòng Trí nhân?

Nghe vậy, vua ngâm các vần kệ này ca tụng

đức hạnh của bậc Trí giả:

241. Thưa bà, Trí giả Đại thần,

Từ khi đến ở kế gần b ên ta,

Ta không hề thấy bao giờ,

Con người khí phách tạo ra lỗi lầm,

Dù là một mảy cỏn con.

242. Nếu ta chết trước Trí nhân lúc nào,

Người đem hạnh phúc biết bao,

Cho đ àn con cháu mai sau lâu dài.

243. Người thông minh mọi việc trên đời,

D ù là quá khứ, tương lai xa gần.

Người này không có lỗi lầm,

Ta không muốn tế thủy thần quỷ ma.

Như vậy chuyện Tiền thân này đ ã

đến hồi kết thúc tốt đẹp. Lúc ấy vị ẩn sĩ suy

nghĩ: "Chuyện n ày vẫn chưa đủ để b ày

tỏ đức độ của bậc Trí giả, ta sẽ cho dân chúng

khắp kinh th ành biết rõ công đức của ng ài

như người ta rãi dầu thơm trên mặt biển".

Thế là bà mời vua cùng bà đi xuống khỏi

cung, soạn bảo toạ tr ên sân chầu, mời vua ngự lên, rồi triệu tập dân

chúng lại, bà hỏi vua một lần nữa về chuyện Thủy quái từ khởi

đầu, v à khi vua trả lời như trên

đây, b à liền bảo dân chúng:

244. Thần dân của xứ Pañ-cà,

Nghe lời này của vua Cù-la-ni,

Bảo toàn bậc Trí giả kia,

Đức vua n ào có kể chi mình vàng.

245. Cuộc đời của chính mẫu ho àng,

Em trai, hoàng hậu, thân bằng, bản thân,

Vua Pãn-cà thảy sẵn lòng,

Hy sinh tất cả hiến dâng thủy thần.

246. Diệu kỳ thay trí lực hùng,

Thông minh tài giỏi vô song như vầy,

Chỉ vì ích lợi đời n ày,

Cùng là hạnh phúc lâu dài đời sau.

Như vậy bà đ ã

đạt đỉnh cao trong sự chứng minh t ài

đức của bậc Đại Sĩ, chẳng khác n ào người

ta đặt ngọn tháp cao chót vót l ên một

đống bảo vật.

Đến đây chấm dứt Vấn đề Thủy quái và cũng chấm dứt luôn toàn chuyện Đường

hầm vĩ đại.

*

Và sau đây l à sự nhận diện Tiền thân:

- Uppalavannì (Liên Hoa Sắc) là nữ ẩn sĩ Bheri, Suddhodana (Vua Tịnh

phạn) là cha của bậc Trí giả, Mahàmàyà (hoàng hậu Ma-gia) là mẹ ngài, giai

nhân Bimbà (tức Yasodhàrà) là Amarà, Ànanda là con két, Sàriputta là vua

Cùlani, Mahosadha là đức Thế tôn.

Tiền thân này được hiểu như vậy.

Devadatta là Kevatta, Cullanandikà là Talatà, Sundarì là Pañcàlacandì,

Yasassika là hoàng hậu, Ambattha là Kàvinda, Potthapàda là Pukkusa, Pilotika

là Devinda, Saccala là Senaka, Ditthamangalikà là Hoàng hậu Udumbarà (Cây

sung), Kundali là chim Maynah và Làludàyì là Vedeha.