Chuyện Tiền Thân · Jātaka

326. Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 35

Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)#

Jātaka group 35

Chương

IV (tiếp theo)

326. Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)

Kẻ nào giữ mình không trộm cắp ...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên, cách Ðề-bà- đạt-đa

đ ã gây ra sự ly gián trong Giáo đo àn

như thế nào, rồi sau đó bỏ đi với các đệ tử

trưởng của ông, v à khi đám n ày

tan rã, ông hộc ra một dòng máu nóng.

Các Tỷ-kheo đem chuyện ấy b àn

trong Pháp đường v à bảo rằng Ðề-bà- đạt-đa

đ ã dùng vọng ngôn gây nên sự ly gián kia, sau

đó mang bệnh, v à chịu bao nhiêu

đau đớn. Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi các

Tỷ-kheo đang họp nhau ngồi b àn tán

chuyện gì. Sau khi nghe kể lại, Ngài dạy:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia, ông ta cũng

đ ã là một kẻ nói dối; và không phải

chỉ bây giờ mà từ xưa kia, ông ta cũng đ ã

phải chịu khổ đau v ì nói dối.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-lai-nại, Bồ-tát là một vị

thần ở cõi trời Ba mươi ba. Bấy giờ có một cuộc lễ lớn tại Ba-la-nại,

Một đám đông rắn thần N àga và chim

Kim sí điểu Garuda c ùng các

địa thần đến dự lễ. V à bốn Thiên

thần từ cõi trời Ba mươi ba mỗi vị mang một tràng thiên hoa Kakkàru cũng

đến dự lễ. Suốt trong khoảng mười hai dặm

của th ành phố đều sực nước hương

thơm của các hoa ấy. Mọi người đều xôn xao, tự hỏi không biết các vị

mang các bông hoa ấy l à ai. Các Thần nói:

- Họ đang nh ìn chúng ta

đấy.

Rồi từ sân điện bay l ên và dùng

thần lực đứng ngay tr ên không. Ðám

đông tụ tập lại, vua c ùng các hoàng

tử theo vua đến hỏi các vị thần ấy từ c õi

nào đến:

- Chúng ta từ cõi trời Ba mươi ba đến .

- Các ngài định đến đây để l àm

gì?

- Ðể dự lễ.

- Các hoa này là hoa gì thế?

- Chúng tên là thiên hoa Kakkàru.

- Thưa các ngài, ở thế giới thiên thần,các ngài có thể

đeo hoa khác. H ãy cho chúng tôi hoa

này đi.

Các thần trả lời:

- Các hoa này chỉ xứng với những vị thần có

đại lực; c òn

đối với hạng thấp kém, những kẻ ngu si, tội

lỗi trong c õi người thì hoa này không xứng hợp. Nhưng những ai

trong cõi người có được những đức hạnh như

thế ... như thế... th ì những bông hoa này xứng hợp với họ.

Rồi vị trưởng các Thần ấy đọc l ên

bài kệ đầu:

Kẻ nào giữ mình không trộm cắp.

Miệng lưỡi luôn tránh tật dối lời

Ðạt nên danh vọng cao vời.

Giữ tâm yên ổn - xứng đ òi hoa

đây.

Nghe thế, một vị giáo sĩ hoàng gia tự nghĩ: "Ta chẳng có một

đức tính n ào trong các

đức tính nói tr ên, nhưng ta sẽ nói

dối để có được những bông hoa n ày.

Ðược như thế mọi người sẽ tin rằng ta có các tính hạnh ấy". Rồi ông ta

nói:

- Tôi có đủ những đức tính ấy.

Thế là ông ta được trao hoa để mang. Rồi

ông ta đến xin vị thần thứ hai, vị n ày

đọc b ài kệ thứ hai:

Kẻ nào kiếm tiền tài chân thật

Tránh gian manh để đạt gi àu sang

Thú vui quá độ, tránh luôn,

Xứng phần được đóa thi ên hương đây

n ày.

Giáo sĩ nói:

- Tôi đầy đủ những đức tính ấy.

Và thế là ông ta được trao hoa để mang.

Rồi ông đến xin vị thần thứ ba, vị n ày

đọc b ài kệ thứ ba:

Kẻ nào chẳng lệch xa mục đích,

V à lòng tin bất dịch chẳng rời,

Thức ăn ngon chẳng đoái ho ài,

Chánh chân đ òi hỏi hoa trời này

đây.

Vị giáo sĩ nói:

- Tôi đầy đủ những đức tính ấy.

Thế là ông ta được trao hoa để mang. Rồi

ông đến xin vị thần thứ tư, v ì này

đọc b ài kệ thứ tư:

Kẻ nào chẳng phê bình người tốt

Dù sau lưng hay trước mặt người

Làm tròn việc đúng như lời,

Xứng đ òi phần thưởng hoa trời này

đây.

Giáo sĩ nói:

- Tôi đầy đủ các đức tính n ày.

Và ông được trao hoa để mang.

Như vậy các vị Thần tặng bốn tràng hoa cho giáo sĩ rồi quay về cõi

trời. Khi các Thần vừa ra đi, giáo sĩ bị

một cơn đau khốc liệt tấn công, ở trong đầu như có mũi nhọn đâm v à

như có đồ vật bằng sắt đập v ào.

Cuồng trí vì đau đớn, ông lăn lộn vật v ã

và kêu la ầm ĩ. Khi mọi người hỏi:

- Thế này là sao?

- Tôi tự xưng có những đức hạnh m à

tôi vốn không có. Tôi đ ã nói dối

để xin các Thần ấy những bông hoa n ày,

hãy gỡ hoa ra khỏi đầu tôi.

Họ liền gỡ hoa ra nhưng không được v ì

hoa đ ã gắn chặt như một vành sắt.

Thế rồi họ đỡ ông ta l ên và

đưa ông về nh à. Vua bảo các cận

thần:

- Bà-la-môn ác hạnh kia sắp chết, ta nên làm gì

đây?

- Tâu Ðại vương - các quan đáp - chúng

ta h ãy tổ chức một lễ hội. Các Thiên Thần sẽ trở lại.

Vua liền tổ chức một lễ hội và các Thiên Tử ấy trở lại và làm ngập

tràn thành phố với hương thơm của các bông hoa kia, họ

đứng tại chỗ cũ trong sân chầu. Dân chúng

tụ tập v à mang Bà-la-môn ác hạnh kia,

đặt nằm sấp xuống trước các Thi ên

thần. Ông ta van xin các Thần:

- Kính lạy các ngài, xin hãy tha mạng cho tôi.

Các Thần bảo:

- Các bông hoa này không thích hợp với một kẻ

độc ác xấu xa. Trong tâm, ông đ ã

định lừa dối chúng ta v à ông

đ ã phải nhận lấy hậu quả của những

lời ông nói dối.

Sau khi quở trách mọi người, các Thần gỡ tràng hoa khỏi

đầu ông, khuyến dụ mọi người rồi quay về

trú xứ ri êng của họ.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong. Ngài nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à

Bà-la-môn ấy, Ca-diếp là một trong các Thiên thần, Mục-kiền-liên là vị

Thần thứ hai, Xá-lợi-phất là vị Thần thứ ba, còn ta là vị Thần Trưởng

chúng.

-ooOoo-

327. Chuyện Hoàng Hậu Kàkati (Tiền thân Kàkati)

Hương quyện quanh tôi là hơi thở ...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo

hối tiếc vì đ ã thọ giới xuất gia.

Vào dịp này, bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo ấy rằng có thật ông

đ ã buồn chán không và khi ông trả

lời:

- Bạch Thế Tôn thật thế.

Bậc Ðạo Sư dạy:

- Không thể canh phòng phụ nữ. Không có cách gìn giữ họ an toàn. Các

trí giả ngày xưa đ ã

đặt một phụ nữ ở giữa biển, trong một cung

điện gần hồ Simbal ì (trên đỉnh núi

Tu-di) m à vẫn không thể giữ danh tiết của nàng.

Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là

thái tử, con của chánh hoàng hậu. Ngài lớn lên và khi vua cha mất, ngài

nối ngôi, Kàkàti là chánh hoàng hậu của ngài, xinh

đẹp như một ti ên nữ. Hình thức cũ

của huyền thoại này sẽ được kể đầy đủ trong

số 536, Tiền thân Kun àla. Sau đây

chỉ l à phần vắn tắt của chuyện.

Bấy giờ có một vua Garuda (Kim sí điểu:

chim thần cánh v àng) giả trang làm ông người

đ àn ông

đến chơi súc sắc với vua Ba-la-nại. Vua chim thần Garuda đâm ra y êu

hoàng hậu Kàkàti, nên mang nàng về trú xứ của loài Gadura và sống hạnh

phúc với nàng ở nơi ấy. Vua Ba-la-nại mất nàng liền bảo một nhạc công

tên là Natakuvera đi t ìm nàng.

Nataluvera thấy vua chim đang nằm tr ên

đệm cỏ eraka ở một cái hồ nọ. Khi chim thần

Garuda sắp rời nơi ấy, ch àng liền ngồi giữa

đám lông của vương điểu v à nhờ cách

ấy mà chàng được chở đến trú xứ của lo ài

chim thần Garuda.

Tại đây, ch àng

được hưởng những đặc ân của ho àng

hậu, sau đó ch àng lại ngồi trên cánh

chim thần kia và trở về nhà. Thế rồi vào lúc vua chim Garuda

đến chơi súc sắc với vua Ba-la-nại, ch àng

nhạc công cầm đ àn bước lên chỗ hai

người chơi súc sắc, đứng trước vua v à

chàng đọc b ài kệ

đầu dưới h ình thức một bài ca:

Hương quyện quanh tôi là hơi thở

Của mối tình người ở nơi xa.

Kà-kà-ti đẹp ấy m à

Khiến tôi rung động sâu xa trong l òng.

Nghe thế, chim thần Garuda trả lời bằng bài kệ thứ hai:

Vượt qua biển, qua dòng Ke-buk,

Phải ch ăng người đến được đảo ta?

Bảy v ùng biển rộng bay qua.

Sim-bal rừng ấy người đ à

đến nơi?

Natakuvera nghe thế, liền đọc bài kệ thứ ba:

Khắp trời rộng, nhờ ngài tôi vượt,

Và tôi đây đến được Sim-bal,

Bay ngang bao biển, bao sông,

Mối t ình tôi gặp, nhờ phần ngài thôi.

Vương điểu Garuda đọc b ài kệ thứ

tư:

Thật cuồng si, việc tôi xảo trá,

Khiến tôi thành một gã ngu đần

Người y êu nên giữ riêng phần,

Kìa! Tôi phục vụ như hàng mối mai.

Thế rồi chim Garuda nọ mang hoàng hậu trả về cho vua Ba-la-nại và

không bao giờ trở lại nữa.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc

Tứ Ðế, Tỷ-kheo bất mãn đắc quả Dự Lưu.

Và Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ Tỷ-kheo bất mãn kia là Natakuvera, còn Ta là vua ấy.

-ooOoo-

328. Chuyện Không Khóc Người Chết (Tiền thân Ananusociya)

Sao ta nhỏ lệ vì em chứ ...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một người chủ

đất có vợ chết. Ch àng chẳng thiết

tắm rửa, ăn uống, bỏ b ê công việc

nông trại. Quá sầu đau, ch àng lang

thang khắp nghĩa địa m à than vãn

trong khi nghiệp lực từ đời trước đưa đến

quả Dự Lưu đang bừng cháy như một ngọn lửa trong đầu ch àng.

Bậc Ðạo Sư vào lúc sáng sớm, quan sát khắp thế gian,

đ ã thấy

được ch àng. Ngài tự nghĩ: "Ngoài Ta ra, không ai có thể giải

được nỗi sầu muộn của người n ày và

ban n ăng lực cho ch àng nhập Dự Lưu.

Ta sẽ là chỗ an trú cho chàng".

Thế là khi Ngài đi khất thực trở về v à

thọ thực xong. Ngài đem theo Tỷ-kheo thị

giả v à đi đến nh à người chủ

đất ấy. Khi nghe bậc Ðạo Sư

đến, ch àng liền ra

đón Ng ài, cung kính mời Ngài ngồi

vào chỗ đ ã soạn sẵn rồi

đảnh lễ Ng ài và ngồi xuống bên.

Bậc Ðạo Sư hỏi:

- Này cư sĩ, vì sao ông im lặng thế?

Chàng đáp:

- Bạch Thế Tôn, con đang sầu muộn v ì

nàng.

Bậc Ðạo Sư dạy:

- Này cư sĩ, cái gì có thể tan rã thì tan rã, nhưng khi

điều n ày xảy ra, người ta không nên

phiền muộn. Các bậc hiền trí ngày xưa, khi mất vợ, họ biết chân lý này

và do đó họ không đau buồn.

Rồi do yêu cầu của chàng, bậc Ðạo Sư kể một chuyện

đời xưa.

*

Câu chuyện này sẽ được kể trong số 443.

Tiền thân Cullabodhi ở Chương Mười. Sau đây chỉ l à phần tóm tắt

của câu chuyện.

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi

lớn lên, ngài theo đuổi tất cả các môn học

nghệ tại Takkasil à rồi trở về với cha mẹ ngài. Ở Tiền thân này,

bậc Ðại Sĩ trở thành môn đồ của đạo Thánh

hiền. Cha mẹ ng ài bảo ngài là họ sẽ tìm cho ngài một người vợ.

Bồ-tát nói:

- Con không muốn sống đời có vợ con. Khi

cha mẹ qua đời, con sẽ sống đời của một nh à tu khổ hạnh.

Vì cha mẹ cừ nài nỉ mãi, ngài sai làm một bức tượng bằng vàng và bảo:

- Nếu cha mẹ kiếm cho con được một thiếu

nữ giống như trong tượng n ày thì con sẽ lấy làm vợ.

Cha mẹ ngài liền sai vài thám tử cùng với một số lớn tùy tùng và bảo

họ đặt tượng v àng trong một xe

đóng kín rồi đi t ìm kiếm khắp các

đồng bằng nước Ấn Ðộ,

đến khi n ào tìm thấy

được một tiểu thư B à-la-môn giống

như vậy thì đem tượng v àng

đổi lấy v à

đem thiếu nữ về cho họ.

Bấy giờ có một thánh giả kia từ cõi Phạm Thiên tái sinh dưới hình

thức một thiếu nữ ở một thành phố thuộc vương quốc Kàsi, trong ngôi nhà

của một Bà-la-môn gia sản tới tám tr ăm

triệu đồng. Thiếu nữ t ên là Sammillabhàsini. Ở tuổi mười sáu,

nàng là một thiếu nữ tươi đẹp, dễ thương,

giống như một ti ên nữ mang đủ mọi

nét đẹp nữ giới.

Mãnh lực của đam m ê tội lỗi không

hề nảy sinh được một ý nghĩ xấu n ào

trong nàng nên nàng thật là hoàn toàn thuần khiết. Những người kia mang

tượng vàng đi khắp đó đây cho đến khi họ

tới ngôi l àng ấy. Dân làng trông thấy tượng liền hỏi:

- Tại sao Simmillabhàsini, con gái của người Bà-la-môn ấy lại

được đặt ở đó?

Các thị giả nghe thế liền tìm đến gia đ ình

Bà-la-môn ấy và chọn Sammillabhàsini làm hôn thê cho chủ của họ. Nàng

nhắn với cha mẹ.

- Khi cha mẹ mất, con sẽ sống đời tu h ành,

con không muốn lập gia đ ình.

Cha mẹ nàng bảo:

- Này cô, cô nghĩ gì thế chứ?

Rồi họ nhận tượng vàng và gởi con gái đi

c ùng với một đo àn tùy tùng

đông đảo. Lễ cưới được cử h ành trái

với ý nguyện Bồ-tát và Sammillabhàsini. Dù phải chia xẻ chung một phòng,

một giường, cả hai vẫn không nhìn nhau bằng con mắt dục lạc tội lỗi, mà

cùng sống với nhau như hai nam hay hai nữ tu sĩ thanh tịnh.

Chẳng bao lâu cha mẹ của Bồ-tát qua đời,

ng ài lo tang lễ, rồi gọi Sammillabhàsini

đến v à bảo:

- Này em yêu, tài sản của gia đ ình

ta lên tới tám tr ăm triệu đồng v à

tài sản của gia đ ình em cũng

đáng giá tám trăm triệu đồng nữa. Em h ãy

lấy hết đi v à hãy sống cuộc

đời của một gia trưởng. Ta sẽ trở th ành

một người tu khổ hạnh.

Nàng trả lời:

- Chàng ơi, nếu chàng trở thành một ẩn sĩ thì em cũng sẽ trở thành

một ẩn sĩ, em không thể bỏ chàng được.

- Thế thì nàng hãy làm như thế đi. Ch àng

nói.

Như vậy họ tiêu hết gia sản bằng cách bố thí và vứt bỏ gia tài của họ

như nhổ bỏ một búng đ àm, rồi cả hai

người đi v ào vùng Tuyết Sơn và theo

cuộc đời khổ hạnh. Sau khi đ ã sống

một thời gian lâu bằng cách lượm hái trái, rễ cây, họ rời dãy Tuyết Sơn

đi xuống kiếm muối v à giấm, rồi dần

dần họ tìm thấy đường đến Ba-la-nại v à

sau đó họ trú trong vườn cây của nh à

vua.

Trong khi họ sống ở đó, vị ẩn sĩ trẻ

tuổi mảnh mai n ày vì phải ăn cơm

nhạt của loại gạo trộn m à bị bịnh kiết lỵ hành hạ và không có

được thuốc chữa n ên nàng trở nên quá

gầy yếu. Bồ-tát trong khi đi khất thực phải

ẵm n àng theo, mang nàng đến cổng th ành

và đặt n àng nằm trên một cái ghế dài

trong một tiền đường rồi v ào thành

khất thực. Khi Bồ-tát vừa mới ra đi th ì

nàng tắt thở. Mọi người thấy vị nữ tu khổ hạnh sắc

đẹp phi thường, liền tụ họp đến quanh n àng

khóc lóc tiếc thương. Sau khi đi khất thực

trở về, Bồ-tát nghe n àng đ ã

chết liền bảo:

- Cái gì có tính chất tan rã thì tan rã. Mọi hiện hữu vô thường

đều thuộc loại n ày cả.

Nói thế xong, ngài ngồi xuống chiếc ghế dài nàng

đang nằm v à

ăn thức ăn trộn rồi súc mịệng. Mọi người

đứng gần đó tụ tập lại quanh ng ài và nói:

- Bạch Tôn giả, vị nữ tu khổ hạnh này là gì của ngài?

Ngài đáp:

- Khi tôi còn là cư sĩ, nàng đ ã

là vợ tôi.

Họ nói:

- Bạch Tôn giả, trong khi chúng tôi khóc lóc tiếc thương và không thể

ng ăn được xúc động, tại sao ng ài lại

không khóc?

Bồ-tát bảo:

- Khi nàng còn sống, nàng đ ã

thuộc về tôi theo một số phận nào đó. Khi n àng

sang thế giới khác, chẳng có gì thuộc về nàng cả. Nàng

đ ã bước vào lãnh vực của các vị

khác. Thế thì tại sao tôi lại phải khóc nàng?

Rồi ngài thuyết giảng Chân lý cho mọi người qua các bài kệ sau

đây:

Sao ta nhỏ lệ vì em chứ,

Hỡi Sam-mil-la-bhà-si-ni.

Em xinh đẹp đ ã chết

đi

Từ nay ta hẳn c òn gì em đâu?

Kẻ yếu đuối âu sầu g ì chớ?

Khóc lóc làm chi những thứ mượn vay?

Tử vong đ ã hơi thở này,

Thì từng giờ phút trao tay tử thần.

Dầu ai đứng hay đang ngồi đó,

Ðang nằm hay dời chỗ, gì ch ăng,

Chỉ trong chớp mắt qua ngang,

Chỉ trong một lúc tử thần kề ngay.

Ðời bất ổn ta đây đ ã tính,

Mất bạn bè chẳng tránh được ra.

H ãy yêu mọi thứ còn kia,

Chớ buồn khi chúng phải lià xa ta.

Bậc Ðại Sĩ thuyết giảng Chánh pháp qua các bài kệ này sẽ giải thích

sự vô thường của vạn vật. Mọi người hoàn tất lễ tang cho vị nữ tu ấy.

Còn Bồ-tát quay về dãy Tuyết Sơn, đạt tuệ

giác cao hơn do Thiền định, rồi ng ài tái sanh cõi Phạm thiên.

*

Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần

kết thúc Tứ Ðế, người chủ đất đắc quả Dự

Lưu. Sau đó bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ mẹ của La-hầu-la là Sammillabhàsini, còn Ta là nhà tu khổ

hạnh ấy.

-ooOoo-

329. Chuyện Con Khỉ

Đen Lớn (Tiềnthân K àlabàhu)

Ta từng hưởng lắm thức ăn ...,

Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú lại Trúc Lâm về việc Ðề-bà- đạt-đa

mất các lợi dưỡng v à danh vọng.

Khi Ðề-bà- đạt-đa đ ã nuôi lòng

hiềm thù đức Phật một cách phi pháp v à

sai một xạ thủ giết Ngài, tội lỗi của ông ai ai cũng biết qua việc ông

thả con voi Nàlàgiri ( để l àm hại

đức Phật). Thế rồi mọi người lấy mất trú xứ

v à các khẩu phần của ông và vua chẳng

đoái ho ài

đến ông nữa. Khi đ ã mất nguồn lợi

dưỡng và danh vọng, ông ta đi khắp nơi sống

bằng cách xin các nh à quyền quí.

Các Tỷ-kheo bắt đầu b àn tán trong

Pháp đường rằng Ðề-bà- đạt-đa

đ ã nghĩ ra cách thu đạt lợi dưỡng v à

danh vọng thế nào và khi đ ã kiếm

được chúng th ì ông ta lại không thể

giữ được chúng. Bậc Ðạo Sư

đến v à hỏi các Tỷ-kheo

đang ngồi b àn việc gì; khi nghe kể

lại, Ngài dạy:

- Này các Tỷ-kheo, chẳng phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế, Ðề-bà- đạt-đa

đ ã bị tước mất các lợi dưỡng và danh vọng.

Rồi Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một con vẹt tên

là Ràdha. Ngài là một con vẹt khỏe mạnh, chân và cánh

đều to àn hảo. Con vẹt em trai ngài

tên là Potthapàda. Một người bẫy chim kia bẫy

được đôi chim n ày và mang chúng

đến dâng vua Ba-la-nại. Vua bỏ cả hai con

v ào trong một chiếc lồng bằng vàng, ch ăm

sóc chúng, cho chúng ăn mật v à bắp rang

đựng trong một chiếc đĩa bằng v àng

và cho uống nước đường. Chúng được chú ý

chăm sóc đặc biệt, v à đạt lợi dưỡng

danh vọng cao vời nhất.

Thế rồi một người thợ rừng nọ mang đến

dâng vua một con khỉ đen lớn t ên là Kàlabàhu (Ðen lớn). Vì khi

đến sau các con vẹt n ên nó nhận

được lợi dưỡng v à cung kính nhiều

hơn, trong khi ấy đôi vẹt lại không c òn

được trọng vọng như trước.

Bồ-tát nhờ có các đức tính của bậc Giác

Ngộ n ên chẳng nói một lời, nhưng em ngài vì không có

đức tính ấy n ên không thể chịu nổi

sự trọng vọng mà người ta dành cho con khỉ, liền nói:

- Anh ơi, trước kia, ở cung điện vua, họ

cho chúng ta thức ăn ngon, c òn bây giờ chúng ta chẳng

được g ì cả, họ dâng hết mọi thứ cho

con khỉ Kàlabàhu. Vì chúng ta không nhận

được lợi dưỡng trọng vọng do vua ban. Nơi đây, chúng ta phải l àm

gì chứ? Này chúng ta hãy đi v ào rừng

mà sống.

Vẹt em nói thế và đọc b ài kệ

đầu:

Ta từng hưởng lắm thức ăn,

Khỉ kia nay lại được phần ta xưa.

R à-dha hãy đến rừng gi à,

Cách người xử tệ sửa ra thế nào?

Ràdha nghe thế liền đọc b ài kệ

tiếp:

Dù là được, mất ra sao,

Khen, ch ê, vui, khổ, vinh cao, nhục dày,

Ðều là giả tạo, đổi thay.

Sao em lại cứ ngập đầy sầu đau?

Nghe thế, Potthapàda vẫn không thể bỏ

được hiềm th ù với con khỉ liền đọc b ài

kệ thứ ba:

Rà-dha, chim trí tuyệt cao,

Hẳn anh phải biết việc nào xảy ra.

Ai sẽ là người đuổi t ên kia

Từ triều vua trở lại nhà nó xưa?

Ràdha nghe thế liền đọc b ài kệ

thứ tư:

Mặt nh ăn, tai động ấy m à,

Sẽ làm bầy trẻ vương gia hãi hùng.

Khỉ kia tinh quái lạ thường,

Ngày kia sẽ chạy tìm đường kiếm ăn.

Chỉ ít lâu sau, khỉ ta lúc lắc đôi tay,

chọc phá l àm cho các vương tử bé nhỏ sợ hãi la ré lên. Vua hỏi

xem việc gì đ ã xảy ra và khi nghe kể

lý do, ngài phán:

- Ðuổi nó đi!

Thế là con khỉ bị đuổi đi v à

đôi vẹt lại trở về ho àn cảnh như

trước, được lợi dưỡng v à trọng vọng.

*

Khi thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à

Kàlabàhu, Ànanda là Potthapàda, còn Ta là Ràdha.

-ooOoo-

330. Chuyện Thử Thách Giới

Đức (Tiền thân Silav ìmamsa)

Quyền lực trên đời khó sánh t ày

...,

Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Bà-la-môn

từng thử thách đức hạnh của m ình.

Hai câu chuyện tương tự đ ã

được kể trước đây (số 86 v à 290). Ở

đây, Bồ-tát l à vị giáo sĩ hoàng gia

của vua Ba-la-nại.

*

Ðể thử thách đức hạnh của m ình,

luôn trong ba ngày, mỗi ngày ngài lấy một

đồng tiền trong kho của vua. Ng ài bị cáo là gian trộm và bị

đưa ra trước nh à vua. Ngài nói:

Quyền lực trên đời khó sánh t ày,

Ðức hiền uy lực diệu kỳ thay.

Khi mang lấy dáng dấp hiền hậu,

Rắn độc tránh điều tổn hại ngay.

Sau khi ca ngợi đức hạnh bằng b ài

kệ trên và được vua thỏa ý, ng ài

sống đời tu khổ hạnh. Bấy giờ có một con

diều hâu chộp được một miếng thịt trong một h àng bán thịt kia,

cắp thịt vào chân và bay vù lên không. Bọn chim liền vây lấy nó, tấn

công nó bằng chân, bằng vuốt và mỏ. Không chịu nổi

đau đớn, diều hâu ấy đ ành thả miếng

thịt. Một con khác chộp lấy thịt, con này cũng bị tấn công, bị

đau như trước đ ành thả rơi miếng

thịt. Rồi một con khác sà xuống vồ miếng thịt. Hễ con nào

được thịt th ì bị

đám c òn lại

đuổi theo v à con nào nhả thịt ra thì

được y ên thân. Bồ-tát thấy thế liền

nghĩ: "Những tham dục của chúng ta cũng giống như những miếng thịt. Ai

nắm lấy chúng thì bị đau khổ, ai thả chúng

ra th ì được an b ình".

Và ngài đọc b ài kệ thứ hai

Chim cắt đang khi có thức ăn,

Bọn chim mồi đến mổ đau ran;

Khi chim đ ành thả rơi phần thịt,

Bọn chúng liền thôi, chẳng ngó ngàng.

Rồi vị khổ hạnh đi ra khỏi th ành

phố.

Trên đường dong ruổi, ng ài

đến một ngôi l àng kia và vào lúc

chiều tối, ngài nằm nghỉ trong nhà của một người nọ.

Bấy giờ có một nữ tỳ tên Pingalã hẹn hò với một nam nhân: "Anh hãy

đến v ào giờ ấy, giờ ấy ..." Sau khi

rửa chân cho chủ và gia đ ình chủ và

khi mọi người đều nằm ngủ, cô ta ngồi ở bậc

cửa chờ t ình nhân đến. Suốt canh một

v à canh hai cô đều tự bảo: "Bây giờ

ch àng sắp đến rồi!."

Nhưng khi trời sáng, cô hết hy vọng và tự bảo: "Thế là chàng không

đến!" Rồi cô ta nằm xuống v à ngủ

ngon.

Bồ-tát thấy chuyện xảy ra như thế liền tự bảo: "Người phụ nữ này từng

ngồi quá lâu như thế hy vọng người tình sẽ

đến; nhưng bây giờ n àng biết anh ta không

đến, trong cơn thất vọng, n àng ngủ

thật an bình. Ngài liền đọc b ài kệ

thứ ba:

Vui thay mơ ước được ho àn

thành.

Trái ngược dường bao, mộng vỡ nhanh.

Hy vọng tiêu tan, dù chán nản.

Pin-ga-là đấy! Ngủ an l ành.

Ngày hôm sau, ngài ra khỏi làng và đi v ào

một khu rừng trông thấy một vị ẩn sĩ đang

ngồi tr ên đất chuy ên tâm

thiền định. Ng ài nghĩ: "Ở

đời n ày và cả

đời sau, không có hạnh phúc n ào hơn

niềm cực lạc của thiền định".

Rồi ngài đọc b ài kệ thứ tư:

Ở cõi này hay ở cõi nào,

Không gì vượt hỷ lạc thiền đâu

Kẻ n ào miệt mài tu thanh tịnh

Thân được b ình an, hại chẳng vào.

Thế rồi, ngài đi sâu v ào rừng,

sống cuộc đời ẩn dật của một vị Rishi (Ti ên

nhân chứng đạo) phát huy thắng trí do thiền

định rồi được v ào cõi Phạm thiên.

*

Thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, Ta đây l à vị giáo sĩ

nọ.

-ooOoo-

331. Chuyện Trưởng lão Kokàlika (Tiền thân Kokàlika)

Kẻ phạm lỗi nói không thích đáng...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về Trưởng lão

Kokàlika. Câu chuyện khởi đầu được kể đầy

đủ ở số 481, Tiền thân Takk àrika.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị

đại thần rất được vua trọng vọng. Bấy giờ

vua có tính lắm lời. Bồ-tát tự nghĩ: "Ta sẽ l àm dứt tính huyên

thuyên của vua". Và ngài chờ đợi dịp thuận

tiện để giảng giải cho vua.

Một hôm vào trong vườn cây và ngồi trên một phiến

đá d ành cho mình. Vua ngồi xuống gốc

cây xoài, trên đó có một con chim cu đen đẻ

trứng v ào tổ của một con quạ rồi bỏ

đi. Con quạ mái chăm lo cái trứng con chim cu. Chẳng bao lâu, trứng nở

ra một chim cu con. Quạ tưởng rằng đấy chính l à con của nó nên nó

ch ăm sóc chim cu, mang mồi về cho nó ăn.

Con chim nhỏ c òn chưa đủ lông đủ

cánh, đ ã kêu lên tiếng chim cu non nớt. Quạ liền nghĩ: "Con chim

non này ngay bây giờ đ ã thốt lên

giọng lạ lùng. Khi nó lớn lên nó sẽ còn làm gì nữa? "Thế là quạ lấy mỏ

mổ chết chim cu và ném nó ra khỏi tổ. Xác chim cu rơi xuống chân vua.

Vua hỏi Bồ-tát:

- Này khanh, thế này là nghĩa gì?

Bồ-tát nghĩ: "Ta đang t ìm việc

tốt để giảng cho vua một b ài học, và

nay ta đ ã

được dịp ấy rồi". V ì vậy ngài nói:

- Tâu Ðại vương, những hạng lắm lời, nói quá nhiều không

đúng lúc, đều phải gặp như thế. Tâu

Ðại vương, chim cu nhỏ bé này được quạ nuôi

nấng, khi c òn chưa đủ lông cánh, nó

đ ã thốt lên một tiếng kêu quá sớm. Thế là quạ biết rằng

đấy không phải l à con của nó liền mổ

chết và ném nó ra khỏi tổ. Tất cả những ai nói không

đúng lúc v à nói nhiều quá, dù cho

đó l à người hay vật

đều phải chịu đau khổ như thế cả.

Rồi ngài đọc b ài kệ sau:

Kẻ phạm lỗi nói không thích đáng,

Như chim cu tận mạng oan thôi.

D ù cho thuốc độc, gươm m ài,

Cũng không tàn hại bằng lời nói sai

Người khôn đắn đo ho ài lời nói,

Với người thân không vội tỏ lòng.

Muốn trao lời, xét tận cùng

Như Kim sí điểu bắt Thần rắn kia.

Từ khi Bồ-tát thuyết giáo như thế, vua trở nên

đắn đo trong lời nói. Vua c àng trọng

vọng Bồ-tát và ban ân tứ cho ngài càng nhiều hơn mãi.

*

Sau khi thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy Kokàlika là con chim cu nhỏ ấy, còn Ta là vị thần hiền

trí.

-ooOoo-

332 Chuyện Chiếc Gậy Thúc Xe (Tiền thân Rathalatthi)

Hại người lại tỏ mình bị hại ...,

Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về vị giáo sĩ

của vua Kosala.

Tương truyền khi vị giáo sĩ đang đánh xe

đến một ngôi l àng thuộc địa phận của

ông bỗng gặp phải một đo àn xe trên một con

đường hẹp. Ông la l ên:

- Tránh ra các người!

Khi một chiếc xe không tránh ra ngoài

đường đi, ông tức giận quá, liền ném chiếc gậy thúc ngựa v ào

người đánh xe ấy. Chiếc gậy chạm v ào

ách xe ấy và dội trở lại trúng vào trán ông, khiến ông bị u

đầu. Giáo sĩ quay trở về v à

đến tâu với vua rằng ông bị bọn đánh xe l àm

bị thương. Những người đánh xe ấy được gọi

đến. Các phán quan tra cứu trường hợp ấy v à thấy rằng chỉ riêng

giáo sĩ có lỗi.

Một hôm chuyện ấy được b àn tán

trong Pháp đường. Các Tỷ-kheo b àn về

việc giáo sĩ của vua bảo rằng ông ta bị một số người

đánh xe tấn công v à khi

được vua xử, ông ta bị thua kiện. Bậc

Ðạo Sư đến v à hỏi các Tỷ-kheo

đang ngồi b àn việc gì. Khi

được nghe kể lại, Ng ài dạy:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa người kia cũng

đ ã hành

động giống y như thế.

Rồi ngài kể cho họ nghe một chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là vị phán

quan của nhà vua. Vị giáo sĩ của vua đánh

xe về ngôi l àng do ông đứng đầu, thế

rồi cũng h ành động giống y như

chuyện tr ên đây. Nhưng ở chuyện n ày

khi vua nghe giáo sĩ kể chuyện, liền gọi những người

đánh xe lại v à chính vua ngồi xử.

Vua chẳng có xem xét gì đến sự việc m à

lại nói:

- Các ngươi đ ã

đánh giáo sĩ của ta v à làm cho trán

của ông sưng lên.

Rồi vua ra lệnh thâu hết tài sản của họ.

Bấy giờ, Bồ-tát nói với vua:

- Tâu Ðại vương, ngài không tra xét sự việc mà lại phán rằng họ phải

bị tịch thu hết của cải. Nhưng có nhiều người sau khi tự làm tổn thương

mình lại tuyên bố rằng họ bị người khác làm tổn thương. Do

đó, người n ào thi hành luật pháp mà

không xét vụ án thì thật là sai lắm. Vị ấy không nên hành

động cho đến khi nghe hết mọi sự.

Rồi ngài đọc các b ài kệ sau

đây:

Hại người, lại tỏ mình bị hại

Mình đánh người, than phải đ òn

thoi.

Trí nhân thận trọng xét soi,

Nghe hai bên trước, tuyên lời chánh chân.

Ghét thế nhân dục tầm, biếng nhác,

Người giả tu dối gạt rành rành!

Hôn quân thường quyết định nhanh,

M à không nghe rõ sự tình ra sao.

Nóng giận không đời n ào có thể

Trong người hiền hợp lẽ biện minh.

Ðời đời công chính vang danh,

Quân vương cân nhắc ban h ành lệnh ra.

Nhà vua nghe lời Bồ-tát, liền phán xét thật công minh và vụ án kia

được xét xử đúng đắn, phần lỗi thuộc về

giáo sĩ ấy m à thôi.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt thuyết giảng và nhận diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, vị Bà-la-môn đóng c ùng

một vai trong cả hai câu chuyện, còn Ta là vị quan hiền trí.

-ooOoo-

333. Chuyện Con Tắc Kè (Tiền thân Godha)

Ngài cho tôi biết rõ ra...,

Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một người chủ

đất nọ. Câu chuyện khởi đầu đ ã

được kể đầy đủ trước đây (số 328). Nhưng ở

đây, khi hai vợ chồng đi đ òi nợ trở về, trên

đường họ gặp một số người đi săn, những

người n ày cho họ một con tắc kè quay và bảo cả hai hãy

ăn món ấy. Người chồng bảo vợ đi kiếm nước,

rồi anh ta ăn hết cả con tắc k è. Khi vợ trở lại, anh ta nói:

- Này em, con tắc kè đ ã chạy mất

rồi!

Nàng nói:

- Ðược rồi, thưa chàng, con tắc kè chạy rồi thì ai làm gì

được?

Nàng uống một ít nước, sau đó cả hai đến

Kỳ Vi ên. Khi ngồi hầu bậc Ðạo Sư, Ngài hỏi người vợ như sau:

- Này cư sĩ, ông này có ân cần, thương yêu và giúp

đỡ b à không?

Nàng trả lời:

- Con thương yêu, ân cần với chàng, nhưng chàng chẳng hề thương yêu

con.

Bậc Ðạo Sư dạy:

- Ðược rồi, giả như ông đ ã cư xử

với bà như thế thì cũng chớ buồn rầu. Khi ông nhớ lại các

đức hạnh của b à, ông sẽ ban riêng

cho bà quyền lực tối cao.

Rồi do yêu cầu của hai vợ chồng. Ngài kể một chuyện

đời xưa .

*

Chuyện kể này cũng giống chuyện kể trên, nhưng ở

đây, khi hai vợ chồng thái tử đang tr ên

đường trở về cung vua, một đám thợ săn thấy

họ quá khốn khổ, đ ã cho họ một con tắc kè quay và bảo họ chia nhau

ăn. Người vợ lấy một cây leo l àm dây

cột nó rồi xách nó theo dọc đường. Khi đến

một cái hồ, họ rời đường chính v à

đến ngồi dưới một gốc cây đa. Thái tử bảo:

- Này em, hãy đi xuống hồ, d ùng

một ngọn lá sen mà kiếm nước, sau đó chúng

ta sẽ ăn phần thịt n ày.

Người vợ treo con tắc kè lên một cành cây và

đi kiếm nước. Người chồng ăn hết cả con tắc

k è, ngồi quay mặt đi. Khi n àng

mang nước về, chàng nói:

- Này em, con tắc kè đ ã tụt xuống

cành cây và chui vào một đụn kiến. Ta chạy

theo v à chộp được chóp đuôi nó.

Nhưng nó đứt đôi ra v à nó chui biến vào trong lỗ,

để lại phần đuôi m à ta nắm

được đây.

- Ðược rồi chàng ạ - nàng nói - chúng ta biết tính sao

được khi con tắc k è

đ ã nướng lại chạy thoát

đi? N ào,chúng ta hãy lên

đường!

Uống nước xong, hai vợ chồng đi đến

Ba-la-nại. Thái tử l ên ngôi, phong cho vợ làm chánh hoàng hậu

nhưng đó chỉ l à một cái chức hờ, vua

chẳng ban cho nàng danh vọng gì cho nàng cả.

Bồ-tát muốn chiếm danh dự cho nàng nên

đứng trước vua, ng ài hỏi nàng:

- Tâu hoàng hậu, chẳng có lúc nào chúng thần

được lệnh b à cho thứ gì cả? Tại sao

lệnh bà lại chẳng kể gì đến chúng thần thế?

Hoàng hậu đáp:

- Này hiền khanh, ta chẳng nhận được g ì

của đức vua cả th ì làm sao ta có thể

ban tặng cho khanh được? Ðức vua có

thể ban tặng cho ta thứ gì nào? Hồi chúng ta còn trong rừng, ngài

đ ã một mình

ăn hết con tắc k è nướng.

- Tâu hoàng hậu, - Bồ-tát nói, - Có lẽ

đức vua không l àm như thế đâu, lệnh

b à chớ nói về đức vua như thế.

Hoàng hậu đáp:

- Này khanh, sự việc này còn chưa rõ đối

với khanh nhưng đ ã quá rõ đối với

vua v à ta.

Rồi hoàng hậu đọc b ài kệ

đầu:

Ngài cho tôi biết rõ ra

Ở trong rừng thẳm, trước kia, tâu ngài:

Tắc kè nướng bứt dây gai,

Từ cành đa nọ thoát ngay ấy m à.

Bên trong lớp áo vỏ dà,

Giáp dày, gươm sắc, tôi đ à rõ soi.

Hoàng hậu bày tỏ lỗi lầm của vua như thế trước các triều thần. Bồ-tát

nghe xong liền nói:

- Tâu hoàng hậu, từ khi đức vua không c òn

yêu lệnh bà nữa, tại sao bà còn tiếp tục sống nơi

đây l àm cho cả hai người phải phiền

hà như thế?

Rồi ngài đọc hai b ài kệ:

Ai trọng ta, ta thời xứng trọng,

Tỏ hảo tâm, hành động đáp đền;

Chẳng n ên tốt với bọn hèn,

Kẻ nào tránh mặt, chẳng nên yêu vì.

Kẻ bỏ ta, ta thì bỏ hẳn,

Chớ yêu thương kẻ chẳng thương ta.

Như chim lìa bỏ cây khô,

Bay tìm trú xứ nơi xa trong rừng.

Khi nghe Bồ-tát nói, vua nhớ lại những

đức hạnh của ho àng hậu, liền bảo:

- Này ái hậu, đ ã lâu ta không

để ý đến đức hạnh của n àng, nhưng

qua lời nói của bậc Hiền trí này, ta nhận biết các

đức hạnh ấy. H ãy thứ lỗi cho ta.

Trọn vương quốc này của ta, ta tặng riêng nàng

đấy.

Rồi vua đọc b ài kệ thứ tư:

Chức quyền cao quân vương có sẵn

Nên tỏ bày tình nặng nghĩa thâm,

Ta đem vương quốc tặng n àng

Hãy ban tặng phẩm cho hàng ái ưu.

Nói xong vua ban quyền lực tối cao cho hoàng hậu và tự nghĩ: "Chính

nhờ người ấy mà ta nhớ lại các đức hạnh của

n àng". Vua cũng ban quyền cao cho vị Hiền trí ấy.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần

kết thúc Tứ Ðế, cả hai vợ chồng ấy đều đắc

quả Dự Lưu.

Và bậc Ðaọ Sư nhận diện Tiền thân:

- Hai vợ chồng trong chuyện ngày nay cũng chính là hai vợ chồng trong

chuyện ngày xưa, còn Ta chính là vị Hiền trí.

-ooOoo-

334. Chuyện Khuyến Dụ Quốc Vương (Tiền thân Ràjovada)

Con bò đực vượt d òng

đi lạc hướng ...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về việc khuyến

dụ một ông vua. Câu chuyện khởi đầu sẽ được

kể đây đủ trong số 521. Tiền thân Tesakuna. Nhưng ở đây, bậc Ðạo

Sư dạy:

- Tâu Ðại Vương, các vị vua ngày xưa, khi

được nghe những lời dạy của bậc hiền trí, đ ã

trị vì rất công chính và đ ã

đạt đến c õi trời.

Rồi theo yêu cầu của vua, Ngài kể một câu chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi

lớn lên, ngài theo đuổi tất cả các học nghệ

rồi ng ài sống đời tu h ành

phát huy các Thắng trí và các Thiền chứng. Ngài trú trong một nơi tịnh

lạc của dãy Tuyết Sơn, sống bằng trái và rễ cây rừng.

Lúc bấy giờ, vua rất mong muốn tìm ra các khuyết

điểm của m ình, liền

đi khắp nơi xem ai có thể n êu ra các

lỗi lầm của ngài ch ăng. Nhưng ng ài

không tìm được ai nói đến khuyết điểm của

ng ài cả; trong triều, ngoài triều cũng không; trong thành, ngoài

thành cũng không nốt. Ngài nghĩ: "Tìm trong nước xem sao?"

Rồi ngài giả trang đi khắp nước nhưng

cũng không t ìm được ai nói tới

khuyết điểm, chỉ nghe nói tới công hạnh của ng ài. Vua lại nghĩ:

"Ở vùng Tuyết Sơn thì sao?" Thế là vua vào rừng và lang thang

đây đó cho đến khi gặp nơi ẩn dật của

Bồ-tát. Nơi đây vua ch ào Bồ-tát, thân mật hỏi han ngài và ngồi

xuống một bên. Bấy giờ Bồ-tát đang ăn mấy

trái sung chín m à ngài đ ã

mang từ trong rừng về. Sung ngon và ngọt như

đường mịn. Bồ-tát nói với vua:

- Thưa Ðại vương, ngài hãy dùng trái sung này và uống một ít nước.

Vua theo lời, rồi hỏi Bồ-tát:

- Thưa Tôn giả, sao trái sung chín này ngọt quá

đến như vậy?

Bồ-tát đáp:

-Thưa Ðại vương, vua hiện nay trị vì công chính, vì vậy trái sung này

ngọt như thế đấy.

- Thưa Tôn giả, thế thì trong một đời

vua bất chính, sung sẽ mất vị ngọt của nó chăng?

- Thưa Ðại vương, đúng thế. Trong các

thời vua bất chính th ì dầu, mật,

đường v.v... ngay cả rễ cây, trái rừng cũng đều mất đi vị ngon ngọt của

chúng. Chẳng những thế m à, toàn cả vương quốc

đều trở n ên dở dang, vô vị; nhưng

khi những nhà lãnh đạo công chính th ì

những thứ này trở nên ngon ngọt thơm tho, và toàn thể vương quốc

đầy vẻ thanh tao, v à hương ngào

ngạt.

Vua nói:

- Thưa Tôn giả, chắc hẳn là như thế.

Rồi chẳng để cho Bồ-tát biết rằng m ình

là vua, ngài chào Bồ-tát và quay về Ba-la-nại.

Ðể chứng nghiệm lời nói của vị ẩn sĩ, vua trị vì bất chính và tự

nghĩ: "Ta sẽ biết rõ mọi việc đúng sai như

thế n ào?. Chỉ ít lâu sau, vua quay trở lại rừng, chào Bồ-tát và

kính cẩn ngồi xuống một bên. Bồ-tát cũng nói

đúng như những lời trước kia, v à mời

ngài ăn một trái sung chín, nhưng sung lại

chát. Thấy sung chát, vua nhổ ra v à nói:

- Thưa Tôn giả, sung chát quá!

Bồ-tát nói:

- Thưa Ðại vương, hẳn vua là kẻ bất chính, vì khi các người lãnh

đạo bất chính th ì mọi vật, khởi

đầu từ các trái cây trong rừng, mất hết vị

ngọt ng ào thơm ngon của chúng.

Rồi ngài đọc b ài kệ sau:

Con bò đực vượt d òng

đi lạc hướng,

Ðàn cái theo, hàng ngũ rối tan tành.

Người cầm đầu theo các lối loanh quanh,

Dẫn bọn kém đến đường c ùng hèn mạt,

Toàn vương quốc, hận một đời phóng dật.

B ò đực kia, nếu hướng dẫn thẳng

đường,

Bầy cái theo sau nó sẽ ngay h àng.

Người cầm đầu, nếu theo đường công chính

Cả đám đông sẽ tránh điều bất hạnh

Khắp nước nh à sẽ hưởng lạc tịnh an.

Sau khi Bồ-tát trình bày về Chánh pháp, vua cho ngài biết rằng mình

là vua, và nói:

- Thưa Tôn giả, trước đây chính do ta m à

những trái sung được ngọt, rồi sau đó trở

th ành chát, nhưng nay ta sẽ làm cho chúng ngọt trở lại.

Rồi vua chào Bồ-tát và trở về, trị vì công chính, làm cho mọi sự trở

lại trạng thái nguyên thủy của nó.

-ooOoo-

335. Chuyện Chó Rừng (Tiền thân Jambuka)

Chó rừng, coi chừng đấy...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về việc Ðề-bạt- đạt-đa

bắt chước đức Phật. T ình tiết dẫn

đến câu chuyện đ ã được kể ở phần trước (số

204). Ðây là bản tóm tắt.

Khi bậc Ðạo Sư hỏi Xá-lợi-phất rằng Ðề-bà- đạt-đa

đ ã làm gì khi Trưởng lão đến gặp ông

ta. Trưởng l ão đáp:

- Bạch Thế Tôn, khi muốn bắt chước Ngài, ông ấy

đặt một cái quạt v ào tay con và nằm

xuống rồi Kokàlika lấy đầu gối thúc v ào

ngực ông ta. Thế đấy, khi bắt chước Ng ài,

ông ta phải gặp nạn.

Bậc Ðạo Sư dạy

- Ðiều ấy trước đ ã xảy

đến với Ðề-bà- đạt-đa

rồi.

Rồi do yêu cầu của Trưởng lão, Ngài kể câu chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là

một con Sư tử, trú tại một cái động trong d ãy

Tuyết Sơn. Một hôm, sau khi giết chết một con Bò và

ăn thịt nó xong, Sư tử uống một ngụm nước

rồi quay về hang. Một con Chó rừng trông thấy Sư tử v à vì không

thể chạy thoát được, nó nằm sấp xuống.

Sư tử hỏi:

- Này anh Chó rừng, anh làm gì thế?

Chó rừng đáp:

- Thưa ngài, tôi mong làm tôi tớ của ngài.

Sư tử nói:

- Ðược, hãy làm thế đi.

Rồi Sư tử dẫn nó về nơi mình ở, hàng ngày mang thịt về cho nó

ăn. Chó rừng mập ra nhờ thịt vụn do Sư tử

mang về.

Một hôm, cảm thấy niềm tự hào nổi lên trong mình, Chó rừng liền

đến gần Sư tử v à bảo:

- Thưa ngài, tôi là một vật chướng ngại cho ngài. Ngài cứ phải mang

thịt về nuôi sống tôi mãi. Hôm nay, ngài hãy ở lại

đây. Tôi sẽ đi giết một con voi v à

sau khi ăn no n ê xong, tôi sẽ mang

thịt về cho ngài.

- Này bạn Chó rừng, chớ nuôi ý nghĩ ấy. Bạn

đâu có phát xuất từ một d òng giống

giết voi mà ăn thịt? Voi chắc chắn l à

thân thể to lớn. Ðừng mang lấy điều g ì

trái với bản chất của bạn, hãy nghe lời ta

đi.

Và Sư tử liền đọc b ài kệ

đầu:

Chó rừng, coi chừng đấy!

Ðôi ngà voi dài ấy.

Loài bạn bé tí hon

Khó có được một con

Dám đối mặt thú nọ

Oai h ùng và đồ sộ.

Mặc dầu Sư tử can ng ăn, Chó rừng vẫn ra

khỏi hang. Hú l ên ba lần tiếng hú của chó rừng. Nó nhìn xuống núi

và trông thấy một con voi đang đi dưới ấy.

Nó định nhảy xuống đầu voi, liền phóng l ên, lộn nhào trên không

rồi rớt xuống chân voi. Voi nhấc chân trước

đạp v ào đầu Chó rừng vỡ ra từng m ảnh.

Chó rừng nằm đó r ên la. Voi rống lên

và bỏ đi.

Bồ-tát đến v à

đứng tr ên

đỉnh dốc thấy Chó rừng đ ã phải chuốc

lấy cái chết như thế nào, liền tự bảo: "Chó rừng này bị giết vì quá tự

phụ."

Rồi ngài đọc ba b ài kệ sau:

Chó rừng nọ mang oai Sư tử,

Ðã một lần toan cự voi kia.

Ngã nhào, ngực vỡ kêu la,

Mới hay tiếc đ ã vội ra

đối đầu.

Ai thích đấu kẻ n ào siêu đẳng

Sức mạnh kia nếu chẳng nhận ghi,

Sẽ đ ành chia xẻ tức thì

Chó rừng số phận sầu bi thế này.

Kẻ biết lượng sức tài mình có,

Biết e dè khi tỏ lời ra,

Sống tròn bổn phận đời ta,

Bao nhi êu cừu địch cũng l à

thắng thôi.

Bồ-tát đọc các b ài kệ trên, tuyên

thuyết những phận sự đúng đắn phải l àm

trong cõi đời n ày.

*

Sau khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ Ðề-bà- đạt-đa l à con chó

rừng, còn ta là con sư tử.

-ooOoo-

363. Chuyện Vương Tử Chatta Vĩ

Đại (Tiền thân B rahachatta)

"Cỏ " vẫn là tiếng ngài kêu mãi...,

Chuyện này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một kẻ xảo

quyệt.

Tình tiết đưa đến câu chuyện đ ã

được kể trước đây.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta đang trị v ì

xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là quan đại thần v à

là cố vấn của vua về thế sự và thánh sự. Vua Ba-la-nại mang một

đạo quân lớn đi đánh vua Kosala, đến Xá-vệ v à

sau trận chiến, đ ã vào thành bắt vua

Kosala làm tù nhân. Bấy giờ vua Kosala có một con trai là vương tử

Chatta. Chàng giả trang thoát đi.

Ðến Takkasilà chàng học được ba bộ Vệ-đ à

và mười tám ngành v ăn học nghệ thuật. Thế

rồi ch àng rời Takkasilà và trong khi nghiên cứu cách ứng dụng các

học nghệ, chàng đến một l àng ở biên

địa. Ở một khu rừng gần đó có năm trăm ẩn

sĩ sống trong các lều lá của họ. Vương tử đến với họ. Ch àng mong

mỏi học hỏi họ nên chàng cũng trở thành ẩn sĩ và sau

đó ch àng học

được mọi kiến thức của họ. Chẳng bao lâu ch àng

trở thành người lãnh đạo của đám môn đệ ấy.

Một hôm chàng gọi các đạo hữu của ch àng

lại và nói:

- Này các hiền giả, tại sao các bạn không

đi đến v ùng trung tâm?

Họ bảo:

- Thưa Tôn giả, chúng tôi nghe nói vùng trung tâm là nơi những người

khôn ngoan sống. Họ đặt cho m ình

những câu hỏi, họ khiến mình phải cảm ơn, phải chúc tụng và họ trách cứ

những kẻ thô lậu. Vì thế chúng tôi không dám

đến đó.

- Chớ sợ, chàng bảo - tôi sẽ lo các thứ ấy cho các bạn.

Họ bảo:

- Thế thì chúng tôi sẽ đi.

Rồi tất cả đều mang theo các vật dụng

cần thiết để đi đường v à đến

Ba-la-nại.

Bấy giờ vua Ba-la-nại, sau khi chiếm lĩnh toàn thể vương quốc Kosala,

đặt các vi ên chức tâm phúc ở lại làm

quan cai trị, còn vua gom góp mọi tài sản quý giá rồi mang chiến lợi

phẩm quay về Ba-la-nại. Vua bỏ đầy các vật

quý giá kia trong các b ình bằng sắt rồi

đem chôn trong ngự vi ên và vẫn sống

ở nơi ấy.

Các ẩn sĩ kia ngủ đ êm ở trong ngự

viên ấy, hôm sau vào thành khất thực, đến

cổng cung điện. Vua rất thích cung cách của họ đến độ gọi họ v ào

và mời họ ngồi trên bệ, hỏi họ nhiều vấn đề

như vậy, như vậy... Chatta chiếm được l òng vua nhờ chàng

đáp được hết mọi câu hỏi của vua. Vua lại c àng

bằng lòng hơn nữa, và hứa cho tất cả được ở

trong vườn cây của m ình.

Bấy giờ, Chatta biết thần chú tìm ra kho tàng

được chôn dấu. Trong lúc trú tại đó, ch àng

cứ tự nghĩ: "Ðâu là chỗ ông ấy có thể cất giấu tiền bạc của cha ta nhỉ?"

Rồi đọc thần chú v à kiếm tìm khắp

nơi, chàng khám phá ra rằng của cải ấy được

chôn trong vườn cây. Nghĩ rằng với tiền bạc ấy, ch àng có thể khôi

phục vương quốc của mình, chàng liền gọi các ẩn sĩ kia lại và bảo:

- Này các bằng hữu, tôi là con của vua Kosala. Khi vương quốc của

chúng tôi bị vua Ba-la-nại chiếm, tôi đ ã

giả trang trốn thoát và toàn mạng đến nay,

giờ đây, tôi đ ã chiếm được t ài

sản thuộc về gia đ ình tôi. Với tài

sản này, tôi sẽ khôi phục vương quốc của tôi. Các bạn

định sẽ l àm gì nào?

- Chúng tôi sẽ cùng đi với ng ài.

Họ đáp.

- Ðồng ý.

Chàng bảo, rồi sai làm những cái bao lớn bằng da. Ðêm

đến, ch àng

đ ào lỗ ở khoảng

đất kia v à lấy các bình chứa tiền

bạc lên. Chàng bỏ tiền vào các bao và lấy cỏ

đựng đầy các b ình kia. Chàng ra lệnh

n ăm trăm đạo hữu c ùng mang tiền bạc

rồi chạy về Xá-vệ.

Nơi đây, ch àng bắt hết các quan

chức của vua và khôi phục vương quốc của chàng. Chàng xây thành, tháp

canh và thực hiện nhiều công việc khác nữa. Chàng xây dựng một thành phố

vững chắc chống lại cuộc tiến công của bất cứ một ông vua cừu

địch n ào, và chàng ở tại

đó.

Vua Ba-la-nại nghe trình:

- Các nhà tu khổ hạnh đ ã lấy kho

tàng trong vườn của ngài và chạy đi rồi.

Vua vào vườn, mở các bình ra và thấy chỉ có cỏ trong

đó m à thôi. Vì mất kho báu, vua ngập

tràn sầu muộn. Vua vào thành phố vừa lang thang khắp nơi vừa thì thầm:

"Cỏ, cỏ". Chẳng có ai có thể làm vơi nỗi sầu muộn của vua

được.

Bồ-Tát tự nghĩ: "Vua đang gặp lúc quá

khổ. Ng ài cứ lang thang đây đó v à

nói nhảm mãi. Ngoài ta ra, không ai đủ sức

để xua nỗi sầu muộn của ng ài được.

Ta sẽ giải thoát cho ng ài khỏi cơn

đau khổ.

Thế rồi, một hôm Bồ-Tát ngồi im lặng cùng với vua, khi vua bắt

đầu nói nhảm, ng ài

đọc b ài kệ

đầu:

"Cỏ" vẫn là tiếng ngài kêu mãi,

Kẻ nào giành cỏ ấy của ngài?

Ngài cần chi với cỏ vầy?

Tại sao ngài cứ lời này thốt ra?

Vua nghe Bồ-Tát nói thế liền trả lời bằng bài kệ thứ hai:

Chính đạo sĩ Chat-ta nổi tiếng.

Như thế n ày câu chuyện xảy ra;

Nó đem cỏ thế v àng ta,

Ta đây trách cứ ri êng nhà nó thôi.

Nghe thế, Bồ-Tát đọc b ài kệ thứ

ba:

Bọn tinh ma vẫn noi đường lối:

"Cho ít thôi, nhưng đổi lấy nhiều".

Của ri êng phần nó mang theo,

Cỏ kia để lại, há điều khôn ngoan?

Nghe thế, vua đọc b ài kệ thứ tư:

Ðức hạnh chẳng theo đ àng lối

nọ,

Ðức này dành cho lũ ngu si,

Ðức kia chắc hẳn đáng nghi,

Học theo cũng chẳng ích chi, hão huyền!

Khi vua trách cứ Chatta như vậy và nghe những lời ấy của Bồ-tát, vua

liền thoát khỏi cơn sầu muộn và từ đó trị v ì

vương quốc của mình rất công chính.

*

Bậc Ðạo sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện tiền thân:

- Bấy giờ Tỷ-Kheo xảo quyệt kia là đạo sĩ Chatta, còn Ta là vị quan hiền

trí nọ.

-ooOoo-

337. Chuyện Cái Sàng Tọa (Tiền thân Pìtha)

Ôi, tôi đ ã chẳng mời ngồi...,

Câu chuyện này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một

Tỷ-Kheo.

Tương truyền ông ta từ vùng quê đến Kỳ

Vi ên. Sau khi cởi bỏ y bát, ông đến

đảnh lễ bậc Ðạo sư và hỏi các chú tiểu:

- Này các chú, ai ch ăm lo các Tỷ-Kheo ở

nơi khác đến Xá-vệ?

Các chú tiểu đáp:

- Trưởng giả Cấp Cô độc v à nữ

đại cư sĩ Vis àkhà trông nom cả T ăng

đo àn thay thế bậc phụ mẫu của họ.

- Tốt lắm, ông ta nói như thế.

Và lờ mờ sáng hôm sau, trước hơn ai hết, ông

đến nh à ông Cấp Cô Ðộc. Vì ông

đến v ào giờ không hơp lý nên chẳng

có ai ch ăm sóc ông cả. Không nhận được thứ

g ì nơi đây, ông liền bỏ đi v à

đến nh à bà Visàkhà. Nơi

đây, cũng v ì

đến quá sớm n ên không nhận

được g ì cả. Sau khi quanh quất

đó đây, ông trở lại v à khi thấy cháo

sữa đ ã hết, ông liền quay bỏ

đi. Ông lại đi quanh quẩn đó đây, v à

khi trở về, thấy cơm đ ã hết, ông

quay lại Tinh xá và bảo:

- Các Tỷ-Kheo ở đây nói rằng hai gia đ ình

ấy thuộc những tín hữu thuần thành, nhưng thật ra cả hai

đều chẳng tín th ành và cũng chẳng là

người mộ đạo.

Như thế ông cứ đi khắp nơi trách cứ hai

gia đ ình ấy.

Vì vậy một hôm các Tỷ-Kheo bắt đầu b àn

tán trong Pháp đường rằng Tỷ-Kheo ấy từ v ùng

quê đến cửa nh à của các gia trưởng

kia lúc quá sớm, nên đ ã không nhận

được các thứ cúng dường v à

đi khắp nơi mắng nhiếc các gia đ ình

ấy.

Bậc Ðạo sư đến v à hỏi các Tỷ-Kheo

đang ngồi b àn tán việc gì. Khi nghe

kể lại, Ngài gọi Tỷ-Kheo kia đến v à

hỏi ông ta có thực như thế không. Tỷ-Kheo ấy nói:

- Bạch Thế tôn, thật như thế.

Bậc Ðạo sư dạy:

- Này Tỷ-Kheo, tại sao ông lại giận chứ? Ngày xưa, trước khi

đức Phật xuất hiện tr ên thế gian

này, khi các nhà tu khổ hạnh viếng th ăm một

gia đ ình mà không nhận được tặng

vật, họ không hề tỏ ra tức giận.

Cũng với lời này, Ngài kể một chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-Tát sinh ra

trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi

lớn lên, ngài theo đuổi các học nghệ tại

Takkasil à và sau đó ng ài sống

đời Phạm hạnh của một nh à tu ẩn dật.

Sau khi sống một thời gian dài trong dãy tuyết Sơn, ngài

đến Ba-la-nại để kiếm muối v à giấm.

Ngài trú trong một vườn cây và sáng hôm sau vào thành mà khất thực. Bấy

giờ, có một thương gia ở Ba-la-nại là một tín hữu thuần thành. Bồ-Tát

hỏi tìm một gia đ ình thành tín và

khi nghe nói đến gia đ ình thương gia

nọ, liền đến nh à ông ta. Bấy giờ vị

thương gia đ ã

đi bái kiến vua v à người nhà của ông

cũng chẳng có ai gặp ngài. Vì vậy ngài quay

trở ra.

Sau đó thương gia ấy từ cung về trông

thấy ng ài, chào ngài rồi cầm lấy bình bát của ngài và mời vào

nhà. Nơi đây ông mời ng ài ngồi và ch ăm

sóc ng ài, rửa và xức dầu thơm đôi b àn

chân ngài, mang cơm, bánh và các thức ăn

khác ra mời. Trong lúc ng ài dùng bữa, ông hỏi ngài

điều n ày,

điều nọ.

- Thưa Tôn giả, mọi khách lạ đến nh à

chúng tôi, dù là hành khất, đạo sĩ hay B à-la-môn,

đều chẳng bao giờ phải ra đi m à

không nhận những tặng vật biểu lộ sự cung tôn. Thế mà hôm nay người của

chúng tôi lại không trông thấy ngài, khiến ngài phải ra

đi m à không

được dâng chỗ ngồi, nước uống, không được

rửa chân, không được dâng cơm, cháo để ng ài dùng. Ðấy là lỗi của

chúng tôi. Xin ngài tha thứ cho chúng tôi về

điều ấy.

Rồi ông đọc b ài kệ

đầu:

Ôi, tôi đ ã chẳng mời ngồi,

Chẳng mang nước uống, chẳng mời ngài ăn.

Tôi đây thú thật tội phần.

Cầu xin Tôn giả một lần thứ tha.

Bồ-Tát nghe thế liền đọc b ài kệ

thứ hai:

Thứ tha tôi có chi mà!

Tôi nào cảm thấy phiền hà gì đâu!

Lần kia, một ý thoáng mau:

"Người đây, thói tục phần n ào lạ xa".

Vị thương gia nghe xong, liền trả lời bằng hai bài kệ nữa:

Thói tục từ lâu đời

Truyền tận đến chúng tôi

Mỗi lần khác lạ đến

Ân cần vẫn đón mời.

Chỗ khách ngồi, mời mọc,

Cung cấp thứ khách cần,

Mang nước đến rửa chân,

Ðãi khách như thân tộc.

Bồ-Tát ở lại nơi ấy ít ngày, giảng dạy cho vị thương gia thành

Ba-la-nại về bổn phận của mình. Sau đó ng ài

lui vào dãy Tuyết sơn. Nơi đây, ng ài

phát huy các Thắng trí và các Thiền chứng.

*

Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần

kết thúc Tứ Ðế, vị Tỷ-Kheo kia Ðắc quả Dự Lưu và Ngài nhận diện Tiền

thân.

- Bấy giờ, Ànanda là vị thương gia ở Ba-la-nại, còn Ta là vị ẩn sĩ

nọ.

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục

lục | 01 | 02 | 03

| 04 | 05 | 06

| 07 | 08 | 09

| 10 | 11 | 12

| 13 | 14