Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)#
Chương IV (tiếp theo)
326. Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)
Kẻ nào giữ mình không trộm cắp ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên, cách Ðề-bà- đạt-đa đ ã gây ra sự ly gián trong Giáo đo àn như thế nào, rồi sau đó bỏ đi với các đệ tử trưởng của ông, v à khi đám n ày tan rã, ông hộc ra một dòng máu nóng.
Các Tỷ-kheo đem chuyện ấy b àn trong Pháp đường v à bảo rằng Ðề-bà- đạt-đa đ ã dùng vọng ngôn gây nên sự ly gián kia, sau đó mang bệnh, v à chịu bao nhiêu đau đớn. Bậc Ðạo Sư bước vào hỏi các Tỷ-kheo đang họp nhau ngồi b àn tán chuyện gì. Sau khi nghe kể lại, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia, ông ta cũng đ ã là một kẻ nói dối; và không phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia, ông ta cũng đ ã phải chịu khổ đau v ì nói dối.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-lai-nại, Bồ-tát là một vị thần ở cõi trời Ba mươi ba. Bấy giờ có một cuộc lễ lớn tại Ba-la-nại, Một đám đông rắn thần N àga và chim Kim sí điểu Garuda c ùng các địa thần đến dự lễ. V à bốn Thiên thần từ cõi trời Ba mươi ba mỗi vị mang một tràng thiên hoa Kakkàru cũng đến dự lễ. Suốt trong khoảng mười hai dặm của th ành phố đều sực nước hương thơm của các hoa ấy. Mọi người đều xôn xao, tự hỏi không biết các vị mang các bông hoa ấy l à ai. Các Thần nói:
- Họ đang nh ìn chúng ta đấy.
Rồi từ sân điện bay l ên và dùng thần lực đứng ngay tr ên không. Ðám đông tụ tập lại, vua c ùng các hoàng tử theo vua đến hỏi các vị thần ấy từ c õi nào đến:
- Chúng ta từ cõi trời Ba mươi ba đến .
- Các ngài định đến đây để l àm gì?
- Ðể dự lễ.
- Các hoa này là hoa gì thế?
- Chúng tên là thiên hoa Kakkàru.
- Thưa các ngài, ở thế giới thiên thần,các ngài có thể đeo hoa khác. H ãy cho chúng tôi hoa này đi.
Các thần trả lời:
- Các hoa này chỉ xứng với những vị thần có đại lực; c òn đối với hạng thấp kém, những kẻ ngu si, tội lỗi trong c õi người thì hoa này không xứng hợp. Nhưng những ai trong cõi người có được những đức hạnh như thế ... như thế... th ì những bông hoa này xứng hợp với họ.
Rồi vị trưởng các Thần ấy đọc l ên bài kệ đầu:
Kẻ nào giữ mình không trộm cắp. Miệng lưỡi luôn tránh tật dối lời Ðạt nên danh vọng cao vời. Giữ tâm yên ổn - xứng đ òi hoa đây.
Nghe thế, một vị giáo sĩ hoàng gia tự nghĩ: "Ta chẳng có một đức tính n ào trong các đức tính nói tr ên, nhưng ta sẽ nói dối để có được những bông hoa n ày. Ðược như thế mọi người sẽ tin rằng ta có các tính hạnh ấy". Rồi ông ta nói:
- Tôi có đủ những đức tính ấy.
Thế là ông ta được trao hoa để mang. Rồi ông ta đến xin vị thần thứ hai, vị n ày đọc b ài kệ thứ hai:
Kẻ nào kiếm tiền tài chân thật Tránh gian manh để đạt gi àu sang Thú vui quá độ, tránh luôn, Xứng phần được đóa thi ên hương đây n ày.
Giáo sĩ nói:
- Tôi đầy đủ những đức tính ấy.
Và thế là ông ta được trao hoa để mang. Rồi ông đến xin vị thần thứ ba, vị n ày đọc b ài kệ thứ ba:
Kẻ nào chẳng lệch xa mục đích, V à lòng tin bất dịch chẳng rời, Thức ăn ngon chẳng đoái ho ài, Chánh chân đ òi hỏi hoa trời này đây.
Vị giáo sĩ nói:
- Tôi đầy đủ những đức tính ấy.
Thế là ông ta được trao hoa để mang. Rồi ông đến xin vị thần thứ tư, v ì này đọc b ài kệ thứ tư:
Kẻ nào chẳng phê bình người tốt Dù sau lưng hay trước mặt người Làm tròn việc đúng như lời, Xứng đ òi phần thưởng hoa trời này đây.
Giáo sĩ nói:
- Tôi đầy đủ các đức tính n ày.
Và ông được trao hoa để mang.
Như vậy các vị Thần tặng bốn tràng hoa cho giáo sĩ rồi quay về cõi trời. Khi các Thần vừa ra đi, giáo sĩ bị một cơn đau khốc liệt tấn công, ở trong đầu như có mũi nhọn đâm v à như có đồ vật bằng sắt đập v ào. Cuồng trí vì đau đớn, ông lăn lộn vật v ã và kêu la ầm ĩ. Khi mọi người hỏi:
- Thế này là sao?
- Tôi tự xưng có những đức hạnh m à tôi vốn không có. Tôi đ ã nói dối để xin các Thần ấy những bông hoa n ày, hãy gỡ hoa ra khỏi đầu tôi.
Họ liền gỡ hoa ra nhưng không được v ì hoa đ ã gắn chặt như một vành sắt. Thế rồi họ đỡ ông ta l ên và đưa ông về nh à. Vua bảo các cận thần:
- Bà-la-môn ác hạnh kia sắp chết, ta nên làm gì đây?
- Tâu Ðại vương - các quan đáp - chúng ta h ãy tổ chức một lễ hội. Các Thiên Thần sẽ trở lại.
Vua liền tổ chức một lễ hội và các Thiên Tử ấy trở lại và làm ngập tràn thành phố với hương thơm của các bông hoa kia, họ đứng tại chỗ cũ trong sân chầu. Dân chúng tụ tập v à mang Bà-la-môn ác hạnh kia, đặt nằm sấp xuống trước các Thi ên thần. Ông ta van xin các Thần:
- Kính lạy các ngài, xin hãy tha mạng cho tôi.
Các Thần bảo:
- Các bông hoa này không thích hợp với một kẻ độc ác xấu xa. Trong tâm, ông đ ã định lừa dối chúng ta v à ông đ ã phải nhận lấy hậu quả của những lời ông nói dối.
Sau khi quở trách mọi người, các Thần gỡ tràng hoa khỏi đầu ông, khuyến dụ mọi người rồi quay về trú xứ ri êng của họ.
*
Khi bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong. Ngài nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à Bà-la-môn ấy, Ca-diếp là một trong các Thiên thần, Mục-kiền-liên là vị Thần thứ hai, Xá-lợi-phất là vị Thần thứ ba, còn ta là vị Thần Trưởng chúng.
327. Chuyện Hoàng Hậu Kàkati (Tiền thân Kàkati)
Hương quyện quanh tôi là hơi thở ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo hối tiếc vì đ ã thọ giới xuất gia.
Vào dịp này, bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo ấy rằng có thật ông đ ã buồn chán không và khi ông trả lời:
- Bạch Thế Tôn thật thế.
Bậc Ðạo Sư dạy:
- Không thể canh phòng phụ nữ. Không có cách gìn giữ họ an toàn. Các trí giả ngày xưa đ ã đặt một phụ nữ ở giữa biển, trong một cung điện gần hồ Simbal ì (trên đỉnh núi Tu-di) m à vẫn không thể giữ danh tiết của nàng.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là thái tử, con của chánh hoàng hậu. Ngài lớn lên và khi vua cha mất, ngài nối ngôi, Kàkàti là chánh hoàng hậu của ngài, xinh đẹp như một ti ên nữ. Hình thức cũ của huyền thoại này sẽ được kể đầy đủ trong số 536, Tiền thân Kun àla. Sau đây chỉ l à phần vắn tắt của chuyện.
Bấy giờ có một vua Garuda (Kim sí điểu: chim thần cánh v àng) giả trang làm ông người đ àn ông đến chơi súc sắc với vua Ba-la-nại. Vua chim thần Garuda đâm ra y êu hoàng hậu Kàkàti, nên mang nàng về trú xứ của loài Gadura và sống hạnh phúc với nàng ở nơi ấy. Vua Ba-la-nại mất nàng liền bảo một nhạc công tên là Natakuvera đi t ìm nàng. Nataluvera thấy vua chim đang nằm tr ên đệm cỏ eraka ở một cái hồ nọ. Khi chim thần Garuda sắp rời nơi ấy, ch àng liền ngồi giữa đám lông của vương điểu v à nhờ cách ấy mà chàng được chở đến trú xứ của lo ài chim thần Garuda.
Tại đây, ch àng được hưởng những đặc ân của ho àng hậu, sau đó ch àng lại ngồi trên cánh chim thần kia và trở về nhà. Thế rồi vào lúc vua chim Garuda đến chơi súc sắc với vua Ba-la-nại, ch àng nhạc công cầm đ àn bước lên chỗ hai người chơi súc sắc, đứng trước vua v à chàng đọc b ài kệ đầu dưới h ình thức một bài ca:
Hương quyện quanh tôi là hơi thở Của mối tình người ở nơi xa. Kà-kà-ti đẹp ấy m à Khiến tôi rung động sâu xa trong l òng.
Nghe thế, chim thần Garuda trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Vượt qua biển, qua dòng Ke-buk, Phải ch ăng người đến được đảo ta? Bảy v ùng biển rộng bay qua. Sim-bal rừng ấy người đ à đến nơi?
Natakuvera nghe thế, liền đọc bài kệ thứ ba:
Khắp trời rộng, nhờ ngài tôi vượt, Và tôi đây đến được Sim-bal, Bay ngang bao biển, bao sông, Mối t ình tôi gặp, nhờ phần ngài thôi.
Vương điểu Garuda đọc b ài kệ thứ tư:
Thật cuồng si, việc tôi xảo trá, Khiến tôi thành một gã ngu đần Người y êu nên giữ riêng phần, Kìa! Tôi phục vụ như hàng mối mai.
Thế rồi chim Garuda nọ mang hoàng hậu trả về cho vua Ba-la-nại và không bao giờ trở lại nữa.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, Tỷ-kheo bất mãn đắc quả Dự Lưu.
Và Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ Tỷ-kheo bất mãn kia là Natakuvera, còn Ta là vua ấy.
328. Chuyện Không Khóc Người Chết (Tiền thân Ananusociya)
Sao ta nhỏ lệ vì em chứ ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một người chủ đất có vợ chết. Ch àng chẳng thiết tắm rửa, ăn uống, bỏ b ê công việc nông trại. Quá sầu đau, ch àng lang thang khắp nghĩa địa m à than vãn trong khi nghiệp lực từ đời trước đưa đến quả Dự Lưu đang bừng cháy như một ngọn lửa trong đầu ch àng.
Bậc Ðạo Sư vào lúc sáng sớm, quan sát khắp thế gian, đ ã thấy được ch àng. Ngài tự nghĩ: "Ngoài Ta ra, không ai có thể giải được nỗi sầu muộn của người n ày và ban n ăng lực cho ch àng nhập Dự Lưu. Ta sẽ là chỗ an trú cho chàng".
Thế là khi Ngài đi khất thực trở về v à thọ thực xong. Ngài đem theo Tỷ-kheo thị giả v à đi đến nh à người chủ đất ấy. Khi nghe bậc Ðạo Sư đến, ch àng liền ra đón Ng ài, cung kính mời Ngài ngồi vào chỗ đ ã soạn sẵn rồi đảnh lễ Ng ài và ngồi xuống bên.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này cư sĩ, vì sao ông im lặng thế?
Chàng đáp:
- Bạch Thế Tôn, con đang sầu muộn v ì nàng.
Bậc Ðạo Sư dạy:
- Này cư sĩ, cái gì có thể tan rã thì tan rã, nhưng khi điều n ày xảy ra, người ta không nên phiền muộn. Các bậc hiền trí ngày xưa, khi mất vợ, họ biết chân lý này và do đó họ không đau buồn.
Rồi do yêu cầu của chàng, bậc Ðạo Sư kể một chuyện đời xưa.
*
Câu chuyện này sẽ được kể trong số 443. Tiền thân Cullabodhi ở Chương Mười. Sau đây chỉ l à phần tóm tắt của câu chuyện.
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài theo đuổi tất cả các môn học nghệ tại Takkasil à rồi trở về với cha mẹ ngài. Ở Tiền thân này, bậc Ðại Sĩ trở thành môn đồ của đạo Thánh hiền. Cha mẹ ng ài bảo ngài là họ sẽ tìm cho ngài một người vợ. Bồ-tát nói:
- Con không muốn sống đời có vợ con. Khi cha mẹ qua đời, con sẽ sống đời của một nh à tu khổ hạnh.
Vì cha mẹ cừ nài nỉ mãi, ngài sai làm một bức tượng bằng vàng và bảo:
- Nếu cha mẹ kiếm cho con được một thiếu nữ giống như trong tượng n ày thì con sẽ lấy làm vợ.
Cha mẹ ngài liền sai vài thám tử cùng với một số lớn tùy tùng và bảo họ đặt tượng v àng trong một xe đóng kín rồi đi t ìm kiếm khắp các đồng bằng nước Ấn Ðộ, đến khi n ào tìm thấy được một tiểu thư B à-la-môn giống như vậy thì đem tượng v àng đổi lấy v à đem thiếu nữ về cho họ.
Bấy giờ có một thánh giả kia từ cõi Phạm Thiên tái sinh dưới hình thức một thiếu nữ ở một thành phố thuộc vương quốc Kàsi, trong ngôi nhà của một Bà-la-môn gia sản tới tám tr ăm triệu đồng. Thiếu nữ t ên là Sammillabhàsini. Ở tuổi mười sáu, nàng là một thiếu nữ tươi đẹp, dễ thương, giống như một ti ên nữ mang đủ mọi nét đẹp nữ giới.
Mãnh lực của đam m ê tội lỗi không hề nảy sinh được một ý nghĩ xấu n ào trong nàng nên nàng thật là hoàn toàn thuần khiết. Những người kia mang tượng vàng đi khắp đó đây cho đến khi họ tới ngôi l àng ấy. Dân làng trông thấy tượng liền hỏi:
- Tại sao Simmillabhàsini, con gái của người Bà-la-môn ấy lại được đặt ở đó?
Các thị giả nghe thế liền tìm đến gia đ ình Bà-la-môn ấy và chọn Sammillabhàsini làm hôn thê cho chủ của họ. Nàng nhắn với cha mẹ.
- Khi cha mẹ mất, con sẽ sống đời tu h ành, con không muốn lập gia đ ình.
Cha mẹ nàng bảo:
- Này cô, cô nghĩ gì thế chứ?
Rồi họ nhận tượng vàng và gởi con gái đi c ùng với một đo àn tùy tùng đông đảo. Lễ cưới được cử h ành trái với ý nguyện Bồ-tát và Sammillabhàsini. Dù phải chia xẻ chung một phòng, một giường, cả hai vẫn không nhìn nhau bằng con mắt dục lạc tội lỗi, mà cùng sống với nhau như hai nam hay hai nữ tu sĩ thanh tịnh.
Chẳng bao lâu cha mẹ của Bồ-tát qua đời, ng ài lo tang lễ, rồi gọi Sammillabhàsini đến v à bảo:
- Này em yêu, tài sản của gia đ ình ta lên tới tám tr ăm triệu đồng v à tài sản của gia đ ình em cũng đáng giá tám trăm triệu đồng nữa. Em h ãy lấy hết đi v à hãy sống cuộc đời của một gia trưởng. Ta sẽ trở th ành một người tu khổ hạnh.
Nàng trả lời:
- Chàng ơi, nếu chàng trở thành một ẩn sĩ thì em cũng sẽ trở thành một ẩn sĩ, em không thể bỏ chàng được.
- Thế thì nàng hãy làm như thế đi. Ch àng nói.
Như vậy họ tiêu hết gia sản bằng cách bố thí và vứt bỏ gia tài của họ như nhổ bỏ một búng đ àm, rồi cả hai người đi v ào vùng Tuyết Sơn và theo cuộc đời khổ hạnh. Sau khi đ ã sống một thời gian lâu bằng cách lượm hái trái, rễ cây, họ rời dãy Tuyết Sơn đi xuống kiếm muối v à giấm, rồi dần dần họ tìm thấy đường đến Ba-la-nại v à sau đó họ trú trong vườn cây của nh à vua.
Trong khi họ sống ở đó, vị ẩn sĩ trẻ tuổi mảnh mai n ày vì phải ăn cơm nhạt của loại gạo trộn m à bị bịnh kiết lỵ hành hạ và không có được thuốc chữa n ên nàng trở nên quá gầy yếu. Bồ-tát trong khi đi khất thực phải ẵm n àng theo, mang nàng đến cổng th ành và đặt n àng nằm trên một cái ghế dài trong một tiền đường rồi v ào thành khất thực. Khi Bồ-tát vừa mới ra đi th ì nàng tắt thở. Mọi người thấy vị nữ tu khổ hạnh sắc đẹp phi thường, liền tụ họp đến quanh n àng khóc lóc tiếc thương. Sau khi đi khất thực trở về, Bồ-tát nghe n àng đ ã chết liền bảo:
- Cái gì có tính chất tan rã thì tan rã. Mọi hiện hữu vô thường đều thuộc loại n ày cả.
Nói thế xong, ngài ngồi xuống chiếc ghế dài nàng đang nằm v à ăn thức ăn trộn rồi súc mịệng. Mọi người đứng gần đó tụ tập lại quanh ng ài và nói:
- Bạch Tôn giả, vị nữ tu khổ hạnh này là gì của ngài?
Ngài đáp:
- Khi tôi còn là cư sĩ, nàng đ ã là vợ tôi.
Họ nói:
- Bạch Tôn giả, trong khi chúng tôi khóc lóc tiếc thương và không thể ng ăn được xúc động, tại sao ng ài lại không khóc?
Bồ-tát bảo:
- Khi nàng còn sống, nàng đ ã thuộc về tôi theo một số phận nào đó. Khi n àng sang thế giới khác, chẳng có gì thuộc về nàng cả. Nàng đ ã bước vào lãnh vực của các vị khác. Thế thì tại sao tôi lại phải khóc nàng?
Rồi ngài thuyết giảng Chân lý cho mọi người qua các bài kệ sau đây:
Sao ta nhỏ lệ vì em chứ, Hỡi Sam-mil-la-bhà-si-ni. Em xinh đẹp đ ã chết đi Từ nay ta hẳn c òn gì em đâu? Kẻ yếu đuối âu sầu g ì chớ? Khóc lóc làm chi những thứ mượn vay? Tử vong đ ã hơi thở này, Thì từng giờ phút trao tay tử thần. Dầu ai đứng hay đang ngồi đó, Ðang nằm hay dời chỗ, gì ch ăng, Chỉ trong chớp mắt qua ngang, Chỉ trong một lúc tử thần kề ngay. Ðời bất ổn ta đây đ ã tính, Mất bạn bè chẳng tránh được ra. H ãy yêu mọi thứ còn kia, Chớ buồn khi chúng phải lià xa ta.
Bậc Ðại Sĩ thuyết giảng Chánh pháp qua các bài kệ này sẽ giải thích sự vô thường của vạn vật. Mọi người hoàn tất lễ tang cho vị nữ tu ấy. Còn Bồ-tát quay về dãy Tuyết Sơn, đạt tuệ giác cao hơn do Thiền định, rồi ng ài tái sanh cõi Phạm thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, người chủ đất đắc quả Dự Lưu. Sau đó bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ mẹ của La-hầu-la là Sammillabhàsini, còn Ta là nhà tu khổ hạnh ấy.
329. Chuyện Con Khỉ Đen Lớn (Tiềnthân K àlabàhu)
Ta từng hưởng lắm thức ăn ...,
Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú lại Trúc Lâm về việc Ðề-bà- đạt-đa mất các lợi dưỡng v à danh vọng.
Khi Ðề-bà- đạt-đa đ ã nuôi lòng hiềm thù đức Phật một cách phi pháp v à sai một xạ thủ giết Ngài, tội lỗi của ông ai ai cũng biết qua việc ông thả con voi Nàlàgiri ( để l àm hại đức Phật). Thế rồi mọi người lấy mất trú xứ v à các khẩu phần của ông và vua chẳng đoái ho ài đến ông nữa. Khi đ ã mất nguồn lợi dưỡng và danh vọng, ông ta đi khắp nơi sống bằng cách xin các nh à quyền quí.
Các Tỷ-kheo bắt đầu b àn tán trong Pháp đường rằng Ðề-bà- đạt-đa đ ã nghĩ ra cách thu đạt lợi dưỡng v à danh vọng thế nào và khi đ ã kiếm được chúng th ì ông ta lại không thể giữ được chúng. Bậc Ðạo Sư đến v à hỏi các Tỷ-kheo đang ngồi b àn việc gì; khi nghe kể lại, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, chẳng phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế, Ðề-bà- đạt-đa đ ã bị tước mất các lợi dưỡng và danh vọng.
Rồi Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một con vẹt tên là Ràdha. Ngài là một con vẹt khỏe mạnh, chân và cánh đều to àn hảo. Con vẹt em trai ngài tên là Potthapàda. Một người bẫy chim kia bẫy được đôi chim n ày và mang chúng đến dâng vua Ba-la-nại. Vua bỏ cả hai con v ào trong một chiếc lồng bằng vàng, ch ăm sóc chúng, cho chúng ăn mật v à bắp rang đựng trong một chiếc đĩa bằng v àng và cho uống nước đường. Chúng được chú ý chăm sóc đặc biệt, v à đạt lợi dưỡng danh vọng cao vời nhất.
Thế rồi một người thợ rừng nọ mang đến dâng vua một con khỉ đen lớn t ên là Kàlabàhu (Ðen lớn). Vì khi đến sau các con vẹt n ên nó nhận được lợi dưỡng v à cung kính nhiều hơn, trong khi ấy đôi vẹt lại không c òn được trọng vọng như trước.
Bồ-tát nhờ có các đức tính của bậc Giác Ngộ n ên chẳng nói một lời, nhưng em ngài vì không có đức tính ấy n ên không thể chịu nổi sự trọng vọng mà người ta dành cho con khỉ, liền nói:
- Anh ơi, trước kia, ở cung điện vua, họ cho chúng ta thức ăn ngon, c òn bây giờ chúng ta chẳng được g ì cả, họ dâng hết mọi thứ cho con khỉ Kàlabàhu. Vì chúng ta không nhận được lợi dưỡng trọng vọng do vua ban. Nơi đây, chúng ta phải l àm gì chứ? Này chúng ta hãy đi v ào rừng mà sống.
Vẹt em nói thế và đọc b ài kệ đầu:
Ta từng hưởng lắm thức ăn, Khỉ kia nay lại được phần ta xưa. R à-dha hãy đến rừng gi à, Cách người xử tệ sửa ra thế nào?
Ràdha nghe thế liền đọc b ài kệ tiếp:
Dù là được, mất ra sao, Khen, ch ê, vui, khổ, vinh cao, nhục dày, Ðều là giả tạo, đổi thay. Sao em lại cứ ngập đầy sầu đau?
Nghe thế, Potthapàda vẫn không thể bỏ được hiềm th ù với con khỉ liền đọc b ài kệ thứ ba:
Rà-dha, chim trí tuyệt cao, Hẳn anh phải biết việc nào xảy ra. Ai sẽ là người đuổi t ên kia Từ triều vua trở lại nhà nó xưa?
Ràdha nghe thế liền đọc b ài kệ thứ tư:
Mặt nh ăn, tai động ấy m à, Sẽ làm bầy trẻ vương gia hãi hùng. Khỉ kia tinh quái lạ thường, Ngày kia sẽ chạy tìm đường kiếm ăn.
Chỉ ít lâu sau, khỉ ta lúc lắc đôi tay, chọc phá l àm cho các vương tử bé nhỏ sợ hãi la ré lên. Vua hỏi xem việc gì đ ã xảy ra và khi nghe kể lý do, ngài phán:
- Ðuổi nó đi!
Thế là con khỉ bị đuổi đi v à đôi vẹt lại trở về ho àn cảnh như trước, được lợi dưỡng v à trọng vọng.
*
Khi thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Ðề-bà- đạt-đa l à Kàlabàhu, Ànanda là Potthapàda, còn Ta là Ràdha.
330. Chuyện Thử Thách Giới Đức (Tiền thân Silav ìmamsa)
Quyền lực trên đời khó sánh t ày ...,
Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Bà-la-môn từng thử thách đức hạnh của m ình.
Hai câu chuyện tương tự đ ã được kể trước đây (số 86 v à 290). Ở đây, Bồ-tát l à vị giáo sĩ hoàng gia của vua Ba-la-nại.
*
Ðể thử thách đức hạnh của m ình, luôn trong ba ngày, mỗi ngày ngài lấy một đồng tiền trong kho của vua. Ng ài bị cáo là gian trộm và bị đưa ra trước nh à vua. Ngài nói:
Quyền lực trên đời khó sánh t ày, Ðức hiền uy lực diệu kỳ thay. Khi mang lấy dáng dấp hiền hậu, Rắn độc tránh điều tổn hại ngay.
Sau khi ca ngợi đức hạnh bằng b ài kệ trên và được vua thỏa ý, ng ài sống đời tu khổ hạnh. Bấy giờ có một con diều hâu chộp được một miếng thịt trong một h àng bán thịt kia, cắp thịt vào chân và bay vù lên không. Bọn chim liền vây lấy nó, tấn công nó bằng chân, bằng vuốt và mỏ. Không chịu nổi đau đớn, diều hâu ấy đ ành thả miếng thịt. Một con khác chộp lấy thịt, con này cũng bị tấn công, bị đau như trước đ ành thả rơi miếng thịt. Rồi một con khác sà xuống vồ miếng thịt. Hễ con nào được thịt th ì bị đám c òn lại đuổi theo v à con nào nhả thịt ra thì được y ên thân. Bồ-tát thấy thế liền nghĩ: "Những tham dục của chúng ta cũng giống như những miếng thịt. Ai nắm lấy chúng thì bị đau khổ, ai thả chúng ra th ì được an b ình".
Và ngài đọc b ài kệ thứ hai
Chim cắt đang khi có thức ăn, Bọn chim mồi đến mổ đau ran; Khi chim đ ành thả rơi phần thịt, Bọn chúng liền thôi, chẳng ngó ngàng.
Rồi vị khổ hạnh đi ra khỏi th ành phố.
Trên đường dong ruổi, ng ài đến một ngôi l àng kia và vào lúc chiều tối, ngài nằm nghỉ trong nhà của một người nọ.
Bấy giờ có một nữ tỳ tên Pingalã hẹn hò với một nam nhân: "Anh hãy đến v ào giờ ấy, giờ ấy ..." Sau khi rửa chân cho chủ và gia đ ình chủ và khi mọi người đều nằm ngủ, cô ta ngồi ở bậc cửa chờ t ình nhân đến. Suốt canh một v à canh hai cô đều tự bảo: "Bây giờ ch àng sắp đến rồi!."
Nhưng khi trời sáng, cô hết hy vọng và tự bảo: "Thế là chàng không đến!" Rồi cô ta nằm xuống v à ngủ ngon.
Bồ-tát thấy chuyện xảy ra như thế liền tự bảo: "Người phụ nữ này từng ngồi quá lâu như thế hy vọng người tình sẽ đến; nhưng bây giờ n àng biết anh ta không đến, trong cơn thất vọng, n àng ngủ thật an bình. Ngài liền đọc b ài kệ thứ ba:
Vui thay mơ ước được ho àn thành. Trái ngược dường bao, mộng vỡ nhanh. Hy vọng tiêu tan, dù chán nản. Pin-ga-là đấy! Ngủ an l ành.
Ngày hôm sau, ngài ra khỏi làng và đi v ào một khu rừng trông thấy một vị ẩn sĩ đang ngồi tr ên đất chuy ên tâm thiền định. Ng ài nghĩ: "Ở đời n ày và cả đời sau, không có hạnh phúc n ào hơn niềm cực lạc của thiền định".
Rồi ngài đọc b ài kệ thứ tư:
Ở cõi này hay ở cõi nào, Không gì vượt hỷ lạc thiền đâu Kẻ n ào miệt mài tu thanh tịnh Thân được b ình an, hại chẳng vào.
Thế rồi, ngài đi sâu v ào rừng, sống cuộc đời ẩn dật của một vị Rishi (Ti ên nhân chứng đạo) phát huy thắng trí do thiền định rồi được v ào cõi Phạm thiên.
*
Thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ, Ta đây l à vị giáo sĩ nọ.
331. Chuyện Trưởng lão Kokàlika (Tiền thân Kokàlika)
Kẻ phạm lỗi nói không thích đáng...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về Trưởng lão Kokàlika. Câu chuyện khởi đầu được kể đầy đủ ở số 481, Tiền thân Takk àrika.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị đại thần rất được vua trọng vọng. Bấy giờ vua có tính lắm lời. Bồ-tát tự nghĩ: "Ta sẽ l àm dứt tính huyên thuyên của vua". Và ngài chờ đợi dịp thuận tiện để giảng giải cho vua.
Một hôm vào trong vườn cây và ngồi trên một phiến đá d ành cho mình. Vua ngồi xuống gốc cây xoài, trên đó có một con chim cu đen đẻ trứng v ào tổ của một con quạ rồi bỏ đi. Con quạ mái chăm lo cái trứng con chim cu. Chẳng bao lâu, trứng nở ra một chim cu con. Quạ tưởng rằng đấy chính l à con của nó nên nó ch ăm sóc chim cu, mang mồi về cho nó ăn. Con chim nhỏ c òn chưa đủ lông đủ cánh, đ ã kêu lên tiếng chim cu non nớt. Quạ liền nghĩ: "Con chim non này ngay bây giờ đ ã thốt lên giọng lạ lùng. Khi nó lớn lên nó sẽ còn làm gì nữa? "Thế là quạ lấy mỏ mổ chết chim cu và ném nó ra khỏi tổ. Xác chim cu rơi xuống chân vua. Vua hỏi Bồ-tát:
- Này khanh, thế này là nghĩa gì?
Bồ-tát nghĩ: "Ta đang t ìm việc tốt để giảng cho vua một b ài học, và nay ta đ ã được dịp ấy rồi". V ì vậy ngài nói:
- Tâu Ðại vương, những hạng lắm lời, nói quá nhiều không đúng lúc, đều phải gặp như thế. Tâu Ðại vương, chim cu nhỏ bé này được quạ nuôi nấng, khi c òn chưa đủ lông cánh, nó đ ã thốt lên một tiếng kêu quá sớm. Thế là quạ biết rằng đấy không phải l à con của nó liền mổ chết và ném nó ra khỏi tổ. Tất cả những ai nói không đúng lúc v à nói nhiều quá, dù cho đó l à người hay vật đều phải chịu đau khổ như thế cả.
Rồi ngài đọc b ài kệ sau:
Kẻ phạm lỗi nói không thích đáng, Như chim cu tận mạng oan thôi. D ù cho thuốc độc, gươm m ài, Cũng không tàn hại bằng lời nói sai Người khôn đắn đo ho ài lời nói, Với người thân không vội tỏ lòng. Muốn trao lời, xét tận cùng Như Kim sí điểu bắt Thần rắn kia.
Từ khi Bồ-tát thuyết giáo như thế, vua trở nên đắn đo trong lời nói. Vua c àng trọng vọng Bồ-tát và ban ân tứ cho ngài càng nhiều hơn mãi.
*
Sau khi thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Kokàlika là con chim cu nhỏ ấy, còn Ta là vị thần hiền trí.
332 Chuyện Chiếc Gậy Thúc Xe (Tiền thân Rathalatthi)
Hại người lại tỏ mình bị hại ...,
Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về vị giáo sĩ của vua Kosala.
Tương truyền khi vị giáo sĩ đang đánh xe đến một ngôi l àng thuộc địa phận của ông bỗng gặp phải một đo àn xe trên một con đường hẹp. Ông la l ên:
- Tránh ra các người!
Khi một chiếc xe không tránh ra ngoài đường đi, ông tức giận quá, liền ném chiếc gậy thúc ngựa v ào người đánh xe ấy. Chiếc gậy chạm v ào ách xe ấy và dội trở lại trúng vào trán ông, khiến ông bị u đầu. Giáo sĩ quay trở về v à đến tâu với vua rằng ông bị bọn đánh xe l àm bị thương. Những người đánh xe ấy được gọi đến. Các phán quan tra cứu trường hợp ấy v à thấy rằng chỉ riêng giáo sĩ có lỗi.
Một hôm chuyện ấy được b àn tán trong Pháp đường. Các Tỷ-kheo b àn về việc giáo sĩ của vua bảo rằng ông ta bị một số người đánh xe tấn công v à khi được vua xử, ông ta bị thua kiện. Bậc Ðạo Sư đến v à hỏi các Tỷ-kheo đang ngồi b àn việc gì. Khi được nghe kể lại, Ng ài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa người kia cũng đ ã hành động giống y như thế.
Rồi ngài kể cho họ nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là vị phán quan của nhà vua. Vị giáo sĩ của vua đánh xe về ngôi l àng do ông đứng đầu, thế rồi cũng h ành động giống y như chuyện tr ên đây. Nhưng ở chuyện n ày khi vua nghe giáo sĩ kể chuyện, liền gọi những người đánh xe lại v à chính vua ngồi xử. Vua chẳng có xem xét gì đến sự việc m à lại nói:
- Các ngươi đ ã đánh giáo sĩ của ta v à làm cho trán của ông sưng lên.
Rồi vua ra lệnh thâu hết tài sản của họ.
Bấy giờ, Bồ-tát nói với vua:
- Tâu Ðại vương, ngài không tra xét sự việc mà lại phán rằng họ phải bị tịch thu hết của cải. Nhưng có nhiều người sau khi tự làm tổn thương mình lại tuyên bố rằng họ bị người khác làm tổn thương. Do đó, người n ào thi hành luật pháp mà không xét vụ án thì thật là sai lắm. Vị ấy không nên hành động cho đến khi nghe hết mọi sự.
Rồi ngài đọc các b ài kệ sau đây:
Hại người, lại tỏ mình bị hại Mình đánh người, than phải đ òn thoi. Trí nhân thận trọng xét soi, Nghe hai bên trước, tuyên lời chánh chân. Ghét thế nhân dục tầm, biếng nhác, Người giả tu dối gạt rành rành! Hôn quân thường quyết định nhanh, M à không nghe rõ sự tình ra sao. Nóng giận không đời n ào có thể Trong người hiền hợp lẽ biện minh. Ðời đời công chính vang danh, Quân vương cân nhắc ban h ành lệnh ra.
Nhà vua nghe lời Bồ-tát, liền phán xét thật công minh và vụ án kia được xét xử đúng đắn, phần lỗi thuộc về giáo sĩ ấy m à thôi.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt thuyết giảng và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, vị Bà-la-môn đóng c ùng một vai trong cả hai câu chuyện, còn Ta là vị quan hiền trí.
333. Chuyện Con Tắc Kè (Tiền thân Godha)
Ngài cho tôi biết rõ ra...,
Chuyện này do bậc Ðại Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một người chủ đất nọ. Câu chuyện khởi đầu đ ã được kể đầy đủ trước đây (số 328). Nhưng ở đây, khi hai vợ chồng đi đ òi nợ trở về, trên đường họ gặp một số người đi săn, những người n ày cho họ một con tắc kè quay và bảo cả hai hãy ăn món ấy. Người chồng bảo vợ đi kiếm nước, rồi anh ta ăn hết cả con tắc k è. Khi vợ trở lại, anh ta nói:
- Này em, con tắc kè đ ã chạy mất rồi!
Nàng nói:
- Ðược rồi, thưa chàng, con tắc kè chạy rồi thì ai làm gì được?
Nàng uống một ít nước, sau đó cả hai đến Kỳ Vi ên. Khi ngồi hầu bậc Ðạo Sư, Ngài hỏi người vợ như sau:
- Này cư sĩ, ông này có ân cần, thương yêu và giúp đỡ b à không?
Nàng trả lời:
- Con thương yêu, ân cần với chàng, nhưng chàng chẳng hề thương yêu con.
Bậc Ðạo Sư dạy:
- Ðược rồi, giả như ông đ ã cư xử với bà như thế thì cũng chớ buồn rầu. Khi ông nhớ lại các đức hạnh của b à, ông sẽ ban riêng cho bà quyền lực tối cao.
Rồi do yêu cầu của hai vợ chồng. Ngài kể một chuyện đời xưa .
*
Chuyện kể này cũng giống chuyện kể trên, nhưng ở đây, khi hai vợ chồng thái tử đang tr ên đường trở về cung vua, một đám thợ săn thấy họ quá khốn khổ, đ ã cho họ một con tắc kè quay và bảo họ chia nhau ăn. Người vợ lấy một cây leo l àm dây cột nó rồi xách nó theo dọc đường. Khi đến một cái hồ, họ rời đường chính v à đến ngồi dưới một gốc cây đa. Thái tử bảo:
- Này em, hãy đi xuống hồ, d ùng một ngọn lá sen mà kiếm nước, sau đó chúng ta sẽ ăn phần thịt n ày.
Người vợ treo con tắc kè lên một cành cây và đi kiếm nước. Người chồng ăn hết cả con tắc k è, ngồi quay mặt đi. Khi n àng mang nước về, chàng nói:
- Này em, con tắc kè đ ã tụt xuống cành cây và chui vào một đụn kiến. Ta chạy theo v à chộp được chóp đuôi nó. Nhưng nó đứt đôi ra v à nó chui biến vào trong lỗ, để lại phần đuôi m à ta nắm được đây.
- Ðược rồi chàng ạ - nàng nói - chúng ta biết tính sao được khi con tắc k è đ ã nướng lại chạy thoát đi? N ào,chúng ta hãy lên đường!
Uống nước xong, hai vợ chồng đi đến Ba-la-nại. Thái tử l ên ngôi, phong cho vợ làm chánh hoàng hậu nhưng đó chỉ l à một cái chức hờ, vua chẳng ban cho nàng danh vọng gì cho nàng cả.
Bồ-tát muốn chiếm danh dự cho nàng nên đứng trước vua, ng ài hỏi nàng:
- Tâu hoàng hậu, chẳng có lúc nào chúng thần được lệnh b à cho thứ gì cả? Tại sao lệnh bà lại chẳng kể gì đến chúng thần thế?
Hoàng hậu đáp:
- Này hiền khanh, ta chẳng nhận được g ì của đức vua cả th ì làm sao ta có thể ban tặng cho khanh được? Ðức vua có thể ban tặng cho ta thứ gì nào? Hồi chúng ta còn trong rừng, ngài đ ã một mình ăn hết con tắc k è nướng.
- Tâu hoàng hậu, - Bồ-tát nói, - Có lẽ đức vua không l àm như thế đâu, lệnh b à chớ nói về đức vua như thế.
Hoàng hậu đáp:
- Này khanh, sự việc này còn chưa rõ đối với khanh nhưng đ ã quá rõ đối với vua v à ta.
Rồi hoàng hậu đọc b ài kệ đầu:
Ngài cho tôi biết rõ ra Ở trong rừng thẳm, trước kia, tâu ngài: Tắc kè nướng bứt dây gai, Từ cành đa nọ thoát ngay ấy m à. Bên trong lớp áo vỏ dà, Giáp dày, gươm sắc, tôi đ à rõ soi.
Hoàng hậu bày tỏ lỗi lầm của vua như thế trước các triều thần. Bồ-tát nghe xong liền nói:
- Tâu hoàng hậu, từ khi đức vua không c òn yêu lệnh bà nữa, tại sao bà còn tiếp tục sống nơi đây l àm cho cả hai người phải phiền hà như thế?
Rồi ngài đọc hai b ài kệ:
Ai trọng ta, ta thời xứng trọng, Tỏ hảo tâm, hành động đáp đền; Chẳng n ên tốt với bọn hèn, Kẻ nào tránh mặt, chẳng nên yêu vì. Kẻ bỏ ta, ta thì bỏ hẳn, Chớ yêu thương kẻ chẳng thương ta. Như chim lìa bỏ cây khô, Bay tìm trú xứ nơi xa trong rừng.
Khi nghe Bồ-tát nói, vua nhớ lại những đức hạnh của ho àng hậu, liền bảo:
- Này ái hậu, đ ã lâu ta không để ý đến đức hạnh của n àng, nhưng qua lời nói của bậc Hiền trí này, ta nhận biết các đức hạnh ấy. H ãy thứ lỗi cho ta. Trọn vương quốc này của ta, ta tặng riêng nàng đấy.
Rồi vua đọc b ài kệ thứ tư:
Chức quyền cao quân vương có sẵn Nên tỏ bày tình nặng nghĩa thâm, Ta đem vương quốc tặng n àng Hãy ban tặng phẩm cho hàng ái ưu.
Nói xong vua ban quyền lực tối cao cho hoàng hậu và tự nghĩ: "Chính nhờ người ấy mà ta nhớ lại các đức hạnh của n àng". Vua cũng ban quyền cao cho vị Hiền trí ấy.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, cả hai vợ chồng ấy đều đắc quả Dự Lưu.
Và bậc Ðaọ Sư nhận diện Tiền thân:
- Hai vợ chồng trong chuyện ngày nay cũng chính là hai vợ chồng trong chuyện ngày xưa, còn Ta chính là vị Hiền trí.
334. Chuyện Khuyến Dụ Quốc Vương (Tiền thân Ràjovada)
Con bò đực vượt d òng đi lạc hướng ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về việc khuyến dụ một ông vua. Câu chuyện khởi đầu sẽ được kể đây đủ trong số 521. Tiền thân Tesakuna. Nhưng ở đây, bậc Ðạo Sư dạy:
- Tâu Ðại Vương, các vị vua ngày xưa, khi được nghe những lời dạy của bậc hiền trí, đ ã trị vì rất công chính và đ ã đạt đến c õi trời.
Rồi theo yêu cầu của vua, Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài theo đuổi tất cả các học nghệ rồi ng ài sống đời tu h ành phát huy các Thắng trí và các Thiền chứng. Ngài trú trong một nơi tịnh lạc của dãy Tuyết Sơn, sống bằng trái và rễ cây rừng.
Lúc bấy giờ, vua rất mong muốn tìm ra các khuyết điểm của m ình, liền đi khắp nơi xem ai có thể n êu ra các lỗi lầm của ngài ch ăng. Nhưng ng ài không tìm được ai nói đến khuyết điểm của ng ài cả; trong triều, ngoài triều cũng không; trong thành, ngoài thành cũng không nốt. Ngài nghĩ: "Tìm trong nước xem sao?"
Rồi ngài giả trang đi khắp nước nhưng cũng không t ìm được ai nói tới khuyết điểm, chỉ nghe nói tới công hạnh của ng ài. Vua lại nghĩ: "Ở vùng Tuyết Sơn thì sao?" Thế là vua vào rừng và lang thang đây đó cho đến khi gặp nơi ẩn dật của Bồ-tát. Nơi đây vua ch ào Bồ-tát, thân mật hỏi han ngài và ngồi xuống một bên. Bấy giờ Bồ-tát đang ăn mấy trái sung chín m à ngài đ ã mang từ trong rừng về. Sung ngon và ngọt như đường mịn. Bồ-tát nói với vua:
- Thưa Ðại vương, ngài hãy dùng trái sung này và uống một ít nước.
Vua theo lời, rồi hỏi Bồ-tát:
- Thưa Tôn giả, sao trái sung chín này ngọt quá đến như vậy?
Bồ-tát đáp:
-Thưa Ðại vương, vua hiện nay trị vì công chính, vì vậy trái sung này ngọt như thế đấy.
- Thưa Tôn giả, thế thì trong một đời vua bất chính, sung sẽ mất vị ngọt của nó chăng?
- Thưa Ðại vương, đúng thế. Trong các thời vua bất chính th ì dầu, mật, đường v.v... ngay cả rễ cây, trái rừng cũng đều mất đi vị ngon ngọt của chúng. Chẳng những thế m à, toàn cả vương quốc đều trở n ên dở dang, vô vị; nhưng khi những nhà lãnh đạo công chính th ì những thứ này trở nên ngon ngọt thơm tho, và toàn thể vương quốc đầy vẻ thanh tao, v à hương ngào ngạt.
Vua nói:
- Thưa Tôn giả, chắc hẳn là như thế.
Rồi chẳng để cho Bồ-tát biết rằng m ình là vua, ngài chào Bồ-tát và quay về Ba-la-nại.
Ðể chứng nghiệm lời nói của vị ẩn sĩ, vua trị vì bất chính và tự nghĩ: "Ta sẽ biết rõ mọi việc đúng sai như thế n ào?. Chỉ ít lâu sau, vua quay trở lại rừng, chào Bồ-tát và kính cẩn ngồi xuống một bên. Bồ-tát cũng nói đúng như những lời trước kia, v à mời ngài ăn một trái sung chín, nhưng sung lại chát. Thấy sung chát, vua nhổ ra v à nói:
- Thưa Tôn giả, sung chát quá!
Bồ-tát nói:
- Thưa Ðại vương, hẳn vua là kẻ bất chính, vì khi các người lãnh đạo bất chính th ì mọi vật, khởi đầu từ các trái cây trong rừng, mất hết vị ngọt ng ào thơm ngon của chúng.
Rồi ngài đọc b ài kệ sau:
Con bò đực vượt d òng đi lạc hướng, Ðàn cái theo, hàng ngũ rối tan tành. Người cầm đầu theo các lối loanh quanh, Dẫn bọn kém đến đường c ùng hèn mạt, Toàn vương quốc, hận một đời phóng dật. B ò đực kia, nếu hướng dẫn thẳng đường, Bầy cái theo sau nó sẽ ngay h àng. Người cầm đầu, nếu theo đường công chính Cả đám đông sẽ tránh điều bất hạnh Khắp nước nh à sẽ hưởng lạc tịnh an.
Sau khi Bồ-tát trình bày về Chánh pháp, vua cho ngài biết rằng mình là vua, và nói:
- Thưa Tôn giả, trước đây chính do ta m à những trái sung được ngọt, rồi sau đó trở th ành chát, nhưng nay ta sẽ làm cho chúng ngọt trở lại.
Rồi vua chào Bồ-tát và trở về, trị vì công chính, làm cho mọi sự trở lại trạng thái nguyên thủy của nó.
335. Chuyện Chó Rừng (Tiền thân Jambuka)
Chó rừng, coi chừng đấy...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về việc Ðề-bạt- đạt-đa bắt chước đức Phật. T ình tiết dẫn đến câu chuyện đ ã được kể ở phần trước (số 204). Ðây là bản tóm tắt.
Khi bậc Ðạo Sư hỏi Xá-lợi-phất rằng Ðề-bà- đạt-đa đ ã làm gì khi Trưởng lão đến gặp ông ta. Trưởng l ão đáp:
- Bạch Thế Tôn, khi muốn bắt chước Ngài, ông ấy đặt một cái quạt v ào tay con và nằm xuống rồi Kokàlika lấy đầu gối thúc v ào ngực ông ta. Thế đấy, khi bắt chước Ng ài, ông ta phải gặp nạn.
Bậc Ðạo Sư dạy
- Ðiều ấy trước đ ã xảy đến với Ðề-bà- đạt-đa rồi.
Rồi do yêu cầu của Trưởng lão, Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là một con Sư tử, trú tại một cái động trong d ãy Tuyết Sơn. Một hôm, sau khi giết chết một con Bò và ăn thịt nó xong, Sư tử uống một ngụm nước rồi quay về hang. Một con Chó rừng trông thấy Sư tử v à vì không thể chạy thoát được, nó nằm sấp xuống.
Sư tử hỏi:
- Này anh Chó rừng, anh làm gì thế?
Chó rừng đáp:
- Thưa ngài, tôi mong làm tôi tớ của ngài.
Sư tử nói:
- Ðược, hãy làm thế đi.
Rồi Sư tử dẫn nó về nơi mình ở, hàng ngày mang thịt về cho nó ăn. Chó rừng mập ra nhờ thịt vụn do Sư tử mang về.
Một hôm, cảm thấy niềm tự hào nổi lên trong mình, Chó rừng liền đến gần Sư tử v à bảo:
- Thưa ngài, tôi là một vật chướng ngại cho ngài. Ngài cứ phải mang thịt về nuôi sống tôi mãi. Hôm nay, ngài hãy ở lại đây. Tôi sẽ đi giết một con voi v à sau khi ăn no n ê xong, tôi sẽ mang thịt về cho ngài.
- Này bạn Chó rừng, chớ nuôi ý nghĩ ấy. Bạn đâu có phát xuất từ một d òng giống giết voi mà ăn thịt? Voi chắc chắn l à thân thể to lớn. Ðừng mang lấy điều g ì trái với bản chất của bạn, hãy nghe lời ta đi.
Và Sư tử liền đọc b ài kệ đầu:
Chó rừng, coi chừng đấy! Ðôi ngà voi dài ấy. Loài bạn bé tí hon Khó có được một con Dám đối mặt thú nọ Oai h ùng và đồ sộ.
Mặc dầu Sư tử can ng ăn, Chó rừng vẫn ra khỏi hang. Hú l ên ba lần tiếng hú của chó rừng. Nó nhìn xuống núi và trông thấy một con voi đang đi dưới ấy. Nó định nhảy xuống đầu voi, liền phóng l ên, lộn nhào trên không rồi rớt xuống chân voi. Voi nhấc chân trước đạp v ào đầu Chó rừng vỡ ra từng m ảnh. Chó rừng nằm đó r ên la. Voi rống lên và bỏ đi.
Bồ-tát đến v à đứng tr ên đỉnh dốc thấy Chó rừng đ ã phải chuốc lấy cái chết như thế nào, liền tự bảo: "Chó rừng này bị giết vì quá tự phụ."
Rồi ngài đọc ba b ài kệ sau:
Chó rừng nọ mang oai Sư tử, Ðã một lần toan cự voi kia. Ngã nhào, ngực vỡ kêu la, Mới hay tiếc đ ã vội ra đối đầu. Ai thích đấu kẻ n ào siêu đẳng Sức mạnh kia nếu chẳng nhận ghi, Sẽ đ ành chia xẻ tức thì Chó rừng số phận sầu bi thế này. Kẻ biết lượng sức tài mình có, Biết e dè khi tỏ lời ra, Sống tròn bổn phận đời ta, Bao nhi êu cừu địch cũng l à thắng thôi.
Bồ-tát đọc các b ài kệ trên, tuyên thuyết những phận sự đúng đắn phải l àm trong cõi đời n ày.
*
Sau khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy giờ Ðề-bà- đạt-đa l à con chó rừng, còn ta là con sư tử.
363. Chuyện Vương Tử Chatta Vĩ Đại (Tiền thân B rahachatta)
"Cỏ " vẫn là tiếng ngài kêu mãi...,
Chuyện này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một kẻ xảo quyệt.
Tình tiết đưa đến câu chuyện đ ã được kể trước đây.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta đang trị v ì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là quan đại thần v à là cố vấn của vua về thế sự và thánh sự. Vua Ba-la-nại mang một đạo quân lớn đi đánh vua Kosala, đến Xá-vệ v à sau trận chiến, đ ã vào thành bắt vua Kosala làm tù nhân. Bấy giờ vua Kosala có một con trai là vương tử Chatta. Chàng giả trang thoát đi.
Ðến Takkasilà chàng học được ba bộ Vệ-đ à và mười tám ngành v ăn học nghệ thuật. Thế rồi ch àng rời Takkasilà và trong khi nghiên cứu cách ứng dụng các học nghệ, chàng đến một l àng ở biên địa. Ở một khu rừng gần đó có năm trăm ẩn sĩ sống trong các lều lá của họ. Vương tử đến với họ. Ch àng mong mỏi học hỏi họ nên chàng cũng trở thành ẩn sĩ và sau đó ch àng học được mọi kiến thức của họ. Chẳng bao lâu ch àng trở thành người lãnh đạo của đám môn đệ ấy.
Một hôm chàng gọi các đạo hữu của ch àng lại và nói:
- Này các hiền giả, tại sao các bạn không đi đến v ùng trung tâm?
Họ bảo:
- Thưa Tôn giả, chúng tôi nghe nói vùng trung tâm là nơi những người khôn ngoan sống. Họ đặt cho m ình những câu hỏi, họ khiến mình phải cảm ơn, phải chúc tụng và họ trách cứ những kẻ thô lậu. Vì thế chúng tôi không dám đến đó.
- Chớ sợ, chàng bảo - tôi sẽ lo các thứ ấy cho các bạn.
Họ bảo:
- Thế thì chúng tôi sẽ đi.
Rồi tất cả đều mang theo các vật dụng cần thiết để đi đường v à đến Ba-la-nại.
Bấy giờ vua Ba-la-nại, sau khi chiếm lĩnh toàn thể vương quốc Kosala, đặt các vi ên chức tâm phúc ở lại làm quan cai trị, còn vua gom góp mọi tài sản quý giá rồi mang chiến lợi phẩm quay về Ba-la-nại. Vua bỏ đầy các vật quý giá kia trong các b ình bằng sắt rồi đem chôn trong ngự vi ên và vẫn sống ở nơi ấy.
Các ẩn sĩ kia ngủ đ êm ở trong ngự viên ấy, hôm sau vào thành khất thực, đến cổng cung điện. Vua rất thích cung cách của họ đến độ gọi họ v ào và mời họ ngồi trên bệ, hỏi họ nhiều vấn đề như vậy, như vậy... Chatta chiếm được l òng vua nhờ chàng đáp được hết mọi câu hỏi của vua. Vua lại c àng bằng lòng hơn nữa, và hứa cho tất cả được ở trong vườn cây của m ình.
Bấy giờ, Chatta biết thần chú tìm ra kho tàng được chôn dấu. Trong lúc trú tại đó, ch àng cứ tự nghĩ: "Ðâu là chỗ ông ấy có thể cất giấu tiền bạc của cha ta nhỉ?" Rồi đọc thần chú v à kiếm tìm khắp nơi, chàng khám phá ra rằng của cải ấy được chôn trong vườn cây. Nghĩ rằng với tiền bạc ấy, ch àng có thể khôi phục vương quốc của mình, chàng liền gọi các ẩn sĩ kia lại và bảo:
- Này các bằng hữu, tôi là con của vua Kosala. Khi vương quốc của chúng tôi bị vua Ba-la-nại chiếm, tôi đ ã giả trang trốn thoát và toàn mạng đến nay, giờ đây, tôi đ ã chiếm được t ài sản thuộc về gia đ ình tôi. Với tài sản này, tôi sẽ khôi phục vương quốc của tôi. Các bạn định sẽ l àm gì nào?
- Chúng tôi sẽ cùng đi với ng ài. Họ đáp.
- Ðồng ý.
Chàng bảo, rồi sai làm những cái bao lớn bằng da. Ðêm đến, ch àng đ ào lỗ ở khoảng đất kia v à lấy các bình chứa tiền bạc lên. Chàng bỏ tiền vào các bao và lấy cỏ đựng đầy các b ình kia. Chàng ra lệnh n ăm trăm đạo hữu c ùng mang tiền bạc rồi chạy về Xá-vệ.
Nơi đây, ch àng bắt hết các quan chức của vua và khôi phục vương quốc của chàng. Chàng xây thành, tháp canh và thực hiện nhiều công việc khác nữa. Chàng xây dựng một thành phố vững chắc chống lại cuộc tiến công của bất cứ một ông vua cừu địch n ào, và chàng ở tại đó.
Vua Ba-la-nại nghe trình:
- Các nhà tu khổ hạnh đ ã lấy kho tàng trong vườn của ngài và chạy đi rồi.
Vua vào vườn, mở các bình ra và thấy chỉ có cỏ trong đó m à thôi. Vì mất kho báu, vua ngập tràn sầu muộn. Vua vào thành phố vừa lang thang khắp nơi vừa thì thầm: "Cỏ, cỏ". Chẳng có ai có thể làm vơi nỗi sầu muộn của vua được.
Bồ-Tát tự nghĩ: "Vua đang gặp lúc quá khổ. Ng ài cứ lang thang đây đó v à nói nhảm mãi. Ngoài ta ra, không ai đủ sức để xua nỗi sầu muộn của ng ài được. Ta sẽ giải thoát cho ng ài khỏi cơn đau khổ.
Thế rồi, một hôm Bồ-Tát ngồi im lặng cùng với vua, khi vua bắt đầu nói nhảm, ng ài đọc b ài kệ đầu:
"Cỏ" vẫn là tiếng ngài kêu mãi, Kẻ nào giành cỏ ấy của ngài? Ngài cần chi với cỏ vầy? Tại sao ngài cứ lời này thốt ra?
Vua nghe Bồ-Tát nói thế liền trả lời bằng bài kệ thứ hai:
Chính đạo sĩ Chat-ta nổi tiếng. Như thế n ày câu chuyện xảy ra; Nó đem cỏ thế v àng ta, Ta đây trách cứ ri êng nhà nó thôi.
Nghe thế, Bồ-Tát đọc b ài kệ thứ ba:
Bọn tinh ma vẫn noi đường lối: "Cho ít thôi, nhưng đổi lấy nhiều". Của ri êng phần nó mang theo, Cỏ kia để lại, há điều khôn ngoan?
Nghe thế, vua đọc b ài kệ thứ tư:
Ðức hạnh chẳng theo đ àng lối nọ, Ðức này dành cho lũ ngu si, Ðức kia chắc hẳn đáng nghi, Học theo cũng chẳng ích chi, hão huyền!
Khi vua trách cứ Chatta như vậy và nghe những lời ấy của Bồ-tát, vua liền thoát khỏi cơn sầu muộn và từ đó trị v ì vương quốc của mình rất công chính.
*
Bậc Ðạo sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện tiền thân:
- Bấy giờ Tỷ-Kheo xảo quyệt kia là đạo sĩ Chatta, còn Ta là vị quan hiền trí nọ.
337. Chuyện Cái Sàng Tọa (Tiền thân Pìtha)
Ôi, tôi đ ã chẳng mời ngồi...,
Câu chuyện này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-Kheo.
Tương truyền ông ta từ vùng quê đến Kỳ Vi ên. Sau khi cởi bỏ y bát, ông đến đảnh lễ bậc Ðạo sư và hỏi các chú tiểu:
- Này các chú, ai ch ăm lo các Tỷ-Kheo ở nơi khác đến Xá-vệ?
Các chú tiểu đáp:
- Trưởng giả Cấp Cô độc v à nữ đại cư sĩ Vis àkhà trông nom cả T ăng đo àn thay thế bậc phụ mẫu của họ.
- Tốt lắm, ông ta nói như thế.
Và lờ mờ sáng hôm sau, trước hơn ai hết, ông đến nh à ông Cấp Cô Ðộc. Vì ông đến v ào giờ không hơp lý nên chẳng có ai ch ăm sóc ông cả. Không nhận được thứ g ì nơi đây, ông liền bỏ đi v à đến nh à bà Visàkhà. Nơi đây, cũng v ì đến quá sớm n ên không nhận được g ì cả. Sau khi quanh quất đó đây, ông trở lại v à khi thấy cháo sữa đ ã hết, ông liền quay bỏ đi. Ông lại đi quanh quẩn đó đây, v à khi trở về, thấy cơm đ ã hết, ông quay lại Tinh xá và bảo:
- Các Tỷ-Kheo ở đây nói rằng hai gia đ ình ấy thuộc những tín hữu thuần thành, nhưng thật ra cả hai đều chẳng tín th ành và cũng chẳng là người mộ đạo.
Như thế ông cứ đi khắp nơi trách cứ hai gia đ ình ấy.
Vì vậy một hôm các Tỷ-Kheo bắt đầu b àn tán trong Pháp đường rằng Tỷ-Kheo ấy từ v ùng quê đến cửa nh à của các gia trưởng kia lúc quá sớm, nên đ ã không nhận được các thứ cúng dường v à đi khắp nơi mắng nhiếc các gia đ ình ấy.
Bậc Ðạo sư đến v à hỏi các Tỷ-Kheo đang ngồi b àn tán việc gì. Khi nghe kể lại, Ngài gọi Tỷ-Kheo kia đến v à hỏi ông ta có thực như thế không. Tỷ-Kheo ấy nói:
- Bạch Thế tôn, thật như thế.
Bậc Ðạo sư dạy:
- Này Tỷ-Kheo, tại sao ông lại giận chứ? Ngày xưa, trước khi đức Phật xuất hiện tr ên thế gian này, khi các nhà tu khổ hạnh viếng th ăm một gia đ ình mà không nhận được tặng vật, họ không hề tỏ ra tức giận.
Cũng với lời này, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-Tát sinh ra trong một gia đ ình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài theo đuổi các học nghệ tại Takkasil à và sau đó ng ài sống đời Phạm hạnh của một nh à tu ẩn dật. Sau khi sống một thời gian dài trong dãy tuyết Sơn, ngài đến Ba-la-nại để kiếm muối v à giấm. Ngài trú trong một vườn cây và sáng hôm sau vào thành mà khất thực. Bấy giờ, có một thương gia ở Ba-la-nại là một tín hữu thuần thành. Bồ-Tát hỏi tìm một gia đ ình thành tín và khi nghe nói đến gia đ ình thương gia nọ, liền đến nh à ông ta. Bấy giờ vị thương gia đ ã đi bái kiến vua v à người nhà của ông cũng chẳng có ai gặp ngài. Vì vậy ngài quay trở ra.
Sau đó thương gia ấy từ cung về trông thấy ng ài, chào ngài rồi cầm lấy bình bát của ngài và mời vào nhà. Nơi đây ông mời ng ài ngồi và ch ăm sóc ng ài, rửa và xức dầu thơm đôi b àn chân ngài, mang cơm, bánh và các thức ăn khác ra mời. Trong lúc ng ài dùng bữa, ông hỏi ngài điều n ày, điều nọ.
- Thưa Tôn giả, mọi khách lạ đến nh à chúng tôi, dù là hành khất, đạo sĩ hay B à-la-môn, đều chẳng bao giờ phải ra đi m à không nhận những tặng vật biểu lộ sự cung tôn. Thế mà hôm nay người của chúng tôi lại không trông thấy ngài, khiến ngài phải ra đi m à không được dâng chỗ ngồi, nước uống, không được rửa chân, không được dâng cơm, cháo để ng ài dùng. Ðấy là lỗi của chúng tôi. Xin ngài tha thứ cho chúng tôi về điều ấy.
Rồi ông đọc b ài kệ đầu:
Ôi, tôi đ ã chẳng mời ngồi, Chẳng mang nước uống, chẳng mời ngài ăn. Tôi đây thú thật tội phần. Cầu xin Tôn giả một lần thứ tha.
Bồ-Tát nghe thế liền đọc b ài kệ thứ hai:
Thứ tha tôi có chi mà! Tôi nào cảm thấy phiền hà gì đâu! Lần kia, một ý thoáng mau: "Người đây, thói tục phần n ào lạ xa".
Vị thương gia nghe xong, liền trả lời bằng hai bài kệ nữa:
Thói tục từ lâu đời Truyền tận đến chúng tôi Mỗi lần khác lạ đến Ân cần vẫn đón mời. Chỗ khách ngồi, mời mọc, Cung cấp thứ khách cần, Mang nước đến rửa chân, Ðãi khách như thân tộc.
Bồ-Tát ở lại nơi ấy ít ngày, giảng dạy cho vị thương gia thành Ba-la-nại về bổn phận của mình. Sau đó ng ài lui vào dãy Tuyết sơn. Nơi đây, ng ài phát huy các Thắng trí và các Thiền chứng.
*
Bậc Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, vị Tỷ-Kheo kia Ðắc quả Dự Lưu và Ngài nhận diện Tiền thân.
- Bấy giờ, Ànanda là vị thương gia ở Ba-la-nại, còn Ta là vị ẩn sĩ nọ.