Chuyện Tiền Thân · Jātaka

264. Chuyện Đại

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 28

Chuyện Đại#

Jātaka group 28

Chương

III (tiếp

theo)

Phẩm

Ba Bài Kệ

264. Chuyện Đại

Vương Pan àda

(Tiền thân Mahà-Panàda)#

Vua Panàda có cung điện ấy...,

Chuyện này do bậc Ðạo sư kể

khi Ngài ghé đến bên bờ sông Hằng, về thần thông của

Trưởng lão Bhaddaji.

Một dịp khác, khi bậc Ðạo Sư

đã an cư mùa mưa ở Xá vệ, Ngài nghĩ nên ban ân đức cho

một trưởng giả trẻ tuổi tên Bhaddaji. Vì thế, Ngài cùng

các Tỳ-kheo lên đường tới thành Bhaddiya và ở lại đó

ba tháng trong rừng Jàtiyà, chờ đợi cho đến khi chàng trai

ấy thuần thục và kiện toàn về tri thức.

Bấy giờ thanh niên Bhaddaji là một

nhân vật cao sang, Con trai độc nhất của một phú thương

ở Bhaddaiya hưởng một gia tài tám trăm triệu đồng. Chàng

có ba ngôi nhà dùng cho ba mùa khác nhau, mỗi mùa chàng ở bốn

tháng trong một ngôi nhà. Sau thời kỳ ở trong một ngôi

nhà, chàng cùng với bà con bạn bè dời đến một ngôi nhà

khác trong cảnh xa hoa lộng lẫy. Vào các dịp này, cả

thành phố thường nô nức đi xem cảnh sang trọng của chàng

thanh niên ấy và giữa các ngôi nhà ấy, người ta thường

dựng lên biết bao chỗ ngồi theo hình vòng tròn, hàng hàng

lớp lớp chồng chất lên nhau.

Sau khi đã trú nơi kia được ba

tháng, bậc Ðạo Sư báo cho dân trong thành biết Ngài định

ra đi. Dân trong thành xin Ngài hãy nán lại đến ngày mai. Thế

là hôm sau, họ góp đủ thứ tặng vật để cúng dường đức

Phật và các Tỷ-kheo, đệ tử của Ngài. Họ dựng một

cái rạp ở giữa thành phố, trang hoàng đẹp đẽ, sắp xếp

các chỗ ngồi rồi thông báo rằng đã đến giờ. Bậc Ðạo

Sư cùng đoàn Tỷ-kheo thứ lớp đến ngồi vào đó. Mọi người

đều đến cúng dường rất hào phóng. Khi thọ thực xong, bậc

Ðạo Sư với giọng ngọt ngào như mật, đã nói lời tùy hỷ

công đức với họ.

Vào lúc này, thanh niên Bhaddaji

đang từ một ngôi nhà của chàng dời sang ngôi nhà khác. Nhưng

hôm đó chẳng có ma nào đến ngắm vẻ lộng lẫy rực rỡ

của chàng ngoài những người nhà của chàng. Vì thế chàng

hỏi những người của chàng vì sao như thế. Thường thường

tất cả thành phố đều nô nức xem chàng đi từ nhà này

qua nhà nọ, các chỗ ngồi đã được sắp đặt vòng này

trên vòng nọ, dãy này trên dãy kia; ấy thế mà bây giờ chẳng

có ai cả ngoài những kẻ tùy tùng của riêng chàng! Lý do

gì như vậy?

Chàng được trả lời:

- Thưa chủ nhân, đức Phật đã

ở suốt ba tháng gần thành phố và hôm nay Ngài ra đi. Ngài

vừa thọ thực xong và đang thuyết pháp. Cả thành phố đều

đang ở đó nghe Ngài dạy.

Chàng nói:

- Tốt lắm, chúng ta cũng sẽ đến

đó nghe Ngài.

Thế rồi chàng trang sức lộng lẫy

cùng với số đông tùy tùng đứng ở mé ngoài đám đông.

Khi chàng nghe thuyết pháp, chàng vứt bỏ hết mọi tham dục

cấu uế, đắc quả vị cao rồi đạt Thánh quả.

Bậc Ðạo Sư bảo vị thương gia

thành Bhaddiya:

- Thưa ngài, con trai của ngài

trông vẻ xa hoa, khi nghe Ta thuyết pháp đã trở thành một bậc

Thánh; chính ngày hôm nay, vị ấy hoặc sẽ sống đời tu hành,

hoặc sẽ nhập Niết-bàn.

- Bạch Thế Tôn, vị thương gia nói

- Tôi không muốn con tôi nhập Niết-bàn. Xin Ngài chấp nhận

cho nó xuất gia. Rồi ngày mai, xin thỉnh Ngài cùng với nó

đến nhà tôi.

Thế Tôn nhận lời mời ấy.

Ngài đưa vị trưởng giả trẻ tuổi đến tịnh xá, nhận

chàng vào giáo đoàn, sau đó thọ tiểu giới và đại giới.

Suốt một tuần, cha mẹ của chàng trai ấy tiếp đãi chàng

rất nồng hậu.

Sau bảy ngày như thế, bậc Ðạo

Sư mang chàng theo khi đi khất thực, đến một ngôi làng

tên là Koti. Dân làng Koti kính cẩn cúng dường đức Phật

và đệ tử của Ngài. Sau khi thọ thực xong, bậc Ðạo Sư

nói lời tùy hỷ. Trong lúc ấy, chàng trưởng giả đi ra khỏi

làng, ngồi bên một bến của sông Hằng dưới một gốc cây

mà trầm tư quán tưởng và nghĩ rằng khi nào bậc Đạo Sư

đến, chàng sẽ đứng lên. Khi các Trưởng lão cao niên nhất

đến gần, chàng vẫn không đứng dậy, nhưng khi bậc Ðạo

Sư đến thì chàng đứng lên ngay.

Những người chưa hiểu đạo lấy

làm bất bình vì chàng xử sự như thể một Tỷ-kheo thuộc

hàng trưởng thượng, chàng đã không đứng dậy khi thấy các

Trưởng lão cao niên nhất đến gần.

Dân làng làm những chiếc bè để

đức Phật và các Tỷ-kheo sang sông. Sau đó bậc Ðạo Sư hỏi

xem Bhaddaja ở đâu.

- Bạch Ngài, kia kìa.

- Ðến đây Bhaddaji, hãy lên bè của

Ta.

Trưởng lão đứng lên, theo Ngài

đến chiếc bè của Ngài. Khi bè ra tới cửa sông, bậc Ðạo

Sư hỏi Bhaddaji:

- Này Bhaddaji, đâu là cung điện

mà ông đã ở lúc Ðại vương Panàda là vua?

Bhaddaji đáp:

- Thưa ở đây, phía dưới nước.

Những kẻ chưa hiểu đạo bảo với

nhau:

- Trưởng lão Bhaddaji đang tỏ ra

mình là một vị Thánh đấy!

Sau đó bậc Ðạo Sư bảo vị ấy

hãy đánh tan mối nghi ngờ của các bạn đồng tu.

Lập tức, Trưởng lão cúi mình

đảnh lễ bậc Ðạo Sư, và do thần lực, ông nắm toàn bộ

khối cung điện trên đầu ngón tay rồi bay vụt lên không,

mang theo cả tòa cung điện (bao trùm một khoảng tới hai mươi

lăm dặm). Sau đó ông tạo một lỗ hổng bên trong và xuất

hiện trước những chúng sanh đang có mặt trong cung điện

dưới nước rồi tung cả tòa lâu đài lên khỏi mặt nước

một dặm, rồi hai, rồi ba dặm. Những ai từng là bà con

thân thích của ông trong tiền kiếp kia vì quá yêu thích

cung điện ấy, nay đã trở thành cá, rùa, rắn nước, cóc

nhái sinh ra ngay tại nơi ấy.

Bây giờ khi cả tòa cung điện bị

tung lên, chúng giãy giụa lăn lóc cả ra ngoài rồi rơi bì

bõm xuống nước lại. Bậc Ðạo Sư thấy thế liền bảo:

- Này Bhaddaji các bà con thân

thích của ông đang khốn đốn đấy!

Nghe Ngài dạy thế, Trưởng lão

liền thả cả tòa cung điện ra, và nó chìm xuống tại chỗ

cũ trước đây.

Bậc Ðạo Sư đã sang bên kia

sông Hằng. Hội chúng sửa soạn cho Ngài một chỗ trên bờ.

Ðức Phật ngồi vào chỗ ấy giống như mặt trời ban mai

đang phóng ra những tia sáng. Bấy giờ, các Tỷ-kheo hỏi

Ngài rằng Trưởng lão Bhaddaji đã ở trong tòa cung điện

ấy vào thời nào. Bậc Ðạo Sư trả lời:

- Vào thời Ðại vương Panàda.

Rồi Ngài kể cho hội chúng nghe một

chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa có một ông vua tên

Suruci trị vì ở Mithilà, một thành phố trong vương quốc

Videha. Vua có một con trai cũng tên Suruci, rồi lại có thêm

một con trai nữa tên là Ðại Panàda. Họ làm chủ cung điện

kia, do một nghiệp trong tiền kiếp. Có hai cha con dựng một

túp lều lá cùng các cành cây sung làm nơi cư trú dành cho một

vị Ðộc Giác Phật.

Phần còn lại của câu chuyện sẽ

được kể trong Tiền thân Suruci số 489, Chương Mười bốn.

*

Sau khi kể xong Pháp thoại, bậc

Ðạo Sư với trí tuệ toàn hảo, đọc lên các bài kệ sau:

Vua Pa-nà-da có cung điện ấy

Mười sáu ngàn tầm rộng, một ngàn cao,

Ngàn tầm cao, cờ xí rợp muôn màu,

Ngọc bích kết cả trăm tầng lầu các.

Sáu ngàn văn công tới lui chơi nhạc

Gồm bảy ban, vẫn múa hát đồng thời,

Bhad-da-ji đã nói, đúng như lời:

- Tâu Ðế Thích, nô tài chờ thượng lệnh.

Bấy giờ, những kẻ chưa hiểu

đạo không còn nghi ngờ gì nữa.

*

Khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại,

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Thời ấy Bhaddaji là Ðại vương

Panàda, còn Ta là Ðế Thích.

-ooOoo-

265. Chuyện Mũi Tên (Tiền thân

Khurappa)

Khi nhiều cung bắn vèo tên tới...,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại

Kỳ Viên (Jetavana), về một Tỷ-kheo mất hết mọi năng lực

tinh tấn.

Bậc Ðạo Sư hỏi có thật Tỷ-kheo

ấy đã mất năng lực tinh tấn không. Vị ấy trả lời thật

như thế. Bậc Ðạo Sư bảo:

- Tại sao ông lại còn thối thất

sau khi đã thọ trì giáo lý giải thoát này? Ngày xưa, các

trí giả đã rất tinh tấn ngay cả trong những sự việc

không đưa đến giải thoát.

Rồi Ngài kể một chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình của một người

kiểm lâm. Khi lớn lên, ngài đứng đầu một đoàn gồm năm

trăm người kiểm lâm sống trong một ngôi làng, tại lối

vào một khu rừng. Ngài thường đứng ra tự nhận dẫn mướn

cho những ai muốn qua khu rừng ấy.

Một hôm, có một người ở

Ba-la-nại, con của một thương gia, đến ngôi làng ấy cùng

với một đoàn gồm năm trăm xe chở hàng. Ông ta gọi Bồ-tát

đến, trao cho ngài một ngàn đồng để được ngài dẫn

qua khu rừng. Ngài chấp thuận và nhận tiền từ tay thương

gia ấy. Cầm tiền xong, Bồ-tát tự xem là đã hiến đời mình

để phục vụ vị thương gia. Thế rồi ngài dẫn ông ta đi

qua khu rừng.

Vào đến giữa rừng, năm trăm tên

cướp đột nhiên xuất hiện. Cả đoàn hộ tống vừa thấy

bọn cướp này đã quỳ mọp xuống ngay. Chỉ riêng người

trưởng đoàn kiểm lâm la hét lên, nhảy vọt tới và đánh

đấm, đuổi được tất cả năm trăm tên cướp chạy trốn

để cho vị thương gia kia an toàn thoát khỏi khu rừng.

Qua khỏi khu rừng, thương gia ấy

cho cả đoàn cắm trại. Ông cho người trưởng đoàn kiểm

lâm ăn những miếng thịt đủ loại ngon nhất và chính ông

cũng ăn cho khỏi cơn đói. Ông vui vẻ ngồi bên cạnh người

trưởng đoàn và bảo:

- Hãy nói cho tôi biết, làm sao trước

cả năm trăm tên cướp đầy đủ khí giới trên tay bao vây

dày đặc thế kia, người không cảm thấy chút sợ hãi gì

trong lòng thế?

Rồi ông ta đọc bài kệ thứ nhất:

Khi nhiều cung bắn vèo tên tới,

Nhiều bàn tay đưa lưỡi thép gần,

Trước hàng hung hãn Tử-thần,

Sao người chẳng sợ giữa cơn hiểm nghèo?

Nghe thế, người kiểm lâm đọc

hai bài kệ sau đây:

Khi nhiều cung bắn vèo tên tới,

Nhiều bàn tay đưa lưỡi thép gần,

Trước hàng hung hãn Tử-thần,

Hôm nay tôi thấy ngập tràn niềm vui.

Niềm vui ấy cho tôi thắng lợi,

Tôi liều thân nếu tới lúc cần,

Hành vi dũng liệt muốn toàn,

Làm anh hùng, phải coi thường đời ta!

Ngài phát biểu những lời trên

như một trận mưa tên. Sau khi đã giải thích việc làm anh

dũng của mình do đã thoát khỏi lòng ham sống, Bồ-tát từ

giã thương gia trẻ tuổi ấy và quay về ngôi làng của

mình. Suốt đời bố thí và hành thiện sự, khi mệnh chung,

Ngài đi theo nghiệp của mình.

*

Khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại

này, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế,

vị Tỷ-kheo thối thất ấy đắc Thánh quả.

Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ Ta là trưởng đoàn kiểm

lâm ấy.

-ooOoo-

266. Chuyện Con Ngựa Quí Tốc Như

Phong (Tiền thân Vàtagga-Sindhava)

Mẹ chàng vì ốm o vàng vọt..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại

Kỳ Viên, về một người chủ đất.

Tại Xá-vệ, người ta nghe nói một

phụ nữ xinh đẹp thấy chàng này cũng đẹp trai liền đem

lòng yêu. Nỗi say mê bừng lên như một ngọn lửa đốt cháy

khắp thân thể nàng. Nàng mất hết tri giác, cả thân lẫn

tâm, nàng chẳng thiết gì ăn uống, chỉ nằm rũ liệt trên

giường.

Các bạn bè và tỳ nữ hỏi vì

sao nàng lại phải rối loạn tâm can đến nỗi phải nằm

rũ liệt trên giường thế kia. Họ muốn biết nguyên nhân

vì sao như vậy. Ban đầu, nàng không chịu trả lời nhưng vì

họ cứ thúc ép mãi, nàng đành phải thú thật sự việc.

- Chị đừng buồn, chúng tôi sẽ

mang chàng lại cho chị!

Họ bảo như vậy, rồi họ đến

nói chuyện với người đàn ông kia. Lúc đầu chàng từ chối

nhưng rồi họ cứ năn nỉ mãi nên cuối cùng chàng chấp

thuận. Thế là họ được chàng hứa sẽ đến với nàng

kia vào ngày, giờ đã định. Họ liền thuật lại cho nàng

nghe.

Nàng sửa soạn phòng ốc, mặc quần

áo thật đẹp rồi ngồi trên giường chờ chàng đến. Chàng

ngồi xuống bên cạnh nàng, bấy giờ nàng bỗng suy nghĩ:

"Nếu ta chấp thuận lời chàng tán tỉnh ngay lập tức

và tự hạ giá mình thì lòng tự trọng cao của ta sẽ bị

dẹp bỏ. Ngày buổi đầu tiên mà để chàng làm theo ý

chàng thì thật là không thích hợp. Thôi hôm nay mình cứ

làm vẻ khó tính rồi sau này sẽ nhượng bộ".

Thế là ngay khi chàng mới chạm

vào nàng bắt đầu tỏ vẻ âu yếm suồng sã, nàng liền chụp

lấy tay chàng và nghiêm nghị trách cứ chàng, bảo chàng đi

ra, vì nàng không thích chàng. Chàng giận dữ rút lui và ra

khỏi nhà.

Khi các phụ nữ kia biết được

sự việc nàng đã làm và thấy rằng người đàn ông kia đã

ra đi, thì họ trách nàng:

- Này chị, chị đã yêu người

ta đến nỗi phải nằm liệt giường, chẳng thiết gì ăn uống,

và chúng tôi cũng đã phải khó khăn lắm mới thuyết phục

được chàng để cuối cùng mang chàng đến với chị, thế

mà chị chẳng có gì để nói với chàng cả!

Nàng nói cho họ biết tại sao, họ

liền bỏ đi và cảnh cáo rằng nàng sẽ bị người ta bàn

tán.

Người đàn ông kia chẳng bao giờ

đến với nàng nữa. Khi nàng nhận ra rằng nàng đã mất

chàng, nàng bỏ cả ăn mà chết. Khi người đàn ông kia được

tin nàng chết, chàng mang một bó hoa dầu thơm, hương liệu

đến Kỳ Viên. Tại đó, chàng đảnh lễ bậc Ðạo Sư rồi

ngồi xuống bên Ngài.

Bậc Ðạo Sư hỏi:

- Này cư sĩ, làm sao mà chúng ta

chẳng hề thấy ông đến đây vậy?

Chàng kể lại cho Ngài nghe toàn bộ

câu chuyện và thêm rằng lâu nay chàng tránh đến hầu đức

Phật vì chàng hổ thẹn. Bậc Ðạo Sư dạy:

- Này cư sĩ, người phụ nữ kia

cho mời ông đến là do lòng say mê của nàng, thế rồi

nàng chẳng muốn liên hệ gì với ông cả, lại xua đuổi

ông đi khiến ông tức giận, và cũng đúng như thế, xưa

kia nàng cũng đã yêu thương nhiều bậc trí giả, kêu gọi

họ đến và khi họ đến thì lại chẳng muốn liên hệ gì

với họ, cứ làm phiền nhiễu họ như vậy rồi xua đuổi

họ đi.

Thế rồi do yêu cầu của vị ấy,

bậc Ðạo Sư kể câu chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi Brakmadatta là vua xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát là một con ngựa Sindh. Nó được đặt tên

là Tốc-như-phong (nhanh như gió) và là con ngựa nghi lễ của

vua.

Những người nài thường đem nó

đi tắm ở sông Hằng. Nơi đây, một con lừa cái trông thấy

nó liền đem lòng yêu nó. Rung động vì nỗi say mê, con lừa

cái bỏ cả ăn uống, hao mòn tiều tụy, gầy ốm đến độ

chỉ còn xương với da. Một trong những con lừa con của nó

thấy mẹ tiều tụy như thế liền hỏi:

- Thưa mẹ, sao mẹ chẳng ăn uống

gì cả, sao mẹ lại quá tiều tụy và nằm run rẩy một nơi

thế kia? Có chuyện gì thế hở mẹ?

Con lừa cái chẳng nói gì, nhưng

con nó cứ hỏi đi hỏi lại mãi, nó mới kể hết chuyện

cho con nghe. Thế rồi con lừa con an ủi mẹ:

- Thưa mẹ, mẹ chớ sầu bi, con sẽ

mang chú ngựa ấy đến cho mẹ.

Thế rồi khi ngựa quý Tốc-như-phong

xuống tắm, chú lừa con đến gần nó và nói:

- Thưa ngài, mẹ tôi yêu ngài: bà

chẳng ăn uống gì cả và đang hao mòn sắp chết. Xin hãy cứu

sống mẹ tôi!

- Ðược rồi, này bạn, tôi sẽ

cứu mẹ bạn. Tốc-như-phong bảo. Khi tôi tắm xong, các anh

nài sẽ để tôi thao dượt một chốc bên bờ sông, bạn

hãy mang mẹ bạn đến đấy.

Chú lừa con đi kiếm mẹ và đưa

mẹ đến nơi ấy, rồi chú núp gần đó.

Người nài để Tốc-như-phong duỗi

chân chạy. Nó dò tìm con lừa cái và đến với con kia.

Tốc-như-phong đến gần nó và bắt

đầu đưa mũi ngửi. Con lừa cái tự nghĩ: "Nếu ta tự

hạ mình và cứ để cho chàng làm theo ý chàng trong lúc

chàng vừa mới đến, thì danh dự và lòng tự cao của ta sẽ

tiêu tan. Ta phải làm như thể mình không muốn sự việc

chàng làm". Vì thế, nó đã làm vỡ hàm Tốc-như-phong và

suýt giết chết chàng ngựa! "Nàng làm gì ta thế?".

Tốc-như-phong tự nghĩ, cảm thấy xấu hổ rồi bỏ chạy

đi.

Thế rồi con lừa cái hối hận,

nằm vật ra đầy đau khổ. Chú lừa con đến gần và hỏi

mẹ như sau:

Mẹ vì chàng ốm o vàng vọt,

Mẹ vì chàng chẳng chút uống ăn.

Ngựa yêu kia mới đến gần,

Cớ sao mẹ bỗng đâm sầm phóng đi?

Nghe con bảo thế, con lừa đọc bài

kệ thứ hai:

Chàng kia đến một khi kề sát,

Nếu ban đầu nhường bước tức thời,

Tiêu ma giá ngọc cao vời,

Cho nên mẹ phải vội dời chân ngay!

Qua những lời này, con lừa giải

thích bản tính đàn bà cho con trai hiểu.

Bậc Ðạo Sư với Tuệ giác Toàn

hảo, đọc bài kệ thứ ba:

Nếu từ chối chàng trai sang trọng

Ðến bên nàng mong ngóng yêu đương,

Nàng đành dằng dặc sầu thương,

Như Công-đa-lợi đau buồn Như phong!

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Cuối bài giảng Tứ Ðế,

người chủ đất kia đắc quả Dự Lưu.

Và Ngài nhận diện Tiền thân:

- Người phụ nữ thời ấy là

con lừa cái, còn Ta là con ngựa quý Tốc-như-phong.

-ooOoo-

267. Chuyện Con Cua (Tiền thân

Kakkata)

Con vật càng vàng, lồi cặp mắt..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể lúc

Ngài trú tại Kỳ Viên, về một phụ nữ.

Người ta nghe nói một người chủ

đất ở Xá-vệ cùng với vợ đi về quê để thâu tiền nợ

thì bị bọn cướp vây bắt. Người vợ vốn rất xinh đẹp

và khả ái. Tên tướng cướp bị cuốn hút bởi sắc đẹp

của nàng, có ý định giết người chồng để chiếm lấy

nàng. Nhưng nàng lại là một phụ nữ đoan trang đức độ,

một người vợ trung kiên. Nàng phủ phục dưới chân tên cướp

và kêu:

- Thưa ngài, nếu ngài giết chồng

tôi vì yêu tôi, tôi sẽ dùng độc dược hoặc nín thở mà

chết theo luôn! Tôi không thể sống với ngài được đâu!

Xin chớ giết chồng tôi một cách vô ích. Nàng van xin tên cướp

như vậy.

Cả hai vợ chồng ấy trở về Xá-vệ

bình yên. Họ được dịp đi ngang tịnh xá Kỳ-Viên và họ

muốn đến tham bái bậc Ðạo Sư. Vì thế họ vào Hương phòng

và sau khi đảnh lễ, họ ngồi xuống bên Ngài. Bậc Ðạo Sư

hỏi họ từ đâu đến.

- Chúng con đi thâu tiền nợ, họ

đáp.

- Các người đi đường có bình

yên không? Ngài hỏi tiếp.

- Dọc đường chúng con đã bị cướp

bắt - người chồng nói. Thế rồi tên cướp muốn giết

con nhưng vợ con đây đã năn nỉ xin tha cho con và con đã

mang ơn nàng cứu mạng.

Bậc Ðạo Sư dạy:

- Này cư sĩ, ông chẳng phải là

kẻ độc nhất được nàng cứu mạng đâu! Vào thời xưa nàng

cũng đã từng cứu mạng nhiều bậc trí giả khác.

Thế rồi do yêu cầu của vị ấy,

bậc Ðạo Sư kể một chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, khi Brahmadatta làm vua xứ

Ba-la-nại, trong dãy Hy-mã-lạp Sơn có một cái hồ rộng nơi

đó có một con Cua vàng rất lớn. Vì cua sống ở đó nên nơi

ấy được gọi là Hồ Cua. Con Cua lớn lắm, lớn bằng cả

cái sân đập lúa. Nó có thể bắt các con voi rồi giết và

ăn thịt chúng. Vì sợ nó nên chẳng voi nào dám đến gần

đó để ăn đọt non.

Bấy giờ Bồ-tát đầu thai vào

lòng một con voi cái là vợ của chúa voi đầu đàn sống gần

Hồ Cua. Voi mẹ muốn được an toàn cho đến lúc sinh con, đã

tìm đến một nơi khác trong một ngọn núi và tại đó nó

đã sinh một con voi đực. Theo thời gian voi con lớn lên rất

thông minh, to lớn, khỏe mạnh và thành tựu mọi mặt. Nó

oai nghi, sừng sững như trái núi màu tím thẫm.

Nó chọn một con voi khác làm vợ

và quyết bắt cho được con cua kia. Vì vậy cùng với vợ

và mẹ, nó tìm đến đàn voi và gặp cha nó để xin đi bắt

Cua.

- Con không thể làm được việc

ấy đâu con ạ! Voi cha bảo.

Nhưng nó cứ nài nỉ xin phép cha

mãi, cuối cùng cha nó bảo:

- Thôi được, con cứ thử xem!

Thế là chàng Voi trẻ tập hợp tất

cả các voi quanh Hồ Cua lại và dẫn chúng đến gần hồ. Nó

hỏi:

- Cua thường bắt voi lúc nào?

Lúc voi đang đi tới hồ, hay lúc chúng đang ăn, hay lúc

chúng quay trở lên?

Bọn voi đáp:

- Nó bắt lúc chúng quay trở lên.

- Ðược rồi - Voi nói - Tất cả

các bạn hãy đi tới hồ và cứ ăn thứ gì tùy thích rồi

quay trở lên trước, tôi sẽ theo cuối cùng đằng sau các bạn.

Ðàn voi làm theo như vậy.

Cua thấy Bồ-tát trở lên sau rốt,

liền chộp lấy chân Voi, siết chặt vào càng, giống như

người thợ rèn kẹp khối sắt trong đôi gọng kềm khổng

lồ. Vợ Bồ-tát cũng không rời chồng, nàng vẫn đứng đó,

sát bên chồng. Bồ-tát ra sức kéo nhưng vẫn không sao làm

Cua nhúc nhích được. Thế rồi Cua kéo và lôi được Voi về

phía mình.

Giữa lúc nguy khốn này, Voi rống

lên, rống lên. Nghe tiếng rống ấy, các voi khác quá kinh

hãi, vụt chạy tán loạn, kêu thét như tiếng kèn đến vung

vãi phân. Ngay cả vợ Voi cũng chẳng đứng yên được và

toan phóng chạy. Thế rồi để tỏ cho vợ biết mình đang bị

bắt giữ và hy vọng làm cho vợ khỏi phóng chạy đi, Voi đọc

lên bài kệ đầu:

Con vật càng vàng, lồi cặp mắt,

Sống hồ, trần trụi, bọc trong mai,

Tôi kêu, nó kẹp, nghe đau đớn,

Nàng hỡi, thương tôi, chớ bỏ tôi!

Nghe thế, vợ Voi quay lại đọc bài

kệ thứ hai an ủi chồng:

Rời chàng, thiếp quyết chẳng

khi nào,

Sáu chục năm đời, chúa tối cao,

Cả bốn phương trời đều chứng tỏ

Chẳng ai thắm thiết sánh chàng đâu!

Vợ Voi khích lệ chồng như thế

và nói:

- Này bậc trượng phu, bây giờ

thiếp sẽ bảo Cua kia thả chàng ra.

Rồi vợ Voi cầu xin Cua qua bài kệ

thứ ba:

Trong các loài Cua ở biển xa,

Hoặc là Ner-bud, hoặc Hằng Hà,

Ngài là tối thượng, nay tôi biết,

Xin để chồng tôi được thoát ra.

Khi nàng đọc xong, lòng kiêu hãnh

hung hăng của Cua bị tiếng nói phụ nữ hóa giải. Quên cả

sợ, Cua nới lỏng đôi càng, thả chân con Voi ra, chẳng nghi

ngờ gì đến việc Voi sẽ làm khi được thả. Thế là Voi

nhấc chân lên, đạp lên lưng Cua làm cho đôi mắt Cua phải

lòi ra lập tức. Voi sung sướng kêu lên.. Các con voi kia chạy

lại, kẹp Cua đi, đặt Cua nằm trên đất rồi dẫm nát

nó. Ðôi càng Cua bị gãy rời tả tơi. Thế rồi Hồ Cua, vì

ở gần sông Hằng, bị ngập trong một cơn nước dâng. Khi

nước hạ, nước rút từ hồ ra tới sông Hằng. Ðôi càng

cua bị đẩy đi, bập bềnh trong nước sông Hằng. Một

càng trôi ra biển, còn càng kia được mười anh em trong hoàng

tộc tìm thấy khi họ đang tắm sông và họ dùng càng này

làm cái trống nhỏ, gọi là Ànaka. Các thần Àsura (A-tu-la)

tìm được cái càng trôi ra biển kia, và dùng nó làm trống,

gọi là Àlambara. Về sau các thần Asura (A-tu-la) bị Thiên chủ

Sakka đánh bại, phải chạy đi và bỏ lại cái trống. Sakka

bảo giữ trống ấy để làm đồ dùng riêng. Do thế, người

ta mới thường nói: "Sấm động như mây Álambara".

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và cuối bài giảng, cả người

chồng và người vợ đều đắc quả Dự Lưu. Và Ngài nhận

diện Tiền thân:

- Vào thời ấy, nữ cư sĩ này

là con Voi cái, còn Ta chính là con Voi chồng.

-ooOoo-

268. Chuyện Kẻ Làm Hại Vườn

(Tiền thân Àràma-Dùsa)#

Giỏi nhất trong bọn là đây..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể lúc

Ngài trú ở một vùng quê gần Dakkinãgiri (Nam Sơn), về con

trai của một người giữ vườn.

Sau mùa an cư, bậc Ðạo Sư rời

Kỳ-Viên và đi khất thực ở một vùng gần Dakkinãgiri. Một

cư sĩ mời đức Phật và đoàn Tỷ-kheo của Ngài ngồi xuống

khu vườn của ông để ông dâng cơm và bánh. Sau đó ông bảo:

- Nếu có ai trong các vị muốn

ngoạn cảnh thì xin cứ đi theo người giữ vườn.

Rồi ông sai người giữ vườn mời

chư Tăng các trái cây mà họ thích.

Lát sau, họ đến một chỗ trống:

- Tại sao chỗ đất này trơ trụi

và chẳng có cây cối gì cả thế? Họ hỏi.

Người giữ vườn đáp:

- Ðó là do con trai của một người

giữ vườn đấy! Anh ta phải tưới cây con và nghĩ rằng tốt

hơn là anh nên tưới nước thế nào cho hợp với độ dài

của rễ cây. Vì thế, anh nhổ hết cây lên xem rễ để tùy

theo đó mà tưới nước. Kết quả là nơi đây trở thành

trơ trụi.

Các Tỷ-kheo trở về, kể chuyện

lại cùng bậc Ðạo Sư. Ngài dạy:

- Chẳng phải chỉ bây giờ người

kia mới phá hại vườn cây như vậy, trước đây anh ta cũng

đã làm thế.

Rồi Ngài kể một chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi một vị vua tên là

Vissasena đang trị vì Ba-la-nại, một ngày lễ hội được

tuyên bố. Người giữ vườn kia nghĩ rằng anh ta nên đi dự

lễ, vì thế anh gọi các con khỉ sống trong khu vườn lại

và dặn:

- Khu vườn này là nguồn lợi lớn

cho các bạn. Nay ta muốn đi dự lễ, các bạn hãy tưới đám

cây con vào ngày thứ bảy nhé.

- Vâng ạ. Chúng đáp.

Anh ta giao các bình tưới cho chúng

rồi ra đi.

Bầy khỉ xách nước và bắt đầu

tưới rễ cây.

Con khỉ già nhất kêu lên:

- Khoan đã! Có đủ nước luôn

luôn đâu phải dễ! Chúng ta phải tính sao cho tốt. Hãy nhổ

cây lên và coi kỹ độ dài của rễ, nếu cây có rễ dài,

chúng phải cần nhiều nước; còn nếu cây có rễ ngắn,

chúng chỉ cần một ít nước thôi!

- Ðúng thế, đúng thế.

Cả bọn khỉ đều đồng ý. Thế

rồi vài con khỉ đi nhổ cây lên. Các con khác trồng chúng

lại và tưới nước vào.

Bấy giờ Bồ-tát là một trưởng

giả trẻ tuổi sống tại Ba-la-nại. Nhân có việc, ngài đi

ngang khu vườn và thấy việc các đàn khỉ đang làm.

- Ai bảo các ngươi làm thế?

Ngài hỏi.

- Trưởng đoàn của chúng tôi đấy!

Bọn khỉ đáp.

- Nếu trí tuệ của trưởng đoàn

đã như thế thì còn lại đám chúng bây có ra gì nữa!

Ngài nói.

Và để giải thích sự việc,

ngài đọc bài kệ đầu:

Giỏi nhất trong bọn là đây,

Thông minh như kiểu thế này được sao?

Khỉ kia nếu chọn tối cao,

Những tên còn lại phận nào định đây?

Nghe phê phán như vậy, bọn khỉ

đọc tiếp bài kệ thứ hai:

Lời kia, người cũng chẳng hay,

Thế này trách cứ la rầy chúng tôi!

Nếu không biết rễ ngắn dài,

Làm sao thấy được cây trồi lớn đây?

Nghe thế Bồ-tát liền trả lời

bằng bài kệ thứ ba:

Khỉ ơi, ta chẳng trách bây,

Cũng không trách bọn đó đây trong rừng.

Chủ kia mới thật điên khùng,

Ra đi giao hết cây trồng nhờ coi!

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Người phá hoại vườn cây thời

ấy là con khỉ đầu đàn, còn Ta là vị trí giả kia.

-ooOoo-

269. Chuyện Nàng Sujàta (Tiền

thân Sujàta)

Kẻ hưởng được bề ngoài

duyên dáng..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể

khi Ngài trú tại Kỳ-Viên, về một cô gái, tên là Sujàta,

dâu ông Cấp Cô Ðộc, con gái của vị phú thương Dhananjaya

và là em út của nữ cư sĩ Visàkhà.

Cô ta về làm dâu nhà ông Cấp

Cô Ðộc với lòng đầy kiêu ngạo vì nghĩ rằng cô vốn xuất

thân từ một gia đình sang trọng. Cô rất bướng bỉnh, thô

lỗ, nóng nảy và hung tợn. Cô từ chối các bổn phận đối

với cha mẹ mới hay đối với chồng mình. Cô đi khắp nhà

nói năng thô lỗ và còn đánh đập cả mọi người.

Một hôm, bậc Ðạo Sư cùng năm

trăm Tỷ-kheo đến viếng ông Cấp Cô Ðộc. Mọi người ngồi

xuống, vị đại thương gia ngồi bên cạnh Thế tôn và nghe

Ngài thuyết pháp. Lúc ấy, Sujàta đang la mắng những người

giúp việc.

Bậc Ðạo Sư ngưng nói và hỏi

tiếng gì ồn ào như vậy. Vị thương gia giải thích rằng

đó là con dâu thô lỗ của ông, cô ta đã không cư xử đúng

đắn với chồng và cha mẹ chồng, cô chẳng hề bố thí

và chẳng có điểm nào tốt cả; cô không có lòng tín thành mộ

đạo, cô đi khắp nhà, la mắng suốt ngày đêm. Bậc Ðạo

Sư truyền gọi cô ta đến.

Người phụ nữ kia đến và sau

khi đảnh lễ bậc Ðạo Sư, cô đứng một bên. Rồi bậc

Ðạo Sư hỏi cô:

- Này Sujàta, có bảy loại vợ

mà một người đàn ông có thể gặp; cô thuộc về loại

nào?

Cô ta trả lời:

- Bạch Thế Tôn, Ngài dạy vắn tắt

quá, con không hiểu được, xin Ngài giải thích thêm.

- Ðược rồi, - bậc Ðạo Sư dạy

- Hãy chú ý nghe đây.

Rồi Ngài đọc các bài kệ sau:

Tâm địa xấu, điều hay chẳng

thiết,

Yêu người ngoài, lại ghét bỏ chồng,

Của tiền chồng tạo phá tan,

Vợ này Phá hoại nhà chàng xứng tên.

Vật chồng tặng do tiền mua bán,

Nghề tinh chuyên, cuốc xẻng nông gia,

Cố tình lấy cắp dần dà,

Vợ nào như thế, gọi là Tặc gian.

Quên phận sự, hung tàn lười biếng,

Lại tham lam, xấu miệng sân đầy,

Chuyên quyền với kẻ dưới tay

Mang danh là loại vợ đây Cao cường.

Còn kẻ vẫn mến thương điều tốt,

Chăm sóc chồng như một mẹ hiền,

Của tiền chồng tạo, giữ gìn,

Mẫu nghi mới gọi đúng tên vợ này.

Tôn trọng chồng cũng tày như thế

Ðàn em thơ kính nể người anh,

Nhún nhường, tuân phục chồng mình,

Vợ là Hiền muội, đúng tình chất chơn.

Kẻ luôn mừng đón chồng khi thấy

Như bạn bè sau mấy độ xa,

Hiến dâng, đức độ, nghiêm hòa,

Vợ nào như thế, gọi ra Thân bằng.

Sợ hung tàn, tâm an chịu khổ,

Chẳng cuồng si, đầy đủ kiên trì,

Chân tình, chiều chuộng mãi ghi,

Vợ kia được gọi Nô tỳ chính danh.

Này Sujàta, trên đây là bảy

loại người vợ mà một người đàn ông có thể có. Ba loại

người vợ bị gọi là vợ phá hoại, vợ bất lương và

cao cường phu nhân sẽ tái sinh vào địa ngục. Bốn loại

người vợ còn lại sẽ được sanh vào cõi trời thứ năm.

Vợ Cao cường, Tặc gian, Phá hoại,

Giận dữ hoài, chẳng biết kính ai,

Hết đời, bỏ xác, đầu thai

Xuống miền địa ngục khó ngày thoát đi.

Vợ Thân bằng, Mẫu nghi, Hiền muội,

Hoặc Nô tỳ, trong cõi đời này,

Ngoan hiền, tự chủ lâu dài,

Hết đời, bỏ xác, lên trời sống vui.

Khi bậc Ðạo Sư thuyết giảng về

bảy loại người vợ như thế, Sujàta đắc quả Dự Lưu, và

khi bậc Ðạo Sư hỏi rằng nàng thuộc loại vợ nào, thì

nàng thưa:

- Bạch Ngài, con là kẻ nô tỳ.

Nói xong nàng cung kính đảnh lễ

đức Phật và được Ngài tha thứ.

Như vậy chỉ với một lời khuyên

bảo, bậc Ðạo Sư đã thuần hóa được người phụ nữ xấu

tánh kia. Sau bữa ăn, Ngài tuyên thuyết về các bổn phận

trong giáo hội và rồi Ngài vào Hương phòng.

Bấy giờ các Tỷ-kheo họp tại

Pháp đường và ca ngợi bậc Ðạo Sư:

- Này các pháp hữu, chỉ với một

lần khuyên bảo duy nhất, bậc Ðạo Sư đã thuần hóa được

người phụ nữ xấu tánh kia và khiến cho nàng đắc quả Dự

Lưu.

Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi

xem họ ngồi với nhau đang thảo luận chuyện gì. Họ thuật

lại như trên. Ngài dạy:

- Ðây chẳng phải là lần đầu

tiên Ta thuần hóa Sujàta bằng một lời khuyên bảo duy nhất

đâu!

Rồi Ngài kể tiếp một chuyện

đời xưa.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì

xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là thái tử do Chánh cung hoàng hậu

sinh ra. Ngài lớn lên và được giáo dục tại Takkasila. Sau

khi vua cha băng hà, ngài nối ngôi và trị vì rất công

chính.

Mẫu hậu ngài là một người đàn

bà nóng nảy, dữ tợn, thô lỗ, gắt gỏng, ác khẩu. Ngài

chỉ mong sao khuyên bảo được mẹ, nhưng ngài cũng nhận thấy

rằng không nên làm điều gì bất kính đối với mẹ. Vì

thế, ngài cố tìm một cơ hội để hé lộ dần ẩn ý.

Một hôm ngài đi vào vườn hoa và

mẹ ngài cũng theo ngài. Một con chim cưỡng xanh đang kêu the

thé trên đường. Khi ấy, các triều thần đều bịt tai lại

và la lên:

- Cái giọng thật kinh khủng! Cái

tiếng kêu ấy thật ghê rợn! Ðừng gây ra cái tiếng ấy nữa!

Bấy giờ Bồ-tát đang đi qua vườn

hoa với mẹ và đoàn người du lãm. Một con chim Cu đậu

trong đám lá rậm của một cây sàla, hót lên âm điệu ngọt

ngào. Mọi người đứng đó đều thích thú khi nghe nó hót,

vỗ đôi bàn tay rồi chìa tay ra và yêu cầu nó:

- Ôi! Thật là giọng hót êm dịu,

một giọng hót tốt lành, một giọng hót thanh lịch! Hót

lên, chim ơi, hót lên đi!

Rồi họ cứ đứng đó, rướn cổ

lên chờ nghe.

Bồ-tát chú ý đến hai sự việc

này, nghĩ rằng đây là dịp may để tiết lộ ẩn ý của

mình cho mẫu hậu.

- Thưa mẹ - ngài nói - Tiếng kêu

của con chim cưỡng trên đường làm cho ai nghe cũng phải bịt

tai và thốt lên: Ðừng gây ra cái tiếng ấy nữa! Ðừng

gây ra cái tiếng ấy nữa! Và họ bịt tai lại vì âm thanh

dữ dằn chẳng được ai ưa cả.

Thế rồi ngài đọc các bài kệ

sau:

Kẻ hưởng được vẻ ngoài

duyên dáng,

Thoạt nhìn vào, tươi sáng đẹp thay,

Nhưng buông lời nói chối tai,

Ðời này đời kế chẳng ai yêu vì!

Chim Cu kia, thường khi mẹ thấy,

Lốm đốm đen xấu vậy mặc dầu,

Tiếng kêu êm dịu ngọt ngào,

Bao nhiêu kẻ đón người chào mến thương.

Mong tiếng mẹ dịu dàng thanh lịch,

Lời khôn ngoan bỏ hết tự kiêu,

Âm thanh êm ái mỹ miều

Giảng bày Thánh pháp ý nêu tỏ tường.

Khi Bồ-tát khuyến dụ mẫu hậu

bằng ba bài kệ trên, ngài đưa mẹ vào cách suy nghĩ của mình.

Sau đó, mẹ ngài sống theo chính đạo. Chỉ bằng một lời

nói, Bồ-tát đã làm cho mẹ thành một người phụ nữ biết

quên mình. Rồi về sau, khi từ trần, Bồ-tát đi theo nghiệp

của mình.

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Sujàta là mẹ của vị vua ở

Ba-la-nại, còn Ta chính là vị vua ấy.

-ooOoo-

270. Chuyện Con Cú (Tiền thân

Ulùka)

Cú là vua của các loài chim....

Chuyện này bậc Ðạo Sư kể lúc

Ngài trú tại Kỳ Viên về sự tranh chấp giữa Quạ và Cú.

Vào thời kỳ ấy, ban ngày Quạ

thường ăn thịt Cú, còn ban đêm Cú lại bay tới cắn đứt

đầu Quạ khi Quạ đang ngủ và giết đi.

Có một Tỷ-kheo sống trong một

cái cốc ở vùng lân cận Kỳ Viên, mỗi lúc quét dọn, thường

phải đổ cả bảy tám chậu đầy đầu Quạ rớt từ trên

cây xuống. Vị ấy đem sự việc kia kể lại cho các Tỷ-kheo

nghe.

Thế là trong Pháp đường, các Tỷ-kheo

bắt đầu bàn tán về chuyện ấy.

- Này Hiền hữu, vị Tỷ-kheo kia

thấy nhiều đầu Quạ quá, mỗi ngày phải đem chúng đổ

đi ngay chỗ mình ở!

Bậc Ðạo Sư đi vào hỏi xem các

Tỷ-kheo đang ngồi thảo luận việc gì. Họ kể cho Ngài

nghe và hỏi tiếp rằng sự tranh chấp giữa Quạ và Cú đã

xảy ra từ bao lâu rồi. Bậc Ðạo Sư trả lời.

- Từ thời nguyên thủy.

Rồi Ngài kể cho họ nghe một

câu chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, loài người sống trong

thời nguyên thủy họp nhau lại và bầu một người đẹp

đẽ, có tướng tốt, oai nghi hoàn hảo lên làm vua. Các

loài bốn chân cũng tụ họp lại và bầu sư tử làm vua.

Loài cá dưới biển cũng chọn vua là con cá tên Ànanda.

Thế rồi tất cả chim chóc trên

dãy Hy-mã-lạp Sơn cũng tụ họp nhau lại trên một phiến

đá phẳng và kêu lên.

- Loài người đã có một ông

vua, loài thú và loài cá cũng đã có, còn chim chóc chúng ta

thì không. Chúng ta không thể sống hỗn loạn được, chúng

ta cũng phải chọn một ông vua. Hãy chọn một con chim xứng

đáng với ngôi vua.

Chúng tìm kiếm một con chim như vậy

và chọn một con Cú. "Ðây là con chim mà chúng ta muốn",

chúng bảo thế, và một con chim tuyên bố ba lần cho cả bọn

biết rằng sẽ có một cuộc bầu cử về việc đó. Sau khi

kiên nhẫn nghe thông báo hai lần, đến lần thứ ba một con

Quạ đứng dậy la lên:

- Khoan đã, khi anh ta đang được

tôn lên làm vua mà mặt mày còn như thế kia, huống chi khi

anh ta giận dữ thì trông như thế nào nữa? Nếu anh ta nhìn

chúng ta đang giận dữ thì chúng ta cũng tan xác như mè rán

trên chảo nóng mà thôi. Tôi không muốn tôn anh ta làm vua đâu.

Và để tán rộng điều này, Quạ

đọc bài kệ đầu:

Cú là vua của các loài chim,

Xin phép, cho tôi tỏ nỗi niềm.

Chấp thuận cho Quạ được nói,

bọn chim đọc tiếp bài kệ thứ hai:

Giữa bọn trẻ kia, xin cứ nói,

Mong sao tốt đẹp, tỏ tường thêm.

Ðược cho phép nói, Quạ đọc bài

kệ thứ ba:

Trân trọng trình bày ý của

tôi,

Tôi đây chẳng muốn Cú lên ngôi,

Hãy nhìn mặt mũi kia như thế,

Hắn sẽ làm gì lúc giận sôi?

Ðoạn Quạ bay bổng lên không và

kêu:

- Tôi chẳng thích thế đâu! Tôi

chẳng thích thế đâu!

Cú bay lên đuổi theo Quạ. Từ đấy

về sau, cả hai đều nuôi lòng hận thù nhau. Còn lũ chim kia

chọn một con Ngỗng trời vàng lên làm vua rồi giải tán.

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, con Ngỗng trời

được chọn làm vua chính là Ta vậy.

-ooOoo-

271. Chuyện Kẻ Làm Bẩn Giếng Nước

(Tiền thân Udapàna-Dùsaka)#

Giếng được tạo do người ẩn

dật..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể

khi Ngài trú tại Isipatana (Trú xứ của chư Thiên), về một

con chó rừng đã làm bẩn giếng nước.

Người ta nghe nói có một con chó

rừng thường đến làm bẩn cái giếng mà các Tỷ-kheo thường

đến múc nước, rồi bỏ đi. Một hôm, các chú tiều lấy

đất ném nó để đe dọa. Sau đó, nó không bao giờ trở lại

nơi ấy nữa.

Các Tỷ-kheo nghe chuyện ấy và bắt

đầu bàn tán trong Pháp đường.

- Này các Hiền hữu, con chó rừng

thường làm bẩn giếng nước của chúng ta, từ khi bị các

chú tiều dùng đất ném đuổi đi, đã không hề quay trở lại

nữa.

Bậc Ðạo Sư đi vào và hỏi xem

họ đang ngồi với nhau và thảo luận chuyện gì. Họ kể lại

cho Ngài nghe. Ngài dạy:

- Này các Tỷ-kheo, đây chẳng phải

là lần đầu tiên con chó rừng kia làm bẩn giếng nước.

Trước kia nó cũng đã làm như thế.

Rồi Ngài kể cho họ nghe một

chuyện đời xưa.

*

Ngày xưa, chính cái giếng kia nằm

tại nơi này có tên là Isipatana (Trú xứ của chư Tiên) gần

Ba-la-nại. Lúc bấy giờ Bồ-tát sinh ra trong một gia đình

thiện hảo. Lớn lên, ngài sống đời tu hành và cư trú tại

Isipatana cùng với một nhóm người tùy tùng. Một con Chó rừng

làm bẩn giếng nước như đã nói trên rồi phóng chạy đi.

Một hôm, các ẩn sĩ vây bắt được nó và dẫn nó tới trước

mặt Bồ-tát. Ngài nói với nó qua bài kệ đầu:

Giếng được tạo do người ẩn

dật,

Ðộc cư nơi khoảng đất rừng sâu,

Nhọc nhằn khổ cực bấy lâu,

Bạn ơi, sao vấy dơ vào giếng trong?

Nghe vậy Chó rừng đọc tiếp bài

kệ thứ hai:

Ðó là luật giống dòng tôi đấy,

Uống nơi nào là vấy cho dơ,

Tổ tiên làm thế đến giờ,

Lời ngài trách cứ, có ngờ sai chăng?

Bồ-tát trả lời bằng bài kệ

thứ ba:

Nếu luật ấy chó rừng đã đặt,

Lạ lùng thay, phi pháp mất rồi!

Mong rằng lần cuối thấy ngươi,

Hành vi kia đúng hay sai, chớ làm.

Bậc Ðại Sĩ khuyên nhủ nó như

vậy rồi bảo:

- Ðừng đến đó nữa!

Từ đó về sau, ngay cả việc dừng lại để

nhìn qua giếng, con Chó rừng cũng không dám.

*

Kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo

Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Tiền thân:

- Cả hai trường hợp làm dơ bẩn

nước cũng đều do chính con Chó rừng ấy, còn Ta là vị sư

trưởng kia.

-ooOoo-

272. Chuyện Con Cọp (Tiền thân

Vyaggha)

Nếu do gần bạn tri âm..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể

khi Ngài trú tại Kỳ-Viên về Kokàlika.

Các tình tiết của câu chuyện

này sẽ được kể trong chương mười ba và Tiền thân

Takkàriya số 481. Ở đây, Kokàlika lại nói:

- Ta sẽ đem Sàriputta (Xá-lợi-phất)

và Moggallàna (Mục-kiền-liên) theo với ta.

Vì thế, sau khi rời xứ sở của

Kokàlika, ông ta đi đến Kỳ-Viên, vào đảnh lễ bậc Ðạo

Sư rồi đi tiếp đến các vị Trưởng lão. Ông ta nói:

- Này các Hiền giả, dân chúng

ở xứ của Kokàlika muốn mời các Hiền giả, chúng ta hãy

đến đó đi.

- Hiền giả hãy đi đi, chúng tôi

không đi đâu! Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trả lời.

Sau lời từ chối này, Kokàlika ra

đi một mình.

Các Tỷ-kheo bắt đầu bàn tán

chuyện ấy trong Pháp đường:

- Này Hiền hữu, Kokàlika không thể

sống với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, và cũng không

thể sống mà không có các vị ấy! Ông ta không chịu đựng

nỗi sự chung đụng với họ.

Bậc Ðạo Sư bước vào và hỏi

mọi người đang bàn tán chuyện gì. Họ kể lại cho Ngài

nghe. Ngài dạy:

- Xưa kia, cũng như bây giờ,

Kokàlika không thể sống với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên

cũng không thể sống mà không có hai vị ấy.

Rồi Ngài kể một câu chuyện đời

xưa.

*

Ngày xưa, khi Brahmadatta làm vua xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị thần cây sống trong một khu

rừng nhỏ. Không xa trú xứ của ngài bao nhiêu, có một vị

thần cây khác sống trong một rừng rậm. Khu rừng rậm này

lại là chỗ ở của một con sư tử và con hổ. Vì sợ

chúng, không ai dám đến đó gieo trồng hoặc đốn cây, ngay

cả dừng chân liếc qua chỗ đó cũng chẳng ai dám. Sư tử

và hổ ăn thịt mọi loài. Thịt ăn còn dư, chúng vứt bỏ

lại rồi đi. Vì thế khu rừng đầy cả thịt bốc mùi hư

thối.

Vị thần kia điên tiết lên, chẳng

kể phải quấy gì nữa, một hôm đã đến nói với Bồ-tát:

- Thưa Hiền giả, cả rừng kia đầy

mùi hôi thối vì con sư tử và con hổ kia. Tôi sẽ đuổi chúng

đi.

Bồ-tát bảo:

- Này Hiền giả, chính hai con thú

ấy đã bảo vệ chỗ ở của chúng ta đấy! Một khi chúng

bị đuổi đi thì chỗ ở của chúng sẽ bị hoang tàn. Nếu

người ta không thấy dấu vết của hổ và sư tử thì họ sẽ

tới đốt hết rừng, làm tất cả thành một khoảng đất

trống để trồng trọt. Xin Hiền giả chớ làm thế!

Rồi Ngài đọc hai bài kệ đầu:

Nếu do gần bạn tri âm,

Bình an có thể bị làm tiêu tan,

Còn gì cao trọng cho hơn

Như tròng con mắt người khôn giữ gìn.

Nhưng khi bạn tri âm thực sự

Làm tăng thêm mức độ bình an;

Hãy làm đời bạn an khang,

Hãy thương đời bạn như thương đời mình.

Tuy Bồ-tát đã giảng giải như

thế, vị thần cuồng si kia cũng chẳng để tâm. Thế rồi

một hôm, ông hiện hình thật khủng khiếp, đuổi sư tử và

hổ đi. Chẳng bao lâu, dân chúng không thấy vết chân hai

con thú kia nữa, họ đoán rằng sư tử và hổ có lẽ đã bỏ

đi sang rừng khác và họ chặt đi một phía rừng. Bấy giờ,

vị thần kia mới đến gặp Bồ-tát và nói:

- Ôi thưa Hiền giả, tôi đã

không theo lời Hiền giả mà lại đuổi hai con thú ác kia

đi. Bây giờ người ta nhận ra rằng chúng đã ra đi và họ

đang đốn hạ cả khu rừng. Chúng ta phải làm gì bây giờ

đây?

Thần được trả lời rằng hai

con thú ấy đang sống ở một khu rừng kia, phải đến đó

mà tìm chúng về. Vị thần kia làm theo như thế. Ðứng trước

hai con thú, thần kính cẩn chào rồi đọc bài kệ thứ ba:

Xin quay trở lại rừng già,

Ðể rừng khỏi bị san ra đồng bằng.

Bạn đi, rìu sẽ hạ rừng,

Không rừng, mãi mãi bạn không có nhà!

Hai con thú khước từ lời thỉnh cầu

và bảo:

- Ði đi, chúng tôi không đến đó

đâu!

Thế là vị thần kia phải trở về

một mình. Chỉ sau một vài ngày, dân chúng đã đốn hết rừng,

làm thành một đồng ruộng để cày cấy trồng trọt.

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ Kokàlika là vị thần

cuồng si, còn vị thần trí tuệ kia là Ta.

-ooOoo-

273. Chuyện Con Rùa (Tiền thân

Kacchapa)

Ai kia đem bát xin ăn..,

Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể

khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên về sự tranh cãi giữa hai đại

thần trong triều vua Kosala.

Các tình tiết câu chuyện giống

như đã được kể ở Chương Hai, số 154 và 165.

*

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì

xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình ở Kàsi.

Khi lớn lên, ngài được giáo dục tại Takkasilà. Sau khi đã

thành tựu về mọi mặt, ngài lui về sống ẩn dật trong một

túp lều lá tại dãy Hy-mã-lạp Sơn (Tuyết Sơn) bên bờ

sông Hằng. Nơi đây, ngài đạt được các Thắng trí và

các Thiền chứng. Nhờ đó, tâm ngài trở nên an lạc, đạt

tới hạnh nhẫn nhục cao vời.

Bồ-tát thường tĩnh tọa ở trước

lều. Bấy giờ có một chú Khỉ ngỗ nghịch, trơ láo thường

đến chọc phá ngài, nhưng nó không thể nào làm cho tâm

ngài dao động. Ngài vẫn ngồi tĩnh lặng an bình.

Bấy giờ có một con Rùa cái, một

hôm đang nằm giữa trời, há miệng ngủ thiếp bên dòng nước.

Thấy thế, Khỉ trơ tráo kia liền đến và đút ngón tay

vào miệng rùa. Rùa chợt tỉnh giấc và ngậm miệng lại, cắn

chặt lấy tay Khỉ. Ðến khi chịu không nổi nữa, khỉ tự

hỏi: "Ta phải cầu cứu ai giải thoát cho ta khỏi sự

đau đớn cực điểm này?". Khi nghĩ được rằng chỉ còn

cách đến cầu cứu Bồ-tát, nó liền mang cả con Rùa đến

trước ngài. Với giọng hài hước, Bồ-tát nói với Khỉ

qua bài kệ đầu:

Ai kia đem bát xin ăn,

Vốn từ đâu lại, có phần gì chăng?

Khỉ đáp lại qua bài kệ thứ

hai:

Con làm quấy, thật điên khùng,

Xin ngài cứu giúp; con mong vào rừng.

Bồ-tát đọc bài kệ thứ ba tiếp

lời khỉ:

Qui, Hầu hai giống vốn đồng,

Rùa ơi, tha khỉ cho xong đi nào!

Rùa nghe lời Bồ-tát thả Khỉ

ra. Khỉ kính cẩn chào Bồ-tát rồi phóng biệt vào rừng.

Rùa cũng xin bái biệt ra đi. Còn Bồ-tát liên tục trú vào

an lạc thiền định và sau cùng lên Phạm thiên giới.

*

Khi kể xong Pháp thoại này, bậc

Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và nhận diện Tiền thân:

- Hai ông quan nọ bấy giờ là con

Khỉ và con Rùa, còn Ta là vị ẩn sĩ kia.

-ooOoo-

Đầu

trang | Mục lục |

01 | 02 | 03 | 04

| 05 | 06 | 07

| 08 | 09 | 10

| 11 | 12 | 13

| 14