Chuyện Tiền Thân · Jātaka

241. CHUYỆN VUA CHÓ RỪNG SABBADÀTHA (Tiền thân Sabbadàtha)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 25

CHUYỆN VUA CHÓ RỪNG SABBADÀTHA (Tiền thân Sabbadàtha)#

Jātaka group 25

PHẨM

SIGÀLA

(Chó rừng)#

241. CHUYỆN VUA CHÓ RỪNG SABBADÀTHA (Tiền thân Sabbadàtha)

Kiên trì trong kiêu mạn...,

Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm bậc Ðạo Sư kể

về Ðề-bà-đạt-đa. Sau khi vua A-xà-thế tín nhiệm, Ðề-bà-đạt-đa được lợi dưỡng

và cung kính, nhưng tình cảm ấy không thể duy trì lâu ngày. Từ khi quần

chúng thấy thần thông thị hiện khi con voi Nàlàgiri được thúc đẩy chống đức

Phật thì lời dưỡng và danh vọng của Ðề-bà-đạt-đa cũng mất. Một hôm, các

Tỷ-kheo trong Chánh pháp đường bắt đầu nói chuyện:

- Thưa các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa đã cố gắng

tạo được lợi nhuận và danh vọng, nhưng không thể duy trì chúng lâu ngày!

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông tụ tập ở đây, và

đang bàn vấn đề gì?

Khi được biết vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay

Ðề-bà-đạt-đa làm mất các lợi dưỡng danh vọng của mình. Lúc trước kẻ ấy cũng

đã làm mất chúng như vậy.

Rồi, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát làm cố vấn tế tự cho vua, thông đạt ba tập Vệ-đà và mười

tám học nghệ. Bồ-tát biết được thần chú "Chiến thắng thế giới". (Bấy giờ

thần chú này liên hệ đến thiền định).

Một hôm, Bồ-tát có ý nghĩ: "Ta sẽ tụng bài

chú nầy!" Rồi ngồi tại góc sân, trên một tảng đá phẳng, Bồ-tát bắt đầu tụng

chú. Nghe nói, bài chú ấy không được đọc cho người khác nghe nếu không dùng

một nghi lễ đặc biệt. Do vậy, Bồ-tát đọc tại chỗ ấy. Khi Bồ-tát đang đọc

chú, một con chó rừng nằm trong hang nghe bài chú ấy và đã học bài chú thuộc

lòng. Nghe nói con chó rừng ấy trong một đời sống trước đã là một

Ðề-bà-đạt-đa tự học thuộc bài chú Chiến thắng thế giới ấy rồi.

Bồ-tát đọc chú xong, đứng dậy và nói:

- Ta chắc chắn đã học thuộc lòng bài chú

này.

Con chó rừng từ trong hang đi ra, và kêu to:

- Này Bà-la-môn, bài chú ấy, ta đã thuộc

lòng tốt hơn ông rồi!

Nói xong, con chó rừng bỏ chạy, Bồ-tát đuổi

theo nó một khoảng cách và nói:

- Con chó rừng này sẽ làm điều đại bất hạnh,

hãy bắt lấy nó!

Con chó rừng chạy trốn vào rừng, tìm được

một con chó rừng cái, liền cắn nhẹ vào thân nó. Chó rừng cái hỏi:

- Thưa ngài, có việc gì?

Con chó rừng nói:

- Ngươi có biết ta hay không?

Con chó rừng cái trả lời:

- Tôi không biết.

Con chó rừng liền đọc bài chú, ra lệnh cho

hàng trăm con chó rừng, tất cả voi, ngựa, sư tử, cọp, heo rừng, các con thú

và tất cả các loài bốn chân tụ họp lại xung quanh nó, và con chó rừng trở

thành vua của chúng tên là Sabbadàtha (Tất cả nanh vuốt) và tôn chó rừng cái

làm hoàng hậu. Trên lưng hai con voi có con sư tử, và trên con sư tử, vua

chó rừng Sabbadàtha ngồi với hoàng hậu. Muôn loài vật đều tôn sùng kính trọng

nó. Say mê danh vọng, con chó rừng sinh ra kiêu mạn và nói:

- Ta sẽ lấy thành Ba-la-nại.

Ðược vây quanh với tất cả loài thú bốn chân,

dài đến mười hai dặm, nó đứng không xa và đưa tin cho vua:

- Hãy giao quốc độ hay giao chiến!

Dân chúng Ba-la-nại hốt hoảng lo sợ, đóng

các cửa thành và đứng chờ bên trong. Bồ-tát đi đến gần vua và thưa:

- Thưa Ðại Vương, chớ sợ. Thần chịu trách

nhiệm giao chiến với con chó rừng Sabbadàtha. Ngoài thần ra, không một ai

khác có thể đánh nó được cả.

Như vậy, Bồ-tát trấn an vua và dân chúng ở

trong thành. Bồ-tát leo lên một tháp canh trên cửa thành và hỏi to:

- Này Sabbadàtha, ngươi làm gì để lấy thành?

- Ta sẽ ra lệnh cho các con sư tử rống lên

làm đại chúng hoảng sợ và ta sẽ lấy thành!

Bồ-tát biết được như vậy, bèn từ tháp canh

đi xuống bảo đánh trống ra lệnh:

- Toàn dân ở thành Ba-la-nại trong khoảng

muời hai dặm hãy lấy bột gạo bịt tai lại.

Ðại chúng vâng lệnh, bịt tai với bột gạo,

cho đến khi họ không thể nghe tiếng của người khác, và họ cũng bịt tai các

con mèo và các thú nhà khác.

Rồi Bồ-tát leo lên tháp canh lần thứ hai và

gọi to:

- Này Sabbadàtha! Ngươi làm gì để đánh lấy

thành?

- Ta sẽ bảo các con sư tử rống lên, làm đại

chúng hoảng sợ đến chết hết và ta sẽ lấy thành.

- Ngươi không có thể làm cho các con sư tử

rống lên được. Các con sư tử thuộc chủng tộc cao quý, với bốn chân vững

mạnh, với bờm lông rậm rạp, sư tử sẽ không vâng lệnh một con chó rừng già

như ngươi!

Con chó rừng cứng đầu kiêu mạn nói:

- Không chỉ các con sư tử khác, mà ta sẽ làm

cho con sư tử hiện ta đang ngồi trên lưng phải rống lên!

- Ngươi hãy làm cho sư tử rống lên nếu có

thể được.

Con chó rừng liền lấy chân ra hiệu cho con

sư tử mà nó đang ngồi lên lưng:

- Hãy rống lên!

Con sư tử liền kề miệng vào trán con voi,

rống lên ba lần tiếng rống sư tử không đứt đoạn. Các con voi hoảng sợ làm

cho con chó rừng rơi xuống dưới chân, chúng liền lấy chân dẫm lên trên đầu

chó rừng và chà nó nát vụn như bột. Như vậy Sabbadàtha bị tiêu diệt. Và các

con voi nghe tiếng rống sư tử đã kinh hoàng sợ chết, đạp lên nhau và chết

tại chỗ. Trừ các con sư tử, tất cả các con thú còn lại như nai, heo rừng cho

đến các con thỏ, con mèo, đều chết tại chỗ. Các con sư tử chạy trốn vào

rừng. Suốt muời hai dặm đường được phủ bằng đống thịt thú vật.

Lúc ấy Bồ-tát từ tháp canh đi xuống, cho mở

rộng cửa thành, đánh trống và tuyên bố như sau:

- Tất cả mọi người hãy rút bột gạo ra khỏi

tai của mình, và những ai muốn ăn thịt hãy đem thịt về.

Dân chúng ăn các loại thịt tươi và các thịt

còn lại được họ phơi khô và để dành.

Tương truyền cách cất giữ thịt khô bắt đầu

từ thời ấy.

*

Khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này xong. Ngài

đọc những bài kệ đầy trí tuệ sau đây:

Kiên trì trong kiêu mạn

Chó rừng ham hội chúng,

Làm vua cả đại địa,

Cả muôn loài có răng.

Cũng vậy là người nào

Ðược nhiều người vây quanh,

Tạo nên danh vọng lớn,

Giống như vua chó rừng,

Với các loài bốn chân.

Rồi ngài nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, con chó rừng là Ðề-bà-đạt-đa,

vua là Ànanda, còn vị đại thần tế tự là Ta vậy.

-ooOoo-

242. CHUYỆN CON CHÓ (Tiền thân Sunakha)

Ngu thay, con chó này...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về con chó được ăn cơm tại một nhà nghỉ gần cửa lầu Ambala.

Người ta nói rằng từ khi nó mới sanh, nó

được mấy người gánh nước đem về nuôi tại đó. Sau một thời gian, con chó ăn

cơm tại đấy và thân thể trở thành to lớn. Một hôm, một người sống ở làng đến

tại chỗ ấy, thấy con chó, liền cho những người gánh nước một thượng y và một đồng

tiền, rồi lấy dây thừng cột nó và dắt nó đi. Con chó bị dắt đi, không cưỡng

lại, không kêu; nó ăn các đồ ăn được cho, và đi theo người ấy. Người ấy

nghĩ: "Con chó này đã thương mến ta, nên tháo dây thừng cho nó?" Con chó vừa

được thả, liền mau chóng chạy một mạch về ngôi nhà cũ.

Các Tỷ-kheo thấy con chó, biết rõ đầu đuôi

sự việc, vào buổi chiều, tại Chánh pháp đường, họ bắt đầu nói chuyện này:

- Thưa các Hiền giả, con chó, vừa khéo thoát

khỏi dây trói buộc nay đã trở về ngôi nhà này.

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông ngồi tại đây đang

bàn luận vấn đề gì?

Khi được biết vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay con

chó ấy khéo thoát khỏi dây trói buộc. Thuở xưa, nó cũng đã như vậy.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình giàu có ở nước Kàsi. Khi trưởng

thành, Bồ-tát xây dựng một nhà riêng cho mình.

Lúc bấy giờ, ở Ba-la-nại, một người có một

con chó. Con chó ấy được cơm ăn đầy đủ cho đến khi thân thể trở thành to

lớn. Một người ở làng đi đến Ba-la-nại, thấy con chó ấy, cho người kia một

thượng y và một đồng tiền, rồi bắt con chó, lấy dây da cột nó lại và dắt nó

đi. Ðến cửa rừng, anh ta đi vào một cái chòi, cột con chó lại và nằm ngủ

trên tấm thảm. Lúc bấy giờ, Bồ-tát có việc, đi vào rừng, thấy con chó ấy bị

dây da cột chặt, liền đọc bài kệ đầu:

Ngu thay, con chó này,

Sao không cắn dây da?

Và thoát khỏi trói buộc,

Hân hoan chạy về nhà!

Khi nghe nói vậy, con chó đọc bài kệ thứ

hai:

Ý ta đã quyết định,

Ta ghi nhớ trong tâm,

Ta chờ đợi thời cơ,

Khi mọi người đi ngủ.

Nó nói vậy xong, chờ khi mọi người đã ngủ,

nó cắn dây thừng và sung sướng chạy trốn về nhà chú nó.

*

Khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại này xong, Ngài

nhận diện Tiền thân:

- Con chó lúc bấy giờ là con chó này, còn vị

hiền trí là Ta vậy.

-ooOoo-

243. CHUYỆN NHẠC SĨ GUTTILA (Tiền thân Guttila)

Ta có một đệ tử...,

Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc Ðạo Sư

kể về Ðề-bà-đạt-đa. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo nói với Ðề-bà-đạt-đa:

- Này Hiền giả Ðề-bà-đạt-đa, nhờ bậc Chánh

Ðẳng Giác, Hiền giả học xong Ba tạng Giáo điểm và chứng được Bốn Thiền. Thật

không xứng đáng nếu Hiền giả trở thành kẻ thù của bậc Sư trưởng.

Ðề-bà-đạt-đa đáp:

- Này các hiền giả, Sa-môn Gotama đâu có

phải là Sư trưởng của ta? Chính do tự lực của ta, ta học Ba tạng Giáo điển

và chứng được Bốn Thiền.

Nói vậy xong, Ðề-bà-đạt-đa từ bỏ bậc Sư

trưởng.

Các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường bắt

đầu nói chuyện này:

- Hiền giả Ðề-bà-đạt-đa từ bỏ bậc Sư trưởng,

trở thành kẻ thù của bậc Chánh Ðẳng giác, và đã gặp đại nạn!

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, nay các ông đang họp bàn

vấn đề gì?

Khi được biết vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay

Ðề-bà-đạt-đa mới từ bỏ Sư trưởng, trở thành kẻ thù của Ta và gặp nạn. Thuở

trước kẻ ấy cũng như vậy rồi.

Và bậc Ðạo Sư kể chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình nhạc sĩ và được đặt tên là Thanh

niên Guttila. Khi lớn lên, Bồ-tát thành đạt tất cả các ngành âm nhạc, và trở

thành nhạc sĩ Guttila. Bồ-tát không lấy vợ và nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa.

Lúc bấy giờ, một số thương nhân sống ở

Ba-la-nại, đi đến Ujjeni để buôn bán. Nhân ngày lễ hội được tổ chức, họ họp

nhau đem theo nhiều vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, các thức ăn, và đến một

chỗ vui chơi. Họ nói:

- Hãy trả tiền thuê để gọi các nhạc sĩ đến.

Lúc bấy giờ nhạc sĩ Mùsila là vị nhạc trưởng

ở Ujjeni. Họ mời Mùsila đến đàn cho họ nghe. Mùsila chơi đàn tỳ bà, vặn dây

rất căng rồi gảy đàn. Nhưng họ đã từng nghe nhạc sĩ Guttila chơi đàn, nên

nhạc của Mùsila chơi chẳng khác gì gảy trên chiếu. Vì vậy không một ai tỏ vẻ

hài lòng.

Khi Mùsila thấy họ tỏ vẻ không hài lòng, ông

ta nghĩ: "Có lẽ ta chơi đàn căng thẳng quá", ông ta vặn dây xuống bậc trung

và gảy tiếp. Các người nghe vẫn tỏ vẻ thản nhiên, ông lại nghĩ: "Những người

này không biết một chút gì về nhạc", và làm như vẻ mình không biết, ông ta

gảy đàn với hết sức dùng. Ðến đây, họ cũng không nói một lời gì. Rồi Mùsila

nói với họ:

- Này các thương nhân, tôi gảy đàn tỳ bà

không làm cho các ông thích thú sao?

Họ nói:

- Nhưng ông gảy đàn tỳ bà đó sao? Chúng tôi

nghĩ rằng ông chỉ lên dây đàn!

- Vậy các ông biết một nhạc trưởng nào giỏi

hơn tôi, hay vì các ông không biết gì nên các ông không thích nghe tôi gảy?

Các thương nhân nói:

- Chúng tôi trước đây đã nghe tiếng đàn tỳ

bà của nhạc sĩ Guttila ở Ba-la-nại. Còn tiếng đàn của ông chẳng khác gì bà

mẹ ru ngủ con nít!

- Vậy các ông hãy lấy lại tiền mướn. Tôi

không cần tiền ấy. Chỉ khi nào các ông đi Ba-la-nại, hãy đem tôi theo!

Họ bằng lòng, và khi ra đi, họ đem theo

Mùsila đến Ba-la-nại, chỉ cho ông ta biết chỗ ở của Guttila, rồi họ về nhà.

Mùsila đi vào nhà của Bồ-tát, thấy cây đàn

tỳ bà xinh đẹp của Bồ-tát được treo trên dây, liền lấy xuống và đàn. Bây giờ

cha mẹ của Bồ-tát do mù nên không thấy Mùsila, nghĩ rằng có lẽ các con chuột đang

ăn dây đàn tỳ bà, liền nói:

- Xuỵt, xuỵt! Các con chuột ăn dây đàn tỳ

bà!

Lúc ấy, Mùsila đặt đàn xuống, chào cha mẹ

Bồ-tát, và hai vị hỏi:

- Ông từ đâu đến?

Ông ta đáp:

- Tôi từ Ujjeni đến học nghề dưới chân sư

trưởng.

Hai vị nói:

- Lành thay!

Mùsila hỏi:

- Sư trưởng ở đâu?

- Này con thân, nó không có ở nhà, nhưng hôm

nay nó sẽ về.

Rồi Mùsila ngồi xuống đợi đến khi Bồ-tát về,

liền nói lên những lời hỏi thăm và cho Bồ-tát biết lý do mình đến. Bồ-tát là

người giỏi xem tướng, thấy người này không phải bậc chân nhân, liền từ chối:

- Này con thân, nghề này không phải là nghề

của con.

Mùsila ôm chân cha mẹ Bồ-tát van lơn yêu cầu

giúp đỡ.

- Hãy bảo con của ông bà dạy cho con học

với!

Trước lời yêu cầu của cha mẹ, Bồ-tát không

thể cưỡng lại, và dạy cho ông ta nghề nhạc. Rồi Mùsila đi với Bồ-tát không

phải là vị Sư trưởng giấu nghề, những gì mình biết, Bồ-tát đều dạy cho

Mùsila.

Dạy xong, Bồ-tát nói:

- Này con thân, nghề con đã học xong.

Mùsila suy nghĩ: "Nay ta học thành tài xong.

Thành Ba-la-nại này là kinh đô tối thượng trong cõi Diêm-phù-đề. Sư trưởng

đã già. Nay ta phải sống tại đây".

Vì vậy ông ta liền thưa với Sư trưởng:

- Thưa Sư trưởng, nay con sẽ hầu vua.

Sư trưởng nói:

- Lành thay, con thân. Ta sẽ tâu với vua.

Bồ-tát đi tâu với vua:

- Ðệ tử của thần muốn hầu hạ Ðại vương. Hãy

trả tiền lương cho nó!

- Nó sẽ nhận phân nửa lương của khanh.

Sư trưởng báo cho Mùsila biết tin này,

Mùsila nói:

- Nếu con được trả tiền bằng lương của thầy,

con sẽ hầu hạ vua. Nếu không được, con sẽ không hầu hạ!

- Vì sao?

- Phải chăng con biết tất cả nghề của Sư

trưởng?

- Phải, con biết như vậy.

- Tại sao vua lại cho con phân nửa lương?

Bồ-tát tâu việc ấy với vua. Vua nói:

- Nếu nó có thể chứng tỏ tài nghệ nó bằng

khanh, nó sẽ nhận lương ngang bằng.

Bồ-tát tin cho Mùsila biết. Ông ta đồng ý:

- Lành thay! Con sẽ trổ tài!

Khi vua được tin báo về việc này, vua nói:

- Lành thay ! Ngày nào ngươi sẽ trổ tài?

- Tâu Ðại vương, từ nay đến ngày thứ bảy.

Vua hỏi:

- Có thật chăng ngươi sẽ thi tài với Sư

trưởng của ngươi?

- Thưa Ðại vương, thật vậy!

Vua muốn ngăn chận ông ta nên nói:

- Không nên có sự cạnh tranh giữa đệ tử và

Sư trưởng! Chớ làm như vậy!

- Thôi vừa rồi, tâu Ðại vương. Ðến ngày thứ

bảy sẽ có cuộc thử tài giữa thần với Sư trưởng của thần.

Vua chấp thuận và cho người đánh trống

truyền rao khắp kinh thành lời bố cáo này:

- Từ nay cho đến ngày thứ bảy, Sư trưởng

Guttila và đệ tử Mùsila có cuộc tranh tài với nhau tại cung vua để trình bày

tài nghệ. Quần chúng ở thành hãy hội họp lại để xem tài nghệ của họ.

Bồ-tát suy nghĩ: "Mùsila còn trẻ đang độ

thanh niên. Còn ta đã già, sức khoẻ yếu kém. Việc làm của người già không

thể thành công. Nếu đệ tử thất bại, thì cũng không có gì vinh dự cả. Nhưng

nếu đệ tử thắng cuộc, thì vào rừng mà chết còn tốt hơn sự ô nhục mà ta phải

gánh chịu!"

Vì vậy, Bồ-tát đi vào rừng, nhưng rồi sợ

chết liền quay trở về, và rồi sợ nhục, lại đi vào rừng. Như vậy Bồ-tát đi

đi, về về và sáu ngày trôi qua. Cỏ dưới chân Bồ-tát đã héo úa, và con đường

mòn do dấu chân ngài đi đã hiện ra. Trong lúc ấy, chiếc ngai của Thiên chủ

Ðế Thích trở thành nóng. Ðế Thích hướng tâm tìm hiểu và biết sự việc xảy ra.

Ðế Thích suy nghĩ: "Nhạc sĩ Guttila đang chịu nhiều đau khổ trong rừng vì

người đệ tử. Ta phải giúp đỡ nhạc sĩ Guttila".

Ðế Thích vội vàng đi đến đứng trước Bồ-tát

và hỏi:

- Thưa Sư trưởng, sao Sư trưởng lại đi vào

rừng?

Bồ-tát hỏi:

- Ông là ai?

Ðế Thích đáp:

- Ta là Ðế Thích.

Bồ-tát thưa:

- Thưa Thiên chủ, tôi sợ đệ tử đánh bại nên

trốn vào rừng.

Nói rồi Bồ-tát đọc bài kệ đầu:

Tôi có một đệ tử

Ðã học đàn với tôi,

Ðàn tỳ bà bảy dây,

Thật du dương êm ái,

Nó thách tôi biểu diễn.

Thiên chủ Ko-si-ya,

Xin hãy giúp đỡ tôi!

- Ðừng sợ, Thiên chủ Ðế Thích đáp. Ta là chỗ

nương tựa và bảo vệ bạn.

Rồi Thiên chủ đọc bài kệ thứ hai:

Ðừng sợ, ta sẽ giúp,

Khi nào bạn cần ta,

Danh dự là phần thưởng

Xứng đáng với giáo sư,

Ðừng sợ, vì đệ tử

Không thể đối địch thầy,

Và bạn sẽ chiến thắng.

Rồi Ðế Thích dặn:

- Khi bạn gảy đàn tỳ bà, hãy cắt đứt một dây

và chơi với sáu dây. Tiếng đàn tỳ bà của bạn vẫn hay như cũ. Mùsila cũng sẽ

cắt đứt một dây, nhưng tiếng đàn tỳ bà của nó sẽ mất đi. Khi ấy, nó sẽ thua

cuộc. Biết nó thất bại, bạn hãy cắt đứt dây thứ hai, dây thứ ba, dây thứ tư,

dây thứ năm, dây thứ sáu, dây thứ bảy. Bạn sẽ gảy đàn với cái trục đàn mà

thôi, tiếng đàn sẽ phát ra từ các đầu dây bị đứt và sẽ vang dội toàn thành

Ba-la-nại rộng đến mười hai dặm. Sau đó, Ðế Thích cho Bồ-tát ba cây đũa thần

và nói tiếp:

- Khi tiếng đàn tỳ bà vang dội toàn thành,

hãy quăng một đũa thần lên hư không. Khi ấy ba trăm Thiên nữ sẽ hiện xuống

và múa trước mặt bạn. Khi chúng múa như vậy, bạn sẽ quăng đũa thần thứ hai,

ba trăm Thiên nữ khác sẽ hiện xuống và múa trước đàn tỳ bà của bạn. Rồi hãy

quăng chiếc đũa thần thứ ba, khi ấy ba trăm Thiên nữ khác sẽ hiện xuống và

múa tại sân tròn của đấu trường. Ta cũng sẽ đến cùng với chúng. Hãy đi lên

nào, chớ sợ hãi.

Vào buổi sáng Bồ-tát đi về nhà. Tại cửa cung

vua, một cái đình tròn được dựng lên và đặt một chiếc ngai. Vua từ trên lầu

xuống, ngồi chính giữa trên sàng tọa ở trong cái đình được trang hoàng rực

rỡ. Mười ngàn nữ nhân phục sức diễm lệ, cùng với các đại thần Bà-la-môn,

nhân dân v.v... vây xung quanh vua. Tất cả những người ở trong thành đều tụ

họp lại. Trong sân chầu, họ sắp chỗ ngồi theo hình vòng tròn, hàng hàng lớp

lớp chồng chất lên nhau.

Bồ-tát được tắm rửa, trang sức và xoa dầu

thơm; sau khi ăn nhiều món thượng vị, ngài cầm cây đàn tỳ bà và ngồi trên

chỗ đã soạn sẵn. Còn Ðế Thích cũng đến, với phép tàng hình đứng trên hư

không, được một hội chúng đông đảo vây quanh, nhưng chỉ Bồ-tát có thể thấy

Ðế Thích. Mùsila cũng đến và ngồi trên chỗ của mình. Ðại quần chúng bao vây

xung quanh họ.

Ðầu tiên, cả hai đều gảy đàn giống nhau. Ðại

quần chúng thích thú với hai người gảy đàn và vỗ tay không ngớt. Ðế Thích

đứng trên hư không nói với Bồ-tát:

- Hãy cắt đứt các dây!

Bồ-tát cắt đứt sợi dây Bhamra (sợi dây ong).

Dù sợi dây bị cắt, đầu sợi dây đứt vẫn phát ra tiếng thiên nhạc. Mùsila cũng

cắt đứt một dây, nhưng từ sợi dây bị đứt, tiếng không phát ra.

Sư trưởng cắt đứt dây thứ hai, lần lượt đến

sợi dây thứ bảy, tiếng vẫn phát ra từ cây đàn và vang dậy cả kinh thành.

Quần chúng vẫy hàng ngàn khăn tay trên hư không, hàng ngàn người vỗ tay tán

thưởng.

Bồ-tát liền quăng một đũa thần lên hư không. Ba

trăm Thiên nữ liền hiện xuống và bắt đầu nhảy múa.

Cũng vậy, khi Bồ-tát quăng đũa thần thứ hai,

thứ ba, chín trăm Thiên nữ hiện xuống và cùng múa như Thiên chủ đã nói

trước.

Lúc bấy giờ, vua ra dấu cho quần chúng. Quần

chúng đứng dậy la to:

- Ngươi muốn đánh bại Sư trưởng! Ngươi phản

thầy phản bạn, tưởng mình có thể đối địch thầy! Ngươi không biết lượng sức

mình!

Họ la hét phản đối kẻ đối địch thầy! Ngươi không

biết lượng sức mình!

Họ la hét phản đối, Mùsila, và đá với gậy

v.v... hay bất cứ cái gì đến tay, họ đánh ông ta đến chết và cầm chân ông,

quăng xác trên một đống rác.

Vua rất hoan hỷ ban cho Bồ-tát rất nhiều

tặng phẩm như trời đổ mưa xuống và thị dân cũng làm như vậy.

Ðế Thích thân mật chào mừng Bồ-tát và nói:

- Thưa bậc Hiền trí, ta sẽ cho thắng cỗ xe

với một ngàn con ngựa thuần chủng, rồi gởi thần đánh xe Màtali xuống đây.

Ngài sẽ ngự lên cỗ xe Vejayanta thù thắng có ngàn ngựa kéo và ngài sẽ du

hành thiên giới.

Nói xong, Ðế Thích ra đi. Khi Ðế Thích trở

về và ngồi trên ngai vàng của mình toàn bằng đá quý, (ngai hoàng bảo thạch),

các Thiên nữ liền hỏi:

- Thưa Thiên chủ, ngài đi ở đâu về?

Ðế Thích kể lại cho Thiên chúng rõ toàn câu

chuyện với các chi tiết, rồi tán thán giới hạnh và công đức của Bồ-tát. Các

Thiên nữ thưa:

- Thưa Thiên chủ, chúng con muốn thấy Sư

trưởng ấy. Hãy đưa Sư trưởng đến đây!

Ðế Thích bảo Màtali:

- Này khanh, các Thiên nữ muốn thấy nhạc sĩ

Guttali. Hãy đi mời Bồ-tát ngồi trên cỗ xe Vejayanta và đưa vị ấy đến đây.

Thần lái xe Màtali vang lời ra đi và đưa

Bồ-tát đến. Ðế Thích hoan hỷ chào đón vị ấy và nói:

- Thưa Sư trưởng, các Thiên nữ muốn nghe

nhạc của Sư trưởng.

Bồ-tát nói;

- Chúng tôi là nhạc sĩ, nương tựa vào nghề

để sống. Hãy trả công rồi tôi sẽ chơi nhạc.

- Hãy chơi nhạc đi, ta sẽ trả công cho ngài!

- Tôi không cầu trả món gì khác trừ việc

này: Hãy để cho các Thiên nữ này nói lên thiện nghiệp của mình, rồi tôi sẽ

chơi nhạc.

Các Thiên nữ thưa:

- Sau khi được nghe nhạc thoải mái, chúng

con sẽ nói lên các thiện nghiệp chúng con đã làm. Thưa Sư trưởng, vậy trước

tiên hãy đánh nhạc.

Suốt bảy ngày Bồ-tát đánh nhạc, và nhạc của

Bồ-tát vượt hơn cả thiên nhạc. Vào ngày thứ bảy, Bồ-tát hỏi các Thiên nữ về

thiện nghiệp của họ. Một Thiên nữ, trong thời đức Phật Ca-diếp, đã cúng một

thượng y cho một Tỷ-kheo. Sau khi tái sanh làm thị giả của Ðế Thích, nàng

trở thành Thiên nữ có một ngàn tiên nữ khác hầu hạ. Bồ-tát hỏi nàng:

- Trong một đời trước, nàng đã làm gì khiến

nàng được sanh tại đây?

Cách thức hỏi và câu hỏi và câu trả lời của

nàng đã được kể trong Chuyện Thiên cung (Vimàna Vatthu) như sau:

Với dung sắc thù thắng,

Ôi thiên nữ vinh quang,

Nàng chiếu khắp mọi hướng,

Chẳng khác gì sao mai,

Từ đâu, này huy hoàng,

Từ đâu, các lạc thú

Xuất hiện ra cho nàng?

Các sở hữu khả ái

Làm tâm trí ưa thích?

Hỡi Thiên nữ đại lực!

Ta hỏi nàng điều này

Nàng tạo công đức gì,

Khi nàng là nữ nhân,

Khiến nay nàng đạt được

Ðại thần lực chói sáng,

Và dung sắc rực rỡ

Chiếu tỏa khắp mười phương?

Nàng là bậc nữ nhân

Ðã cúng dường thượng y,

Tối thắng giữa nam nhân,

Tối thắng giữa nữ nhân,

Khiến nay nàng đạt được

Tối thắng giữa nữ nhân,

Chính nàng đã bố thí

Vật khả ái như vậy,

Nên được sanh thiên cung,

Mỹ lệ và khả ái,

Hãy ngắm lâu đài ta!

Ta, Thiên nữ đẹp nhất,

Hãy xem quả dị thục

Các công đức ta làm,

Do vậy, ta tuyệt mỹ,

Do vậy, ta huy hoàng,

Ta được các sở hữu

Khả ái, tâm ưa thích,

Do vậy, ta huy hoàng,

Ta được các sở hữu

Khả ái, tâm ưa thích,

Do vậy ta đạt được

Tối thắng về uy lực,

Và dung sắc của ta

Chiếu tỏa khắp mười phương.

Sau khi đọc các bài kệ, các Thiên nữ tiếp

tục kể:

- Một Thiên nữ khác đã cúng dường hoa cho

một Tỷ-kheo đang đi khất thực. Một Thiên nữ khác được yêu cầu cúng dường năm

loại vòng hoa thơm ở điện thờ Phật Ca-diếp, và nàng đã cúng dường chúng. Một

Thiên nữ đã cúng dường các loại trái có vị ngọt. Một Thiên nữ khác đã nghe

pháp từ các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni đang hành đạo hay đang an cư mùa mưa tại

nhà của một gia đình. Một Thiên nữ khác đứng trong nước cúng dường một

Tỷ-kheo thọ trai trong một chiếc thuyền. Một Thiên nữ khác sống trong gia

đình đã hầu hạ mẹ chồng, cha chồng, và không bao giờ tức giận. Một Thiên nữ

khác chia phần món ăn mình nhận được cho một Tỷ-kheo và giữ giới hạnh. Một

Thiên nữ là nữ tỳ trong một gia đình, không phẫn nộ, không kiêu mạn, đã san

sẻ phần ăn của nàng, nên được sanh làm thị giả của Thiên chủ. Như vậy, tất cả

ba mươi bảy Thiên nữ đã được Bồ-tát hỏi do họ đã làm nghiệp của mình làm.

Khi nghe chuyện này, Bồ-tát nói:

- Thật lợi ích cho ta, thật vô cùng lợi ích

cho ta! Ta đã đến đây va nghe các thành tích đạt được nhờ các thiện nghiệp

nhỏ nhặt biết bao. Từ nay khi trở về thế giới loài người, ta sẽ làm các

thiện nghiệp như bố thí v.v...

Rồi, Bồ-tát thốt lên lời cảm hứng này:

Hôm nay ta may mắn

Rạng đông thật tốt lành

Ta thấy các Thiên nữ,

Diễm lệ và cao sang,

Và nghe pháp dịu ngọt!

Ta sẽ làm điều thiện,

Bố thí và chân thật,

Tự chế và khắc kỷ,

Ta sẽ đến chỗ kia,

Nơi không còn sầu muộn.

Bảy ngày đã qua, Thiên chủ Ðế Thích ra lệnh

cho thần lái xe Màtali mời Guttila lên ngồi và đưa ngài về Ba-la-nại. Khi

đến Ba-la-nại, ngài nói cho mọi người biết những việc mình đã thấy ở thiên

giới. Từ đấy, mọi người quyết định làm việc lành với nỗ lực của họ.

*

Khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Ðạo sư

nhận diện tiền thân:

- Mùsila là Ðề-Bà-đạt-đa, Ðế Thích là

A-na-luật-đà (Anuruddha), vua là Ànanda và nhạc sĩ Guttila là Ta vậy.

-ooOoo-

244. CHUYỆN LY DỤC (Tiền thân Viticcha)

Cái thấy, nó không muốn...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về một du sĩ đã chạy trốn.

Người ta nói vị này không tìm được một người

đối thoại với mình trong toàn cõi Diêm-phù-đề, nên đã đến Xá-vệ và hỏi:

- Ai có thể cùng với ta thảo luận?

Khi được nghe có bậc Chánh Ðẳng Giác, vị ấy

liền đi Kỳ Viên với quần chúng vây quanh, và hỏi Thế Tôn một câu trong khi

Thế Tôn đang thuyết pháp giữa bốn hội chúng.

Bậc Ðạo Sư trả lời cho vị ấy xong liền hỏi

lại một câu. Du sĩ ấy không thể trả lời liền đứng dậy và bỏ chạy. Hội chúng

đang ngồi đồng nói to:

- Bạch Thế Tôn, du sĩ ấy bị Thế Tôn đánh bại

chỉ với một câu.

Bậc Ðạo Sư nói:

- Này các nam cư sĩ, không phải chỉ nay, Ta

mới đánh bại kẻ ấy với một câu hỏi. Thuở xưa, ta cũng đã làm như vậy rồi.

Và bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở nước Kàsi. Lúc lớn

lên, ngài từ bỏ các dục, xuất gia trở thành vị ẩn sĩ du hành, sống lâu ngày

trong núi Tuyết. Rồi Bồ-tát xuống núi, sống trong một chòi lá tại một khúc

quanh sông Hằng, gần một thị trấn nhỏ.

Bấy giờ có một du sĩ không tìm được một

người đối thoại với mình trong toàn cõi Diêm-phù-đề, đã đến thị trấn ấy và

hỏi:

- Ai có khả năng đối thoại với ta không?

Khi được trả lời có người và nghe nói đến uy

lực của Bồ-tát, vị ấy cùng đại chúng vây quanh đến trú xứ của Bồ-tát và sau

khi chào hỏi ngài, vị ấy liền ngồi xuống. Bồ-tát hỏi:

- Ông có uống nước sông Hằng được pha trộn

với các loại hương rừng hay không?

Du sĩ ấy dùng lời mở rộng vấn đề và nói:

- Cái gì là sông Hằng? Cát là sông Hằng?

Nước là sông Hằng? Bờ bên này là sông Hằng? Bờ bên kia là sông Hằng chăng?

Bồ-tát nói:

- Hãy để một bên cát, nước, bờ bên này, bờ

bên kia! Thế ông có được sông Hằng gì?

Du sĩ không trả lời câu ấy được, liền đứng

dậy và bỏ chạy.

Khi kẻ ấy đã đi rồi, Bồ-tát thuyết pháp cho

đại chúng ngồi nghe, và đọc các bài kệ này:

Cái thấy, nó không muốn,

Cái không thấy, nó muốn,

Ta nghĩ nó đi lâu,

Không được điều nó muốn.

Cái được, nó không thỏa,

Ðược rồi, nó không muốn,

Ước muốn nó không cùng,

Ta kính bậc ly dục.

*

Khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Ðạo Sư

nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ du sĩ ấy là du sĩ ngày nay,

còn vị ẩn sĩ khổ hạnh là Ta vậy.

-ooOoo-

245. CHUYỆN KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN (Tiền thân Mùlapariyàya)

Thời gian ăn hữu tình...,

Câu chuyện này, khi ở rừng Subhaga gần

Ukkatthà, bậc Ðạo Sư kể về kinh Mùlapariyàya.

Nghe nói lúc bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn

tinh thông ba tập Vệ-đà, đã xuất gia trong Giáo pháp, đã học Ba Tạng kinh

điển và sanh lòng ngã mạn.

Họ suy nghĩ "Bậc Chánh Ðẳng Giác biết Ba

tạng Kinh điển, chúng ta và bậc Chánh Ðẳng Giác nào có khác gì? Họ không đi

đến hầu Thế Tôn, và họ sống với một hội chúng đệ tử ngang bằng hội chúng của

bậc Ðạo Sư.

Một hôm, bậc Ðạo Sư đi đến gặp họ, và khi họ

đã ngồi gần mình, bậc Ðạo Sư Thuyết Kinh Căn bản pháp môn và tô điểm thêm

tám thứ bậc tu chứng. Họ không hiểu được một lời gì. Trước kia, họ kiêu mạn

nghĩ rằng không có bậc hiền trí nào bằng họ. Nay đứng trước mặt Phật, họ

thấy họ không hiểu một tí gì. Họ tự bảo: "Thật không có ai hiền trí như chư

Phật. Ôi công đức chư Phật thật tối thắng!"

Từ đấy trở đi, họ không còn kiêu mạn, trở

thành hiền lành như rắn bị rút nanh.

Bậc Ðạo Sư trú ở Ukkatthà cho đến khi thỏa

thích, rồi đi Vesàli, đến điện thờ Gotama và giảng Kinh Gotama. Cả ngàn thế

giới đều rung động! Khi nghe kinh ấy xong, các Tỷ-kheo nầy trở thành các vị

A-la-hán.

Nhưng khi bậc Ðạo Sư giảng xong Kinh Căn bản

pháp môn và trú ở Ukkatthà, các Tỷ-kheo hội họp tại Chánh pháp đường, bắt đầu

nói chuyện như sau:

- Thưa các Hiền giả, ôi uy lực của đức Phật

thật vĩ đại. Các du sĩ Bà-la-môn ấy thường vẫn kiêu mạn tự đắc như vậy, nay

đã diệt trừ kiêu mạn nhờ bài thuyết pháp về Căn bản pháp môn của Thế Tôn.

Bậc Ðạo Sư đến tại Pháp đường và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông hội họp ở đây

đang bàn luận vấn đề gì?

Khi biết vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay mới

như vậy. Thuở xưa những người này sống vói đầy giương cao tự đại, ta cũng đã

nhiếp phục lòng kiêu mạn của họ.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vị ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng

thành, ngài tinh thông ba tập Vệ-đà, trở thành bậc sư trưởng có danh tiếng

nhiều phương và giảng dạy chú thần cho năm trăm thanh niên Bà-la-môn. Năm

trăm thanh niên ấy chú tâm học tập cho đến thành tựu viên mãn, rồi lòng kiêu

mạn khởi lên, họ tự nghĩ: "Chúng ta hiểu biết chừng nào, vị sư trưởng cũng

hiểu chừng ấy thôi. Không có gì khác."

Vì vậy họ không đi đến hầu sư trưởng, cũng

không làm các bổn phận đối với sư trưởng.

Một hôm, họ thấy sư trưởng ngồi dưới gốc cây

táo; muốn nhạo báng sư trưởng, họ lấy móng tay gõ vào cây táo và nói:

- Cây này thật sự không có lõi!

Bồ-tát biết họ nhạo báng mình, liền nói:

- Này các đệ tử, ta sẽ hỏi các anh một câu.

Họ thích thú nói:

- Hãy nói lên, chúng tôi sẽ trả lời.

Sư trưởng hỏi bằng cách đọc bài kệ đầu:

Thời gian ăn hữu tình,

Ăn tất cả, ăn mình,

Ai là hữu tình ấy

Ăn cả đến thời gian,

Ai là người nấu chín

Thời gian nấu hữu tình?

Nghe câu hỏi này, không một ai trong đám

thanh niên Bà-la-môn có thể hiểu được. Rồi Bồ-tát nói với chúng:

- Chớ tưởng rằng câu hỏi này nằm trong ba

tập Vệ-đà! Các anh tưởng rằng mình biết tất cả mọi điều ta biết. Các anh

hành động giống như cây táo. Các anh không biết rằng ta biết được nhiều hơn

mọi điều các anh biết. Hãy đi đi! Ta cho các anh bảy ngày. Hãy nghiền ngẫm

câu hỏi này suốt thời gian ấy.

Họ đảnh lễ Bồ-tát, rồi đi về nhà của mình.

Họ suy nghĩ suốt bảy ngày, nhưng cuối cùng không giải quyết được câu hỏi.

Sau bảy ngày, họ đi đến gặp sư trưởng, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Sư

trưởng hỏi:

- Này các đệ tử với mặt mày hiền thiện kia,

các anh có đáp câu hỏi ấy được không?

Họ trả lời:

- Thưa không, chúng tôi không biết.

Rồi Bồ-tát quở trách họ với bài kệ thứ hai:

Loài người có nhiều đầu,

Trên đầu tóc mọc lên,

Ðầu dính lên trên cổ,

Bao nhiêu đầu có tai?

Bồ-tát tiếp tục chê trách các thanh niên

Bà-la-môn ấy:

- Các anh là người ngu si, tai của các anh

chỉ có lỗ chứ không có trí tuệ.

Sau đó, Bồ-tát trả lời câu hỏi. Nghe xong,

họ nói:

- Ôi, Sư trưởng thật vĩ đại thay!

Họ liền xin lỗi, rồi nhiếp phục lòng kiêu

mạn và hầu hạ Bồ-tát.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong,

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ năm trăm thanh niên Bà-la-môn là

những Tỷ-kheo này, còn vị sư trưởng là Ta vậy.

-ooOoo-

246. CHUYỆN LỜI PHỈ BÁNG (Tiền thân Telovàda)

Người ác không tự chế...,

Câu chuyện này, khi ở tại ngôi nhà có nóc

nhọn gần Vesàli (Tỳ-xá-ly) bậc Ðạo Sư đã kể về tướng quân Siha. Sau ngày quy

y đức Thế Tôn, vị này đã mời Ngài dùng cơm có thịt. Các Ni-kiền tử nghe vậy

liền phẫn nộ, không hoan hỷ. Muốn làm hại đức Như Lai, họ đã phỉ báng như

sau:

- Samôn Gotama tuy biết món thịt bất tịnh

được làm cố ý vì mình mà vẫn ăn.

Do đó các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường

bắt đầu nói chuyện này:

- Này các Hiền giả, Ni-kiền tử Nàthaputta đi

khắp nơi với hội chúng của mình và phỉ báng như sau: "Sa môn Gotama, tuy

biết món thịt bất tịnh được làm cố ý vì mình mà vẫn ăn".

Nghe vậy bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay

Ni-kiền-tử Nàtaputta mới phỉ báng ta ăn món thịt được làm cố ý vì mình, mà

trước kia vị ấy cũng hành động như vậy.

Rồi, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng

thành, ngài xuất gia làm vị ẩn sĩ.

Vì mục đích lấy muối và giấm, ngài từ vùng

Tuyết Sơn đi đến Ba-la-nại, và ngày hôm sau, vào thành khất thực.

Có một điền chủ muốn làm hại vị tu khổ hạnh

liền mời ngài vào nhà, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và đãi món thịt cá. Sau

buổi ăn, gia chủ ngồi xuống một bên vị ẩn sĩ thưa:

- Khi làm món thịt này, chính vì ngài mà tôi

giết các loài vật hữu tình. Việc bất thiện này không thuộc chúng tôi, mà chỉ

thuộc về ngài thôi.

Rồi ông ta đọc bài kệ đầu:

Người ác không tự chế,

Bảo giết, nấu, mời ăn,

Người ăn món thịt này,

Bị ác làm ô nhiễm.

Nghe vậy, vị ẩn sĩ đọc bài kệ thứ hai:

Nếu người không tự chế,

Giết vợ con, mời ăn,

Người có trí tuy ăn,

Không bị ác làm nhiễm.

Bồ-tát thuyết pháp như vậy rồi từ chỗ ngồi

đứng dậy và ra đi.

*

Khi thuyết Pháp thoại này xong, bậc Ðạo Sư

nhận diện Tiền thân.

- Lúc bấy giờ, người điền chủ là Ni-kiền-tử

Nàtaputta, còn vị tu khổ hạnh là Ta vậy.

-ooOoo-

247. CHUYỆN HOÀNG TỬ PÀDANJALI (Tiền thân Pàdanjali)

Thật sự hoàng tử này...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về Trưởng lão Làludàyi (Udàyi khờ dại).

Một hôm, hai vị đại đệ tử đang bàn luận một

câu hỏi. Các Tỷ kheo nghe cuộc bàn luận đều tán thán các Trưởng lão ấy.

Trưởng lão Làludàyi ngồi trong hội chúng bĩu

môi và suy nghĩ: "Làm sao họ hiểu biết bằng ta được!" Thấy vậy, các Trưởng

lão đứng dậy và đi. Hội chúng liền giải tán.

Sau đó, các Tỷ kheo ngồi Chánh pháp đường

bắt đầu nói chuyện ấy:

- Này các Hiền giả, Làludàyi chỉ trích hai

vị đệ tử tối thượng và bĩu môi.

Nghe chuyện ấy bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ kheo, không phải chỉ nay mà

trước kia cũng vậy, ngoại trừ bĩu môi, Làludàyi không biết gì khác.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát là một đại thần cố vấn cho vua về thế sự và thánh sự. Vua

có một hoàng tử tên là Pàdanjali, ngu đần và biếng nhác.

Sau một thời gian, vua mệnh chung. Khi tang

lễ của vua đã xong, các đại thần suy nghĩ: "Chúng ta hãy làm lễ quán đảnh

lên ngôi cho hoàng tử Pàdanjali". Nhưng Bồ-tát nói:

- Hoàng tử này ngu đần và biếng nhác. Chúng

ta lựa hoàng tử ấy làm lễ quán đảnh lên ngôi vua sao?

Sau đó, các đại thần tổ chức một cuộc xử án,

đặt hoàng tử ngồi gần, và xử không đúng đắn. Họ xử người sở hữu chủ trở

thành người mất tài sản và hỏi hoàng tử:

- Thưa hoàng tử, chúng tôi xử án như vậy có

đúng không?

Hoàng tử bĩu môi. Bồ-tát suy nghĩ: "Ta tưởng

hoàng tử ngu! Nhưng không phải, hoàng tử là người có trí biết vụ xử án không

đúng đắn", và Bồ-tát đọc bài kệ:

Thật sự hoàng tử này

Trí tuệ sáng hơn người,

Hoàng tử bĩu môi vậy,

Chắc thấy rõ chúng ta!

Ngày hôm sau, các đại thần lại tổ chức một

cuộc xử án khác. Lần này họ xử đúng đắn và hỏi:

- Thưa hoàng tử, xử án như vậy có đúng

không?

Hoàng tử cũng bĩu môi. Biết rằng hoàng tử

chỉ là người ngu đần, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:

Kẻ này không biết được

Pháp, phi pháp, chân, vọng,

Ngoài cái bĩu môi ra,

Nó không biết gì cả.

Các đại thần biết được Pàdanjali chỉ là kẻ

ngu đần, nên họ làm lễ quán đảnh tôn Bồ-tát lên làm vua.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong,

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, Pàdanjali là Làludàyi, còn vị

đại thần hiền trí là Ta vậy.

-ooOoo-

248. CHUYỆN THÍ DỤ CÂY KIMSUKA (Tiền thân Kimsukopama)

Tất cả các con ta...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về Kinh Kimsukopama (Thí dụ cây Kimsuka).

Một hôm bốn Tỷ-kheo đi đến gặp đức Như Lai

và xin đề tài thiền quán để tu tập. Bậc Ðại Sư gợi ý cho các vị ấy về đề tài

thiền quán. Họ nhận được đề tài thiền quán Sáu xứ, đi về trú xứ của mình.

Một vị trong số họ liễu tri Sáu xứ đã chứng quả A-la-hán. Một vị liễu tri

Năm uẩn. Một vị liễu tri Bốn đại. Một vị liễu tri Mười tám giới đều chứng

quả A-la-hán.

Bốn vị Tỷ-kheo trình lên bậc Ðạo Sư các quả

chứng của mình. Khi ấy một Tỷ-kheo khởi lên tư tưởng: "Những đề tài thiền

quán này có khả năng đưa đến Niết-bàn, vì sao tất cả lại đạt được quả

A-la-hán?", và vị này hỏi bậc Ðạo Sư.

Ngài đáp:

- Này các Tỷ kheo, sự kiện này có khác gì

những người anh em thấy cây Kimsuka.

Nói vậy xong, theo lời yêu cầu của họ, bậc

Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, vua có bốn con trai. Một hôm, họ gọi người đánh xe và nói:

- Này bạn, chúng tôi muốn thấy cây Kimsuka.

Hãy chỉ cây ấy cho chúng tôi.

Người đánh xe nói:

- Lành thay, tôi sẽ chỉ.

Nhưng người đánh xe không chỉ cây ấy cho bốn

người cùng một lần. Anh ta đem người anh cả lên xe đi vào rừng, và chỉ cây

Kimsuka vào thời nó chỉ là một thân cây với các nụ mới mọc, rồi nói:

- Ðây là cây Kimsuka.

Sau đó anh ta chỉ cho người thứ hai một cây

Kimsuka có lá còn xanh, rồi chỉ cho người thứ ba một cây đang trổ hoa, và

chỉ cho người thứ tư một cây Kimsuka đã sanh trái.

Sau một thời gian, bốn anh em ngồi với nhau,

và nói câu chuyện này:

- Cây Kimsuka giống như cây gì?

Một người nói:

- Giống như một khúc cây bị cháy!

Người thứ hai nói:

- Giống như cây bàng!

Người thứ ba nói:

- Giống như miếng thịt!

Người thứ tư nói:

- Giống như cây keo.

Họ không đồng ý với câu trả lời của mỗi

người, liền đi đến vua cha và hỏi :

- Thưa Phụ Vương, cây Kimsuka giống cây gì ?

Vua cha nói:

- Các con trả lời thế nào ?

Và họ trình bày với Vua cha câu trả lời của

mình.

Vua nói:

- Bốn con đã thấy Kimsuka. Nhưng khi người

đánh xe chỉ cây Kimsuka cho các con, các con không phân tích và hỏi: Trong

thời gian này, cây Kimsuka giống cái gì? Trong thời gian khác, cây Kimsuka

giống cái gì? Trong thời gian khác, cây Kimsuka giống cái gì? Do không hỏi

vậy, nên các con sinh nghi ngờ.

Rồi, vua đọc bài kệ đầu:

Tất cả các con ta

Ðã thấy Kim-su-ka,

Nhưng chính ở nơi đây,

Cái gì làm con nghi?

Không hỏi người đánh xe,

Cây ấy ở thời nào?

Sau khi nêu rõ sự việc, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ kheo, giống như bốn anh em ấy,

vì không biết phân tích và không hỏi, nên sinh nghi ngờ đối với cây

Kimsuka, cũng vậy các ông đã phát sinh nghi ngờ về Chánh pháp này.

Rồi bậc Chánh Ðẳng giác đọc bài kệ thứ hai:

Như vậy những kẻ nào

Thiếu hiểu biết Chánh pháp,

Cũng phát sinh nghi ngờ

Ðối với các Chánh pháp,

Giống như các anh em

Với cây Kim-su-ka.

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong,

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Bấy giờ, vua Ba-la-nại là Ta vậy.

-ooOoo-

249. CHUYỆN CON KHỈ SÀLAKA (Tiền thân Sàlaka)

Con là con độc nhất...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về một đại Trưởng lão có danh tiếng.

Vị này đã truyền giới xuất gia cho một chàng

trai và đã hành hạ người ấy. Sa-di này không chịu nổi sự hành hạ, bèn hoàn

tục. Trưởng lão ấy đến và dỗ dành:

- Này chàng thanh niên, y của con sẽ là của

con. Bát của con sẽ là của con. Y và bát của ta ấy cũng sẽ trở thành y và

bát của con. Hãy xuất gia.

Chàng thanh niên nói:

- Con không muốn xuất gia.

Nhưng vị Trưởng lão nói đi nói lại mãi nên

cuối cùng, thanh niên ấy xuất gia. Khi thanh niên ấy trở lại với Tăng chúng,

Trưởng lão ấy bắt đầu hành hạ anh ta như trước. Thanh niên ấy không chịu nổi

sự hành hạ, liền từ bỏ Tăng chúng một lần nữa và dầu được yêu cầu nhiều lần,

anh ta vẫn nói:

- Ông không chịu nổi tôi, và cũng không chịu

nổi không có tôi. Hãy đi đi. Tôi không muốn xuất gia.

Các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường bắt

đầu nói chuyện này:

- Thưa các Hiền giả, chàng thanh niên ấy

thật có tâm bén nhạy. Anh ta biết được tâm tánh của đại Trưởng lão này nên

không xuất gia lại.

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ kheo, nay các ông họp ở đây và

bàn đến chuyện gì?

Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay thanh

niên ấy có tâm bén nhạy. Lúc trước anh ta cũng như vậy rồi. Một lần anh ta

thấy được lỗi lầm của người ấy nên không chấp nhận người ấy nữa.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một người điền chủ. Khi đến tuổi

trưởng thành, Bồ-tát sống bằng nghề buôn bán lúa gạo. Một người khác làm

nghề dụ rắn, đã dạy một con khỉ, bắt nó uống thuốc giải độc, rồi cho nó chơi

với một con rắn, và sống với nghề ấy.

Vào ngày hội vui chơi được tổ chức, người dụ

rắn muốn tham dự cuộc vui, liền giao con khỉ cho người buôn gạo này và dặn:

- Chớ xao lãng nó.

Sau khi vui chơi, đến ngày thứ bảy anh ta

trở về, đến nhà người bán gạo và hỏi:

- Con khỉ ở đâu?

Con khỉ nghe tiếng nói của chủ, mau chóng từ

nơi tiệm bán gạo đi ra. Lập tức người chủ lấy que đánh nó trên lưng, đưa nó

vào vườn, trói nó một bên và nằm ngủ.

Ngay khi con khỉ biết người ấy đã ngủ, nó

liền tự cởi trói, bỏ trốn và leo lên một cây xoài. Nó ăn trái xoài chín, rồi

liệng hột xoài trên thân người dụ rắn. Anh ta thức dậy nhìn lên, thấy con

khỉ liền nghĩ: "Với lời dịu ngọt, ta sẽ dụ dỗ con khỉ ấy xuống và sẽ bắt

nó". Vì vậy, anh ta đọc bài kệ đầu:

Con là con độc nhất,

Sẽ là chủ nhà ta,

Hãy từ cây leo xuống,

Hỡi con, Sà-la-ka!

Này con hãy về nhà,

Hãy sống chung với cha!

Nghe vậy, con khỉ đọc bài kệ thứ hai:

Phải chăng ông quá biết

Tâm tôi là thế nào!

Chính ông đã đánh tôi,

Với cây gậy bằng tre,

Tôi vui sống rừng xoài,

Có trái cây chín muồi,

Hãy đi về nhà ông,

Vậy tôi xin từ biệt!

*

Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này xong,

Ngài nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, con khỉ là Sa-di ấy, người dụ

rắn là Trưởng lão này và người buôn lúa gạo là Ta vậy.

-ooOoo-

250. CHUYỆN CON KHỈ (Tiền thân Kapi)

Ẩn sĩ này vui thích...,

Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư kể

về một Tỷ-kheo lừa đảo.

Tánh lừa đảo của vị này được các Tỷ-kheo

biết rõ. Tại Chánh pháp đường, họ bắt đầu nói chuyện này:

- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo ấy, sau khi xuất

gia trong Giáo pháp giải thoát của đức Phật, lại đầy những hành vi lừa đảo.

Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:

- Này các Tỷ-kheo, các ông họp ở đây đang

luận bàn vấn đề gì?

Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay kẻ ấy

mới lừa đảo, mà thuở trước cũng đã như vậy rồi. Chỉ vì muốn hơ lửa mà khi

còn là con khỉ, nó đã lừa gạt.

Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở

Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở nước Kà-si. Khi

Bồ-tát đến tuổi trưởng thành và đã có một con trai biết chạy chơi, thì bà

vợ, một nữ Bà-la-môn, mệnh chung. Bồ-tát ẵm con trai đi vào Hy-mã-lạp-sơn,

xuất gia làm vị ẩn sĩ, cùng con trai hành trì khổ hạnh, và sống trong một

chòi lá.

Trong mùa mưa, khi mưa rơi không dứt, một

con khỉ bị lạnh bức bách, đi lang thang, răng đánh khớp và run cầm cập. Bấy

giờ Bồ-tát mang về một đống củi lớn, đốt lửa, nằm trong giường nhỏ. Ðứa con

trai ngồi bóp chân cha.

Con khỉ ấy tìm được áo choàng của một người

tu khổ hạnh đã chết, liền quấn vào đắp lên vai. Nó cầm cái gậy và ghè nước

trong cái áo của ẩn sĩ, nó đi đến chòi lá. Vì muốn được hơ lửa, nó đứng tại

đấy, giả dạng một ẩn sĩ. Cậu bé tu khổ hạnh thấy nó, liền nói với cha:

- Này cha thân, có một nhà tu khổ hạnh đang

đứng, bị lạnh bức bách, đang run cầm cập. Hãy gọi vị ấy đến hơ lửa.

Rồi cậu đọc bài kệ đầu:

Ẩn sĩ này vui thích

An tịnh và chế ngự,

Nay đang đứng run rẩy,

Ướt át và lạnh lẽo,

Hãy mời vị ấy vào,

Trong nhà của chúng ta

Ðể chế ngự cơn lạnh,

Và tất cả khổ đau.

Bồ-tát nghe con nói liền đứng dậy nhìn, biết

nó là con khỉ, bèn đọc bài kệ thứ hai:

Nó không phải ẩn sĩ

Vui an tịnh, chế ngự,

Nó chỉ là con khỉ,

Tìm ăn giữa cành cây,

Nó thuộc loài độc ác

Sân hận và tham lam,

Nếu để nó vào đây,

Nó làm bẩn nhà này.

Nói vậy xong, Bồ-tát lấy một que lửa, dọa

con khỉ và đuổi nó chạy. Con khỉ vội leo lên, và dầu nó có ưa thích hay

không ưa thích rừng núi, nó cũng không bao giờ trở lại chỗ ấy nữa.

Còn Bồ-tát làm sanh khởi các Thắng trí và

các Thiền chứng. Ngài dạy cho cậu thanh niên khổ hạnh ấy một đề tài thiền

quán và giúp cậu tu tập Thiền quán và cậu cũng làm phát khởi các Thắng trí

và các Thiền chứng. Cả hai không bao giờ thối thất Thiền định, nên sau khi

mạnh chung, được sanh lên Phạm thiên giới.

*

Bậc Ðạo Sư thuyết Pháp thoại này và nêu rõ:

- Này các Tỷ-kheo, người này không phải chỉ

nay mà thuở xưa cũng đã lừa đảo.

Sau đó Ngài thuyết giảng các Sự thật. Lúc

chấm dứt bài giảng, một số đắc quả Dự-lưu, một số đắc quả Nhất lai, một số

đắc quả Bất lai.

Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:

- Lúc bấy giờ, con khỉ là Tỷ-kheo lường gạt

này, đứa con trai là Ràhula, và người ẩn sĩ là Ta vậy.