Chuyện Tiền Thân · Jātaka

1. CHUYỆN PHÁP TỐI THƯỢNG (Tiền thân Apannaka)

Mở nguồn gốc Budsas →Mục lục Chuyện Tiền Thân

Kinh Trung Bộ · Bài 1

CHUYỆN PHÁP TỐI THƯỢNG (Tiền thân Apannaka)#

Jātaka group 1

CHƯƠNG MỘT

PHẨM APANNAKA

1. CHUYỆN PHÁP TỐI THƯỢNG (Tiền thân Apannaka)

Có những người nói lên...

Ðức Thế Tôn, khi ở Tinh xá Kỳ Viên, gần Xá-vệ,

đ ã thuyết pháp thoại này. Vì ai, pháp

thoại này đượ c

đề cập? Vì n ă m

tr ă m người bạn của vị triệu phú Cấp Cô

Ðộc (Anàthapindika) đề u là

đệ tử ngoại

đạ o.

Một ngày kia, vị triệu phú Cấp Cô Ðộc đ em

n ă m tr ă m

người bạn của mình đề u là

đệ tử ngoại

đạ o, cho mang theo nhiều vòng hoa, hương thơm, dầu hương cùng dầu

thắp, mật ong, mật mía, vải và áo choàng, đ i

đế n Kỳ Viên

đả nh lễ Thế Tôn, cúng dường Ngài các vật liệu như vòng hoa v.v... và

phân phát cho chư T ă ng dược phẩm trị

bịnh và vải mặc. Làm xong việc ấy, ông ngồi xuống một bên và tránh sáu tật

xấu trong lúc ngồi.

Cũng vậy, các đệ tử ngoại

đạ o đả nh

lễ Thế Tôn, và ngồi xuống một bên gần ông Cấp Cô Ðộc, nhìn lên gương mặt

đứ c Bổn Sư chói sáng như tr ă ng

rằm, vẹn toàn các tướng tốt chính và phụ, nhìn lên Phạm thân tỏa ánh sáng

rộng một tầm và nhìn lên hào quang rực rỡ của

đứ c Phật, những hào quang phóng ra như thể từng

đô i vòng, từng cặp một.

Rồi giống con sư tử trẻ rống như sấm độ ng

ở thung lũng Ðỏ, như mây bão tố trong mùa mưa, như sông Hằng thiên giới (dải

Thiên Hà) ào ào đổ xuống, và như

đ an dệt một chuỗi châu báu, tuy vậy, với

một Phạm âm đầ y

đủ tám phần tuyệt hảo, kỳ diệu làm tai

thích thú, Ngài thuyết pháp cho họ, một pháp thoại dịu ngọt và chói sáng với

nhiều vẻ đẹ p khác nhau.

Họ nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, tâm đượ c

tịnh tín, liền đứ ng dậy

đả nh lễ bậc Ðạo Sư, phá vỡ pháp quy y

ngoại đạ o, rồi quy y Phật. Từ

đấ y, họ luôn luôn

đ i đế n

tinh xá với ông Cấp Cô Ðộc, tay cầm hương thơm, vòng hoa v.v... nghe pháp,

bố thí, trì giới và thọ Bát quan trai giới.

Rồi Thế Tôn từ Xá-vệ lại đ i

đế n Vương Xá. Trong thời gian Như Lai

đ i vắng, họ phá vỡ pháp quy y Phật. Rồi

họ lại quy y ngoại đạ o, trở lui nguyên

trạng của họ.

Sau bảy tám tháng, Thế Tôn về lại Kỳ Viên. Ông Cấp Cô Ðộc

đ em n ă m

tr ă m người bạn

đồ ng tu đ i

đế n yết kiến bậc Ðạo Sư, cúng dường Ngài

với hương thơm v.v... đả nh lễ rồi ngồi

xuống một bên. Ông Cấp Cô Ðộc báo cáo cho Thế Tôn biết sau khi Ngài ra

đ i, họ phá vỡ pháp quy y

đ ã thọ, chấp nhận lại quy y pháp ngoại

đạ o, trở lui nguyên trạng của họ.

Mở miệng hoa sen của Ngài, như mở hộp châu báu,

đầ y những hương thơm sai biệt, thơm với

hương thơm chư Thiên, do uy lực nói lời chơn thực, trải vô lượng ức kiếp

không gián đ oạn, Thế Tôn phát ra âm

thanh dịu ngọt và hỏi:

- Này các nam cư sĩ, có thật ch ă ng

các ông đ ã phá vỡ Tam quy y, và

đ i theo quy y ngoại

đạ o?

Và khi không thể che giấu, họ thú nhận:

- Thật vậy, bạch Thế Tôn.

Bậc Ðạo Sư nói:

- Này các cư sĩ, không có một chỗ nào dưới từ

đá y đị a

ngục, trên cho đế n chư Thiên, không có

một chỗ nào trong các thế giới vô lượng trải rộng bề ngang, không có ai

bằng, chớ đừ ng nói cao hơn

đứ c Phật về những công

đứ c như giữ giới v.v...

Rồi Ngài trình bày cho họ những công đứ c

của Ba ngôi báu, như đ ã

đượ c nói đế n

trong kinh đ iển:

- Này các Tỳ-kheo, giữa các chúng sanh không chân, hai chân, hay bốn

chân, Như Lai đượ c gọi là tối thượng.

Nếu có những tài sản nào ở đờ i này hay

đờ i sau... Và thật vậy, tối thượng giữa

những tín đồ ...

Rồi Ngài nói tiếp:

- Không có một cư sĩ nào, nam hay nữ đ ã

quy y Ba ngôi báu, những ngôi báu đầ y

đủ công đứ c

tối thượng như vậy, phải tái sanh trong các đị a

ngục v.v... nhưng họ đượ c thoát khỏi

sanh vào đọ a xứ, họ

đượ c sanh vào thế giới chư Thiên và

đắ c Thiền chứng lớn. Do

đó , khi các ông phá vỡ quy y như vậy, và

đ i đế n

quy y ngoại đạ o, các ông

đ ã làm một việc sai lạc.

Và ở đâ y,

để nêu rõ rằng không có ai

đ ã quy y Ba ngôi báu với sự giải thoát

tối thượng, lại phải sanh vào đọ a xứ,

những đ oạn kinh này phải

đượ c nói lên:

Những ai quy y Phật

Sẽ không đ i

đọ a xứ,

Từ bỏ thân làm người

Sẽ tràn đầ y thiên giới.

Những ai quy y Pháp

Sẽ không đ i

đọ a xứ,

Từ bỏ thân làm người

Sẽ tràn đầ y thiên giới.

Những ai quy y T ă ng

Sẽ không đ i

đọ a xứ,

Từ bỏ thân làm người

Sẽ tràn đầ y thiên giới.

Loài Người sợ hoảng hốt,

Tìm nhiều chỗ quy y,

Hoặc rừng rậm, núi non,

Hoặc vườn cây, đề n tháp,

Quy y ấy không ổn,

Không quy y tối thượng,

Quy y các chỗ ấy

Không thoát mọi khổ đ au.

Ai quy y đứ c Phật,

Chánh Pháp và chư T ă ng,

Ai dùng chánh tri kiến

Thấy đượ c Bốn sự thật,

Thấy Khổ và Khổ tập,

Thấy sự khổ vượt qua,

Thấy đườ ng Thánh tám ngành

Ðưa đế n khổ não tận.

Thật quy y an ổn,

Thật quy y tối thượng,

Có quy y như vậy

Mới thoát mọi khổ đ au.

Bậc Ðạo Sư không chỉ thuyết pháp cho họ như vậy, Ngài còn nói tiếp:

- Này các nam cư sĩ, pháp hành niệm Phật, pháp hành niệm Pháp, pháp hành

niệm T ă ng đ em

lại Dự lưu đạ o, Dự lưu quả, Nhất lai

đạ o, Nhất lai quả, Bất lai

đạ o, Bất lai quả, A-la-hán

đạ o, A-la-hán quả.

Và sau khi Ngài thuyết pháp cho họ với nhiều phương thức, Ngài nói:

- Với sự phá vỡ quy y như vậy, các ông đ ã

làm một việc sai lạc.

Và ở đâ y, sự

đ em lại các Dự lưu

đạ o, Dự lưu quả v.v... cho những ai hành

trì niệm Phật v.v... cần phải đượ c nêu

rõ với những đ oạn kinh như sau:

- Này các Tỷ-kheo, có một pháp, nếu đượ c

tu tập, và đượ c làm cho viên mãn,

đư a đế n

hoàn toàn yểm ly, ly tham, đ oạn diệt, an

tịnh, thắng trí, Giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là một Pháp? Chính là niệm Phật

v.v... Như vậy, Thế Tôn với các phương tiện khác nhau, thuyết giảng cho các

nam cư sĩ:

- Này các nam cư sĩ, cũng vậy, trong thời quá khứ, những ai chấp chặt tà

luận, chấp chặt đ iên

đả o luận, nghĩ rằng cái gì không phải là

chỗ quy y, lại xem là chỗ quy y chân thật, những người ấy sẽ bị quỷ Dạ-xoa

ă n thịt trong cảnh sa mạc, chỗ trú của

phi nhân, và bị lâm vào đạ i nạn. Còn

những ai chấp chặt sự thật vô hý luận, chấp chặt pháp tối thượng, chấp chặt

pháp không đ iên

đả o, thì trong cảnh sa mạc ấy, họ

đạ t đượ c

yên ổn, an toàn.

Khi nói đế n

đâ y, Ngài im lặng. Rồi gia chủ Cấp Cô

Ðộc từ chỗ ngồi đứ ng dậy,

đả nh lễ Thế Tôn, tán thán Ngài với hai

tay đặ t trên

đầ u và thưa như sau:

- Bạch Thế Tôn, nay thật rõ ràng cho chúng con thấy trong thời hiện tại,

những người nam cư sĩ ấy, sau khi phá vỡ pháp quy y tối thượng,

đ ã rơi vào rừng rậm tà luận. Nhưng trong

quá khứ, đạ i nạn của những ai chấp chặt

tà luận tại sa mạc, chỗ trú của phi nhân, và sự yên ổn an toàn của những

người chấp chặt pháp vô hý luận, đố i với

chúng con đ ang bị che lấp, chỉ rõ ràng

đố i với Ngài. Lành thay, nếu Thế Tôn,

như thể khiến mặt tr ă ng tròn mọc lên,

làm sáng tỏ sự kiện này cho chúng con.

Rồi Thế Tôn nói:

- Này gia chủ, chính vì mục đí ch loại

bỏ các nghi nan ở đờ i, nhờ sự thực hành

trọn vẹn mười hành Ba-la-mật trải vô lượng kiếp mà Ta chứng

đắ c Nhất thiết trí. Hãy cẩn thận lắng

tai nghe, như thể các ông đ ang

đổ tủy của sư tử vào một cái ống bằng

vàng!

Sau khi khích lệ sự chú ý của người trieäu phú, Ngài nói lên câu chuyện

đ ã bị tái sanh che lấp, như mặt tr ă ng

tròn đượ c giải tỏa, sau khi phá tan

đá m mây tuyết.

*

Thuở xưa, trong nước Kàsi, tại thành Ba-la-nại, có vị vua tên là

Brahmadatta. Khi ấy, Bồ-tát đượ c sanh

trong gia đ ình thương gia làm chủ

đ oàn lữ hành, và tiếp tục lớn lên,

đ i chỗ này chỗ kia buôn bán với n ă m

tr ă m cỗ xe, khi thì

đ i từ đô ng

qua tây, khi thì đ i từ tây qua

đô ng. Tại thành Ba-la-nại, có một người

chủ đ oàn lữ hành khác còn trẻ và ngu si,

không giỏi tùy cơ ứng biến.

Lúc bấy giờ, sau khi chất đầ y n ă m

tr ă m cỗ xe với hàng hóa có giá trị lớn,

Bồ-tát sẵn sàng lên đườ ng. Người chủ

đ oàn lữ hành trẻ và ngu kia cũng chất

đầ y hàng hóa tương tự trên n ă m

tr ă m cỗ xe khác, sẵn sàng lên

đườ ng. Bồ-tát suy nghĩ: "Nếu người chủ

đ oàn lữ hành ngu si và trẻ này

đ i với Ta, với một ngàn cỗ xe, cùng

đ i một lần trên con

đườ ng, thì con

đườ ng sẽ không thể chịu nổi; thật sẽ khó

tìm đượ c củi, nước cho

đ oàn người, và cỏ cho các con bò. Hoặc

là nó, hoặc là ta phải đ i trước".

Ngài nhắn tin mời người ấy đế n, trình

bày sự việc và nói:

- Hai chúng ta không thể đ i cùng một

lần đượ c. Vậy bạn sẽ

đ i trước hay

đ i sau?

Kẻ ấy suy nghĩ: "Nếu ta đ i trước, sẽ

có nhiều lợi ích. Ta sẽ đ i con

đườ ng chưa bị hư phá, các con bò sẽ

ă n cỏ chưa bị

độ ng chạm; còn các người nhà ta sẽ hái

đượ c các ngọn lá nấu cà-ri chưa bị

độ ng chạm, nước

đượ c trong lặng; và sau cùng

đị nh giá bán theo sở thích, ta sẽ bán

các hàng hóa".

Nghĩ vậy, kẻ ấy nói:

- Này bạn, tôi sẽ đ i trước.

Còn Bồ-tát thấy đ i sau có nhiều lợi

ích vì ngài lý luận như vầy: "Những người đ i

trước sẽ san bằng con đườ ng chưa

đượ c san bằng. Ta sẽ

đ i con đườ ng

đ ã đượ c

họ đ i qua. Các con bò của ta sẽ

ă n cỏ mới mọc và ngọt; người của ta sẽ

tìm đượ c các lá ngọt nấu cà-ri mới mọc

tại chỗ các lá đ ã

đượ c hái đ i.

Tại chỗ không có nước, họ phải đ ào

để lấy nước, chúng ta sẽ uống nước trong

các giếng đượ c người khác

đ ào lên. Việc

đị nh giá giống như sát hại mạng sống con

người, ta đ i sau sẽ bán hàng hóa theo

giá thông thường đ ã quy

đị nh". Khi thấy những lợi ích như vậy,

Bồ-tát nói:

- Này bạn, bạn hãy đ i trước.

- Lành thay, này bạn.

Người chủ đ oàn lữ hành trẻ và ngu si

nói vậy rồi cho thắng các cỗ xe, ra đ i,

thứ lớp vượt qua các thôn xóm, và bắt đầ u

đế n biên giới sa mạc. Thuở bấy giờ, các

sa mạc có n ă m loại: sa mạc trộm cướp, sa

mạc thú dữ, sa mạc không có nước, sa mạc phi nhân và sa mạc không có

đồ ă n.

Trước tiên, con đườ ng nào có trộm

cướp trú ẩn, chỗ ấy đượ c gọi là sa mạc

trộm cướp; thứ hai, con đườ ng nào có sư

tử v.v... trú ẩn, đượ c gọi là sa mạc thú

dữ; thứ ba, chỗ nào không có nước để tắm

hay uống, đượ c gọi là sa mạc không có

nước; thứ tư, con đườ ng nào có các loài

phi nhân (quỷ thần) trú ẩn, đượ c gọi là

sa mạc phi nhân; thứ n ă m, con

đườ ng nào không tìm thấy các loài rễ có

thể ă n đượ c

v.v... đượ c gọi là sa mạc không có

đồ ă n.

Trong n ă m loại sa mạc này, có hai

loại sa mạc nguy hiểm là sa mạc không có nước và sa mạc phi nhân. Do vậy,

người chủ đ oàn lữ hành trẻ và ngu si ấy

cho đặ t lên xe những ghè rất lớn,

đổ đầ y

nước, và bắt đầ u di chuyển vào bãi sa

mạc dài sáu mươi dặm này.

Khi họ đ ã

đ i đượ c

nửa đườ ng, con quỷ Dạ-xoa trú ở sa mạc

nghĩ: "Ta sẽ làm cho những người này qu ă ng

nước cất giữ, làm cho họ yếu sức, rồi ta sẽ ă n

thịt tất cả bọn họ". Rồi nó hóa hiện một cỗ xe

đẹ p đẽ với những con bò mộng

trắng trẻo. Ðược hộ vệ với mười mười hai phi nhân, tay cầm cung, tên, khiêng

và binh khí, nó trang sức với vòng hoa sen xanh và hoa súng trắng trên

đầ u, với tóc ướt và áo ướt, ngồi trên cỗ

xe ấy như một vị chúa tể, nó dấn bước trên đườ ng

với các bánh xe dính bùn. Còn đ oàn tùy

tùng đ i trước và

đ i sau, với tóc ướt, áo ướt, trang sức

với vòng hoa sen xanh và hoa súng, với những bó sen trắng, sen

đỏ cầm tay, nhai những cọng sen, củ sen,

nhỏ giọt nước và bùn.

Bấy giờ, khi gió thổi trước mặt, những người chủ

đ oàn lữ hành, theo lệ thường ngồi trong

cỗ xe đ i trước với những người hầu hạ

bao vây để tránh bụi. Khi gió thổi

đ àng sau, họ

đ i xe phía sau. Nay gió thổi phía trước,

do vậy, người chủ đ oàn lữ hành trẻ

đ i xe ở phía trước. Con quỷ Dạ-xoa thấy

người ấy đế n gần, liền cho

đậ u xe ở một bên

đườ ng, chào

đó n một cách thân tình và hỏi đ i

đâ u. Người chủ

đ oàn lữ hành cũng cho

đậ u xe của mình một bên

đườ ng và nói với quỷ Dạ-xoa:

- Thưa ông bạn, chúng tôi đ i từ

Ba-na-lại tới. Các ông trang sức với hoa sen xanh và hoa súng, tay cầm hoa

sen trắng và đỏ ,

đ ang nhai những cọng sen và củ sen, lấm

bùn vừa đ i vừa chảy những giọt nước. Vậy

phải trên đườ ng các ông

đ i có mưa, có những hồ ao phủ

đầ y với hoa sen xanh ch ă ng?

v.v..

Quỷ Dạ-xoa, nghe hỏi, liền nói lớn:

- Này bạn, bạn nói gì vậy? Ðàng kia đ ã

hiện rõ đườ ng lằn sẩm của rừng xanh. Từ

đó trở đ i,

toàn là rừng không có gì ngoài nước. Luôn luôn trời mưa, ở

đó các hồ

đề u ngập; khắp nơi đề u có những

ao nước đầ y hoa sen.

Sau khi nói như vậy và đ oàn xe

đ ã đ i

ngang qua, nó hỏi:

- Những cỗ xe này đ i

đâ u vậy?

Và họ trả lời:

- Ði tới chỗ này, chỗ kia.

- Trong mỗi cỗ xe này, có hàng hóa gì vậy?

- Nhiều loại hàng hóa.

Rồi khi cỗ xe cuối cùng đ i qua, chở

rất nặng nề, nó hỏi:

- Trong cỗ xe này chơû gì vậy?

- Chở nước trong ấy.

- Từ chỗ khởi hành cho đế n chỗ này,

bạn đ ã mang nước là tốt. Nhưng từ chỗ

này trở đ i, không cần phải mang nước

nữa. Từ phía trước mặt có nhiều nước. Hãy đậ p

vỡ các ghè nước, để

đ i cho thoải mái.

Và nó nói thêm:

- Các ông hãy đ i. Chúng tôi lên

đườ ng kẻo chậm trễ rồi!

Rồi nó đ i một lát,

đế n chỗ khuất dạng, liền trở về thành

Dạ-xoa. Người chủ lữ hành ngu si ấy, do sự ngu si của mình, nghe theo lời

quỷ Dạ-xoa, cho đậ p vỡ các ghè, không

để dành lại dù chỉ một bụm nước, cứ

đổ tất cả và ra lệnh các xe

đ i. Càng đ i

về phía trước, một giọt nước cũng không có. Bọn họ không

đượ c nước uống trở thành mệt mỏi. Họ vẫn

tiếp tục đ i cho

đế n khi mặt trời lặn.

Khi ấy, họ tháo dây buộc xe ra, xếp thành một vòng tròn, và buộc các con

bò vào bánh xe. Nhưng chúng cũng không có nước uống. Còn bọn họ không có

cháo, không có cơm, nên yếu sức, nằm xuống khắp nơi rồi ngủ. Khi

đ êm vừa xuống, quỷ Dạ-xoa từ thành

Dạ-xoa đ i

đế n, diệt tất cả mạng sống bò và người,

ă n thịt chúng, chỉ để lại xương

rồi bỏ đ i. Như vậy, chỉ vì một người chủ

đ oàn lữ hành trẻ và ngu si, tất cả

đ ã mắc vào

đạ i nạn, xương cốt của người và vật rải khắp nơi, chỉ n ă m

tr ă m cỗ xe còn

đứ ng yên với

đầ y đủ

hàng hóa.

Phần Bồ-tát, đợ i từ ngày người chủ

đ oàn lữ hành trẻ và ngu si ra

đ i, độ

một tháng rưỡi trôi qua, với n ă m tr ă m

cỗ xe từ thành phố ra đ i, dần dần

đ i đế n

biên giới sa mạc. Vị ấy cho đỗ

đầ y nước vào các ghè nước, cho lấy thêm

nhiều nước dự trữ rồi đá nh trống hội họp

đ oàn người lại và nói như sau:

- Nếu không hỏi ta, thì một bụm nước cũng không

đượ c dùng. Có nhiếu cây

độ c trong bãi sa mạc, không một ai trong

các chú đượ c

ă n lá, hoa, hay quả chưa

ă n từ trước, mà không hỏi ta.

Sau khi chỉ dạy cho họ như vậy, Bồ-tát mới bắt

đầ u đ i

vào bãi sa mạc với n ă m tr ă m

cỗ xe. Khi đ i

đế n giữa sa mạc, quỷ Dạ-xoa ấy hiện hình

ra trên con đườ ng cửa Bồ-tát, như cách

thức trước. Bồ-tát thấy nó liền nhận ra ngày và suy nghĩ: "Nơi này không có

nước và đượ c gọi là sa mạc không có

nước. Người này có con mắt đỏ , bộ dạng

không sợ hãi, lại không có bóng chiếu. Không nghi ngờ gì nữa, người chủ

đ oàn lữ hành ngu si và trẻ tuổi

đ i trước bị nó xúi giục,

đ ã đổ

tất cả nước, nên kiệt sức, và bị nó ă n

thịt cùng cả đ oàn tùy tùng. Nhưng nó

không biết ta có tài trí và khéo dùng phương tiện".

Vì vậy, Bồ-tát nói to với con quỷ:

- Ông hãy đ i

đ i, chúng tôi là người lái buôn. Chưa

thấy đượ c nước khác, chúng tôi không

đổ nước đ ã

đượ c dự trữ. Chỗ nào thấy nước, chúng

tôi mới yên lòng đổ nước

đ i, làm cho nhẹ các cỗ xe.

Quỷ Dạ-xoa đ i một lát,

đ ến chỗ khuất dạng, liền về thành

Dạ-xoa. Khi Dạ-xoa đ ã

đ i, đ oàn

người hỏi Bồ-tát:

- Thưa ông chủ, những người này chỉ cho thấy

đằ ng kia là dãy rừng xanh. Phía ngoài xa khu rừng ấy, trời luôn luôn

mưa. Họ độ i trên

đầ u những vòng hoa sen xanh và hoa súng;

họ cầm những bó hoa sen đỏ và trắng; họ

hái các củ sen và cọng sen; áo bị ướt, đầ u

bị ướt; họ đ i với những giọt nước rơi

chảy. Vậy chúng ta hãy đỗ nước

đ i, khiến cho các cỗ xe

đượ c nhẹ, chúng ta

đ i mau hơn.

Bồ-tát nghe họ nói như vậy, liền cho dừng các cỗ xe, họp tất cả bọn người

lại và hỏi:

- Trong các chú, có ai trước đâ y nghe

nói rằng bãi sa mạc này có ao hay hồ không?

- Thưa ông chủ, không có ai nghe cả. Vì thế nơi này

đượ c gọi là bãi sa mạc không có nước.

- Nay có một số người nói rằng xa hơn dãy rừng xanh

đ àng kia, trời có mưa. Gió mưa có thể

thổi xa đượ c bao nhiêu?

- Thưa ông chủ, khoảng độ một dặm

(do-tuần).

- Gió mưa có thể thổi đế n chạm thân

của một ai trong các chú không?

- Thưa ông chủ, không.

- Cách xa bao nhiêu, đầ u mây có thể

thấy đượ c?

- Khoảng độ một dặm, thưa ông chủ.

- Có ai trong các chú đượ c thấy một

đầ u mây không?

- Thưa ông chủ, không có ai.

- Xa bao nhiêu, ánh sáng chớp có thể thấy

đượ c?

- Thưa ông chủ, khoảng bốn n ă m dặm.

- Có ai trong các chú thấy đượ c ánh

sáng chớp?

- Thưa ông chủ, không có ai!

- Tiếng sấm xa bao nhiêu có thể nghe đượ c?

- Thưa ông chủ, khoảng hai ba dặm.

- Có ai trong các chú nghe đượ c tiếng

sấm?

- Thưa ông chủ, không có ai.

- Chúng không phải là người. Chúng là quỷ Dạ-xoa. Dạ-xoa

đế n và nghĩ: "Chúng ta xúi

đ oàn người

đổ nước, và khi đo àn người yếu

sức, chúng ta sẽ ă n thịt họ! Vì người

chủ đ oàn lữ hành ngu si và trẻ tuổi

đ i trước không có thiện xảo phương tiện,

chắc chắn bị chúng xui đổ nước

đi và khi mệt nhọc, họ

đ ã bị quỷ Dạ-xoa

ă n. Còn n ă m

tr ă m cỗ xe

đượ c để lại

đự ng đầ y

hàng hóa như trước. Hôm nay, chúng ta sẽ thấy chúng nó. Ðừng

đổ đ i,

ngay cả một bụm nước cũng phải gìn giữ. Hãy đ i

tới, càng mau càng tốt.

Ðốc thúc đ oàn người của mình

đ i tới, Bồ-tát tiếp tục

đ i cho đế n

khi thấy đượ c n ă m

tr ă m cỗ xe

đầ y hành hóa, xương cốt của các con bò và

đ oàn người bất hạnh trước rải rác khắp

mọi nơi. Ngài cho tháo dây buộc các xe, đặ t

các xe thành vòng tròn, họp lại thành trại, cho

đ oàn người và bò ă n chiều sớm,

rồi sắp các con bò nằm nghỉ giữa bọn họ.

Rồi ngài tuyển một số người lãnh đạ o

mạnh mẽ, tự mình đứ ng canh gác với gươm

cầm tay, suốt ba canh ban đ êm cho

đế n khi rạng

đô ng. Sáng sớm ngày kế tiếp, ngài cho

làm xong các công việc cần thiết, cho các con bò

ă n, qu ă ng

bỏ các cỗ xe yếu ớt, lấy các cỗ xe vững mạnh, qu ă ng

bỏ loại hàng hóa ít có giá trị, chất lên hàng hóa có giá trị,

đ i đế n

chỗ đ ã đị nh

trước, và bán các hàng hóa với giá tiền bằng hai ba giá vốn. Sau

đó , ngài cùng với

đ oàn tùy tùng trở về thành phố của mình.

*

Câu chuyện chấm dứt, bậc Ðạo Sư nói:

- Này cư sĩ, như vậy trong thời quá khứ, những ai chấp chặt tà luận, phải

gặp đạ i nạn. Còn những ai chấp nhận sự

thật vô lý luận đ ã thoát khỏi tay các

phi nhân, và đế n chỗ mình muốn một cách

an toàn.

Và sau khi kết hợp hai câu chuyện với nhau, vì mục

đí ch giới thiệu lời dạy về sự thật vô hý

luận này, bậc Chánh Giác bài kệ:

Có những người nói lên

Sự thật vô hý luận,

Nhưng các hạng người khác

Tuyên bố về tà luận.

Kẻ trí biết đ iều này,

Giữ chặt pháp tối thượng.

Như vậy Thế Tôn dạy về pháp chân thật vô hý luận này, rồi Ngài nói thêm:

- Con đườ ng chân chánh này không

những đ em lại ba thiện sự thành tựu, sáu

cõi Trời ở dục giới, sự thành tựu Phạm Thiên giới, mà cuối cùng

đ em quả A-la-hán. Còn con

đườ ng gọi là tà luận

đ em đế n

tái sanh trong bốn đọ a xứ và trong n ă m

gia đ ình thấp kém.

Tiếp đó Ngài giảng thêm về Bốn Sự

thật với mười sáu hành tướng. Cuối bài giảng ấy, tất cả n ă m

tr ă m nam cư sĩ chứng quả Dự lưu.

Sau khi thuyết pháp, bậc Ðạo Sư nêu rõ những bài học và kể hai câu chuyện

rồi kết hợp chúng với nhau, Ngài nhận diện Tiền thân như sau:

- Trong thời ấy, người chủ đ oàn lữ

hành trẻ và ngu si là Ðề-bà- đạ t- đ a

(Devadatta), tùy tùng của kẻ ấy là tùy tùng của Ðề-bà- đạ t- đ a,

tùy tùng của người chủ đ oàn lữ hành hiền

trí là tùy tùng của đứ c Phật, còn người

chủ đ oàn lữ hành Hiền trí là Ta vậy.

-ooOoo-

2. CHUYỆN BÃI SA MẠC (Tiền thân Vannupatha)

Không quản mệt, họ đ ào...,

Pháp thoại này đượ c Thế Tôn nói lên

khi Ngài ở Xá-vệ. Vì ai mà Ngài nói? Vì một Tỳ-kheo

đ ã từ bỏ tinh tấn. Khi Thế Tôn ở tại

Xá-vệ, có một thiện gia nam tử trú ở Xá-vệ đ i

đế n Kỳ Viên, nghe bậc Ðạo Sư thuyết

pháp, tâm sanh tịnh tín, thấy nguy hiểm trong các dục, nên xin xuất gia.

Sống n ă m n ă m

chờ thọ Cụ túc giới, người ấy học thuộc lòng hai bài tóm tắt, tu tập pháp

môn Thiền quán, nhận lấy từ bậc Ðạo Sư một đề

tài Thiền quán mà mình ưa thích, rồi đ i

vào một ngôi rừng.

Trải qua một kỳ an cư mùa mưa, sau ba tháng, vị ấy không thể khởi lên một

tia sáng hay một quán tưởng gì. Rồi vị ấy suy nghĩ: "Bậc Ðạo Sư dạy có bốn

hạng người. Trong họ, ta có phải là hạnh thấp kém nhất không? Ta nghĩ rằng

không thể có Ðạo và Quả cho tự thân ta, vậy ta sống trong rừng làm gì? Hãy

đ i về bậc Ðạo Sư, sống

để chiêm ngưỡng thân Phật với dung sắc

tối thượng, để nghe thuyết pháp dịu ngọt

còn hơn.

Nghĩ vậy, vị ấy trở về Kỳ Viên. Các bạn thân tín nói với vị ấy:

- Này Hiền giả, bạn đ ã nhận

đượ c từ bậc Ðạo Sư một

đề tài Thiền quán,

đ ã đ i

với quyết tâm thực hiện pháp Sa-môn. Nay bạn lại trở về, sống vui thích với

hội chúng. Hay là bạn đ ã

đạ t đượ c

mục đí ch tối thượng của bổn phận người

xuất gia, và đ ã chấm dứt tái sanh?

- Này các Hiền giả, tôi không chứng đượ c

cả Ðạo lẫn Quả, tự nghĩ mình là người không có khả n ă ng,

nên tôi từ bỏ tinh tấn và về đâ y.

- Này Hiền giả, bạn đ ã làm một việc

không phải, khi đ ã xuất gia trong Giáo

pháp của bậc Ðạo Sư kiên trì tinh tấn, bạn lại từ bỏ tinh tấn. Hãy

đ i đế n

yết kiến Như Lai. Chúng ta sẽ trình bày để

Ngài rõ chuyện này.

Họ đư a vị này

đế n gần bậc Ðạo Sư. Khi Ngài thấy vị ấy,

liền nói:

- Này các Tỷ-kheo, các ông đ em

Tỷ-kheo này đế n

đâ y ngoài ý muốn của vị ấy. Người này

đ ã làm gì?

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này, sau khi xuất gia trong Giáo pháp chân chánh

giải thoát như vậy, sau khi thực hành Sa-môn pháp, lại từ bỏ tinh tấn và trở

về đâ y.

Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:

- Này Tỷ-kheo, có thật ch ă ng ông

đ ã từ bỏ tinh tấn?

- Thưa thật vậy, bạch Thế Tôn.

- Này Tỷ-kheo, vì sao sau khi xuất gia trong Giáo pháp như vậy, ông lại

không biết sống ít dục, tri túc, viễn ly hay tinh tấn, nhưng lại là người từ

bỏ tinh tấn? Do sự tinh tấn của một mình ông, mà trong bãi sa mạc toàn cát,

đ oàn người và

đ àn bò của n ă m

tr ă m cỗ xe

đ ã đượ c nước uống,

đ ã sống an lạc. Nay vì sao ông lại từ bỏ

tinh tấn?

Với những lời như vậy, vị Tỷ-kheo ấy cảm thấy

đượ c khích lệ sách tấn. Nghe nói như

vậy, các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, chúng con đ ã rõ sự từ

bỏ tinh tấn hiện này của vị Tỷ-kheo này. Nhưng thuở trước, do sự tinh tấn

của một mình người này, trong bãi sa mạc toàn cát, các

đ àn bò và đ oàn

người đ ã uống nước và sống an lạc. Câu

chuyện ấy đ ang còn bị che

đậ y đố i

với chúng con, chỉ đượ c rõ ràng với Thế

Tôn là bậc Nhất thiết trí. Hãy nói cho chúng con câu chuyện này.

- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe.

Sau khi gợi sự chú ý của các Tỷ-kheo, Thế Tôn nêu lên rõ ràng sự việc

đ ã xảy ra trong quá khứ.

*

Thuở trước, trong khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại nước Kàsi,

Bồ-tát sanh ra trong gia đ ình chủ

đ oàn lữ hành thương gia, lớn lên và

thường đ i buôn bán với n ă m

tr ă m cỗ xe. Một thời Bồ-tát

đ i vào bãi sa mạc toàn cát, dài sáu mươi

dặm, với n ă m tr ă m

cỗ xe. Trong sa mạc ấy, cát rất mịn, khi đượ c

vốc trong nắm tay, thì nó sẽ chảy xuống hết. Khi mặt trời mọc lên, cát trở

thành nóng như đố ng than hừng, không thể

nào đ i lên trên

đượ c. Do vậy, những ai

đ i qua bãi sa mạc ấy,

đ em theo củi, nước, dầu, gạo... trên các

cỗ xe, chỉ đ i ban

đ êm; khi mặt trời mọc, họ xếp các cỗ xe

thành hình vòng tròn, làm một cái tàn che trên

đầ u, sau khi ă n xong thật sớm, họ

thường ngồi trong bóng mát trọn ngày.

Khi mặt trời lặn, họ ă n chiều sớm,

cát đ ã nguội, họ cho thắng các cỗ xe lại

và ra đ i. Ði qua bãi sa mạc này giống

như đ i biển vậy. Người hướng dẫn,

đượ c gọi là " đị a

lý trưởng" hướng dẫn đ oàn lữ hành

đ i qua nhờ sự hiểu biết các ngôi sao.

Người chủ đ oàn lữ hành này thời bấy giờ

đ i qua bãi sa mạc với phương tiện như

vậy.

Sau khi đ i hết n ă m

mươi dặm, vị ấy nghĩ: "Hôm nay, còn một đ êm

nữa, ta sẽ ra khỏi sa mạc này". Sau khi ă n

chiều, vị ấy ra lệnh vứt bỏ củi và nước, thắng các xe và ra

đ i. Người lữ hành trưởng cho trải tấm

vải trong cỗ xe đ i

đầ u để

ngồi nhìn các ngôi sao và từ đó nói lên

con đườ ng sẽ

đ i, rồi nằm xuống. Vị ấy

đ ã có một thời gian dài không ngủ, nên

mệt mỏi, ngủ say, không biết rằng các con bò đ ã

đ i vòng quanh và trở lại con

đườ ng cũ. Các con bò suốt

đ êm đ i

như vậy.

Khi trời rạng đô ng, vị lãnh

đạ o thức dậy, nhìn các ngôi sao và bảo:

- Hãy cho quay các cỗ xe trở lại gấp!

Nhưng khi các cỗ xe đ ã quay trở lại,

và xếp thành hàng thì trời đ ã sáng. Các

người trong đ oàn nói:

- Hôm qua, chúng ta đ ã cho các cỗ xe

cắm trại ở đâ y. Củi và nước chúng ta

đ ã vứt bỏ hết. Nay chúng ta bị nguy khốn

rồi.

Họ tháo dây buộc các xe, xếp thành vòng tròn, d ă ng

một màn che trên đầ u, mỗi người nằm

xuống dưới cỗ xe của mình, sầu muộn tuyệt vọng. Bồ-tát suy nghĩ: "Nếu ta từ

bỏ tinh tấn, tất cả sẽ bị nguy hại". Vào buổi sáng, khi trời

đ ang mát, vị ấy

đ i qua đ i

lại, thấy một đá m cỏ dabbha, tự nghĩ:

"Dưới đá m cỏ này, chắc thế nào cũng có

nước mạch, cỏ mới mọc đượ c", bèn cho lấy

cuốc và đ ào chỗ ấy. Họ

đ ào đế n

sáu mươi khuỷu tay; đế n

đâ y, cuốc chạm vào hòn

đá ở dưới. Khi ấy, tất cả

đề u thất vọng, không cố gắng nữa. Bồ-tát

nghĩ rằng thế nào cũng có nước dưới hòn đá .

Ngài đ i xuống,

đứ ng trên hòn

đá . Cúi xuống, Ngài lắng tai nghe. Nghe

đượ c tiếng nước chảy dưới hòn

đá , ngài leo lên lại, nói với người thị

giả hầu cận:

- Này bạn thân, nếu bạn từ bỏ tinh tấn, thì tất cả chúng ta sẽ bị nguy

hại. Bạn chớ từ bỏ tinh tấn. Hãy cầm cái búa lớn,

đ i xuống và

đậ p trên hòn đá ấy!

Vâng theo lời chủ, trong khi tất cả mọi người

đề u đứ ng

chán nản, người này không từ bỏ tinh tấn, leo xuống và

đậ p hòn đá .

Hòn đá bị vỡ ở giữa, rơi xuống và dòng

nước phun đứ ng lên, cao ngang thân cây

thốt nốt. Tất cả mọi người đề u uống nước

và tắm, rồi chặt phát các bánh xe, trục xe dư thừa, nấu cháo và cơm. Khi

ă n xong, họ cho bò

ă n.

Ðến khi trời lặn, họ buộc một cây cờ cắm gần dòng nước, rồi

đ i đế n

chỗ đ ã đị nh.

Tại đấ y, họ bán hành hóa lấy

đượ c tiền lòi gấp hai, gấp bốn lần tiền

vốn, rồi trở về nhà. Họ sống hết tuổi thọ, và khi mệnh chung

đ i theo nghiệp của mình. Còn Bồ-tát,

trọn đờ i bố thí và làm các công

đứ c, cũng đ i

theo nghiệp của mình.

*

Khi nói xong pháp thoại này, bậc Chánh Ðẳng Giác

đọ c bài kệ:

Không mệt mỏi, họ đ ào,

Họ đ ào con

đườ ng cát

Ðến khi có dòng nước

Tại đấ y, họ

đượ c nước!

Cũng vậy, bậc ẩn sĩ

Với sức mạnh tinh tấn,

Không thối chí mệt mỏi,

Tìm đượ c tâm an tịnh.

Rồi Ngài giảng về Bốn Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo

đ ã từ bỏ tinh tấn ấy chứng quả tối cao,

quả A-la-hán.

Sau khi bậc Ðạo Sư kể xong hai câu chuyện và kết hợp chúng với nhau, Ngài

kết luận bằng sự nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, người thị giả không từ bỏ tinh tấn,

đậ p vỡ hòn

đá và đ em lại nước cho

đ oàn người tức là vị Tỷ-kheo

đ ã từ bỏ tinh tấn này. Tùy tùng của vị

chủ đ oàn lữ hành là tùy tùng của

đứ c Phật, còn vị chủ

đ oàn lữ hành là Ta vậy.

-ooOoo-

3. CHUYỆN NGƯỜI BUÔN CHÈ (Tiền thân Serivànija)

Nếu đâ y ông thối thất...

Thế Tôn thuyết pháp thoại này khi ở Xá-vệ, cũng liên hệ

đế n một Tỷ-kheo từ bỏ tinh tấn. Khi vị

ấy đượ c các Tỷ-kheo

đư a đế n

bậc Ðạo Sư, trong trường hợp giống như câu chuyện trươùc, bậc Ðạo Sư nói:

- Này Tỷ-kheo, ông xuất gia trong Giáo pháp

đ em lại Ðạo và Quả như vậy, lại từ bỏ tinh tấn, ông sẽ sầu muộn lâu

dài, như người lái buôn Seriva đ ã mất

một cái bát bằng vàng trị giá tr ă m ngàn

đồ ng tiền vàng.

Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn phân tích sự việc này. Thế Tôn làm sáng tỏ ý

nghĩa qua câu chuyện quá khứ sau đâ y:

*

Thuở xưa n ă m kiếp về trước, Bồ-tát ở

trong nước Seri, làm nghề đ i buôn ghè

bát và đượ c gọi là Serivan. Serivan cùng

với một người lái buôn bán ghè bát tham lam khác, vượt qua con sông Talavaha

đ i vào thành Andhapura, phân chia những

con đườ ng trong thành, bán hàng hóa của

mình tại con đườ ng

đ ã đượ c

phân chia. Còn người kia nhận con đườ ng

phần mình. Trong thành ấy, có một gia đ ình

triệu phú bị sa sút. Tất cả con trai, anh, em và tài sản

đề u bị mất sạch. Những người sống sót là

một người con gái và một bà nội, cả hai bà cháu sống bằng nghề làm thuê cho

các người khác. Nhưng trong nhà có một cái bát bằng vàng, xưa kia người

đạ i triệu phú dùng

để ă n

cơm. Bát ấy lâu ngày bị qu ă ng vào giữa

các chén bát khác không đượ c dùng

đế n và bụi nhớp dính

đầ y. Họ không biết cái bát ấy bằng vàng.

Lúc bấy giờ, người lái buôn tham lam kia, đ ang

vừa đ i vừa rao:

- Hãy lấy ghè nước, hãy lấy ghè nước.

Và đế n cửa ngôi nhà. Người con gái

thấy kẻ ấy liền nói với bà nội:

- Thưa bà, hãy lấy cho con một đồ

trang sức.

- Này con thân, chúng ta rất nghèo, đ em

đổ i cái gì

để lấy ghè nước?

- Có một cái bát không giúp ích gì cho chúng ta. Hãy

đ em cái này

đổ i lấy ghè.

Bà cho gọi người lái buôn, lấy ghế mời ngồi,

đư a cái bát cho kẻ ấy và nói:

- Này ông, hãy lấy vật này và đổ i cho

chị một chút gì.

Người lái buôn cầm bát suy nghĩ: "Bát này có thể bằng vàng", xoay bát

trên tay, cạo một đườ ng với một cây kim

sau lưng bát, biết đượ c bát bằng vàng,

kẻ ấy nghĩ: "Không cần cho những người này một cái gì cả, ta sẽ lấy cái

bát", bèn nói:

- Vật này mà giá bao nhiêu? Giá của nó không

đá ng nửa đồ ng xu.

Kẻ ấy qu ă ng bát xuống

đấ t, từ chỗ ngồi

đứ ng dậy rồi bỏ

đ i. Bấy giờ, giữa hai người lái buôn có

sự thỏa thuận rằng khi một người đ ã vào

con đườ ng rồi bỏ

đ i, người kia có thể vào con

đ ường ấy

đượ c. Vì thế Bồ-tát đ i vào con

đườ ng ấy, rao hàng:

- Ai lấy ghè nước không?

Và đ i đế n

cửa ngôi nhà ấy. Cô con gái nói với bà nội như trước. Bà nội nói với cô:

- Này con thân, người lái buôn đế n

trước đ ã qu ă ng

bát xuống đấ t và bỏ

đ i, nay chúng ta có thể cho cái gì

để lấy đượ c?

- Thưa bà, người lái buôn kia ă n nói

thô ác. Còn người này có dáng mặt dễ thương, ă n

nói dịu dàng. Rất có thể người này nhận lấy.

- Vậy hãy gọi họ lại.

Cô gái gọi người này lại.

Khi vị này vào nhà và ngồi, họ đư a

cái bát cho xem. Vị này biết cái bát là bằng vàng liền nói:

- Thưa mẹ, cái bát này đá ng giá tr ă m

ngàn đồ ng tiền vàng. Tôi không có trong

tay tôi hàng hóa giá trị bằng cái bát này.

- Này ông, người lái buôn đ i

đế n trước nói rằng cái này không

đá ng giá nửa

đồ ng xu, đ ã

qu ă ng bát xuống

đấ t bỏ đ i.

Nay bát này nhờ công đứ c của ông, trở

thành bằng vàng. Vậy chúng tôi cho ông cái bát này. Hãy cho chúng tôi một

chút ít thứ gì, lấy cái bát và ra đ i.

Lúc đó Bồ-tát có trong tay tám tr ă m

đồ ng tiền vàng và hàng hoá trị giá n ă m

tr ă m đồ ng

tiền vàng, liền đ em cho tất cả và nói:

- Hãy cho tôi giữ lại cái cân, cái giỏ và tám

đồ ng tiền vàng.

Sau khi xin như vậy rồi, ngài cầm lấy cái bát và ra

đ i. Ngài đ i

mau đế n bờ sông, cho người chủ thuyền

tám đồ ng tiền và leo lên thuyền. Khi ấy,

người lái buôn tham lam trở lại và nói:

- Hãy đ em cái bát ra

đâ y, ta sẽ cho các người một ít thứ gì.

Nhưng bà già mắng lại kẻ ấy:

- Chú cho rằng cái bát bằng vàng của chúng ta trị giá một tr ă m

ngàn đồ ng lại không

đá ng giá nửa

đồ ng xu! Nhưng một người lái buôn chân

chánh, giống như thầy của chú, đ ã cho

chúng ta một ngàn đồ ng vàng, lấy cái bát

và ra đ i rồi.

Nghe nói như vậy, kẻ ấy than:

- Ta đ ã mất

đ i cái bát bằng vàng trị giá một tr ă m

ngàn đồ ng tiền vàng rồi. Nó thật là tên

ă n cướp đ ã

hại ta.

Người lái buôn tham lam ấy sanh khởi ưu tư sầu muộn, không thể tập trung

tâm trí, trở thành đ iên loạn, tự tay

vung vãi đồ ng tiền vàng và hàng hóa trước

cửa nhà ấy, qu ă ng bỏ áo mặc, áo choàng,

và tay cầm cán cân như cái gậy đ i theo

con đườ ng của Bồ-tát,

đế n bờ sông. Thấy Bồ-tát

đ ã đ i

qua sông, kẻ ấy liều kêu:

- Hỡi bạn lái đ ò, hãy quay lại.

Nhưng Bồ-tát ng ă n chận và nói:

- Ðừng quay lại.

Thấy Bồ-tát dần dần đ i xa, sầu muộn

ưu tư của kẻ ấy khởi lên, quả tim nóng ran, máu nóng trào ra miệng và quả

tim ấy bị nứt ra như bùn dưới đá y của

một bể nước. Do hận tâm chống Bồ-tát, kẻ ấy mệnh chung ngay tại chỗ. Ðây là

lần đầ u tiên Ðề-bà- đạ t- đ a

có hận tâm chống Bồ-tát. Còn Bồ-tát, trọn đờ i

làm các công đứ c như bố thí... rồi

đ i theo nghiệp của mình.

*

Sau khi thuyết pháp thoại này xong, bậc Chánh Giác

đọ c bài kệ:

Nếu đâ y ông thối thất

Không hướng đí ch diệu pháp,

Ông sẽ khổ lâu dài

Như người buôn Se-ri.

Như vậy, sau khi bậc Ðạo Sư thuyết pháp thoại này

đư a đế n

tột đỉ nh A-la-hán, Ngài giảng Bốn Sự

thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo từ bỏ tinh tấn chứng quả tối cao

A-la-hán.

Sau khi kể hai câu chuyện và kết hợp chúng với nhau, bậc Ðạo Sư nhận diện

Tiền thân:

- Thời ấy, người lái buôn ngu si là Ðề-bà- đạ t- đ a,

còn người lái buôn hiền trí là Ta vậy.

-ooOoo-

4. CHUYỆN TIỂU TRIỆU PHÚ (Tiền thân Cullakasetthì)

Bậc trí với ít vốn...

Pháp thoại này đượ c Thế Tôn thuyết

khi Ngài ở Rừng xoài Jivaka, gần Vương Xá (Rajagaha), về Trưởng lão

Cullapanthaka. Ở đâ y, cuộc

đờ i của Cullapanthaka cần

đượ c nói đế n.

Ở Rajagaha, con gái của một triệu phú giàu có thông gian với người nô lệ

của mình. Sợ việc làm này bị người khác biết, cô gái nói với người nô lệ:

- Chúng ta không thể sống ở chỗ này. Nếu cha mẹ ta biết

đượ c tội lỗi này, sẽ xé xác chúng ta.

Chúng ta nên đ i sống một chỗ khác.

Với đồ

đạ c tư trang cầm tay, cả hai cùng trốn ra khỏi cửa ít khi

đượ c mở, thỏa thuận với nhau tìm chỗ nào

không ai biết đế n họ và sẽ sống tại

đấ y. Sau một thời gian sống với nhau, cô

gái thụ thai. Ðến khi sinh nở, người vợ nói với chồng:

- Nay em đ ã gần tới kỳ sinh nở, ở chỗ

này lại không có bà con. Ðến khi em sinh nở, hai chúng ta sẽ gặp khổ sở. Vậy

chúng ta hãy đ i về nhà.

Người chồng cứ hẹn lần hết ngày này qua ngày khác, và

để ngày tháng trôi qua. Người vợ suy

nghĩ: "Người ngu này, ý thức tội lỗi quá lớn của mình, nên không dám

đ i. Cha mẹ là bạn tốt nhất của mình.

Chồng ta đ i hay ở lại, ta cũng phải

đ i".

Ðợi người chồng đ i ra khỏi nhà, người

vợ sắp đồ

đạ c trong nhà, và tin cho những người sống kế cận biết là nàng trở về

nhà cha mẹ,, rồi nàng lên đườ ng.

Khi người chồng về, không thấy nàng, hỏi người láng giềng, biết nàng

đ ã trở về gia

đ ình, liền vội vã

đ i theo và bắt gặp nàng giữa

đườ ng. Tại

đấ y, nàng sinh con. Người chồng hỏi:

- Này em thân, việc gì vậy?

- Này chàng, em đ ã sinh

đứ a con trai.

- Vậy chúng ta sẽ làm gì?

Cả hai đồ ng ý rằng mục

đí ch đ i

về nhà là để sinh

đẻ , nhưng giữa

đườ ng việc ấy

đ ã giải quyết xong nay còn

đ i về làm gì nữa. Họ liền trở về chỗ trọ

cũ.

Vì đứ a con sinh ra giữa

đườ ng, nên

đượ c đặ t tên là Panthaka (Lữ

khách). Không bao lâu, người vợ lại có thai. Tất cả sự việc như lần trước

đ ã diễn tiến lại. Vì

đứ a con thứ hai này cũng

đượ c sinh giữa

đườ ng, họ

đặ t tên đứ a

đầ u là Mahàpanthaka (Ðại Lữ Khách) và

đứ a sau là Cullapanthaka (Tiểu Lữ

Khách). Rồi họ đ em cả hai

đứ a con trở về nhà của họ. Trong khi họ

sống tại chỗ ấy, đứ a trẻ Panthaka nghe

các đứ a trẻ khác gọi các cậu, các ông

nội, bà nội, nó về hỏi mẹ:

- Thưa mẹ, các đứ a trẻ khác gọi các

cậu, các ông nội, bà nội. Vậy chúng ta không có bà con sao?

- Chúng ta cũng có. Bà mẹ đá p. Nhưng

bà con của con không ở đâ y. Ông của con

là một triệu phú ở Vương Xá. Tại đấ y,

con có rất nhiều bà con.

- Thưa mẹ, vì sao chúng ta không đ i

đế n đấ y?

Nàng nói cho con biết lý do vì sao không đ i

về nhà của mình, và khi các con hỏi nữa, nàng nói với chồng:

- Những đứ a trẻ con này làm cho em

rất mệt. Không lẽ cha mẹ thấy chúng ta, lại ă n

thịt chúng ta? Hãy đ i về

để cho mấy

đứ a trẻ biết nhà ông chúng nó.

- Ta không thể đứ ng giáp mặt với cha

mẹ em đượ c, nhưng ta sẽ

đư a chúng

đế n đấ y.

Nàng nói:

- Như vậy cũng đượ c, làm cách nào cho

mấy đứ a trẻ thấy nhà ông của chúng là

đượ c.

Hai vợ chồng đ em hai

đứ a trẻ về

đế n Vương Xá, tạm trú tại một quán trọ gần cửa thành Vương Xá. Rồi

người vợ đ em hai con nhờ người

đư a tin cho cha mẹ nàng biết là họ

đ ã đế n.

Khi nghe đượ c tin này, cha mẹ nàng nói:

- Sống ở đờ i mà không có con trai,

con gái là một việc không thể có đượ c.

Nhưng chúng đ ã có tội quá lớn

đố i với chúng ta. Chúng ta không thể

giáp mặt đượ c. Ðây là số tiền cho chúng.

Chúng hãy lấy số tiền ấy mà sống thoải mái tại một chỗ nào

đó . Nhưng phải giao hai

đứ a trẻ ở lại

đâ y.

Người con gái vị triệu phú lấy số tiền cha mẹ cho, và giao hai

đứ a trẻ tận tay người

đư a tin. Hai

đứ a trẻ lớn lên trong gia

đ ình ông ngoại chúng. Cullapanthaka còn

nhỏ, nên Mahàpanthaka thường đ i với ông

ngoại đế n nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp.

Thường nghe thuyết pháp, và thấy bậc Ðạo Sư, tâm của Mahàpanthaka thiên về

xuất gia. Nó nói với ông ngoại nó:

- Nếu ông chấp thuận, cháu sẽ xuất gia.

-Này cháu thân, cháu nói gì vậy? Ôi ! Ta sẽ vô cùng vui sướng

đượ c thấy cháu xuất gia, còn hơn là thấy

toàn thế giới xuất gia! Này cháu thân, nếu có thể

đượ c, hãy xuất gia.

Ông ngoại chấp nhận và đư a cháu

đ i gặp bậc Ðạo Sư. Bậc Ðạo Sư hỏi:

- Này triệu phú, ông mang theo đứ a

trẻ nào vậy?

- Bạch Thế Tôn! Ðứa trẻ này là cháu của con, nó muốn xuất gia với Thế

Tôn.

Bậc Ðạo Sư bảo một vị Khất sĩ cho đứ a

trẻ xuất gia. Vị Trưởng lão, đọ c

đề tài Thiền quán gồm n ă m

phần, từ da trở đ i ... và làm phép xuất

gia cho đứ a trẻ. Ðứa trẻ học nhiều lời

dạy của đứ c Phật, và khi cậu

đế n tuổi, cậu

đượ c thọ Ðại giới. Nhờ chuyên tâm tinh

cần, làm đủ các bổn phận tu tập,

Mahapanthaka chứng quả A-la-hán. Trong khi thọ hưởng an lạc Thiền

đị nh và an lạc Thánh

đạ o, người anh nghĩ nên cho em là

Culla-panthaka cũng hưởng đượ c an lạc

ấy. Rồi người anh đ i

đế n gọi ông ngoại triệu phú và nói:

- Nếu ông ngoại chấp thuận, con sẽ làm lễ xuất gia cho Cullpanthaka.

- Thưa Tôn giả, hãy làm lễ xuất gia cho nó.

Vị Trưởng lão làm lễ xuất gia cho Cullapanthaka và cho thọ Mười giới.

Nhưng Sa-di Cullapanthaka, sau khi xuất gia, tỏ ra rất ám

độ n. Người em trong bốn tháng không thể

học thuộc lòng bài kệ này:

Như bông sen thơm dịu,

Vào rạng đô ng buổi sáng,

Hoa đượ c nở toàn diện

Với mùi hương bát ngát.

Nhìn đứ c Phật chói sáng

Với hào quang chiếu diện,

Như mặt trời rực sáng

Trên bầu trời quang đ ãng.

Chúng ta đượ c kể rằng, trong thời

đứ c Phật Kassapa, Cullapanthaka xuất

gia, có trí tuệ, đ ã cười khinh bỉ một

Tỷ-kheo ám độ n

đ ang học thuộc lòng một

đ oạn kinh. Tỷ-kheo ấy hổ thẹn vì bị

khinh bỉ đế n nổi không thể nhớ và

đọ c lên đ oạn

kinh ấy. Do kết quả nghiệp ấy, Cullapanthaka trở thành ám

độ n, những câu vị ấy mới học làm vị ấy

quên đ i những câu

đ ã học trước; và bốn tháng

đ ã trôi qua, trong khi vị ấy

đ ang cố gắng học một câu kệ,

Mahàpanthaka nói với em:

- Này Panthaka, em không có khả n ă ng

trong Giáo pháp này. Bốn tháng trôi qua, em không thể học thuộc lòng một câu

kệ, làm sao em có thể đạ t

đượ c sự nghiệp tối thượng của người xuất

gia? Hãy đ i ra khỏi tinh xá.

Như vậy người anh đ uổi người em.

Nhưng Cullapanthaka đ ã gắn bó

đặ c biệt với giáo pháp của

đứ c Phật, nên không muốn trở thành một

người tại gia.

Trong thời ấy, Mahapanthaka đ ang làm

người phân phối bữa ă n. Một hôm Jivaka

Komàrabhacca đ em theo nhiều hương thơm

và vòng hoa, đế n vườn xoài của mình,

để cúng dường Thế Tôn. Sau khi nghe

pháp, Jivaha từ chỗ ngồi đứ ng dậy,

đả nh lễ bậc Mười Lực (Dasabala), rồi

đ i đế n

gần Mahapanthaka và hỏi:

- Thưa Tôn giả, có bao nhiêu Tỷ-kheo ở gần bậc Ðạo Sư?

- Khoảng n ă m tr ă m.

- Vậy ngày mai, xin Tôn giả hãy mời n ă m

tr ă m Tỷ-kheo, với

đứ c Phật là người dẫn

đầ u, dùng bữa

ă n tại nhà tôi.

- Này cư sĩ, Cullapanthaka là kẻ ám độ n,

không thể lớn mạnh trong Giáo pháp. Tôi chấp nhận lời mời tất cả, trừ nó ra.

Nghe vậy, Cullapanthaka suy nghĩ: "Vị Trưởng lão nhận lời mời tất cả

Tỷ-kheo và loại ta ra ngoài. Không nghi ngờ gì nữa, tình cảm của anh ta

đố i với ta

đ ã bị đỗ vỡ. Nay ta còn ở trong

Giáo pháp này làm gì nữa? Vậy ta sẽ làm người cư sĩ, sống làm các công

đứ c như bố thí, ...

Rạng ngày hôm sua Cullapanthaka ra đ i

với ý nghĩ: "Ta trở lại đờ i sống gia

chủ". Bậc Ðạo Sư, vào sáng sớm, khi nhìn khắp thế giới, thấy sự kiện này,

nên ra đ i sớm hơn Cullapanthaka. Ngài

đ i qua đ i

lại trước cửa ngõ, trên con đườ ng của

Cullapanthaka và đứ ng lại.

Cullapanthaka, từ nhà đ i ra, thấy bậc

Ðạo Sư, đế n gần Ngài và

đả nh lễ. Thấy Cullapanthaka, Thế Tôn

hỏi:

- Này Cullapanthaka, con đ i

đâ u vào giờ này?

- Bạch Thế Tôn, anh con đ uổi con, cho

nên con đ i lang thang.

- Này Cullapanthaka, con xuất gia với Ta. Khi anh con

đ uổi, sao con không

đế n gặp Ta? Con sống tại gia

để làm gì? Hãy

đế n sống gần Ta.

Rồi Thế Tôn đ em Cullapanthaka

đ i, bảo ngồi trước Hương phòng. Ngài

đư a Cullpanthaka một miếng vải sạch mà

Ngài đ ã tạo bằng thần thông, rồi nói:

- Này Cullapanthaka, hãy hướng mặt về phía

đô ng, dùng miếng vải này lau qua lau lại và nói: Ðồ vật lau bụi,

đồ vật lau bụi.

Ðúng giờ đ ã

đị nh, đứ c

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo vây quanh, đ i

đế n nhà Javaka và ngồi trên chỗ

đ ã soạn sẵn. Còn Cullapanthaka, với mặt

hướng phía mặt trời, ngồi cầm miếng vải lau qua lau lại và nói: Ðồ vật lau

bụi, đồ vật lau bụi, cho

đế n khi miếng vải trở thành dơ bẩn. Rồi

Cullapanthaka suy nghĩ: "Vừa rồi, tấm vải này rất là sạch sẽ. Nhưng này vì

bản thân ta, nó đ ã bỏ nguyên trạng của

nó, và trở thành dơ bẩn. Thật sự các hành là vô thường". Ngay khi

Cullapanthaka thông hiểu tính đ oạn diệt,

Thiền quán đượ c t ă ng

trưởng. Bậc Ðạo Sư biết tâm thiền quán của Cullapanthaka

đ ã đạ t

viên mãn, bèn nói với Cullapanthaka:

- Chớ để ý

đế n miếng vải này

đ ã bị bụi làm bẩn. Nhưng trong con có

bụi tham ... hãy tẩy trừ chúng.

Rồi Thế Tôn phóng hào quang, hóa hiện một danh sắc do trí tuệ tạo thành,

ngồi trước mặt vị ấy, và đọ c các bài kệ

này:

Tham mới gọi là bụi,

Chớ không phải bụi này;

Tham mới thật đồ ng nghĩa

Với chữ bụi thường dùng;

Hỡi này các Tỷ-kheo,

Hãy từ bỏ bụi này,

Hãy sống trong Giáo pháp

Của vị không bụi bẩn.

Sân mới gọi là bụi,

Chớ không phải bụi này,

Sân mới thật đồ ng nghĩa

Với chữ bụi thường dùng.

Hỡi này các Tỷ-kheo,

Hãy từ bỏ bụi này,

Hãy sống trong Giáo pháp

Của vị không bụi bẩn.

Si mới gọi là bụi,

Chớ không phải bụi này;

Si mới thật đồ ng nghĩa

Với chữ bụi thường dùng.

Hỡi này các Tỷ-kheo,

Hãy từ bỏ bụi này,

Hãy sống trong Giáo Pháp

Của vị không bụi bẩn.

Cuối câu kệ, Cullapanthaka chứng quả A-la-hán với Bốn Vô ngại giải, vị ấy

thấu hiểu tất cả Tạng kinh đ iển. Tương

truyền rằng, trong thời quá khứ, vị ấy làm vua, và khi

đ ang đ i

bộ xung quanh thành phố, mồ hôi chảy từ trán, vị ấy lấy một miếng vải sạch

lau trán. Miếng vải trở thành bẩn. Vị ấy suy nghĩ: "Do thân này của ta,

miếng vải đ ã bỏ nguyên trạng trong trắng

và trở thành dơ bẩn. Thật sự các hành là vô thường". Vị ấy nắm

đượ c tướng vô thường. Như vậy chính nhờ

sự đ oạn trừ bụi bẩn này tạo thành nhân

duyên giải thoát cho vị ấy. Trong khi ấy, Jivaka Komàrabhacca dâng nước bố

thí lên đấ ng Ðại Giác. Bậc Ðạo Sư lấy

tay che bình bát và nói:

- Này Jivaka, trong tinh xá còn có Tỷ-kheo nào hay không?

Mahapanthaka thưa:

- Bạch Thế Tôn, trong tinh xá không còn Tỷ-kheo nào.

Nhưng bậc Ðạo Sư nói:

- Này Javaka, còn có Tỷ-kheo.

Javaka liền sai một người đ i xem thử

trong tinh xá có Tỷ-kheo hay không. Trong lúc ấy, Cullapathaka biết người

anh của mình nói không có Tỷ-kheo ở trong tinh xá và muốn tỏ cho người anh

thấy rằng còn có nhiều Tỷ-kheo ở trong tinh xá, liền làm cho toàn rừng xoài

đầ y những Tỷ-kheo. Một số Tỷ-kheo

đ ang làm y, một số

đ ang nhuộm, một số

đ ang học kinh

đ iển. Cullapanthaka tạo ra một ngàn

Tỷ-kheo, không ai giống ai. Người kia thấy rất nhiều Tỷ-kheo ở trong tinh

xá, trở về báo cho Javaka biết:

- Thưa ông chủ, toàn rừng xoài đầ y

những Tỷ-kheo! Có bậc trưởng lão ở tại đấ y!.

Trưởng lão Pan-tha-ca

Hóa mình thành ngàn lần,

Ngồi rừng xoài xinh đẹ p,

Chờ thời đượ c gọi

đế n.

Bậc Ðạo Sư nói với người ấy:

- Hãy đ i

đế n tinh xá, nói Thế Tôn cho gọi Cullapanthaka.

Người ấy đ i và khi nói như vậy, thì

ngàn miệng nói lên:

- Tôi là Cullapanthaka! Tôi là Cullapanthaka!

Người ấy về thưa:

- Bạch Thế Tôn, tất cả đề u nói: "Tôi

là Cullapanthaka".

- Vậy ông hãy đ i

đế n và nếu ai nói

đầ u tiên: Tôi là Pathaka, hãy nắm tay

người ấy, tất cả người còn lại sẽ biến mất.

Người ấy làm đú ng như vậy. Ngay lúc

ấy, cả ngàn Tỷ-kheo đề u biến mất. Vị

trưởng lão đ i với người ấy

đế n bậc Ðạo Sư. Sau khi dùng bữa

ă n xong, bậc Ðạo Sư nói với Jivaka:

- Này Javaka, hãy lấy cái bát của Cullapanthaka. Vị này sẽ nói lời cám ơn

ông.

Jivaka làm như lời bậc Ðạo Sư đ ã nói.

Vị trưởng lão rống tiếng rống của sư tử, làm cho sống

độ ng tất cả các Tạnh Kinh

đ iển trong lời nói cám ơn của mình.

Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứ ng dậy,

với chúng Tỷ-kheo vây quanh, đ i trở về

tinh xá. Sau khi các Tỷ-kheo phân boá công việc xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi

đứ ng dậy,

đứ ng trước Hương phòng, thuyết lời khuyến cáo của bậc Thiên Thệ cho

chúng Tỷ-kheo, cho họ đề tài Thiền quán,

giải tán chúng Tỷ-kheo, rồi đ i vào Hương

phòng sực nức mùi thơm và nằm xuống phía hông bên mặt như dáng nằm con sư

tử.

Vào buổi chiều, các Tỷ-kheo đắ p y

vàng từ nhiều nơi quy tụ lại trong Pháp đườ ng,

ngồi xuống như thể trải một tấm màn vàng rực chung quanh bậc Ðạo Sư, và bắt

đầ u tán thán công

đứ c của Ngài:

- Này các Hiền giả, Mahapanthaka không biết khả n ă ng

của Cullapanthaka, đ ã

đ uổi Cullapanthaka ra khỏi tinh xá, cho

là ngu si ám độ n, trong bốn tháng học

không thuộc một câu kệ. Nhưng bậc Chánh Ðẳng Giác, với

đứ c tánh vô thượng Pháp Vương, chỉ trong

một bữa ă n,

đ ã đ em lại cho Cullapanthaka quả

A-la-hán với các Vô ngại giải. Với các Vô ngại giải ấy, Cullapanthaka nắm

đượ c toàn bộ các Tạng kinh

đ iển. Ôi, Phật lực thật lớn vậy thay!

Thế Tôn biết đượ c diễn tiến câu

chuyện trong Pháp đườ ng, nghĩ rằng nay

cần phải đ i

đế n chỗ ấy, liền đứ ng dậy từ chỗ

nằm của đứ c Phật, mặc hai tấm áo màu

đỏ chói, thắt cái nịt thân như chớp

nhoáng, và đắ p lại y. Bậc Thiện Thệ như

tấm mền đỏ thắm, từ Hương phòng

đ i ra, đ i

đế n Pháp

đườ ng với uy nghi vô tận của một đứ c

Phật, di độ ng với dáng

đ iệu oai hùng

đẹ p đẽ

của con voi, con sư tử trong thời sung sức. Bước lên Phật tọa

đượ c trình bày lộng lẫy ở giữa Pháp

đườ ng trang nghiêm. Ngài ngồi trên Phật

tọa phóng ra những hào quang. Phật có sáu màu như mặt trời mới mọc từ trên

đỉ nh núi Yugandahara, ngài chói sáng

đế n tận đá y

biển.

Ngay khi bậc Chánh Giác đế n, chúng

Tỷ-kheo chấm dứt câu chuyện và giữ im lặng. Bậc Ðạo Sư, với tâm tư bi hòa

nhã, nhìn hội chúng và suy nghĩ: "Hội chúng này thật rực sáng, không có một

độ ng tay, một

độ ng chân, không một tiếng

đằ ng hắng, không một tiếng ho. Tất cả vì

tôn kính Ta, nếu Ta ngồi không nói cho đế n

suốt đờ i,

đạ i chúng đề u không dám nói trước

khi Ta nói. Ta biết Ta cần phải nói trước. Ta sẽ nói trước". Với Phạm âm

ngọt dịu, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, các ông nay ngồi ở đâ y

nói đề tài gì và câu chuyện gì chưa

đượ c nói xong?

- Bạch Thế Tôn, chúng con ngồi đâ y

không nói chuyện nhảm. Chúng con ngồi tán thán công

đứ c của Ngài như sau: Này các Hiền Giả,

Mahapanthaka không biết khả n ă ng của

Cullapanthaka, đ ã

đ uổi Cullapanthaka ra khỏi tinh xá...

Ôi, Phật lực thật lớn vậy thay!

Thế Tôn, nghe các Tỷ-kheo nói vậy, bèn nói:

- Này các Tỷ-kheo, Cullapanthaka nay do nhờ Ta,

đ ã đạ t

đượ c sự vĩ

đạ i trong Chánh Pháp. Còn thời quá khứ cũng do nhờ Ta, vị ấy

đ ã đạ t

đượ c tài sản vĩ

đạ i trong các tài sản.

Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn giải thích ý nghĩa này và Thế Tôn liền trình

bày rõ sự việc tái sanh che lấp qua câu chuyện sau

đâ y.

*

Thuở xưa, tại nước Kàsi, trong thành Ba-la-nại, khi vua Brahamadatta

đ ang trị vì, Bồ-tát sanh ra trong một

gia đ ình triệu phú và

đượ c gọi là Tiểu Triệu phú. Ngài có trí

thông minh, biết tất cả loại tướng. Một hôm, trong khi

đ i đế n

hầu vua, giữa đườ ng thấy một con chuột

chết, ngay lúc ấy ngài tính toán các vì sao và nói:

- Một thiện nam tử nào có mắt, chỉ cần lượm con chuột này lên có thể xây

dựng cơ nghiệp và nuôi một người vợ.

Bấy giờ có một thiện nam tử đ ang bị

túng thiếu, nghe triệu phú nói vậy, suy nghĩ: "Người này biết cái gì mới

nói", bèn lượm con chuột lên, bán đượ c

một xu ở một tiệm hàng mua cho mèo ă n.

Với đồ ng xu ấy, chàng mua

đườ ng mật và lấy nước uống với một cái

bình. Gặp những người làm vòng hoa từ rừng về, chàng cho mỗi người một ít

đườ ng, mật và nước uống với một ít cái

gáo. Mỗi người làm vòng hoa, cho chàng một nắm hoa.

Ngày mai, với số tiền bán hoa ấy, chàng lấy

đườ ng, mật, một ghè nước rồi đ i

đế n vườn hoa. Ngày ấy, các người làm

vòng hoa cho chàng những cành hoa đ ã hái

còn sót lại rồi bỏ đ i. Không bao lâu với

phương tiện này, chàng có đượ c tám

đồ ng tiền vàng.

Rồi vào một ngày mưa gió, trong vườn của vua có rất nhiều cành cây khô và

lá bị gió làm rụng xuống, người giữ vườn không biết cách nào

để quét chúng cho sạch. Chàng

đ i đế n,

nói với người giữ vườn:

- Tôi sẽ quét sạch với đ iều kiện là

củi và lá này thuộc về của tôi.

Người giữ vườn chấp thuận. Người đệ

tử này của vị Tiểu triệu phú đ i

đế n sân chơi của bọn trẻ, cho chúng

đườ ng mật, và nhờ chúng dọn sạch củi, lá

chất thành một đố ng trước vườn hoa trong

một thời gian ngắn. Khi ấy, người làm đồ

gốm cho vua đ ang

đ i tìm củi

để đố t nung các chén bát cho nhà

vua, thấy đố ng củi ấy tại cửa vườn hoa,

ông ta mua ngay và tự tay mang nó đ i.

Ngày ấy, đệ tử vị Tiểu triệu phú bán

củi có đượ c mười sáu

đồ ng tiền, ghè bình và n ă m

cái bát. Sau khi có đượ c hai mươi bốn

đồ ng tiền, chàng nghĩ

đế n một kế hoạch,

đặ t một ghè nước không xa cửa thành và

đ em nước cho n ă m

tr ă m người cắt cỏ uống. Họ nói:

- Bạn giúp ích cho chúng tôi rất nhiều. Bạn muốn chúng tôi làm gì cho

bạn?

Chàng trả lời:

- Khi nào tôi có việc, tôi sẽ nói cho các anh biết.

Trong khi đ i qua lại, chàng làm thân

với một người buôn bán trên bộ và một người buôn bán trên biển. Người buôn

bán trên bộ báo tin cho chàng biết ngày mai sẽ có người buôn ngựa

đế n tại thành này với n ă m

tr ă m con ngựa. Nghe vậy, chàng nói với

những người cắt cỏ:

- Hôm nay, mỗi người hãy cho tôi một bó cỏ, và không bán cỏ của các anh

cho đế n khi tôi bán xong cỏ của tôi.

Họ bằng lòng và đ em

đế n nhà chàng n ă m

tr ă m bó cỏ. Người lái buôn ngựa không

tìm đượ c cỏ trong toàn thành phố, liền

cho chàng một ngàn đồ ng tiền và lấy cỏ

của chàng. Sau một vài ngày, người buôn bán trên biển báo tin cho chàng biết

sẽ có một chiếc tàu lớn cập bến. Chàng nghĩ đế n

một kế hoạch khác. Với tám đồ ng tiền

chàng thuê một cỗ xe trang bị đầ y

đủ , đượ c

thuê theo giờ, và đ i

đế n bến cảng với vẻ rất uy nghi bệ vệ.

Sau khi đư a chiếc nhẫn làm bảo chứng

cho chiếc tàu, chàng bảo dựng một cái lều không xa bao nhiêu, ngồi ở trong

lều và dặn chúng người làm công như sau:

- Khi có các người lái buôn từ ngoài đế n,

hãy báo cho ta biết qua ba người giới thiệu.

Khi nghe tin có tàu đế n, khoảng một

tr ă m người lái buôn từ Ba-la-nại

đế n để

mua hàng. Họ đượ c cho biết là hàng không

thể lấy đượ c vì phải

để dành cho người lái buôn ở tại chỗ ấy

đ ã có bảo chứng. Họ nghe vậy liền

đ i đế n

gặp chàng. Những người hầu, như đ ã

đượ c dặn trước, báo tin họ

đế n qua ba người giới thiệu.

Một tr ă m người lái buôn ấy, mỗi người

cho chàng một ngàn đồ ng

để làm người hùn vốn trên tàu và cho một

ngàn đồ ng nữa

để trả tiền lấy hàng hóa phần của mình.

Như vậy người đệ tử vị Tiểu triệu phú

lấy đượ c hai tr ă m

ngàn đồ ng tiền và

đ i về Ba-la-nại.

Ðể bày tỏ sự biết ơn đố i với vị Tiểu

triệu phú, chàng đ em theo một tr ă m

ngàn đồ ng tiền và

đ i đế n

th ă m vị Tiểu triệu phú. Vị Tiểu triệu

phú hỏi chàng đ ã làm gì

để đượ c

số tiền này, chàng tường thuật tất cả câu chuyện, từ khi theo lời vị Tiểu

triệu phú trải qua bốn tháng bắt đầ u với

việc chàng lượm con chuột chết. Vị Tiểu triệu phú nghe chàng nói như vậy,

nghĩ rằng không thể để một chàng trai

trẻ như vậy rơi vào tay người khác, liền gả con gái mới lớn lên của mình cho

chàng, và cho chàng làm chủ toàn bộ gia sản. Khi người triệu phú qua

đờ i, chàng

đ ã trở thành vị triệu phú của thành ấy. Và khi mệnh chung, Bồ-tát

đ i theo nghiệp của mình.

*

Sau khi nói lên pháp thoại này, bậc Chánh Giác

đọ c bài kệ:

Bậc trí với ít vốn,

Bậc có mắt, ít hàng,

Tự xây dựng cho mình

Tài sản lớn như vậy,

Như dùng hơi thở mình

Thổi lớn đá m lửa nhỏ.

Thế Tôn nói:

- Này các Tỷ-kheo, chính dựa vào Ta, Cullapanthaka ngày nay

đạ t đượ c

pháp tối thượng trong các pháp, cũng như ngày xưa

đ ã đạ t

đượ c tài sản tối thượng trong các tài

sản.

Sau khi nói xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết hợp hai mẩu chuyện với

nhau, và kết luận bằng sự nhận diện Tiền thân như sau:

- Trong thời ấy, đệ tử của Tiểu Triệu

phú là Cullapanthaka, còn Cullakasetthi, Tiểu triệu phú, là Ta vậy.

-ooOoo-

5. CHUYỆN ÐẤU GẠO. (Tiền thân Tandulanàli)

Giá đấ u gạo bao nhiêu?...

Câu chuyện này đượ c Thế Tôn, khi ở

tại Kỳ Viên, đ ã kể về Trưởng lão

Laludayi. Trong thời ấy, Tôn giả Dabba, con bộ tộc Malla, làm người phân

phối cơm ă n cho chúng T ă ng.

Thời ấy, vào buổi sáng, trong khi phân phối thẻ cơm, Trưởng lão Udàyi khi

thì đượ c gạo tốt, khi thì

đượ c gạo xấu. Vào ngày

đượ c gạo xấu Udàyi thường làm rộn lên

trong phòng phát thẻ và nói:

- Sao chỉ có Dabba biết phát thẻ, chớ chúng tôi không biết hay sao?

Một hôm, khi Udayi làm rộn lên trong phòng phát thẻ, người ta

đư a sổ phát thẻ cho Udayi và nói:

- Hôm nay, Hiền giả hãy phát thẻ.

Bắt đầ u từ hôm ấy, Udàyi phát thẻ cho

chúng T ă ng. Nhưng trong khi phát thẻ,

Udàyi không biết gạo nào là gạo tốt, gạo nào là gạo xấu, Udàyi cũng không

biết số hạ lạp như thế nào đượ c phát gạo

tốt, số hạ lạp như thế nào đượ c phát gạo

xấu. Khi làm sổ thứ tự để chia phần,

Udàyi không nghĩ đế n thứ tự hạ lạp. Do

vậy, khi các Tôn giả đứ ng vào vị trí của

mình, Udàyi ghi một cái dấu trên sàn hoặc trên tường

để chỉ rõ hàng này

đứ ng chỗ này, hàng kia

đứ ng chỗ kia.

Ðến ngày sau, trong phòng phân phối thẻ có ít Tỷ-kheo hơn trong hàng này,

và có nhiều Tỷ-kheo hơn trong hàng kia. Hàng nào ít tỷ-kheo hơn, thì các dấu

ghi quá thấp, hàng nào nhiều Tỷ-kheo hơn, thì các dấu ghi quá cao. Nhưng

Udàyi không biết gì về hàng sắp, đ ã phân

phối các thẻ theo những dấu của mình. Do vậy, các Tỷ-kheo nói với Udàyi:

- Các dấu hoặc là quá thấp, hoặc là quá cao. Gạo tốt dành cho những vị có

hàng lạp như thế kia còn gạo xấu lại dành cho những vị có hàng lạp như thế

này.

Nhưng Udàyi gạt họ ra một bên và nói:

- Nếu dấu này là như vậy, sao các Hiền giả không

đứ ng như vậy? Sao tôi lại tin các Hiền

giả? Tôi tin các dấu của tôi hơn.

Các vị trẻ tuổi và các Sa-di kéo Udàyi ra khỏi phòng phân phối và nói:

- Này Hiền giả Udàyi ám độ n, khi Hiền

giả phân phối thẻ, các Tỷ-kheo nhận thiếu phần họ

đượ c nhận. Hiền giả không xứng

đá ng để

phân phối. Hãy đ i ra

đ i.

Trong khi ấy, tại phòng phân phối thẻ, có tiếng ồn ào lớn. Nghe vậy, bậc

Ðạo sư gọi hỏi trưởng lão Ànanda:

- Này Ànanda, không phải hiện nay, Udàyi với sự ngu si của mình, mới làm

cho người khác bị thiệt hại khi nhận phần của họ. Thuở trước, Udàyi cũng

đ ã làm như vậy.

Trưởng lão Ànanda yêu cầu Thế Tôn làm sáng tỏ vấn

đề này. Thế Tôn trình bày rõ sự việc bị

tái sanh che lấp qua câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, ở nước Kàsi, tại thành Ba-la-nại, vua Brahmadatta

đ ang trị vì. Lúc ấy, Bồ-tát của chúng ta

làm người đá nh giá cho vua. Ngài

đá nh giá voi ngựa v.v...

đá nh giá châu báu, vàng v.v... và ngài

thường trả cho những người chủ các hàng hóa đú ng

giá tiền như ngài đ ã quy

đị nh. Nhưng vua là người tham lam và bản

tánh tham của vua khiến vua suy nghĩ: "Người đá nh

giá này với cách đá nh giá như vậy, không

bao lâu sẽ làm cho tài sản trong nhà của ta khánh kiệt. Ta phải tìm một

người đá nh giá khác." Mở cửa sổ, nhìn

xuống sân, vua thấy một người quê mùa tham và ngu

đ ang đ i

qua sân, nghĩ rằng kẻ ấy có thể làm người đá nh

giá cho mình, bèn cho gọi kẻ ấy lên, và hỏi anh ta có thể làm người

đá nh giá cho vua

đượ c không. Kẻ ấy trả lời:

- Thưa Ðại Vương, tôi có thể làm đượ c.

Vua liền đặ t người ngu ấy vào chức vụ

người đá nh giá, với mục

đí ch bảo vệ tài sản của mình. Từ khi ấy

trở đ i, người ngu ấy

đá nh giá voi, ngựa v.v... Không

đế m xỉa gì

đế n giá trị, nói giá tùy theo sở thích. Và vì giữ chức vụ ấy, kẻ ấy

nói gì, thì giá tiền là phải như vậy, không thể khác.

Lúc bấy giờ, từ nước phương Bắc, một người buôn ngựa

đ i đế n

với n ă m tr ă m

con ngựa. Vua cho gọi kẻ ấy lên và bảo anh ta

đá nh giá ngựa. Kẻ ấy đá nh giá n ă m

tr ă m con ngựa bằng giá

đấ u gạo, bảo trả cho người buôn ngựa giá

tiền một đấ u gạo, và bảo dắt ngựa vào

chuồng. Người buôn ngựa đ i

đế n gặp người

đá nh giá cũ, thuật lại sự việc này và

hỏi phải làm thế nào. Bồ tát nói:

- Hãy cho người ấy một số tiền hối lộ và hỏi nó: Biết rằng giá tiền các

con ngựa chúng tôi đá ng giá một

đấ u gạo, thì ông có thể cho chúng tôi

biết, theo ông ta tiền một đấ u gạo là

bao nhiêu, ông có thể tuyên bố giá ấy trước mặt vua

đượ c không? Nếu nó trả lời có thể

đượ c, thì

đư a nó đế n ngay trước mặt vua và

tôi cũng sẽ có mặt ở đấ y.

Người lái buôn nghe theo lời Bồ-tát, cho người

đá nh giá một số tiền hối lộ, và

đặ t vấn đề

với kẻ ấy. Khi kẻ ấy nhận hối lộ và nói có thể

đá nh giá đấ u gạo

đượ c, người buôn ngựa

đư a ngay anh ta

đế n trước mặt vua. Bồ-tát cùng nhiều

đạ i thần khác cũng

đ i đế n.

Người buôn ngựa, sau khi đả nh lễ vua,

liền thưa:

- Thưa Ðại Vương, con đ ã biết giá

tiền n ă m tr ă m

con ngựa bằng giá tiền một đấ u gạo.

- Nhưng giá tiền một đấ u gạo là bao

nhiêu?

- Ðại Vương hãy hỏi người đá nh giá

này.

Không biết sự việc đ ã xảy ra, vua

nói:

- Này người đá nh giá, khanh nói cho

chúng ta biết giá tiền n ă m tr ă m

con ngựa.

- Thưa Ðại Vương, là giá tiền một đấ u

gạo.

- Hãy là vậy, này khanh. N ă m tr ă m

con ngựa này trị giá một đấ u gạo. Vậy

giá trị một đấ u gạo là bao nhiêu?

Người ngu si ấy trả lời:

- Một đấ u gạo trị giá bằng tất cả

thành Ba-la-nại với nhiều ngoại ô!

Như vậy, chúng ta đượ c biết rằng,

để làm vui lòng ông vua, kẻ ấy trị giá

các con ngựa bằng một đấ u gạo; nhưng sau

khi lấy tiền hối lộ từ tay người lái buôn, anh ta

đá nh giá một

đấ u gạo bằng toàn bộ nội ngoại thành

Ba-la-nại. Lúc bấy giờ, toàn thành bao bọc Ba-la-nại dài

đế n mười hai dặm, còn nội thành và ngoại

thành Ba-la-nại rộng lớn ba tr ă m dặm!

Tuy vậy, kẻ ngu ấy trị giá nội thành và ngoại thành Ba-la-nại rộng lớn này

chỉ bằng một đấ u gạo! Nghe kẻ ấy nói

vậy, các đạ i thần vỗ tay cười và nói:

- Trước kia chúng ta thường nghĩ rằng quả đấ t

và quốc độ là vô giá. Nhưng nay chúng ta

đượ c biết rằng thành phố lớn Ba-la-nại

này cùng với vị vua trị giá chỉ có một đấ u

gạo mà thôi. Ôi, keû đá nh giá thật

đầ y đủ

trí tuệ! Sao nó có thể giữ đị a vị của nó

lâu như vậy! Nhưng thật sự kẻ đá nh giá

này phù hợp với vua chúng ta một cách tuyệt diệu!

Các đạ i nhân vỗ tay, cười

đ ùa và mỉa mai như vậy.

Rồi Bồ-tát đọ c bài kệ:

Giá đấ u gạo bao nhiêu?

- Bằng cả nội ngoại thành,

Thành phố Ba-la-nại

Cả n ă m tr ă m

con ngựa

Cũng chỉ bằng giá tiền

Một đấ u gạo mà thôi.

Lúc bấy giờ, vua xấu hổ đ uổi kẻ ngu

ấy đ i và đặ t

Bồ-tát vào chức vụ đá nh giá như cũ. Rồi

đế n khi mệnh chung, Bồ-tát

đ i theo nghiệp của mình.

*

Sau khi trình bày pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện với

nhau, và kết luận bằng sự nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, kẻ đá nh giá quê mùa ngu si

là Udàyi, còn vị đá nh giá có trí là Ta

vậy .

-ooOoo-

6. CHUYỆN THIÊN PHÁP (Tiền thân Devadhamma)

Ðầy đủ tàm và quý...

Khi ở Kỳ Viên, Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỷ-kheo có nhiều

đồ vật. Ở Xá-vệ, có một vị trưởng giả

giàu có, sau khi vợ chết, mới xuất gia. Trước khi xuất gia, vị ấy có làm một

phòng để ở, một phòng

để lửa, và một kho chứa

đồ , cho chất

đầ y kho chứa

đồ với bơ sữa, gạo v.v... rồi mới xuất

gia. Sau khi xuất gia, vị ấy cho gọi những người

đầ y tớ của mình, bảo nấu các

đồ ă n

theo sở thích và thọ dụng các món ă n ấy.

Vị ấy có rất nhiều vật dụng, ban đ êm có

bộ đồ lót, có áo choàng riêng; ban ngày

có bộ đồ lót, có áo choàng riêng, và

sống cách biệt sau biên đị a ngôi tinh

xá.

Một hôm, trong khi vị ấy lấy các y và đồ

tắm, trải chúng trong phòng để phơi cho

khô, một số đô ng Tỷ-kheo ở các tỉnh,

đ i từ trú xứ này

đế n trú xứ khác,

đế n phòng kia, thấy các y áo v.v... liền

hỏi chúng thuộc về ai. Vị ấy trả lời:

- Của tôi, thưa các Hiền giả.

- Thưa Hiền giả, y này, áo lót này, đồ

nệm này, tất cả của Hiền giả phải không?

- Vâng, của tôi.

Họ nói:

- Này Hiền giả, Thế Tôn chỉ cho phép ba y. Hiền giả xuất gia trong Giáo

pháp đứ c Phật ít dục như vậy, lại chất

đầ y cả kho vật dụng như vậy. Chúng tôi

sẽ đư a Hiền giả

đế n bậc Ðạo Sư.

Rồi các Tỷ-kheo này đ em vị ấy

đ i đế n

bậc Ðạo Sư. Thấy vậy, bậc Ðạo Sư nói:

- Này các Tỷ-kheo, phải ch ă ng các ông

đ em đ ến

đâ y một Tỷ-kheo ngoài ý muốn của vị ấy?

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này có nhiều đ ồ

vật, và có cả kho vật dụng.

- Này Tỷ-kheo, có phải ông có nhiều vật dụng?

- Thật vậy, bạch Thế Tôn.

- Này Tỷ-kheo, sao ông lại có nhiều vật dụng như vậy? Có phải ta nói lời

tán thán hạnh ít dục, biết đ ủ... viễn

ly, tinh tấn không?

Nghe bậc Ðạo Sư nói vậy, vị ấy sanh phẫn nộ và nói:

- Nay tôi sẽ cởi đ ồ và

đ i như thế này.

Vị ấy qu ă ng y choàng ngoài, chỉ mặc

một y trong và đ ứng giữa hội chúng.

Bậc Ðạo Sư muốn khích lệ, liền nói:

- Này Tỷ-kheo, thuở trước, ông là con quỷ nước Dạ-xoa

đ i tìm tàm quý, sống trong mười hai n ă m

đ i tìm tàm quý. Sao nay ông

đ ã xuất gia trong Giáo pháp Phật

đ ược tôn kính này, lại qu ă ng

y choàng ngoài giữa bốn chúng, từ bỏ tàm quý và

đ ứng như vậy?

Khi nghe lời bậc Ðạo Sư, tàm quý khởi lên, vị ấy

đ ắp y, đ ảnh

lễ bậc Ðạo Sư, rồi ngồi xuống một bên. Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn giải

thích rõ ràng ý nghĩa này. Thế Tôn trình bày ý nghĩa sự việc bị tái sanh che

lấp qua câu chuyện sau đâ y:

*

Vào thời, vua Brahmadatta đ ang trị vì

ở nước Kàsi tại Ba-la-nại, Bồ-tát tái sanh làm con bà hoàng hậu của vua, và

trong ngày đ ặt tên,

đ ược đ ặt

tên là hoàng tử Mahimsàsa (Ngưu Vương). Khi Bồ-tát bắt

đ ầu đ i

đ ược, chạy

đ ược, một con trai thứ hai ra đ ời

và đ ược đ ặt

tên là Candakumara (Mặt Tr ă ng). Khi

đ ứa trẻ này bắt

đ ầu đ i

đ ược, chạy

đ ược, mẹ Bồ-tát mệnh chung. Vua đ ặt

một người khác lên làm hoàng hậu rất đ ược

vua sủng ái. Bà hoàng hậu này, trong tình thương yêu ấy, sanh

đ ược một con trai

đ ặt tên là hoàng tử Suriya (Mặt trời).

Vua cha thấy con, tâm tư hết sức hoan hỷ, hứa cho bà hoàng hậu một lời yêu

cầu nhân danh con bà. Bà hoàng hậu giữ lời hứa lại, mong

đ ược thực hiện ý muốn mai sau. Khi con

bà lớn lên, bà tâu với vua:

- Khi sanh con của thiếp, Ðại Vương có hứa cho một

đ iều yêu cầu. Vậy hãy cho con thiếp làm

vua.

Vua từ chối, và nói:

- Ta có hai con trai, sáng chói như đá m

lửa. Ta không thể giao vương quốc cho con hoàng hậu

đ ược.

Nhưng sau, thấy hoàng hậu cứ tiếp tục yêu cầu mãi, vua ngại bà có âm mưu

ác hại các con của mình, nên cho gọi họ lại và bảo:

- Này các con thân, khi sinh hoàng tử Suriya, ta có cho một

đ iều yêu cầu. Nay mẹ có yêu cầu vương

quốc, ta không muốn cho nó. Nhưng đ àn bà

hay có tánh ác, có thể âm mưu ác hại các con. Vậy hai con hãy

đ i vào rừng, và khi nào ta mệnh chung

hãy trở về trị vì thành này là gia sản của nhà.

Nói vậy, với nước mắt và lời than, vua hôn hai con trên

đ ầu và đ ưa

họ ra đ i. Sau khi

đ ảnh lễ vua cha, hai hoàng tử từ giã lâu

đ ài ra đ i.

Hoàng tử Suriya đ ang chơi trong sân,

thấy vậy, biết đ ược sự việc, liền quyết

đ ịnh cùng ra

đ i với hai anh, và ra

đ i với họ.

Họ đ i vào núi Tuyết. Bồ-tát bước

xuống đ ường, ngồi trên một gốc cây và

bảo hoàng tử Suriya:

- Này Suriya thân, hãy đ i

đ ến hồ nước này. Sau khi tắm và uống,

hãy đ em cho chúng ta nước uống trong các

lá sen.

Cái hồ ấy do Thiên Vương Tỳ-sa-môn (Vessavana) cho một con quỷ nước

Dạ-xoa với lời dặn: Trừ những người biết đ ược

thiên pháp, còn tất cả những ai xuống hồ nước này, ngươi có quyền bắt

ă n thịt. Những ai không xuống nước, thì

người không có quyền.

Từ đó về sau, quỷ Dạ-xoa hỏi thiên

pháp những ai xuống hồ nước ấy, ai không biết thì nó

ă n thịt. Hoàng tử Suriya

đ i đ ến

hồ nước ấy, không quan sát gì, cứ bước xuống hồ. Quỷ Dạ-xoa bắt

đ ược và hỏi:

- Ngươi có biết thiên pháp không?

Hoàng tử đá p:

- Ta biết. Ðó là mặt trời, mặt tr ă ng.

Quỷ Dạ-xoa nói:

- Ngươi không biết thiên pháp.

Rồi bắt chàng xuống nước, và giam chàng tại thủy cung của mình. Bồ-tát

thấy em mình đ i quá lâu, liền sai hoàng

tử Canda đ i. Quỷ Dạ-xoa cũng bắt chàng,

hỏi về thiên pháp là bốn phương. Quỷ Dạ-xoa nói chàng không biết thiên pháp,

bắt chàng và cũng giam tại chỗ ấy.

Bồ-tát thấy Canda đ i quá lâu, nghĩ

rằng chắc có trở ngại gì xảy ra cho mỗi người, liền tự mình

đ i đ ến

chỗ ấy. Thấy đ ược dấu chân của hai người

đ i xuống, nghĩ rằng hồ ấy có thể là chỗ

trú ẩn của quỷ Dạ-xoa, Bồ-tát liền rút kiếm ra, cầm cung và

đ ứng sẵn sàng. Con quỷ nước Dạ-xoa biết

Bồ-tát không chịu xuống nước, hóa hiện một người

đ i làm rừng, nói với Bồ-tát:

- Này bạn, bạn đ i

đ ường mệt, sao bạn không xuống hồ này

tắm, uống nước, ă n củ sen, trang

đ iểm với hoa sen, rồi

đ i chỗ nào bạn ưa thích.

Bồ-tát thấy vậy, biết nó là quỷ Dạ-xoa, liền hỏi nó:

- Có phải ngươi bắt các người em của ta?

- Phải, ta bắt.

- Vì sao?

- Vì ai xuống hồ này đ ều thuộc về ta.

- Có phải tất cả đ ều thuộc về người?

- Trừ những ai biết đ ược thiên pháp,

còn lại đ ều thuộc về ta.

- Ngươi có muốn biết thiên pháp không?

- Có, ta muốn biết.

- Nếu như vậy, ta sẽ nói cho ngươi về thiên pháp.

- Vậy bạn hãy nói đ i, ta sẽ nghe

thiên pháp.

Bồ-tát nói:

- Ta có thể nói thiên pháp, nhưng tay chân đ ều

lấm bụi.

Quỷ Dạ-xoa tắm cho Bồ-tát, cho ngài ă n,

cho uống nước, cho trang sức với bông hoa, cho thoa với hương thơm và trải

một tọa sàng giữa một cái rạp đ ược trang

hoàng lộng lẫy. Bồ-tát ngồi trên tọa sàng, bắt quỷ Dạ-xoa ngồi dưới chân, và

nói:

- Hãy lắng tai, cẩn thận nghe thiên pháp.

Ngài nói lên bài kệ này:

Ðầy đ ủ tàm và quý,

Chuyên tâm về bạch pháp,

An tịnh bậc chân nhân,

Ở đ ời gọi thiên pháp.

Dạ-xoa nghe pháp thoại này, tâm sanh tịnh tín, thưa với Bồ-tát:

- Thưa bậc Hiền trí, tôi cảm thấy tịnh tín đ ối

với ngài và muốn cho ngài một người em. Vậy tôi

đ em đ ến người nào?

- Hãy đ em

đ ến đ ứa

trẻ nhất.

- Thưa bậc Hiền trí, dầu ngài biết hoàn toàn thiên pháp, ngài lại không

xử sự theo thiên pháp.

- Sao vậy?

- Sao ngài lại chọn người em, bỏ người anh? Ngài không kính trọng tuổi

lớn hơn của nó.

- Này Dạ-xoa, ta không những biết thiên pháp, mà còn xử sự

đú ng thiên pháp. Chính vì

đ ứa em ấy mà chúng ta

đ i vào rừng này. Chính vì hạnh phúc cho

đ ứa em ấy mà meï nó xin vua cha quốc

đ ộ. Và phụ vương chúng ta từ chối, không

chấp nhận lời yêu cầu, bằng lòng cho chúng ta sống ở trong rừng với mục

đí ch bảo vệ chúng ta. Ðứa trẻ ấy không

nghĩ đ ến trở về,

đ ã đ i

theo chúng ta. Nếu như ai nghe đ ược rằng

trong rừng, một Dạ-xoa đ ã

ă n nó rồi thì không ai có thể tin

đ ược. Chính vì sợ bị quở trách mà ta bảo

ngươi đ em nó cho ta.

- Lành thay, lành thay, bậc Hiền trí. Ngài không những biết thiên pháp,

mà ngài còn thực hành thiên pháp.

Quỷ Dạ-xoa nói lên sự đ ồng tình của

mình, và đ em trả cả hai người em. Rồi

Bồ-tát nói với nó:

- Này bạn, do kết quả việc ác ngươi làm từ trước, nên nay ngươi sanh làm

Dạ-xoa, ă n thịt và máu của những người

khác. Nay ngươi lại làm đ iều ác nữa.

Việc ác này không thể làm ngươi thoát khỏi đ ịa

ngục v.v... Do vậy, từ nay trở đ i, hãy

bỏ việc ác, làm việc lành...

Và Bồ-tát nhiếp phục quỷ Dạ-xoa.

Khi nhiếp phục quỷ Daï-xoa, Bồ-tát sống ở đ ấy

với sự bảo vệ của quỷ Dạ-xoa. Một ngày kia, nhìn lên các vì sao, biết

đ ược phụ vương

đ ã mệnh chung, Bồ-tát

đ em theo quỷ Dạ-xoa về Ba-la-nại, lấy

lại vương quốc, phong hoàng tử Canda làm phó vương,

đ ặt hoàng tử Suriya làm tổng tư lệnh

quân đ ội. Còn

đ ối với quỷ Dạ-xoa, Bồ-tát cho làm trú

xứ tại một đ ịa

đ iểm tốt đ ẹp,

cho nó nhận đ ược vòng hoa tốt nhất, các

hoa tốt nhất, các đ ồ

ă n tốt nhất. Riêng Bồ-tát trị vì theo

Chánh Pháp và khi mệnh chung, đ i theo

nghiệp của mình.

*

Sau khi kể pháp thoại, bậc Ðạo Sư liền thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài

giảng, Tỷ-kheo ấy chứng quả Dự lưu. Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác kể xong hai

câu chuyện, kết hợp chúng với nhau, và kết luận với sự nhận diện Tiền thân

như sau:

Thời ấy, Quỷ Dạ-xoa là Tỷ-kheo có nhiều đ ồ

vật, hoàng tử Suriya là Ànanda, hoàng tử Canda là Sàriputta (Xá-lợi-phất),

và hoàng tử Mahimsàsa là Ta vậy.

-ooOoo-

7. CHUYỆN NÀNG LƯỢM CỦI (Tiền thân Katthahàri)

Kính thưa bậc Ðại Vương...

Câu chuyện này đ ược bậc Ðạo Sư kể khi

ở Kỳ Viên về nàng Vàsabhakhattiyà. Câu chuyện sẽ

đ ược tìm thấy trong Chương mười hai,

Tiền thân Bhaddasala (số 465). Truyền thuyết kể rằng nàng là con gái của vị

Thích-ca tên Mahànàma với một nữ tỳ lên là Nàgamundà, và về sau trở thành

hoàng hậu vua nước Kosala. Nàng sanh một con trai cho vua. Về sau vua biết

đ ược dòng họ nữ tỳ của nàng, liền truất

phế đ ịa vị của nàng, và truất phế luôn

người con trai là Vidudabha. Cả hai chỉ sống ở trong nội cung. Thế Tôn biết

đ ược sự việc này, vào buổi sáng, với n ă m

tr ă m Tỷ-kheo vây quanh,

đ i đ ến

sự trú xứ của vua, ngồi trên chỗ ngồi đ ã

soạn sẵn, và nói:

- Thưa Ðại Vương, Vàsabhakhattiyà ở đâ u?

Vua kể lại câu chuyện ấy.

- Thưa Ðại Vương, Vàsabhakhattiyà là con gái của ai?

- Bạch Thế Tôn, của Mahànàma.

- Khi nàng đ ến, nàng là vợ của ai?

- Bạch Thế Tôn, của tôi.

- Thưa Ðại Vương, nàng là con gái của vua. Nàng

đ ến làm vợ vua. Nàng sanh

đ ứa con trai cho vua. Ðứa con trai ấy,

do lý do gì lại không làm chủ vương quốc thuộc sở hữu của người cha? Thuở

xưa, một vị vua có đ ứa con trai từ một

người con gái đ i lượm củi, và một cuộc

gặp gỡ tình cờ đ ã cho người con trai ấy

vương quốc.

Vua yêu cầu Thế Tôn làm sáng tỏ ý nghĩa câu chuyện. Thế Tôn liền kể câu

chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, ở Ba-la-nại, vua Brahmadatta đ i

vào ngự uyển với uy nghi lớn của nhà vua. Ðang

đ i qua lại đ ể tìm trái cây và

bông hoa, vua gặp một thiếu phụ đ ang

lượm củi, vừa lượm vừa hát. Vua đ ắm say

nàng và ă n ở với nàng. Bồ-tát

đ ược thụ thai trong bụng nàng. Nàng cảm

thấy bụng nàng nặng nề như mang lưỡi tầm sét (lưỡi búa) của Ðế Thích. Biết

rằng mình đ ã có thai, nàng tâu nhà vua

việc ấy. Vua đ ưa cho nàng một chiếc nhẫn

và nói:

- Nếu sanh con gái, hãy giữ chiếc nhẫn này đ ể

lấy tiền nuôi dưỡng nó. Nếu sanh con trai, hãy

đ em nó đ ến ta với chiếc nhẫn này.

Nói xong vua ra đ i. Khi bào thai

đú ng thời, nàng sanh Bồ-tát. Ðến tuổi

Bồ-tát đ i đ ược,

chạy đ ược, trong khi chơi ở sân chơi, có

tiếng la:

- Ta bị đ ứa không có cha

đá nh.

Nghe vậy, Bồ-tát đ i

đ ến mẹ và hỏi:

- Ai là cha con?

- Này con thân, con là con vua Ba-la-nại.

- Thưa mẹ, có cái gì làm chứng?

- Này con thân, vua có cho chiếc nhẫn này và nói: "Nếu sanh con gái, thì

giữ chiếc nhẫn này đ ể nuôi dưỡng nó. Nếu

sanh con trai, hãy đ em nó

đ ến cho ta với chiếc nhẫn này." Nói

xong, nhà vua ra đ i.

- Thưa mẹ, sự tình là như vậy, sao mẹ không

đ ưa con đ ến gặp cha?

Nàng biết ý đ ịnh của con, nên

đ em con đ ến

cửa cung đ iện và xin ý kiến vua. Khi

đ ược gọi vào, nàng

đ ảnh lễ vua và tâu:

- Thưa Ðại Vương, đâ y là con của Ðại

Vương.

Vua biết vậy, nhưng cảm thấy xấu hổ trước đô ng

đ ảo quần chúng nên nói:

- Nó không phải con của ta.

- Tâu Ðại Vương, đâ y là chiếc nhẫn

của ngài. Chắc ngài nhận ra đ ược chiếc

nhẫn này?

- Ðây không phải là chiếc nhẫn của ta!

- Tâu Ðại Vương, tôi không có vật gì khác đ ể

bảo chứng cho sự thật. Nếu đ ứa trẻ này

là con ngài, nó sẽ đ ứng trên hư không.

Nếu không phải, nó sẽ rơi xuống đ ất và

chết!

Rồi nàng cầm chân Bồ-tát qu ă ng lên hư

không. Bồ-tát ngồi kiết-già trên hư không và với âm thanh dịu ngọt, tuyên bố

pháp cho phụ vương, đ ọc bài kệ này:

Kính thưa bậc Ðại Vương.

Tôi là con trai ngài,

Kính thưa bậc nhân chủ,

Hãy nuôi dưỡng con lớn!

Vua nuôi dưỡng người khác,

Không nuôi con mình sao?

Nghe Bồ-tát ngồi trên hư không thuyết pháp như vậy, vua bèn nói:

- Hãy đ ến, này con thân, ta sẽ nuôi

con! Ta sẽ nuôi con!

Và vua đ ưa hai tay lên. Một ngàn bàn

tay đ ưa lên

đ ể đó n Bồ tát, nhưng Bồ-tát không

xuống bàn tay nào khác, chỉ xuống vào bàn tay nhà vua, và ngồi trên bắp vế

vua. Vua phong cho con làm phó vương, phong cho mẹ làm hoàng hậu. Sau khi

vua mệnh chung, Bồ-tát lên làm vua có tên là Katthavàhanaraja (vua của người

lượm củi), trị vì quốc với Chánh pháp, và khi mệnh chung ngài

đ i theo nghiệp của mình.

*

Sau khi kể pháp thoại này cho vua nước Kosala, trình bày hai câu chuyện

và kết hợp chúng với nhau, bậc Ðạo Sư kết luận với sự nhận diện Tiền thân

như sau:

- Thời ấy, người mẹ là Mahàmaya, người cha là Tịnh Phạn vương, và vua

Katthavàhana là Ta vậy.

-ooOoo-

8. CHUYỆN VUA GÀMANI (Tiền thân Gàmani)

Không vội vã vượt qua...,

Câu chuyện đ ược bậc Ðạo Sư kể khi ở

Kỳ Viên, về một Tỷ-kheo từ bỏ tinh tấn. Trong Tiền thân này, câu chuyện về

hiện tại và quá khứ sẽ đ ược trình bày ở

Chương mười một, liên hệ đ ến Tiền thân

Samvara. Câu chuyện ấy và câu chuyện này giống nhau, nhưng các bài kệ khác

nhau.

*

Hoàng tử Gàmani an trú trong lời dạy của Bồ-tát, là em út của một tr ă m

anh em, đ ược vây quanh với một tr ă m

anh em, ngồi dưới lọng trắng, trên chỗ ngồi huy hoàng rực rỡ, nhìn sự quang

vinh của mình, và nghĩ: "Tất cả sự quang vinh này ta có

đ ược là do vị Ðạo Sư của chúng ta", rồi

cảm thấy bằng lòng thoải mái, nói lên lời cảm hứng này:

Không vội vã vượt qua,

Thành tựu quả mong đ ợi,

Gà-ma-ni hãy biết

Phạm hạnh ta thành phục.

Bảy hay tám ngày sau khi vị ấy lên ngôi vua, tất cả những người anh

đ ều đ i

về trú xứ của mình. Vua Gàmani vì theo Chánh Pháp, và khi mệnh chung,

đ i theo nghiệp của mình. Bồ-tát làm các

công đ ức, và khi mệnh chung cũng

đ i theo nghiệp của mình.

*

Sau khi trình bày pháp thoại này, bậc Ðạo Sư thuyết giảng về các Sự thật.

Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo từ bỏ tinh tấn chứng A-la-hán. Bậc Ðạo Sư, kể

hai câu chuyện và kết hợp chúng với nhau, rồi kết luận với sự nhận diện Tiền

thân.

-ooOoo-

9. CHUYỆN VUA MAKHÀDEVA (Tiền thân Makhàdeva)

Những tóc bạc đ ầu ta...,

Câu chuyện này đ ược bậc Ðạo Sư kể khi

ở Kỳ Viên, về sự kiện xuất gia lớn đ ã

đ ược kể trong tập Nidana-kahthà. Khi ấy,

các Tỷ-kheo đ ang ngồi tán thán sự ra

đ i của đ ấng

Ðại Giác, thì Thế Tôn đ i

đ ến Pháp đ ường,

ngồi trên Phật tọa, hỏi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, các ông nay ngồi nói chuyện gì?

- Bạch Thế Tôn, không có chuyện gì khác. Chúng con ngồi tán thán hạnh ra

đ i của Thế Tôn!

- Này các Tỷ-kheo, không phải nay Như Lai mới ra

đ i, trước

đâ y, Ta cũng ra đ i rồi.

Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn giải thích câu chuyện ấy. Thế Tôn trình bày

câu chuyện quá khứ sau đâ y.

*

Thuở ấy, tại nước Vidaha, có vị vua tên là Makha-deva ở Mithilà, hành trì

đú ng pháp của một vị Pháp Vương. Trải

qua tám mươi bốn ngàn n ă m, ngài

đ ã vui chơi trong

đ ịa vị Ðại Vương. Sau một thời gian dài,

vua sống như vậy. Một hôm, ngài gọi người cắt tóc và nói:

- Này khanh, khi nào khanh thấy tóc bạc trên

đ ầu ta, hãy báo cho ta biết.

Người cắt tóc, sau một thời gian dài, thấy giữa

đá m tóc đ en

nhánh của vua, có một sợi tóc bạc, liền báo cho vua biết. Vua bảo:

- Hãy nhổ sợi tóc bạc ấy và đ ặt nó

trên tay ta.

Nghe nói vậy, người cắt tóc lấy cái nhíp bằng vàng nhổ sợi tóc bạc và

đ ặt lên bàn tay vua. Lúc ấy, nhà vua

đ ang có tám mươi bốn ngàn n ă m

còn lại đ ể sống. Tuy vậy, thấy sợi tóc

bạc, ngài cảm thấy xúc đ ộng mạnh, như

thần chết đ ã

đ ến đ ứng

gần đó , như bị nhốt vào trong ngôi nhà

lá đ ang bốc cháy. Nhà vua suy nghĩ: "Này

Makhàdeva ngu si ơi, tóc bạc đ ã mọc lên,

nhưng ngươi chưa có thể loại trừ những phiền não này".

Và khi nghĩ đ ến xuất hiện của sợi tóc

bạc, nhà vua cảm thấy bị nung đ ốt nội

tâm, từ thân mồ hôi toát ra, áo quần như đ è

nén nhà vua và trở thành không thể chịu nổi. Nhà vua nghĩ: "Hôm nay, ta phải

ra đ i xuất gia".

Sau khi cho người cắt tóc hưởng lợi tức một làng trị giá một tr ă m

ngàn đ ồng, vua cho gọi người con

đ ầu và nói:

-Này con thân, trên đ ầu ta, tóc bạc

đ ã hiện ra. Ta nay

đ ã già rồi. Các dục vọng liên hệ

đ ến con người, ta

đ ã hưởng thụ

đ ầy đ ủ.

Nay ta muốn tìm cầu các dục lạc ở thiên giới. Nay là thời ta phải ra

đ i. Con hãy trị vì vương quốc này. Sau

khi xuất gia, ta sẽ ở trong Rừng xoài của Makhàdeva và sống theo pháp

Sa-môn.

Các đ ại thần nghe tin vua muốn xuất

gia, liền đ ến hỏi vua vì sao lại muốn

xuất gia, vua cầm sợi tóc bạc trong tay và nói bài kệ với cái

đ ại thần:

Những tóc bạc đ ầu ta,

Xuất hiện, cướp tuổi xanh,

Các Thiên sứ đ ã

đ ến,

Là thời ta xuất gia.

Sau khi nói vậy, ngay trong ngày ấy, nhà vua từ bỏ vương quốc, xuất gia

làm ẩn sĩ trong Rừng xoài Makhàdeva. Trải qua tám mươi bốn ngàn n ă m

tu tập bốn Phạm trú, an trú thiền không có gián

đ oạn, ngài mệnh chung, và sanh lên Phạm thiên giới; từ

đ ấy lại sanh ở Mithilà và làm vua tên

Nimi. Sau khi quy tụ gia đ ình ly tán,

ngài xuất gia tại Rừng Xoài ấy, tu tập Bốn Phạm trú, và tái sanh Phạm Thiên

giới.

*

Bậc Ðạo Sư nói rằng Như Lai không phải chỉ nay mới ra

đ i với sự xuất gia ấy, mà thuở trước

cũng đ ã ra

đ i như vậy rồi. Trình bày pháp thoại này xong, Ngài thuyết về Bốn Sự

thật. Một số chứng đ ược quả Dự lưu. Một

số chứng đ ược quả Nhất Lai. Một số chứng

đ ược quả Bất lai.

Sau khi kể xong hai câu chuyện này và kết hợp chúng với nhau, bậc Ðạo Sư

nhận diện Tiền thân như sau:

- Thời ấy, người cắt tóc là Ànanda, người con trai là La-hầu-la (Ràhula),

và vua Makhàdeva là Ta vậy.

-ooOoo-

10. CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI (Tiền thân Sukhavihàri)

Người không đ ược bảo vệ...,

Câu chuyện này, khi ở tại rừng xoài Anupiya, bậc Ðạo Sư

đ ã kể về Trưởng lão Bhaddiya

Sukhavihàri. Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihàri đ ã

xuất gia cùng với sáu vị trong hoàng tộc, cùng Upali là người thứ bảy.

Trưởng lão Bhaddiya, trưởng lão Kimbila, Trưởng lão Bhagu và Trưởng lão

Upàli chứng quả A-la-hán, Trưởng lão Ànanda chứng quả Dự Lưu, Trưởng lão

Anuruddha chứng đ ược thiên nhãn, Trưởng

lão Ðề-bà- đ ạt- đ a

chứng đ ược thiền

đ ịnh. Câu chuyện của sáu vị trong hoàng

tộc này dẫn đ ến sự kiện ở Anupiya, sẽ

đ ược trình bày trong Tiền thân

Khandahàla (số 534).

Trong thời kỳ làm vua, Tôn giả Bhaddiya tự bảo vệ mình như một vị Thiên

sắp đ ặt sự bảo vệ, nay nghĩ

đ ến tâm trạng sợ hãi mà vị ấy

đ ã sống, dầu

đ ược bảo vệ với nhiều sự bảo vệ, vẫn nằm

l ă n qua trở lại trên

đ ại sàng tọa

đ ặt trên lầu cao. Vị ấy so sánh sự sợ

hãi ấy với trạng thái không sợ hãi, vì nay vị ấy

đ ã chứng quả A-la-hán, khi vị ấy

đ i lang thang

đâ y đó

trong các khu rừng v.v... Khi nghĩ vậy, vị ấy nói lên lời cảm hứng:

- Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!

Các Tỷ-kheo nghĩ rằng Tôn giả Bhaddiya nói lên chánh trí của mình, nên

trình lên Thế Tôn. Thế Tôn nói:

- Này các Tỷ-kheo, Bhaddiya không phải chỉ nay mới sống hạnh phúc, mà

thuở trước vị ấy cũng đã sống hạnh phúc!

Các Tỷ-kheo thỉnh thoảng cầu Thế Tôn trình bày rõ ý nghĩa này. Thế Tôn

làm sáng tỏ ý nghĩa qua câu chuyện quá khứ.

*

Thuở xưa, ở Ba-la-nại, trong khi vua Brahmadatta

đ ang trị vì vương quốc, Bồ-tát sinh làm

một vị Bà-la-môn giàu có ở phương Bắc. Thấy nguy hiểm trong các dục, lợi ích

trong xuất ly, ngài từ bỏ các dục, vào núi Tuyết xuất gia làm ẩn sĩ,

đ ạt đ ược

tám Thiền chứng. Số tùy tùng của ngài lên đ ến

n ă m tr ă m

vị khổ hạnh.

Khi mùa mưa đ ến, ngài rời núi Tuyết

với chúng khổ hạnh vây quanh đ i bộ qua

làng, qua thị trấn, đ ến Ba-la-nại, ngài

trú ở ngôi vườn của vua, nương tựa nhà vua. Tại

đ ấy, sau khi sống bốn tháng trong mùa mưa, ngài

đ ến từ biệt nhà vua. Nhà vua nói:

- Thưa Tôn giả, Tôn giả đ ã lớn tuổi,

Tôn giả sống ở núi Tuyết làm gì? Hãy đ ể

các đ ệ tử đ ến

núi Tuyết, còn Tôn giả ở lại đâ y.

Bồ-tát giao n ă m tr ă m

người khổ hạnh cho đ ệ tử trưởng và nói:

- Con hãy đ i, sống ở núi Tuyết với

những người này. Còn ta sẽ sống ở đâ y.

Vị đ ệ tử trưởng ấy, trước kia làm

vua, sau tử bỏ vương quốc lớn, xuất gia, lấy đ ề

tài làm Thiền quán, chứng đ ược tám Thiền

chứng. Vị ấy sống ở núi Tuyết với các vị khổ hạnh.

Một hôm, muốn yết kiến bổn sư, vị ấy gọi các vị khổ hạnh kia và bảo:

- Hãy sống thoải mái ở đâ y, ta

đ i đ ảnh

lễ bổn sư rồi lại về.

Vị ấy đ i

đ ến bổn sư, đ ảnh lễ ngài, chào

mừng ngài rất chân tình, rồi trải tấm thảm, nằm xuống bên cạnh bổn sư. Lúc

bấy giờ, nhà vua đ i

đ ến ngôi vườn

đ ể yết kiến vị khổ hạnh,

đ ảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Vị

đ ệ tử khổ hạnh thấy vua

đ ến, nhưng không

đ ứng dậy, vẫn nằm dài và nói lời cảm

hứng:

- Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!

Nhà vua không hoan hỷ với vị khổ hạnh thấy vua mà không

đ ứng dậy, nên nói với Bồ-tát.

- Thưa Tôn giả, người khổ hạnh này có lẽ đ ã

ă n quá đ ầy

đ ủ nên nằm sung sướng, nói lên lời cảm

hứng.

- Thưa Ðại Vương, người khổ hạnh này trước cũng làm vua như ngài. Vị ấy

suy nghĩ: "Trước kia còn là cư sĩ, đ ầy

đ ủ uy quyền nhà vua,

đ ược bảo vệ bởi nhiều người có binh khí

cầm tay, nhưng không đ ược hạnh phúc như

thế này. Nay do tự mình đ ược hạnh phúc

xuất gia, đ ược hạnh phúc thiền

đ ịnh, nên nói lên lời cảm hứng như vậy".

Ðể giảng pháp thoại cho nhà vua, Bồ-tát đ ọc

bài kệ này:

Người không đ ược bảo vệ,

Không bảo vệ người khác,

Thưa Ðại Vương, người ấy.

Thật sự đ ược an lạc.

Vì không chờ đ ợi gì,

Ðối với các dục vọng.

Nhà vua nghe pháp thoại xong, cảm thấy thoải mái,

đ ảnh lễ, rồi

đ i về cung. Vị

đ ệ tử đ ảnh

lễ bổn sư, rồi đ i về núi Tuyết. Bồ-tát

tiếp tục sống tại đ ấy, thiền

đ ịnh không gián

đ oạn và khi mạng chung, sanh lên Phạm

thiên giới.

*

Bậc Ðạo sư, kể lại hai câu chuyện, kết hợp chúng với nhau rồi nhận diện

Tiền thân:

- Lúc ấy, vị đ ệ tử là Tôn giả

Bhaddiya, còn vị bổn sư chính là Ta đâ y.