Trung Bộ Kinh (Buổi 01): Kinh Pháp Môn Căn Bản (Phần 1) - Sư Giác Nguyên (Toại Khanh)
Nội dung bài giảng
Hôm nay, khi chúng ta nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ, họ có nhắc đến nền văn minh Veda và nền văn minh tiền Veda. Nền văn minh tiền Veda chỉ cách chúng ta, cách đêm nay lúc Uyên Minh đang nói chuyện với các vị, khoảng sáu ngàn năm thôi. Nhưng nếu Veda được nói như trong kinh, như lời Đức Phật nói trong kinh, thì nó có trước đó nữa.
Nhưng vì thời điểm đó là thời điểm khuyết sử, tức là thời điểm mà người Ấn Độ không bận tâm đến chuyện viết, biết lắm vấn đề chữ đó. Một vị giáo sư sử học có nói một câu rất thú vị. Ông nói rằng có lẽ người Ấn Độ quá quan tâm đến những vấn đề siêu hình, triết học, cho nên họ không để ý đến vấn đề ghi chép thực sự.
Trong khi bên Tàu ta có ông Tư Mã Thiên, Việt Nam có ông Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, vân vân, thì bên Ấn Độ, nền văn minh của họ có từ rất lâu đời, nhưng nói về sử gia thì chỉ có những sử gia gần đây thôi, khoảng một ngàn năm trở lại đây thôi. Trước một ngàn năm, trong khi người Tàu đã có ông Tư Mã Thiên đời Hán, thì người Ấn Độ không bận tâm. Họ nói rằng lịch sử sẽ soi rọi ra những chỗ rất là phàm tục của thế giới.
Trong khi đó, các thiền nhân thì họ thích bóng tối thôi, họ thích cái gì mù mờ thôi. Chính vì họ suy nghĩ như vậy cho nên họ không có sử ký. Và có lẽ cũng chính vì chỗ này cho nên lịch sử của Ấn Độ cũng bị nhận chìm theo dòng chảy của thời gian.
Thời Đức Phật, bộ Tam Vệ Đà này được xem là nền học vấn căn bản của một người trí thức Bà-la-môn. Trong đó gồm có mười tám môn, từ thiên văn, địa lý, nhân tướng cho đến toán, lý, hóa.
Các vị nên nhớ rằng người Ấn Độ có những bước tiến về toán học từ rất sớm. Chính họ là người đã nghĩ ra được phép tính hợp phân, cũng như nghĩ ra con số zero trong toán học. Người Ấn Độ rất là thông minh.
Hôm nay, trong giới sinh viên Mỹ, những người giỏi về computer vẫn đứng đầu trong đám sinh viên ngoại quốc, phải trông cậy vào người Ấn Độ. Trong khi mình vẫn thường học chữ, vẫn biết người Đức rất là giỏi toán, như ông Leibniz chẳng hạn, nhưng thật ra, một số nguyên tắc đặc biệt về toán học, sau này khi đọc một số tài liệu của Ấn Độ, người ta mới biết rằng người Ấn đã biết điều đó từ lâu. Nhưng sau đó, do tình trạng chiến tranh, loạn lạc, họ bị quên.
Rồi coi như công đầu nằm ở bên thế giới Tây phương.
[02:44] Chiến tranh loạn lạc, họ bị quên. Rồi coi như cội nguồn là nằm ở bên thế giới Tây Phương. Nhưng thật ra, người Ấn Độ có những khái niệm, có học thuật từ rất sớm, và tất cả những khái niệm đó được cất giấu ở trong Tam Vệ-đà.
[02:56] Trong Tam Vệ-đà, thời Đức Phật, họ có cả giải pháp tu thiền, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; giải pháp tu thiền, các cách luyện, các thứ bùa chú, thăng thiên, độn thổ, di sơn đảo hải và sái đậu thành binh. Họ giỏi lắm.
[03:13] Nhưng mà Tam Vệ-đà bây giờ, các vị có thể gặp được, đọc được trong các bản kinh, thì nó không được như vậy nữa. Nó gồm có một tập là Rig Veda, một tập là Sama Veda, rồi một tập đó là Yajur Veda. Ba tập này, nội dung chủ yếu là toàn ca ngợi thánh thần, giống như tập Thánh ca của bên Công giáo vậy, ca ngợi thánh thần, xưng tán các vị thần thánh nói chung.
[03:44] Mình nhìn cái nội dung của Tam Vệ-đà mà bây giờ còn lưu truyền, mình không biết cái Tam Vệ-đà đó làm sao mà đủ để xem là đại diện cho một nền minh triết Ấn Độ cổ đại.
[03:57] Nhưng mà thực ra thì Tam Vệ-đà bây giờ đã bị manh mún, bị thay đổi, bị thêu dệt rất là nhiều, bị sửa chữa rất là nhiều để cho nó hợp với thời đại và hợp với nhu cầu tôn giáo.
[04:11] Cho nên mới nảy sinh ra trường hợp là có những bộ gọi là Upanishad hay là bộ Aranyaka. Có nhiều bộ lắm, như Aranyaka, gọi là Mundaka.
[04:25] Các vị mà đọc kỹ ra trong đó, đọc vừa sử mà vừa thư đó. Người ta phân biệt sử khác, thư khác nha. Thư có thể là sách lạm bàn, nhưng mà sử là cái gì đó nó mang tính chính thống hơn.
[04:38] Về sử, về thư, thì nội dung của các bộ Upanishad mượn rất là nhiều từ trong Phật giáo. Nó có nội dung vay mượn trong Phật giáo rất là nhiều, đặc biệt vào thế kỷ thứ sáu thì có những sự vay mượn rất là lớn.
[04:50] Thôi, bây giờ mình đang giảng bài kinh, mình không có đi sâu đi xa vào cái chuyện của thiên hạ nhé. Hôm nào mình muốn có một cuộc đàm luận thì mình sẽ có một bữa riêng. Còn bữa nay thì mình sẽ nói chuyện với nhau về bài kinh này, bài kinh Trang Bá của pháp môn.
[05:04] Năm trăm vị tỳ-kheo, mà những học giả này vốn rất là giỏi về Tam Vệ-đà, rất giỏi về tăng chương sao đó. Cho nên khi mình đi tu rồi, các vị lại học được Phật pháp, các vị đã học thuộc lòng rất là nhiều Phật ngôn. Nó nói trong kinh là ít nhất là Tam tạng, thuộc lòng Tam tạng.
[05:26] Khi mà học được như vậy rồi thì các vị xem như là mình đã không còn gì để học trên đời này nữa. Trước khi đi tu, mình nghĩ là Tam Vệ-đà là nhất đó. Hồi đi tu rồi thì mình có được Tam tạng, thì thôi, đủ rồi.
[05:36] Khi có được cái vốn liếng đó, các vị mới nghĩ rằng: Bây giờ đó, cỡ như là tụi mình đâu có còn chỗ nào để mà học nữa. Mà nếu mà không có cái môn gì để học thì cũng không ai mà đáng để cho mình tới...
Còn nữa mà, nếu không có cái gì để học thì cũng không ai đáng để cho mình tới nương mình. Không gì hết. Sau khi vị ấy nghĩ như vậy đó, mới dắt vô ở một cái nơi riêng biệt, không có gần gũi ai hết, không có tiếp xúc, không có đến chứng Phật, không đến đảnh lễ chư Phật, mà cũng không đến thăm hỏi chư vị trưởng lão, thiện hữu gì hết rồi, chỉ có năm trăm vị đó với nhau thôi.
Thì nhiều vị tỳ-kheo khác mới hiểu được cái chuyện này, biết được cái chuyện này thì thấy rằng tội nghiệp. Người này vì bị cái sở tri chướng, bị cái kiến chấp, bị cái kiêu ngạo, cái ngã mạn đó thì không cách gì tiến bộ được.
Ở trong Tăng Chi Bộ Kinh, phần Pháp Tám Chi đó, Đức Phật có dùng cái hình ảnh một khúc gỗ mà nó trôi. Lúc đó, Ngài đang đi lên bờ sông với ngài A-nan thì Ngài nhìn thấy dưới sông có một khúc gỗ trôi. Ngài mới hỏi ngài A-nan:
“Vậy chứ theo A-nan, khúc gỗ này có trôi ra tới biển hay không?”
Thì ngài A-nan bạch Thế Tôn, cái đó cũng không có chắc lắm, bởi vì nó có nhiều nguyên nhân cản trở trên đường ra biển. Nếu mà không gặp những nguyên nhân đó, không gặp những cái cản trở đó thì khúc gỗ này mới trôi ra tới biển được.
Đức Phật hỏi:
“Những trở ngại nào, ông có thể kể ra đây không?”
Thì ngài A-nan vẫn tâu được, chẳng hạn như nó bị tấp bờ này, tấp bờ kia; rồi bị người ta vớt hoặc là bị chư thiên vớt; hoặc là nó bị chìm giữa dòng; hoặc là nó bị mắc cạn, vướng chỗ này, vướng chỗ kia; hoặc là tự nó, trên đường đi, vẫn chưa tới nơi đó đã bị mục mất tiêu rồi, bị mục, bị rã ra rồi, thì nó cũng không ra tới biển được.
Đức Phật nói cũng vậy đó. Cái người mà trên đường giải thoát, nhiều khi cũng bị tấp về bờ bên này, tấp về bờ bên kia; rồi bị chư thiên vớt, bị người ta vớt; bị mục, bị mắc cạn, hoặc là bị chìm giữa dòng, thì cũng không đến được cái cứu cánh giải thoát.
“Bạch Thế Tôn, khúc gỗ thì còn bị tấp bờ này, tấp về bờ kia, rồi bị loài người vớt, bị chư thiên vớt, bị mục. Còn con người, vì còn chúng sanh, thì làm sao có vị ấy được? Con không có hiểu. Kính xin Tôn giả từ bi giảng cho con hiểu.”
Người vì còn chúng sanh thì làm sao có vị? Con không hiểu. Kính xin Tôn giả từ bi giảng như con hiểu.
Đức Phật nói tấp vào bờ này, tấp vào bờ kia, có nghĩa là bị vướng mắc bởi lục căn, lục cảnh, lục thức, nói chung là sáu nội xứ, sáu ngoại xứ. Tấp vào bờ này, tấp vào bờ kia, nói chung là bị năm cái trần, bị lục trần chi phối, hoặc là bị tham chấp vào lục căn. Đó cũng là một chuyện làm cho con đường tu chứng của mình bị gián đoạn.
Hồi tôi còn trẻ, cách đây khoảng mười mấy năm, đọc bài kinh này, tôi thắc mắc: Tại sao Đức Phật lại phân hai? Tại sao tấp vào bờ này là sáu ngoại xứ, mà tấp vào bờ kia cũng là sáu ngoại xứ? Phân ra như vậy để làm gì? Bởi vì sáu ngoại xứ thì phải nghiên cứu trên sáu nội xứ. Tại sao Đức Thế Tôn lại phân ra?
Nhưng sau đó, tôi đọc sớ, rồi va chạm với đường đời, thì mới hiểu tại sao Đức Thế Tôn đã phân đôi ra như vậy. Bởi vì có những người không sống hưởng thụ. Có những người sống rất hưởng thụ, thì mình không nói; đó là những người thế tục. Nhưng có những người sống không hưởng thụ. Mình lấy mắt mình nhìn thì họ không có gì để hưởng thụ, không đam mê gì trong đời sống hết. Vậy thì mình thấy rõ ràng họ tốt rồi.
Nhưng không phải. Họ không hưởng thụ đối với ngoại cảnh, đó là chuyện mình nhìn thấy. Trong thực tế, họ có những tham chấp nằm sâu thẳm bên trong nội tâm. Họ hướng đến những cảnh giới tương lai.
Ví dụ như vậy, khi họ quay về cái đời sống nội tâm, mà sự quay về đó không có sự soi rọi của trí tuệ thiền quán, chỉ quay về bằng ba năng lực của phiền não, đó là tham ái, vô minh, ngã mạn, thì cái chữ “quay về” đó là quay về với đời sống nội tâm, tức quay về với sáu nội xứ. Nhưng chữ “quay về” đó cũng bị chấp vào một cực đoan.
Cho nên Đức Phật đã phân hai cái đó, tức là sáu nội xứ và sáu ngoại xứ, là như vậy.
Rồi trường hợp bị chìm, tức là vị tỳ-kheo bị phiền não chi phối quá nặng. Bị chư thiên vớt có nghĩa là vị này mong mỏi sanh về cõi này, cõi kia trên thiên giới. Bị loài người vớt là do những liên hệ với cư sĩ trong đời sống hiện tại.
Nhưng điều quan trọng mà mình muốn nhấn mạnh, muốn vay mượn bài kinh này để giảng, và bài kinh Căn bản Pháp môn đó là Đức Phật nói khúc gỗ sẽ không thể nào trôi ra biển được.
Giảng về bài kinh căn bản pháp môn đó là: Đức Phật nói khúc gỗ sẽ không thể nào trôi ra biển được.
Nếu như khúc gỗ đó bị mắc cạn, tức là nó bị kẹt vào cái cù lao, cái gò nào đó giữa dòng, thì coi như nó không trôi ra biển được. Nó sẽ nằm lì ở đó suốt đời, bị mục cho đến khi nào mục thì thôi. Cái chuyện mắc cạn của khúc gỗ được ví dụ cho trường hợp bị ngã mạn.
Thay vì mình đi tới luôn, tức là ngày nào mình chưa chứng quả A-la-hán thì bất cứ một cái tạm dừng nào cũng chỉ là mang tính cách tạm thời thôi. Dẫu đó là tri kiến, dẫu đó là thần thông, là thiền định gì cao siêu cách mấy nữa, nhưng mà chưa phải hoàn toàn giải thoát, chấm dứt cái này, thì tất cả chỉ là trạm dừng thôi, chứ không phải là cứu cánh.
Còn cái chuyện mà năm trăm vị sư này ở ngoài đời thì đối với Tam tạng, coi vậy là coi như mình giỏi lắm. Trong khi các vị đó đúng như trong dân gian Việt Nam nói là ếch ngồi đáy giếng, hoặc là giống như người thỏa mãn quá sớm.
Người thỏa mãn quá sớm thì mới có cái gánh hàng rong, rồi bỏ gánh hàng rong mà nhảy lên làm chủ tiệm tạp hóa, là mình nghĩ mình đã nhất rồi. Nhưng không ngờ trong trời đất còn hàng trăm, hàng triệu, hàng tỷ thứ tài sản khác, chứ không phải chỉ có cái chuyện tạp hóa là nhất đâu.
Nhưng mà tại vì trước đây mình là người gánh hàng rong, cho nên bây giờ mình bỏ được cái gánh hàng rong rồi, bỏ được cái đòn gánh đó, mình nhảy vô trong tiệm, mình ngồi cái coi như vậy là nhất thôi.
Cái người mà thông suốt Phật ngôn, mà không tiến thêm nữa trong chuyện hiểu biết Phật pháp, cứ nghĩ là mình thông suốt như vậy là mình giỏi, thì những người đó cũng chỉ là một khúc gỗ mắc cạn mà thôi.
Sau khi chư tăng huynh đệ thấy năm trăm vị này bị cái bệnh ngã mạn như vậy, cho nên đã cùng nhau vào thưa với Đức Phật. Đó là cái tình trạng thật như vậy đó. Đối với năm trăm vị đó thì con thấy cũng tự nghiệp chướng, cách gì cũng không được.
Khi Đức Phật nghe như vậy rồi, Ngài dùng Phật trí suy tư, Ngài thấy rằng đã đến lúc Ngài phải giúp đỡ những vị này.
Ngài dùng Phật trí, ngài suy tư, ngài thấy rằng đã đến lúc mà ngài phải giúp đỡ chúng sinh này. Thật ra, chuyện này ngài đã biết từ lâu, nhưng ngài thấy đến lúc rồi thì ngài mới cho mời 500 vị.
Ngài hỏi: “Có phải các ngươi từng suy nghĩ như vậy không?” Thì các vị nhìn nhận, tập tôn đúng đạo và đời, cái nào cũng ổn hết rồi.
Bây giờ, ngoài đời đã có bằng cử nhân rồi, hoặc có một cái bằng thạc sĩ rồi. Bây giờ trong đạo mình lại thuộc lòng Tam tạng, được cấp một cái bằng cao đẳng của Miến Điện, rồi bằng tốt nghiệp A-hàm của Miến Điện, thì coi như còn cái gì nữa để mà học đây?
Thì coi như mình có một cái bằng ở ngoài đời về một ngành nào đó, về chữ học, về văn chương, rồi về ngoại ngữ; cộng thêm trong đạo hai cái bằng nữa: một cái bằng ở đời, một cái bằng cao đẳng, một cái bằng cao đẳng tốt nghiệp A-hàm bảy năm của Thái Lan nữa. Thế là thôi, mình còn cái gì nữa để mình học?
Giống như vậy, nhưng mà thật ra coi như nó chưa đủ. Mình đi xa, mình thấy trời đất bao la rồi. Mình nhìn trước mặt đất, mình thấy mặt đất bao la, có biết bao nhiêu thứ mà mình không biết. Mình chỉ còn là hạt cát giữa bầu trời thôi. Có ngồi trong máy bay, mình thấy mình chỉ còn là hạt cát thôi, mình cũng chẳng là cái gì hết.
Nhưng mà chẳng qua mình ở dưới đất rồi mình nhìn đời. Mà từ dưới đất nhìn lên nó khác, ở trên nhìn xuống nó khác nha. Những tòa cao ốc cao ngất trời, ngó trật ngót mỏi cổ. Ở trên nhìn xuống, giống như những cái hộp quẹt chồng lên nhau vậy thôi. Mà tự nhiên chỉ một căn nho nhỏ trong tòa cao ốc đó, mình phải mất cả đời chưa chắc có đủ tiền để mua.
Mình nói là cả đời đó chứ đừng có nói là một, hai mươi năm. Còn những tòa cao ốc, chẳng hạn như hai tòa tháp đôi ở New York bị khủng bố làm sập đó, trong đó có nhiều gian, ví dụ như gian bán vàng bạc, đá quý, vân vân. Những gian đó, cả đời mình không làm chủ nổi, mình không đủ tài chánh để mình mua, mình tậu nổi đâu.
Vậy để mà ở trên trời ngó xuống, tất cả chỉ là những hộp quẹt nhỏ thôi.
Cho nên, kiến thức của mình, mình hiểu biết trời đất là bao nhiêu? Mình ra ngoài biển, mình ngồi trên một chiếc tàu lớn, mình nhìn xuống biển, mình thấy trời đất bao la. Mình biết tuổi thọ của mình ngắn ngủi, thân xác nhỏ bé, kiến thức mình có giới hạn rồi hoàn cảnh, điều kiện của mình chỉ là những hạn chế.
Tất cả những cái giới hạn, những cái hạn chế đó, những cái bé bỏng, những cái mong manh, ngắn ngủi đó, nó là cái gì giữa trời đất, không gian, thời gian bao la vô tận?
Khi ngài thấy được, ngài hỏi mấy vị này. Trong khi ngài lặng im, ngài nhìn coi, chứ không nói gì. Ngài đem nội dung của bài kinh ra giảng.
Ngài là người coi chứ không có gì hết. Ngài giảng, ngài đem cái nội dung của bài kinh ngài giảng.
Thì chúng ta phải hiểu thêm rằng, tuy nói rằng các vị này không thuộc Tam tạng, nhưng dĩ nhiên Tam tạng lúc đó không giống như Tam tạng bây giờ, có nghĩa là không được đầy đủ như bây giờ. Tức là Tam tạng này có nghĩa là các vị học được nhiều bài kinh, nhiều bài kinh ở trong Kinh tạng, rồi một phần căn bản của Luật tạng, rồi một phần căn bản của Tạng Pháp, Tạng Pháp do Đức Thế Tôn...
Nhập hạ, nhập xong, tức là ra khỏi cái hạ thứ bảy, coi như Phật giáo đã có được Tạng Vi diệu pháp rồi. Còn Luật tạng thì phải sau khi Đức Thế Tôn được mười hai hạ, ngài bắt đầu mới chế định từng điều, từng điều, từng điều.
Cho nên Luật tạng không phải giống như Tạng A-tỳ-đàm, chỉ mất ba tháng là đã có. Mà Luật tạng là phải theo thời gian, có người phạm rồi Đức Phật nhận, ngài chế định. Cho nên, theo mình, dựa theo bài kinh này, mình hiểu rằng lúc này Đức Thế Tôn đã cao tuổi lắm rồi.
Và Phật pháp đó, nói chung là nội dung Tam tạng tùy theo tuổi của Đức Phật. Khi Đức Phật ngày càng cao tuổi chừng nào thì Tam tạng càng ngày càng có chiều dày chừng nấy.
Và khi ngài đã viên tịch rồi, thì ba tháng sau, chư Thánh tăng mở kỳ kết tập lần thứ nhất, đúc kết lại tất cả những gì Đức Thế Tôn đã thuyết giảng trong suốt bốn mươi lăm năm vừa qua.
Thì theo nội dung bài kinh này, mình đoán chừng, mình hoàn toàn có cơ sở để xác định rằng bài kinh này có lẽ được thuyết giảng vào lúc Đức Thế Tôn đã cao tuổi rồi.
Nội dung này chưa từng nghe qua bài kinh này. Mà bài kinh này nói cái gì? Thôi thì bây giờ, để khỏi làm mất thời giờ của các vị, mình xin trình bày thẳng nội dung của bài kinh này luôn.
Thay vì trên nguyên tắc, mình chỉ bày duyên khởi bài kinh này thôi. Nhưng nếu chỉ bày duyên khởi thì bỏ ngang đây, không biết ngày mai mình có rảnh hoặc còn thời gian để ngồi trình bày kinh này hay không. Thôi thì mình cứ trình bày được bao nhiêu hay bấy nhiêu, rồi ngày mai tính tiếp.
Và nhiều khi cũng có bận rộn. Nội dung bài kinh nó là thế này.
Nhiêu rồi, ngày mai tính tiếp.
Và nhiều khi cũng có bận rộn thì nội dung bài kinh nó là thế này: Đức Phật trình bày ra 24 điểm ngộ nhận của phàm phu. Theo chánh kinh là 24, nhưng chúng ta thu gọn lại thì chỉ còn có sáu thôi. Cứ gọn lại, chỉ còn có sáu thôi.
Tại sao chánh kinh có 24 mà mình chỉ thu gọn còn sáu? Pháp thì ở đây cũng xin nói rõ là ở trong chánh kinh, Đức Phật lúc đó Ngài không có giảng như thời nay. Thời Đức Phật không có kinh điển, không có chữ viết như mình bây giờ, mà chỉ là khẩu truyền tâm thọ thôi. Đức Phật nói rồi, người nghe nhớ được bao nhiêu thì nhớ, chứ không phải như mình bây giờ. Các vị giảng rồi, nếu nghe không rõ thì về mình dở kinh ra coi, hoặc lên Internet đọc.
Chính vì chỗ này cho nên Đức Phật và chư Tăng ngày xưa giảng, các Ngài hay có việc lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại. Mình không biết chuyện này, mình thấy: “Ủa, sao trong kinh hay có chuyện trùng lặp?”. Đức Phật trình bày, thí dụ như Ngài trình bày về Thất Giác Chi, có nhiều câu; hoặc khi Ngài trình bày về Tứ Niệm Xứ, có nhiều câu Ngài đã nói trước đó rồi, bây giờ Ngài lặp lại nguyên vẹn, không bớt, không thêm một dấu phẩy nào hết.
Mình không biết, mình thấy kỳ. Thí dụ như nói về thân, trước thì Ngài đã nói: “Ở đây, vị tỳ-kheo trong giáo pháp này tinh cần, nỗ lực, chánh niệm, tỉnh giác, sống quán thân trên thân, diệt trừ tham ưu ở đời”. Ngày hôm nay mới hỏi là thế nào là thân quán niệm, thì Ngài giảng ra hết về thân quán niệm. Rồi Ngài nói thứ hai là thọ quán niệm: “Thế nào là thọ quán niệm?”. Vị tỳ-kheo gọi là tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, sống quán thọ trên các thọ, diệt trừ tham ưu ở đời.
Mình thấy kỳ vậy. Tại sao ở trên Ngài đã nói nguyên đoạn đó rồi, xuống tới đây Ngài lại tiếp tục lặp lại? Mình phải hiểu thêm chuyện đó, chứ không nên thắc mắc.
Vì Ngài nói chuyện cho nguyên một đám đông nghe mà không có sách vở. Không phải như mình bây giờ, mình nghe một vị giảng như vậy, rồi kế bên vị ấy, trước khi giảng, thông báo cho mình biết: “Hôm nay tôi giảng về Kinh Trung Bộ số năm”. Lỡ khi đó mình nghe không hết thì về mình mở cuốn Trung Bộ số năm ra coi, khỏe quá, quá khỏe. Chưa kể trường hợp mình có ghi âm bằng máy cassette. Nhưng đời xưa thì không có hết, không có phương tiện đó, cho nên tất cả tùy thuộc vào việc lặp đi lặp lại, người ta sẽ nhớ dai hơn.
Chính vì chỗ này cho nên Đức Phật, khi Ngài trình bày giáo lý, Ngài cũng giải rất là chi tiết, rất là cặn kẽ, để vừa hiểu mà vừa có thể nhớ.
[20:37] Giáo lý đó, Ngài cũng giảng giải rất là chi tiết, rất là cặn kẽ, để vừa hiểu mà vừa có thể nhớ được. Chính vì chỗ này, cho nên Đức Thế Tôn đã chia chẻ vấn đề ra thành 24 cái cảnh, để cho người ta có thể ghi nhớ về ý nghĩa, có thể ghi nhớ một cách dễ dàng.
Thấy dài, nhưng mà thật ra đó lại là giúp người ta dễ nhớ. Còn nếu nói vắn tắt quá thì người ta khó hiểu mà lại khó nhớ. Khi người ta hiểu là tự nhiên người ta nhớ thôi.
Nội dung bài kinh đó là Ngài trình bày về 24 điểm ngộ nhận của phàm phu. 24 điểm ngộ nhận đó là gì? Là phàm phu chấp vào đất, vào nước, vào lửa, vào gió, hư không, ánh sáng, vân vân. Phàm phu chấp vào các cảnh trời, phàm phu chấp vào các cảnh trời dục thiên, các cảnh trời phạm thiên.
Ngài đi từ cái chi ly cho đến cái đại thể, rồi từ thấp lên cao. Nghe thì Ngài nói rằng phàm phu nhìn cuộc đời này bằng một cái nhìn ngã chấp: nhìn đất, nhìn nước, nhìn lửa, nhìn gió, và cố tìm thấy trong đó một cái tôi, một cái ta, cái của tôi, cái của ta.
Rồi chưa hết, phàm phu nếu có tu học, mà hiểu được các tầng trời, hiểu được và tin được sự hiện hữu, sự tồn tại của các tầng trời dục thiên, như là Tứ Đại Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, rồi các tầng phạm thiên, như là Phạm Phụ, Phạm Chúng, Đại Phạm Thiên, Quang Âm Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả, Vô Tưởng, rồi cả Tịnh Cư, các cõi vô sắc, thì phàm phu có hiểu được, có tin được sự tồn tại của các cõi này, cũng hiểu và tin bằng cái nhìn ngã chấp.
Bài kinh này, nếu một người không có học A-tỳ-đàm hoặc mới chỉ nghe qua lần đầu, thì thấy bài kinh này hơi khó hiểu. Nhưng mà nếu chúng ta có học A-tỳ-đàm, hoặc bài kinh này được giảng qua một lần rồi, sau đó một đêm mưa nào đó không ngủ được, chúng ta ngồi thắp ngọn nến, mở ngọn đèn ra, ngồi mà đọc thong thả từng trang, thì sẽ thấy thấm. Bài kinh này rất là sâu sắc.
[22:59] Tại sao Đức Phật lại chọn đề tài?
Nếu đọc từng trang thì sẽ thấy thấm. Bài kinh này rất sâu sắc.
Tại sao Đức Phật lại chọn đề tài này? Bởi vì 500 vị này tự chấp, tự mình có những kiến chấp, cho rằng kiến thức của bản thân là những kiến thức cao vời, không còn có gì cao hơn nữa. Đức Phật mới đem những quan điểm được trình bày sau đó, gồm có những quan điểm về tứ đại, quan điểm về các cõi dục thiên, các cõi phạm thiên, cho đại chúng, đặc biệt là các vị này thấy rằng phàm phu có học được gì, có biết được gì thì cũng nhìn mọi sự qua lăng kính của ngã chấp.
Ở đây, thầy muốn nhắc cho các vị nghe lại một câu chuyện mà các vị có lẽ đã biết rồi. Đó là một giai thoại trong sách thiền của Nhật Bản.
Có bốn vị thiền sinh đang ngồi trong một thiền thất. Trước khi ngồi thiền, bốn vị này rất thích nói chuyện. Trước khi đi vào thiền thất, bốn người hướng dẫn nhau: “Bữa nay mình nghiêm túc, không nói chuyện, không cười đùa nữa. Tất cả đều im lặng để hành thiền. Dù có chuyện gì cũng không nói.” Tất cả đồng ý với nhau.
Rồi họ đóng cửa, khép cửa và ngồi thiền. Lát sau, trời nổi gió lớn, gió làm bung cánh cửa ra. Ông đầu tiên lên tiếng, nói: “Ai quên gài cánh cửa để gió bật vô bật ra vậy?”
Đó là ông thứ nhất nói. Ông thứ hai nói: “Tôi đã gài rồi mà, tại sao nói như vậy?” Ông thứ ba nói: “Hành thiền mà tại sao còn nói chuyện?” Ông thứ tư nói rằng: “Nãy giờ có mình tôi là im lặng.”
Các vị thấy không, họ thấy ra là ông thứ nhất có lỗi, ông thứ hai cũng có lỗi.
Họ tách ra là: cái ông thứ nhất, cái ông thứ nhì thì coi như mình coi đó là hai ông có lỗi. Hai có lỗi ở chỗ là hai ông chấp thủ, hai ông đã quên những lời hẹn ước hồi nãy của huynh đệ với nhau là hành thiền này không có nói chuyện. Muốn cái gì thì đứng vậy mà làm, rồi im lặng, chứ không có phải đi nói.
Nhưng mà thật sự, khi gặp cánh cửa tự do phải bung, không chịu không nổi, thì thôi, hai ông đầu coi như có lỗi mà không trách. Còn hai ông sau là đúng là lỗi rồi.
Ông thứ ba trách hai ông đầu là hành thiền mà tại sao vào... Rồi đến ông thứ tư, ổng lại nói rằng: “Nãy giờ mình tôi là tôi không có nói thôi, mà quá ra cha cũng nói như ai.” Thôi thì tại sao đem câu chuyện người ta ra kể đây?
Nếu mà không trình bày rõ thì các vị nghĩ là Quyên Minh lạc đề hoặc dẫn chứng không có chính xác. Trường hợp như vấn đề nó là thế này:
Phàm phu mình, trong kinh nói cái này là trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật nói trong phẩm Ngã chấp... Ngài nói giống như một con chó mà bị cột vào gốc cây, thì dầu nó có cào, có cắn, có sủa, có cấu cách mấy nữa, nó cũng không có ra khỏi gốc cây đó. Nó đã bị cột vào gốc cây đó rồi.
Thì điều đó như thế nào? Đối với một kẻ phàm phu mà còn có tà kiến, còn có ngã chấp, thì dầu họ có lý luận, có suy tư, có giỏi, có dở, có khôn hay có ngu, có học nhiều hay học ít, bất cứ trường hợp nào mà hễ họ còn tà kiến, họ còn ngã chấp thì dứt khoát họ còn quẩn quanh chừng đó thôi.
Tức là họ có suy tư gì đi nữa, thí dụ như họ còn ngã chấp, còn thân kiến, thì họ có suy tư gì đi nữa cũng lòng vòng quanh quẩn cái thân kiến đó thôi, không có ra được.
Chẳng hạn như mình ngồi suy tư về sự hiện hữu của một đấng Thượng đế nào đó, về sự hằng tại, hằng sống của một linh hồn nào đó, rồi mong mỏi mình có một cảnh giới nào đó thật là sung sướng để mình sanh về ở đó, không còn sanh, già, đau, chết, vân vân và vân vân. Rồi ở đó có đầy đủ hạnh phúc, ở đó không có nước mắt, ở đó không có chông gai, hầm hố, ở đó không có thú dữ, ở đó không có chuyện người hại người, ở đó chỉ có sống thôi chứ không có chết, vân vân và vân vân.
Thì khi mình ngồi chỉ nghĩ ra những chuyện như vậy đó, mình tạo ra một cái thiên đàng ảo tưởng.
Khi mình ngồi chỉ nghĩ ra những chuyện như vậy đó, mình tạo ra một cái thiên đàng ảo tưởng. Nếu mình là người có uy tín trong xã hội và trở thành một vị giáo chủ, lập ra một tông phái, thì có phải là mình nói theo trong kinh, phần nói trường hợp đó chẳng khác nào một người mù dắt theo một đám người mù khác vậy thôi. Đã mù rồi mà còn dắt thêm một đám đuôi vậy thôi, cứ dìu nhau mà đi trong cuộc đời tăm tối.
Mình bị tà kiến nào, bị kiến chấp như thế nào, thì mình cũng sẽ tạo ra những sản phẩm y hệt như con người mình. Cho nên người Tây phương mới có một câu thế này: “Văn tức người, văn sao người vậy.” Có nghĩa là người ta nghe mình nói, người ta đọc văn của mình, người ta đoán ra con người của mình. Mình có chấp chủ như thế nào, con người mình như thế nào, thì tác phẩm của mình nó ra thế đó. Người ta nói: “Của người sao, của vậy” là vậy đó.
Đối với phàm phu chưa diệt trừ được thân kiến, chưa diệt trừ được ngã mạn, chưa diệt trừ được vô minh, thì suy tư của mình, nếu không có Phật pháp dẫn đường, rất dễ mắc vào cái lầm lạc. Kể cả trường hợp người đã biết Phật pháp rồi, nhưng họ lại bị mắc kẹt ở trong đó, không ra được.
Mình không biết Phật pháp thì mình chấp theo kiểu không biết: đây là con tôi, tài sản tôi, vợ con của tôi, đây là gia tài của tôi. Nhưng khi mình biết Phật pháp rồi, mình không chấp cái đó nữa. Mà chấp ở đây là: kiến thức của tôi, tôi đã hiểu như vậy. Đây là trí tuệ của tôi, đây là tri kiến của tôi. Và tôi thấy rằng trong đám đông này không ai bằng tôi. Trong hội chúng này không ai bằng tôi. Ai cũng thua tôi, tôi hơn hết mọi người.
Chính cái sự nghĩ như vậy nó giống như bốn huynh đệ mà ngồi thiền ở trong thiền thất khi nãy. Hai ông đầu coi như đã phạm lỗi rồi.
Huynh đệ mà ngồi thiền ở trong thiền thất khi nãy, hai ông đầu coi như đã phạm lỗi rồi, tức là thiền còn nói chuyện. Hai ông thứ ba thì đi trách người ta, nhưng mà ổng cũng mắc lỗi. Ổng trách người ta cái lỗi là nói chuyện trong lúc tu thiền, chính ổng cũng mắc một lỗi đó, mà trong hình thức khác.
Hai ông kia mắc lỗi là vì ham nói, còn ổng mắc lỗi là vì ham trách người khác. Còn ông thứ tư thì cũng phạm lỗi y chang vậy, nhưng mà ổng không phải trách người khác, mà là vì tự trách bản thân ông. Cho nên hóa ra cả bốn ông, ông nào cũng là nói chuyện trong lúc thiền cả.
Thì Đức Phật ngài trình bày bốn cái ngộ nhận của phàm phu trong đây. Ngài mới nói: Phàm phu mà có nhìn về cái vấn đề gì đi nữa thì cũng nhìn qua cái lăng kính của ngã chấp.
Thấy rằng có địa đại là ta, là địa đại; có địa đại trong ta, có ta trong địa đại. Này các tỳ-kheo, ta nói rằng kẻ ấy không bao giờ hiểu được địa đại, bởi vì địa đại không phải là cái mà vị ấy vẫn tưởng tượng.
Thí dụ như có một số người họ hỏi tôi như thế này: “Vô ngã là sao?”
Thì tùy lúc hoặc là tùy hoàn cảnh, tôi trả lời. Nhưng mà hầu hết thì người ta nghĩ rằng vô ngã là một vấn đề của giáo lý Phật pháp. Vô ngã, kiến thức về cái lý vô ngã, là một trình độ tu chứng. Nói như vậy cũng đúng chứ không phải sai. Nhưng mà thật ra, vô ngã chỉ là một cái nhìn thôi.
Bởi vì như hôm trước chúng tôi nói, cái gọi là ngã chấp nó giống như cái bánh vẽ vậy đó. Nó giống như cái bánh vẽ vậy thôi. Bản thân cái bánh vẽ đó là không có rồi, mà cái người từ chối được cái bánh vẽ đó là người từ chối cái không có, chứ nó không có gì là linh thiêng, huyền bí ở đây cả.
Từ chối cái bánh vẽ có nghĩa là mình từ chối một cái không có thôi. Thì cái người hiểu được lý vô ngã chỉ là người từ chối một cái nhìn mà trước đây mình vẫn dùng. Đó được gọi là trí tuệ vô ngã.
Chứ còn nếu mà mình hiểu được cái lý vô ngã là mình có quyền tự hào, thì như vậy đó là sao? Bởi vì mình hiểu được lý vô ngã chẳng qua là mình chỉ rũ bỏ được cái nhìn sai lầm trước đây của mình thôi.
Có đêm tối trên mặt hồ, mà chúng ta đang chèo thuyền, thình lình có một chiếc xuồng khác nó tông vào chiếc xuồng của chúng ta.
Mà chúng ta đang chèo thuyền, thình lình có một chiếc xuồng khác tông vào chiếc xuồng của chúng ta. Ở chỗ này, chúng tôi nói thật là chậm, và các vị cũng nghe cho kỹ giùm.
Chúng ta đang đi thiền trên mặt hồ giữa đêm tối, thì có một chiếc xuồng khác tông vào chiếc xuồng của chúng ta. Chúng ta rất là giận, chúng ta rất là giận.
Nhưng mà nếu chúng ta rọi đèn nhìn kỹ lại, trên chiếc xuồng đó không có người, thì cái giận đó nó sẽ thay đổi. Có thể nó vẫn còn đó, nhưng mà nó giảm xuống rất là nhiều. Bởi vì chỉ cần chúng ta liếc nhìn trên đó, thấy có một người nào đó thôi, thì chúng ta sẽ gán cho người đó là họ có ác ý, họ tông vào chúng ta; hoặc là họ bất cẩn, họ vô ý, hoặc là họ vụng về đến cái mức mà để cho cái xuồng nó tông vào chúng ta.
Nhưng mà đằng này, chúng ta không thấy ai trên đó hết, thì sẽ giận nữa không? Chúng ta bật cười một mình. Còn không thì nếu nó có, nó cũng giảm xuống rất là nhiều, bởi vì chúng ta nghĩ rằng mình bị xui, mình bị xui thôi chứ còn mình không biết chắc ai. Bên kia dưới xuồng cũng không có ai hết.
Thì cái nhìn về lý của ngã cũng như vậy. Khi mà các vị chửi tôi, chửi chúng tôi, chửi Uyên Minh, Uyên Minh nghĩ rằng ông đó, bà đó chửi tôi, thì có cái ông đó, bà đó mà chửi tôi, nó có cái tôi nữa, thì như vậy nó mới ra lửa. Tức là hai cái đá mà nó chạm vào nhau, nó ra lửa.
Còn đằng này, trong cái nhìn xuyên suốt của Phật pháp thì không có ông đó, cũng không có bà đó, cũng không có cái tôi. Nó chỉ là sự va chạm của các đơn thể danh sắc với nhau thôi.
Tức là ở bên cái danh sắc đó, nó có cái phiền não. Chính cái phiền não đó mới khiến cho nó nảy sinh ra những cái thân nghiệp, khẩu nghiệp không tốt.
Mà tại sao cái danh sắc đó chọn cái danh sắc khác, không chọn cái đối tượng khác để phô bày những cái thân nghiệp, khẩu nghiệp đó, mà lại chọn cái danh sắc này? Là bởi vì cái danh sắc này trước đây đã từng có những cái thân nghiệp, khẩu nghiệp không tốt ở đời quá khứ.
Cho nên đời này, cái danh sắc này, cái lục căn này mới là cái đối tượng để cái danh sắc khác nhìn và ghét. Nó mới chọn cái khối danh sắc này làm đối tượng để mà họ phô bày những cái thân nghiệp, khẩu nghiệp không tốt.
Còn nếu ngày trước cái danh sắc này mà không có những cái thân nghiệp, khẩu nghiệp bất thiện, thì đời này sẽ không bị bất cứ một danh sắc nào khác chọn làm đối tượng để mà họ chửi rủa đâu. Đó là một chuyện.
Thứ hai, ở trong Phật pháp không nhìn nhận có chuyện một cái gì đó trong cái danh sắc này tồn tại đời này qua đời khác. Không hề có.
Không có chuyện một cái gì đó trong cái danh sắc này tồn tại từ đời này qua đời khác, không hề có. Mặc dù hồi nãy chúng ta nói, chúng ta biết, các vị rất dễ hiểu lầm rằng trong Phật giáo hoặc là trong Duyên minh nhìn nhận là có một cái danh sắc từ quá khứ đi qua đời này, từ quá khứ, kiếp xưa đi qua kiếp này. Không phải. Mình ở đây không biết được trong room mình hiện giờ bao gồm những ai, gồm những người có học A-tỳ-đàm hay chưa. Hoàn toàn chỉ nói chuyện giống như là mắt thấy đằng trước mà nói thôi, chứ cũng không thấy ai ngoài trước mặt mình, nhưng mà chỉ bày một cách tận tình thôi đó.
Cái gọi là danh sắc, nó là danh sắc của kiếp này. Nó chính là hệ quả, là tác động từ một cái danh sắc quá khứ. Thí dụ như bây giờ tôi dùng cặp mắt của tôi thì khuynh hướng của phàm phu mình là con mắt mình thích nhìn cái gì mình thích nhìn. Cái gì mình thấy đẹp thì mình nhìn. Rồi lỗ tai mình thích nghe cái gì hay thì mình mới nghe. Rồi lỗ mũi mình thích đi tìm mùi thơm. Rồi cái lưỡi mình thích ăn ngon. Cái thân mình thích gì êm ấm, vân vân.
Thì chính cái thích đó của lục căn đời này sẽ tạo ra một cái lục căn đời khác cho kiếp sau, một cái lục căn của kiếp sau. Rồi qua kiếp đó, nếu chúng ta vẫn không tiếp tục tu hành nữa, chúng ta tiếp tục dùng cái lục căn ở đời đó để hưởng thụ nữa, thì chính lục căn mà nó tiếp xúc lục trần, mà không có tu học, nó sẽ nảy sinh ra lục ái. Chính cái lục ái đó sẽ tiếp tục tạo ra một cái lục căn khác nữa.
Chúng ta có thể hiểu như thế này: Mình ăn một trái xoài rồi mình đem hột xoài đó gieo xuống một chỗ đất thích hợp, thì về sau ở đó nó sẽ nảy sinh ra một cây xoài khác nữa. Cây xoài ở trên đó lại có trái. Thì những trái xoài mà mình ăn sau này không phải là trái xoài mà chúng ta đã ăn mấy chục năm về trước. Không phải. Trái xoài của đời này, của thế hệ này, không phải là trái xoài của thế hệ trước. Tuy nó không phải, nhưng mà nó là hệ quả, là kết quả có được từ cái hột này trước.
Cũng giống như chúng ta được cha mẹ tạo ra cái hình hài này thì chúng ta đâu phải là cha mẹ chúng ta. Cha mẹ chúng ta là cha mẹ, chứ cái hình hài này là do bố mẹ sinh ra. Rồi sau này, nếu mà chúng ta có gia đình, chúng ta tiếp tục có con, thì con chính là tác phẩm của chúng ta. Con không phải là chúng ta. Con là tác phẩm của chúng ta. Tuy nó không phải là chúng ta, nhưng nó là tác phẩm của chúng ta.
Thì chính mình là người tạo ra mình. Cái lục căn, hay là cái danh sắc, cái ngũ uẩn của đời trước, nó tạo ra cái thân này.
Thì cái danh sắc, cái lục căn hay là cái danh sắc, cái ngũ uẩn của đời trước nó tạo ra cái tâm vậy. Nếu một người hiểu lý vô ngã là người hiểu rằng cái lục căn đời trước nó tạo ra lục căn đời này, và nếu không có tu tập thì cái lục căn ở đời này nó tiếp tục tạo ra cái lục căn đời sau.
Trong quá trình đó không hề có một cái gì gọi là tôi, ta. Không có một cái gì chuyển từ đời này qua đời khác, giống như Bà-la-môn giáo họ hiểu rằng có một cái tôi, có một cái ta, có linh hồn. Cái linh hồn đó giống như con chim; khi cái lồng bị hư thì con chim mới bay bỏ cái lồng đó đi qua một cái lồng mới.
Nhưng mà ở trong giáo lý A-tỳ-đàm, ở trong Phật giáo, trong kinh điển Nam tông, thì không nhìn nhận có chuyện là có một cái tôi, có một cái linh hồn, hoặc có một cái A-lại-da thức đi từ kiếp này qua kiếp khác.
Tất cả các tâm của mình, tâm nào cũng vậy, tâm phàm hay tâm thánh, thì nó chỉ tồn tại trong một sát-na rồi nó mất, lúc đó một cái tâm khác xuất hiện. Trong một đời sống của mình có vô số sát-na tâm tiếp nối, sinh diệt liên tục. Vì nó quá nhanh, cho nên mình không thấy được. Mình nghĩ là nó có một cái tôi, có một cái ta, có một linh hồn thường hằng, bất biến, hết giờ này qua giờ khác. Nó chỉ có một cái linh hồn đó thôi, chỉ một cái tôi đó thôi.
Nhưng mà nếu chúng ta là một hành giả, chúng ta sẽ thấy rõ rằng cái tâm của mình nó không phải là đồng nhất. Vì sao? Vì có lúc nó vui, có lúc nó buồn, có lúc nó dễ chịu, có lúc nó khó chịu. Rồi có lúc nó thiện, có lúc nó ác, có lúc nó nghĩ về cái chuyện tốt, có lúc nó nghĩ về chuyện xấu.
Mà đừng nói đâu xa, ngay cái nội tâm của Yên Minh trong lúc đang giảng bài kinh này thì lúc này cũng khác, lúc khác cũng khác. Khi mà sắp sửa giảng đến cái chỗ khó hiểu đó thì Minh nhiều khi cũng hơi bực mình. Bực mình là sao? Tức là không biết rằng cái sự hy sinh của mình nó có đúng chỗ hay không.
Bởi vì trước mắt mình thực tình cũng không thấy ai hết. Mình chỉ ngồi mình giảng thôi, không biết người ta mở máy, người ta đi ngủ. Chỉ cần người ta không out thì mình vẫn thấy cái tên người ta ở đó. Mình vẫn thấy cái tên người ta ở đó chứ người ta đâu có mất đâu. Khi nào người ta off, người ta ra khỏi cái box thôi thì mới mất.
Người ta ở đó chứ, người ta đâu có mất. Khi nào người ta ra khỏi cái room thôi là mới mất. Chứ còn nếu mà người ta không có ra khỏi cái room, không thoát ra khỏi cái room Phạm Gia Trang, thì người ta vẫn tiếp tục, cái tên người ta vẫn còn đó.
Mình cắm đầu cắm cổ mình nói, mà nói những chỗ khó nhớ, khó hiểu, mình đã tìm cách cho người ta nhớ, tìm cách cho người ta hiểu. Đôi khi mình chỉ đang nói chuyện trước mắt mình, chỉ là cái máy thôi, và ở đầu kia thì người ta đang dắt người đi ngủ, mình cũng không thấy gì hết.
Chính cái sự bận tâm này cũng là cái vô thường. Tức là khi mình cầm cái mic lên, vài phút thì cái tâm mình rất là mát mẻ, nhưng được chút xíu thì mình bắt đầu thấm mệt. Rồi đó thì mình lại… Nhiều khi mình có những cái quạu.
Vậy là chưa kể là khi mình còn nhìn lên, mình đọc mấy con chat, mà trời ơi, mình còn dễ sân nữa.
Tại sao mình nói điều đó? Bởi vì mình muốn mượn bản thân mình để làm một cái ví dụ. Tức là có một cái tôi nào đó thì tự nhiên nó có cái phiền, hoặc nó có cái thích. Nó có cái thích, nó có cái bực, nó có cái thương, nó có cái ghét, có phải phân biệt không?
Nhưng mà đối với một bậc thánh đã đoạn diệt được cái ngã chấp thì các ngài không còn có cái bực mình hết nữa. Các ngài chỉ tự hỏi là mình đã sống trọn vẹn với chúng sanh hay chưa.
Cái tâm hồn của các bậc thánh đối với chúng sanh, như mô tả trong kinh, là cái tâm hồn của bà mẹ đối với con. Lúc nào cũng nghĩ có lợi ích cho chúng sanh là được rồi, còn mình sao thì cũng được.
Nhưng mà nếu một người phàm phu thì họ làm sao mà có thể vị kỷ, có thể vị tha, xả kỷ một cách tuyệt đối như bậc thánh? Cái đó rất là khó, bởi vì chúng ta có cái ngã chấp. Cái ngã chấp nó bỏ được.
Cho nên Đức Phật trong những kinh căn bản pháp môn, Ngài nói rằng một người mà chưa có hiểu, chưa có tu được tới nơi tới chốn cái đạo của bậc thánh, chưa có hiểu, chưa có hành được cái đạo của bậc thánh, thì có nhìn về cái gì đi nữa cũng nhìn qua cái lăng kính ngã chấp, cũng nhìn qua lăng kính ngã.
Có nhìn về cái gì đi nữa thì cũng nhìn qua cái lăng kính ngã chấp, cũng nhìn qua năm uẩn ngã. Thí dụ như mình có làm ăn, đi buôn bán, nghĩ rằng: “Cái này cho con mình, cái này mình đi mua nhà. Tiền bạc này đem về để nuôi vợ, nuôi con của mình. Mua cái nhà của mình cho cái nhà mình bự hơn, đẹp hơn, cho trong làng, trong xóm ai cũng biết mình.”
Rồi sau đó, khi mình làm ông chủ rồi, mình mong mỏi cho cái làng, cái xã của mình. Nếu mình có làm ông vua thì mình cũng mong mỏi có quốc gia của mình. Nói chuyện lên từ ngữ thì mình thấy mình có vẻ là người có trách nhiệm, nhưng mà thật ra trong lòng của mình, mình có phân biệt cái nào là tôi, cái đó là của tôi. Cho nên cái chức vụ, địa vị của chúng ta càng lớn bao nhiêu thì cái ngã của chúng ta càng lớn chừng đó.
Thí dụ như thời chiến tranh, một bà mẹ có hai đứa con, một đứa con đi lính ở vùng một, một đứa con đi lính ở vùng bốn. Mỗi lần coi báo hoặc nghe đài, mà vùng một có đụng trận, vùng bốn có đụng trận, thì bà mẹ có hai đứa con, không biết thằng vùng một nó có sao hay không, thằng vùng bốn nó có sao hay không.
Nhưng mà nếu bà mẹ có bốn đứa con ở bốn vùng chiến sự, thì mỗi lần bả nghe ở trên cao nguyên, Ban Mê Thuột có đụng trận, bả cũng lo nữa, vì bả không biết ở trên cao nguyên đó có chuyện gì hay không.
Rồi bây giờ, khi hết năm 1975, không còn ở Việt Nam, bốn đứa con đi vượt biên, thì bốn đứa đi bốn tỉnh khác nhau. Một đứa thì nó đi ở Bà Rịa, một đứa thì nó đi ở Nhà Bè, Tân Uyên, còn đứa thì nó đi ở biển Ba Động, Trà Vinh, còn đứa nó đi ở Bạc Liêu. Bả tiễn chân bốn đứa rồi, bả cứ nghe đài, nghe báo để coi cái vùng nào bị bão. Bả nghe ở miền Tây bị bão thì bả lo cho hai đứa ở biển Ba Động với Bạc Liêu; mà bả nghe miền Đông bị bão thì bả lại sợ cho đứa ở Bà Rịa hoặc là ở Nhà Bè.
Khi mà mình có nhiều cái để mình thương thì cái lo của mình, cái ái của mình, nó cũng vươn rộng ra. Cái ái nó vươn ra đến đâu thì cái lo nó vươn ra tới đó.
Rồi sau này, bốn đứa con đó đi qua tới Mã Lai, tới Indonesia, rồi được Mỹ, Pháp, Úc, Đức rước đi định cư ở bốn quốc gia khác nhau. Sau đó, bả nghe tụi khủng bố quậy. Nghe có khủng bố ở Mỹ thì bả biết ở Mỹ bả có đứa con, bắt đầu bả lo. Rồi nay mai bả nghe nói người Anh cũng chưa quên chuyện bị đánh, người Hồi giáo cũng trả thù người Anh, lúc đó bả lại lo cho đứa con ở Anh.
Thí dụ như vậy, U Minh muốn trình bày một vấn đề đó là: khi mà mình có cái thương, cái thích, nó vươn dài ra đến đâu thì cái lo của mình nó cũng vươn dài ra đến đó.
[44:42] Có cái thương, cái thích thì nó vươn dài ra đến đâu, cái lo của mình cũng vươn dài ra đến đó. Thí dụ như mình nghĩ, mình không nghĩ về mình nhiều lắm thì mình sẽ bớt khổ. Tại mình chẳng có gì nhiều thì mình cũng sẽ bớt khổ.
Còn vì mình có nhiều tài sản, hoặc không phải tài sản mà có nhiều cái để mình lo, chẳng hạn như mình không có tài sản gì, chỉ có mấy cuốn sách thôi. Mà nếu mình đi đâu ngoài phố, lát sau về tới đầu hẻm, mình thấy gần gần chỗ ở của mình sao nó bốc khói, tự nhiên mình cũng lo. Mình chợt không biết nhà mình có bị gì không. Mình thì yên tâm rồi, mình tắt lò, tắt bếp rồi, nhưng không biết quanh hàng xóm có ai đốt trái nhả trái bay qua chỗ mình ở hay không. Thí dụ như vậy đó cũng là cái lo mà.
Mình có cái thích thì mình sẽ có cái lo. Có cái thích, cái lo ở đâu thì cái ngã chấp nằm ở đó. Mà ngã chấp nằm ở đâu thì có cái lo nằm ở đó.
Phàm phu thì từ kiến thức cho đến địa vị, văn hóa, xã hội, những cái thành đạt ở trong con đường công danh vân vân, bất cứ cái gì mà phàm phu có, thì phàm phu nhìn những cái mà mình có đó bằng cái nhìn của ngã chấp: đó là tôi, đó là của tôi.
Mà khi phàm phu thấy như vậy rồi thì tất cả những cái phàm phu có chỉ vừa đủ để làm cho người phàm phu thấy khổ nhiều hơn là được thấy an lạc. Trong khi đó, đối với các bậc thánh nhân thì những gì mà các ngài chứng đắc, những gì mà các ngài thành tựu được, các ngài vẫn nhìn thấy nó chỉ là cái gì xuyên khối mà thôi. Cho nên trong kinh nói tất cả chư Phật Chánh Đẳng Chánh Giác thành đạo như vậy.
[46:25] Ngoài ra, bảy tuần lễ đầu tiên, ngồi quán sát và hoan hỉ trong những gì mà mình vừa giác ngộ, thì sau bảy tuần lễ đó, các vị đều có ý muốn Niết-bàn.
Thầy nghĩ vì hai lẽ. Một là đối với một người không còn phiền não nữa thì giống như một người, mình dùng cái chữ của mình bây giờ là không còn nhựa sống nữa. Sự sống không còn cái gì để mà đam mê nữa, thì các ngài thấy rằng cái chuyện kéo dài thời gian mà sống chỉ là không cần thiết.
Các ngài không phải là chán đời. Xin hiểu cho, các ngài không có ý chán đời. Nhưng có một điều là các ngài thấy nó không cần thiết. Cái đó mình đừng đem cái suy nghĩ đó của chư Phật so sánh với mấy người tự tử, rồi mình nói: “Ồ, như vậy là chư Phật với mấy người tự tử có suy nghĩ giống nhau?” Không phải.
Các ngài là những người đã hoàn tất được đại sự. Khi hoàn tất đại sự rồi thì các ngài thấy không còn gì để tha thiết nữa. Còn mình tự tử là vì sao?
Hoàn tất đại sự rồi thì các ngài thấy không còn gì để tha thiết nữa. Còn mình tự tử là vì sao? Là vì mình, sau khi mình hưởng thụ, chán chường, mình không còn cái gì để mình hưởng thụ, mình thưởng thức nữa, cho nên mình mới chán. Hai cái đó mới nhìn qua thì nó giống, nhưng hiểu kỹ thì nó khác nhau nhiều lắm.
Cái thứ hai, lý do thứ hai mà các ngài muốn nhập diệt đó là bởi vì các ngài thấy cái pháp mà các ngài chứng đắc rất khó hiểu. Nếu đem trình bày cho chúng sanh thì có được bao nhiêu người hiểu đây? Khi mà hiểu ra, thậm chí Phạm thiên phải hiện xuống thỉnh Đức Phật tiếp tục trụ thế để hoằng dương Chánh pháp đó.
Nãy giờ là tôi đang nói theo kinh điển Pali nhé. Đừng có đem Pháp Hoa hay Lăng Nghiêm ra mà thắc mắc: “Ủa, tại sao trong mấy cái kinh đó không có nói những điều này?” Thì tôi xin nói rõ là tôi đang nói theo trong kinh điển Nikāya.
Nếu mà nói trên phàm phu mình, mình chứng đắc được cái Nhất thiết trí, là hiểu được tất cả mọi pháp như Đức Phật, thì thần thông của mình được như Đức Phật, trí tuệ của mình được như Đức Phật. Mình sẽ nghĩ rằng mình rất là hạnh phúc, mình vui lắm, mình vui cả ngày, bởi vì chỉ cần mình hiểu được một phần tư của trời đất này là đã thấy vui rồi. Đằng này Đức Phật, cái gì Ngài muốn biết thì Ngài cũng có thể biết được, từ vô thủy luân hồi quá khứ cho đến vô tận tương lai. Cái gì Ngài muốn biết thì Ngài cũng biết.
Trong kinh nói rằng: Đức Như Lai hướng tâm đến điều gì thì Ngài lập tức biết ngay điều đó. Trí tuệ của Ngài là vô ngại, không có bị gì vướng, không có bị kẹt.
Nhưng mà khi mình hiểu được mọi chuyện như Đức Phật thì mình cũng sẽ có cái nhìn giống như Ngài, tức là mình không còn tha thiết nữa.
Tôi nhớ năm 1993, tôi có dịp về miền Tây, bên miền Nam, lúc tôi chưa có đi Mỹ. Có một số Phật tử ở dưới phà Mỹ Thuận mời tôi về giảng ở làng của họ. Họ có hỏi tôi vậy chứ: Họ đi nghe giảng ở chùa, các bậc Thánh không còn nghi ngờ, không còn thắc mắc về vấn đề thế giới, vấn đề vũ trụ nữa. Vậy tại sao các vị lại không còn thắc mắc?
Dĩ nhiên, tôi nhớ tôi đã trả lời những cái này. Tôi nói: “Tôi không có phải là Thánh.” Dĩ nhiên, tâm trạng của các bậc Thánh mà tôi là người phàm, làm sao mà tôi có thể trình bày? Nhưng mà tôi có thể y cứ trên Phật pháp mà trả lời như thế này:
Trong kinh, Đức Phật đã xác nhận là ở đâu có danh có sắc, ở đâu có cái gì đã sanh thì nó phải có diệt. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cái gì mà có hình tướng thì cái đó chỉ là sương khói hư vọng mà thôi.
Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cái gì mà có hình tướng thì cái đó chỉ là xương khói hư vọng mà thôi.
Mình không biết, mình không nhớ những điều đó, thì mình đi du lịch được một nước, tham quan được một thắng cảnh, mình thấy thích thú, đam mê. Nhưng các ngài giống như là những người đã từng trải cuộc đời, không có cái gì đáng để các ngài phải tận tâm nữa.
Giống như một người từng lăn lóc cuộc đời, nơi nào cũng đến, từng nếm đủ buồn vui của cuộc đời. Bây giờ có đi vào những chỗ như sở thú, hoặc những chỗ vui chơi, giữa lúc mọi người đang cười vui hỷ hả, thì đừng nói đến bậc Thánh, chỉ là người phàm thôi mà từng trải cuộc đời, ngồi nghĩ rằng: “Sau chuyến đi này về, mình phải tiếp tục lo chén cơm manh áo cho gia đình.” Chỉ nghĩ bây giờ tiện nó mất vui rồi, không còn tha thiết nữa, thì các bậc Thánh cũng vậy.
Khi các ngài nhìn thấy cuộc đời này là vô thường, khổ, vô ngã; thấy vô số chúng sanh bị lặn ngụp, đắm trôi trong dòng sanh tử luân hồi; thấy vô số chúng sanh bị sa đọa, trầm luân trong cảnh khổ, các ngài thấy rằng chuyện tái sanh lại cảnh người và tái sanh vào cảnh trời rất là khó khăn, rất là khó khăn.
Một khi nhìn thấy được chỗ đó thì tự nhiên lòng đam mê cuộc sống của mình không còn nữa, không còn thấy nó hấp dẫn.
Tôi nhớ, tôi ngồi giảng kế bên một con rạch. Tôi lấy tay chỉ vào con rạch và hỏi: “Từ đây mà vô trong ruộng, con rạch này nè, từ đây vô ruộng là bao xa?” Mấy người ngồi bên cạnh nói là mấy cây số.
Tôi hỏi: “Cây cỏ và những con vật sống ở con kinh này, như con còng, con cua, con tép, con cá ở dưới đây, các vị có biết tên hết không?”
Họ nói là gần như biết hết. Thí dụ như dưới đó có con gì, cỏ gì thì họ lớn lên ở miền đó nên họ biết.
Rồi tôi hỏi họ: “Có bao giờ vì một cái thắc mắc mà họ phải lặn lội, lặn hụp trong con rạch, từ ngoài đầu rạch vô tới ruộng một cây số, để móc, để mò trong từng cái hang cua, hang trạch, mà ngắm nghía coi có bao nhiêu con ếch, bao nhiêu con nhái, có bao nhiêu bụi cỏ lục bình, bao nhiêu bụi lát, bao nhiêu bụi điên điển, bao nhiêu ngâm, bao nhiêu rau mát hay không?”
Thì họ cười, họ nói: “Đâu có. Tại vì chỉ cần biết vậy đủ thôi. Biết từ đây đó là một cây số, và ở trên bờ thì gồm có bụi ô rô, bụi lát, bụi năng. Ở dưới mương, dưới nước, mặt nước thì gồm có lục bình, rau mát. Vậy biết vậy là đủ rồi, chứ đâu có cần phải lặn hụp vậy đó mà đi tìm kiếm, soi mói từng chỗ, từng nơi, từng chi. Nó cũng chuyện đó thôi.”
Cần phải nặng hợp vậy đó mà đi tìm kiếm, soi mói từng chỗ, từng nơi, từng chi tiết, nó cũng chuyện đó thôi. Thì tôi, sau khi tôi trình bày, tôi hỏi họ xong và họ đã trả lời như vậy, thì tôi nói rằng chúng ta cũng có thể hiểu ở trong cái pháp gọi là không hoài nghi bậc Thánh, nó gần giống như vậy.
Các ngài thấy ở đâu cũng vậy thôi. Ở đâu cũng là vô thường, khổ, vô ngã. Ở đâu cũng chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ở đâu cũng là sanh, già, đau, chết. Thì các ngài không còn nghi vấn, không thắc mắc gì mấy cái đó.
Đối với phàm phu, vì quá quan trọng những cái mình có, cho dù mình có làm giảm bớt đi nữa thì mình cũng vẫn nghĩ rằng mình là mình, tôi là tôi. Cho nên khi người ta xúc phạm đến mình, mình mới thấy bị sốc, vì mình còn thấy bản thân mình quan trọng quá. Mình thấy chuyện gì nó cũng là quan trọng cả.
Còn nếu như đối với một bậc Thánh, các ngài nhìn thấy vạn pháp trong một cái nhìn hiểu biết thì không phải như vậy nữa.
Và có lẽ ở đây chúng ta cũng nên nhắc lại một câu gần như là thành ngữ ở trong nhà đạo của mình mà thường mình cũng hay nghe, đó là: Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.
Là sao? Bồ Tát cũng là một chúng sanh phàm phu như mình thôi, nói theo kinh điển Nam tông. Chứ Bắc tông thì họ phân tích là Bồ Tát còn cao hơn A-la-hán, thì cái chuyện gì của họ. Nhưng bên Nam tông, Bồ Tát cũng là một chúng sanh phàm phu, một trăm phần trăm như mình, không có cái gì khác. Chỉ có một điều là các ngài có một lòng đại bi với chúng sanh, có một trí tuệ rộng lớn, hiểu ra được cuộc đời này trên một bình diện sâu và rộng hơn, bởi vì các ngài là những vị Phật tương lai.
Bồ Tát sợ nhân là sao? Tức là khi có điều kiện tạo tội lỗi, dầu nó hấp dẫn đến mấy, các ngài cũng từ chối, bởi vì đó là hành động tội lỗi thì không làm. Dù vui cỡ mấy, hạnh phúc đến mấy, mà đã tội lỗi thì không có rớ tới. Đó là Bồ Tát sợ nhân.
Nhưng mà khi nhân gặp quả ác, ví dụ như gặp ai đó đánh, thì các ngài tỉnh bơ. Còn phàm phu mình lại khác. Phàm phu mình, khi có điều kiện để làm ác, chỉ cần nó vui là mình làm. Cái đó gọi là lúc làm nhân, mình không có sợ, nhưng lúc gặp quả thì mình lại sợ.
Tức là khi được ai chửi, đánh mình thì mình thấy sốc. Còn lúc tạo nhân, mình không có sợ. Như là mình chửi người ta là Tiểu thừa, là bại chủng, là này là nọ thì được. Nhưng nếu người ta nói mình là lai căng, là Bà-la-môn giáo, mình là tà kiến, mình là chấp thường kiến, chấp đoạn kiến, vân vân.
Theo Duy thức là chấp thường kiến, theo Trung quán là chấp đoạn kiến. Tin tưởng vào Tây phương Cực lạc là thường kiến, vân vân.
Theo Trung Quán, chấp Đoạn kiến, tin tưởng vào Tây phương Cực Lạc là Thường kiến, vân vân. Thí dụ ai nói mình như vậy đó là mình sốc chịu nổi à? Mình nổi thùng lên, nổi sùng lên. Lúc đó mình quên mất cái Đại thừa của mình. Nhưng mà bình thường thì mình phê phán người ta là Tiểu thừa thì được.
Hôm hôm trước, ở đâu đó, trong một room nào đó, chúng tôi đã dùng cái ví dụ này, tức là Bồ Tát sợ nhân, chúng ta sợ quả. Hiệu quả là như vậy. Người lớn trước khi đi ngủ đánh răng là vì không muốn đau răng, nhưng khi bị đau răng thì không có khóc. Còn trẻ con thì bất cứ lúc nào có kẹo là ăn, kể cả trước khi đi ngủ. Gặp kẹo là chỉ biết ăn cho sướng miệng mình thôi, nhưng khi nào bị đau răng thì bắt đầu khóc.
Ở đây, mình có thể tạo ví dụ: Bồ Tát chính là người lớn, biết giữ vệ sinh cho mình, nhưng lúc răng nhức thì không có khóc. Còn trẻ con thì không biết vấn đề vệ sinh. Lúc nó tạo nhân thì sợ, nhưng khi gặp quả thì lại không có đủ can đảm để gánh chịu.
Phàm phu mình trong cái nhìn ngã chấp cũng vậy. Tại sao có người hỏi chúng tôi: “Tại sao cuộc đời này trong kinh nói đời là biển khổ?” Lý do rất đơn giản là bởi vì chúng ta có khuynh hướng ác nhiều hơn thiện. Chúng ta thích làm ác nhiều hơn thích làm thiện. Cho nên cuộc đời này, mình mở mắt ra là đã thấy cảnh bất như ý nhiều hơn là cảnh toại nguyện. Thế là cuộc đời nó khổ.
Mà nếu mình không hiểu chỗ này, mình nói Phật giáo là cái đạo bi quan. Phải nói rất nhiều học giả đã mắc vào cái lầm lỗi đáng tiếc này khi nói Phật giáo là bi quan, bởi vì mình thấy trong kinh lúc nào cũng nói chuyện cảnh già, đau, chết hết. Như vậy là Phật giáo bi quan hay không? Phải nói là không phải. Đức Phật nhìn nhận cuộc đời này có hạnh phúc, nhưng ngài cũng nói thêm là không có hạnh phúc nào bền hết. Cái gì có sanh thì nó có diệt, chứ không phải là ngài không thấy.
Mình đâu có hơn được ngài mà mình còn thấy được những hạnh phúc thế gian, làm sao mà ngài không thấy? Ngài vốn là một ông vua mà. Ngài thấy chứ. Nhưng có điều là ngài hiểu được một chuyện đó là: nó có thì nó phải mất, mà nó có rồi thì nó không bền.
Sau khi mình hiểu được chuyện đó rồi thì mình mới hiểu là đạo Phật không phải là bi quan như trước giờ mình vẫn nghĩ.
Cái chuyện đó rồi thì mình mới hiểu là đạo Phật không phải là bi quan như trước giờ mình vẫn nghi.
Ừ, tôi tóm tắt lại cái bài kinh căn bản pháp môn này là trong đó Đức Phật trình bày 24 quan điểm ngộ nhận của phàm phu. Đặc biệt là Ngài gom cả cái vấn đề Niết-bàn vào trong đó. Ngài nói, kể cả vấn đề Niết-bàn, phàm phu khi suy nghĩ về Niết-bàn cũng tìm cách ráp, đặt vào đó một cái suy nghĩ về tôi: “Tôi thấy tôi là Niết-bàn, Niết-bàn là tôi”, trong vô có Niết-bàn, trong Niết-bàn có tôi. Thì người như vậy sẽ không bao giờ hiểu được Niết-bàn này gì cả.
Rồi đất, nước, lửa, gió cũng vậy. Vị đó nhìn về đất, nước, lửa, gió, nhìn về các cảnh trời, nhìn cảnh nhân thiên, vị đó cũng vẫn có một cái suy nghĩ dính đem cái mình, đem cái tôi, gắn vào trong đó. Người như vậy thì sẽ không hiểu được gì về cái thế giới này cả.
Mà để hiểu về thế giới này phải là một người có cái nhìn khách quan. Cuộc đời nó ra sao thì thấy nó như vậy, và mình không có can dự vào nó. Mình giống như là mình nhìn đời mà không qua cặp kính màu. Bữa nào mình buồn thì mình thấy cuộc đời nó buồn, mà bữa nào mình vui thì mình thấy cuộc đời nó vui. Là vì sao? Vì mình nhìn cuộc đời qua chính cái lăng kính của cái tôi, qua lăng kính tôi.
Còn bậc thánh thì không phải như vậy. Chính từ cái chỗ này, nó có một điểm khác biệt rất là lớn giữa phàm và thánh, giữa người có tu tập pháp thánh nhân và những người không có tu tập pháp của thánh nhân, giữa những người có nghe pháp của bậc chân nhân và những người không có nghe pháp của bậc chân nhân.
Nội dung bài kinh này là Đức Phật muốn nhắm đến cái chuyện hướng dẫn cho 500 vị tỳ-kheo đa văn, bác học kia thấy rằng, cho dù có học giỏi cách mấy đi nữa, thì cái giỏi đó, những hiểu biết đó, nếu vẫn bị nhìn, bị đánh giá, bị nhận xét thông qua cái nhìn ngã chấp của phàm phu, thì những kiến thức đó chỉ có hại cho mình nhiều hơn là có lợi cho mình.
Ở trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật có dùng cái ví dụ là một người bắt rắn mà không biết cách thì sẽ bị rắn cắn như thế nào. Đối với Phật pháp, không biết cách nắm giữ Phật pháp thì cái chuyện hiểu biết Phật pháp đôi khi lại có hại cho mình.
Đó là Ngài dùng hình ảnh của một người đi bắt rắn. Trong bài kinh, nó gọi là Alagaddūpama, tức là ví dụ về con rắn. Ngài có dùng cái ví dụ đó: một người bắt rắn mà không biết cách bắt, nắm nhầm chỗ thì con rắn nó cắn. Thì điều đó như thế nào? Học Phật pháp mà không biết cách, không hiểu được đúng cái ý của Phật pháp thì coi chừng nó mắc vào một cái tà kiến khác, nguy hiểm hơn nữa.
Phật pháp thì coi chừng nó mắc vào một cái tà kiến khác nguy hiểm hơn nữa. Cho nên, bài kinh này, ngài nhắm vào mục đích cho mình thấy rằng tất cả chỉ là phương tiện mà thôi. Ngay cả đất, nước, lửa, gió; những kiến thức của mình về các cõi trời, kiến thức của mình về các cõi nhân thiên, kiến thức của mình về danh sắc, thì tất cả những cái đó chỉ là phương tiện, nó chỉ là đò qua sông mà thôi.
Còn nếu mà mình muốn ôm giữ nó vào mình thì cũng giống như một người thấy một miếng thủy tinh đẹp quá, rồi đưa tay nắm chặt nó lại trong bàn tay, thì lập tức cái chai, cái tay mình bị đứt và bị chảy máu như thế nào; đối với Phật pháp, mình có hiểu biết nhiều về Phật pháp, được chấp định gì đó rồi mình chấp chặt vào trong đó thì mình sẽ bị chảy máu. Chứ còn những cái đó không có ảnh hưởng gì hết.
Bài kinh Căn Bản Pháp Môn, lẽ ra nếu đem phân tích thích đáng thì có một nội dung rất là sâu sắc. Nhưng vì tôi giảng bài kinh này cho một đại chúng mà tôi không thấy hấp dẫn, cho nên tôi nghĩ rằng có lẽ chỉ một bài giảng đêm nay cũng đã kết thúc nội dung của bài Kinh Căn Bản Pháp Môn.
Các vị muốn đọc sâu, đọc rộng hơn thì có thể đọc thẳng vào bản Trung Bộ Kinh, tập 1, của Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali ra tiếng Việt. Còn các vị nào có điều kiện thì đọc thêm phần chú giải của kinh này.
Phần chú giải có tựa Pali là Papañcasudani, Papañcasudani của Hội Pali Text Society. Nếu đọc bản tiếng Thái hay bản tiếng Anh thì cứ lên Internet, đánh đúng như vậy rồi tìm, sẽ thấy bản kinh đó. Trong đó, các vị A-la-hán giải thích bài kinh này như thế nào.
Chứ tự mình nghe giảng mà mình không biết xuất xứ của những bài giảng nằm ở đâu thì bây giờ tôi nói là những gì tôi giảng nãy giờ về Kinh Căn Bản Pháp Môn.