Trung Bộ Kinh (Buổi 03): Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Phần 1) - Sư Giác Nguyên (Toại Khanh)
Nội dung bài giảng
500 vị tỳ-kheo này với một cái ngã, chắc rằng mình chuyển đời, với kiến thức ngoài đời mình đã có, với kiến thức đạo mình đã có, và mình không còn cần thiết gì nữa hết, sống thỏa mãn như vậy. Đức Gotama, Đức Phật, mới nói rằng tất cả những cái hạnh phúc, những cái ảo tưởng, những ngộ nhận của mình trong cuộc đời này, nó bắt đầu từ những cái rất là đơn giản mà mình có được. Ví dụ như là đất, nước, lửa, gió; hoặc là mình sinh lên làm một vị thiên tử hay sinh lên làm một vị Phạm thiên; hoặc là mình trên đường tu hành mà mình có giới, định, tuệ đi nữa. Nhưng mà nếu mình không khéo suy tư theo cách nghĩ của bậc Thánh thì mình sẽ trở thành tù nhân của chính những cái đó.
Đạo của Ngài là đạo giải thoát. Nếu mình càng tu mà mình càng bị trói buộc thì có nghĩa là mình đi ngược lại cái đạo của Ngài.
Bây giờ, có một lần đó, bà Gotami vào gặp Phật. Bà hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn, ai cũng có thể nói rằng lời mình nói là lời Phật. Vậy thì, bạch Thế Tôn, chúng con sau này, khi Thế Tôn không còn nữa, thì chúng con có thể dựa vào đâu để xác định đâu là lời Phật và đâu không phải là lời Phật?”
Ngài nói rằng có tám cái tiêu chuẩn mà hàng đệ tử của Như Lai về sau, khi ta không còn nữa, có thể dựa vào đó để xác định được đâu là lời Phật và đâu không phải là lời Phật.
Tám cái đó là gì? Cái lời nào, cái đạo, cái pháp môn nào mà càng tu, mình càng thấy an lạc thì đó là lời Phật. Càng tu mà mình càng thấy mình muốn xa rời đám đông thì đó là lời Phật. Càng tu mà mình càng thấy người mình dễ nuôi, ăn cái gì cũng được, sống dạng gì cũng được. Còn mình càng tu mà mình thấy mình càng rắc rối, xài đồ phải đúng cái đồ đó mới xài, ăn cái đó, uống ngay đó...
Em biết lúc này tụi tôi uống nước gián nè, biết nước gián không? Nước Dr Pepper. Ngoài đường đập gián bỏ vô. Tôi rất là khó uống cái nước đó mà tụi này uống được. Cái đạo này càng tu mình càng trở nên tinh tấn.
Cho nên, thí dụ như ai hỏi tôi vấn đề: “Sao con ngồi thiền, con gặp trong sách kia thì dạy là mình phải kiết già?” Người dạy kiết già, người dạy bán già. “Bán gì, kiết không?” Con ngồi chẳng hạn là kiếm bóng thôi.
Hỏi tôi thì bạch sư, mình ngồi thiền thì mình ngồi... Mà cái băng hư hô gì mà vui nhất là đừng gai, mà cái băng hư hô nguy hiểm lắm. Ông ấy nói vui lắm đó. Nói chuyện vui, nhưng mà vui chứ đừng có ý chọc.
Cái người mà giúp tôi nhiều và tôi thương nhiều là người miền Trung, đặc biệt là Đà Nẵng. Họ có những phát âm vui lắm, giống như là: “Ba đồng một mớ trầu cau.”
Sao anh không hỏi những người là con? Mà chú cho không chơi cái chim lọ đâu, chơi cái chim nghe rớt khó phải. Chú cho mới chơi cái chày mà lọ rứa thì chú cho mày chơi cái gì mà kỳ vậy? Mày chơi cái chày. Mình chơi cái gì mà nghe nó rót rót là thấy mình chơi cái chuyện nghĩa nó khác, rất là khác dấu này hoài à.
Bây giờ cũng còn kiên định. Bây giờ đặt nguyên con để thầy biết mà. Một người phàm phu với ý hướng giải thoát, nếu không khéo suy tư thì vẫn nghĩ...
Nhưng bây giờ đặt nguyên con để thầy biết, một người phàm phu với ý hướng giải thoát, nếu không khéo suy tư thì vẫn nghĩ: họ thấy trong cứu cánh Niết-bàn có cái bóng dáng tự ngã của mình bỏ vào.
Họ thấy trong Niết-bàn có cái bóng dáng tự ngã của mình. Phải có một mối liên lạc giữa tự ngã của mình với cứu cánh Niết-bàn. Có một mối liên lạc giữa tự ngã của mình với cứu cánh Niết-bàn:
“Trong ta có Niết-bàn, trong Niết-bàn có ta. Ta có Niết-bàn, Niết-bàn là của ta.”
Dĩ nhiên, không ai nghĩ cụ thể như vậy. Nhưng nói một phần tiếp cận thì nó là như vầy: Khi mình nghĩ về cứu cánh đó, mình nghĩ nó là của mình.
Thật ra, Niết-bàn, nói một cách nôm na, có một số người khi bị một sai lầm lớn, là khi được hỏi Niết-bàn là gì, họ nói Niết-bàn là mất hết, không có gì hết. Không phải. Nên nhớ, Niết-bàn là một trong những chân đế pháp. Nó là một trạng thái, chứ không phải là mất hết.
Nó là một trạng thái pháp. Giống như đất là cứng mềm, nước là tan ra, quyện tụ, lửa là nóng hoặc lạnh, gió là rung động và chuyển phòng, thì Niết-bàn cũng có một trạng thái. Niết-bàn là vắng mặt, thanh tịnh. Mà còn hỏi vắng mặt thế nào, thanh tịnh thế nào, thì phải nói là chỉ có một vị thánh nhân mới biết.
Nhưng mà có một điều mình có thể hiểu một cách nôm na, để mình có thể an lòng mình tu học, đó chính là có cái thân tứ đại này là một cái khổ, có lục căn này là một cái khổ, có ngũ uẩn này là một cái khổ, có mười hai xứ là một cái khổ, có mười tám giới là một cái khổ. Và Niết-bàn chính là sự vắng mặt của tất cả những cái đó.
Ngày nào còn tham, sân là khổ. Mà hết tham, sân rồi, nhưng nếu còn ngũ uẩn cũng là cái khổ. Và Niết-bàn chính là sự vắng mặt của cái đó. Còn phải vắng mặt như thế nào thì mình phải nói rằng đây là cảnh giới của bậc thánh, mà mình không hiểu được.
Nhưng mình nên nhớ chắc chắn một điều là nó không phải là một cảnh giới, một cõi. Nó không phải là một cõi như Tây Phương. Nó là một trạng thái, một mô thức trạng thái thanh tịnh.
Bây giờ nói một cách nôm na, đối với mình, khổ vì ngũ uẩn, vì phiền não, mà bây giờ mình hiểu là từ đây, sau cái hơi thở cuối cùng, sau cái giây phút lìa đời này, mình sẽ không còn bị khổ nữa.
Có khi nào trong đời sống hiện nay của mình, mình cảm nhận có một lần nào đó mình... Có chứ, đó là hữu duyên. Nhưng mà phải là một sự cảm nhận của bậc thánh. Còn mình chỉ là tưởng tượng thôi, mình chỉ là tưởng tượng.
Bởi vì trong kinh nói có tất cả là có bốn trạng thái diệt. Thứ nhất là tâm mình phình ra như vậy đó, rồi mình dùng một thiện pháp nào đó để phủ lấp lên nó.
Giống như là tôi đang giận quá, để tôi tìm một cách nghĩ nào đó. Tôi tìm một cách nghĩ nào đó, nếu mà tôi nghĩ lại ngay lúc đó thôi. Cô biết rằng tôi có nhiều cái học pháp, là tôi cao thượng, tôi thương người. Do tôi thương người, tôi nghĩ: “Tôi giận cô Huỳnh chuyện gì đó, cô nói tôi câu gì đó mà tôi giận.”
Sau đó, tối nữa tôi về, tôi suy nghĩ: “Biết đâu không phải cô nói ý đó, hiểu không? Mà có lẽ cô nói ý tốt.” Thì không phải là tôi thương cô Huỳnh, mà để mà tôi nghĩ là cô Huỳnh nói tốt thôi. Nhưng mà để tôi tự chữa bệnh và cười vậy vậy thôi.
Thì cái... cái... cái...
Mà tôi nghĩ là cô Huỳnh nói tốt thôi. Nhưng mà để tôi tự trị bệnh và cưới vậy thôi.
Cái này có năm cách. Cách thứ nhất là ta đối trị cái… Tức là sự an tĩnh, sự an tịnh. Khi nào tôi buồn quá, tôi có nhiều kinh nghiệm lắm. Tôi buồn quá đó, tôi nghĩ: giả sử như chiều nay mình vừa đi đưa đám tang một người thân của mình, người thân sau cùng của mình, thì tự hỏi cảm giác đó với cảm giác bây giờ, cái cảm giác nào dễ sợ hơn, có hiểu không? Thì lúc tôi bớt buồn liền.
Lúc tôi đang buồn quá, tôi nghĩ: ngày tôi đi, cậu đưa ra phía trường, mẹ đưa ra phía trường. Mẹ muốn là mình sẽ… thì mình còn mẹ, mình trở về đó. Mà nếu bây giờ mình có thấy mình khùng, mình có thấy mình chết, thì sau này mình về mình không gặp lại hai người nữa. Mình nghĩ như vậy, cái tôi tự an toàn. Chứ tôi cũng có cách giải thoát nữa.
Mà nhiều người rất là hiểu lầm. Sẵn rồi, tôi mượn lớp học tôi nói: tất nhiên khi tôi buồn một vị nào đó, nó có bảy cách để mà chấp nhận nó, chứ không phải chỉ có một cách.
Thế nào là bảy cách? Có những trường hợp mà mình diệt trừ phiền não. Một cách là mình tránh xa nó. Có những khi phiền não đến lớn quá, mình phải bỏ nó, mình đi thôi, chứ mình không ở đó nữa. Có những phiền não mà mình phải vượt qua nó bằng cách là mình đối diện nó. Rồi có những phiền não mình diệt trừ nó bằng cách mình suy nghĩ thấu đáo. Rồi có những phiền não mà mình phải diệt trừ nó bằng cách là mình tìm một sự an lạc.
Có nghe nó lạ không? Tức là trị phiền não, nhưng có những phiền não đó mình chỉ vượt qua nó bằng sự an lạc của bản thân.
Ví dụ một mình đi tu, ăn uống không đầy đủ, y áo mặc mà loại vải bố, vải thô đó bị nhám, bị thô, ngứa. Lúc này mình phải đi tìm ở một chỗ nào đó một loại vải đàng hoàng hơn để nó dễ chịu. Hoặc là khi ăn uống thiếu thốn, ốm rộc hoặc bị phù thủng, bệnh hoạn, thì nên đi đến chỗ nào mà vật thực đầy đủ, đồ phụ.
Thí dụ như ở Việt Nam mình, nếu bị suy miền Trung mà đi Bắc khó khăn, đi về miền Tây thì khỏe lắm. Miền Tây, trời ơi, trái cây rồi nữa, nhiều lắm. Có nhiều cái cảnh mà sư cậu tôi nói: bây giờ sư già rồi mà sư nhớ lại thời trẻ, sư vẫn vui.
Sư nói đi Bắc ở Bình Đông, nó thương người như mấy bây giờ rồi đó. Bình Đông, Bình Đông cầu số hai, cầu mấy… Hồi đó bên cái xóm đó, tôi ở đó ba năm. Có mấy khu vườn mà bây giờ họ làm nhà. Bây giờ giá nhà mắc lắm, nhà hết rồi.
Sư cậu nói, nhiều khi mình đi Bắc, nói sư bác, cái nó ở trong rào á, cái nó hái trái, nó hái “tọc tọc”, xong cái lòng nó đưa ra ngoài, nó đòi làm. Có nhiều cảnh nó vui vui, tức là nắng sớm bình minh giữa làng. Có ông sư đi Bắc rồi có một người, họ hái xong rồi họ đưa cái lòng ra ngoài, rồi họ nghiêng vô bác mình.
Sư ở phần 5 hay chỗ phần 5?
Bác rồi có một cái người, họ hái xong rồi họ đưa cái lồng ra ngoài, rồi họ nghiêng vô bác mình. Sư ở phần 5 hay chỗ phần 5? Phần 5, có ông Phật nằm dài trước phóng mình. Lương Minh Cang, không ai biết gì hết trơn, mà nó là một cái đảo. Cái mình sống, mình đâu có loại đảo như vậy.
Đấy, tức là có những cái phiền não của những làng hoặc mà mình không có, như phải là một hướng giải quyết nó. Như có lần trên truyện, câu nói của Sư Thanh mà mình có nói, tôi rất là thích, mặc dù câu nói nó đã có trong kênh rồi. Chỉ nói, đối với phàm phu mình là mình đừng có nói đến chữ “trừ”, mà mình phải nói đến chữ “tránh”.
Cái gì đâu rồi? Rồi rồi. Cái gì nó không có? “Tránh” à? Cái gì mình nói “lửa gần rơm” là được, thôi dẹp đi. Rơm thấy nó, rơm ở đâu thì hỏi: “Đây có lửa không?” là dẹp liền. Chứ đừng có nói: “Thôi, để tui ăn cơm, cho tui dẹp.” Ăn cơm thì nó đã cháy xong ở nhà rồi, nên phải nói rõ.
Tôi nói cái miệng này bằng cả máu xương của tôi. Có nhiều khi tôi nói, tôi chưa có chứng đạo, chứng quả, nhưng mà nói về thế gian pháp, tôi nói bằng sự giác ngộ của tôi. Tôi phải nói như vậy.
Có nhiều cái, ngay từ đầu mình không tránh. Chắc học với du sư lúc mà sinh 50 tuổi hay là 60 tuổi chắc còn hay hơn. Ừ, đại dục nó dựa sự nhiều kinh nghiệm hơn nữa. Chắc lúc này tôi cũng khùng luôn. Buồn quá, khùng.
Cái này nó... Đừng có gặp chuyện này nữa. Khỏi đâu cũng không có chuyện này nữa. Dám đi qua bên Đài Loan không? Không gặp bài phẩm nào rồi cái này nữa.
Ở bài kinh này đó, bài kinh Căn Bản Pháp Môn. Sở dĩ gọi là Căn Bản là sao? Là bởi vì đối với một hành giả tu thiền, tức là pháp hành, đang đi pháp hành, hoặc là một vị đang đi pháp học, một người cư sĩ hay là một vị sa-môn, thì đối với bất cứ ai mà ở trong giáo pháp của Đức Phật, nhất thiết bắt buộc phải biết qua bài kinh này.
Vì sao? Vì đối tượng của bài kinh này, duyên khởi mà Đức Phật nói bài kinh này, là 500 vị tỳ-kheo đa văn, bác học, giỏi đời, giỏi đạo.
Tượng của bài kinh này, duyên khởi mà Đức Phật nói bài kinh này là 500 vị đệ tử đa văn, bác học, giỏi đời, giỏi đạo. Nhưng mà vì cố chấp vào trong đó, thì Đức Phật xác nhận rằng, cho dù cái việc mình làm chủ một chiếc lá cho đến việc mình làm chủ một lâu đài, cái việc mà mình làm chủ được một bài thơ, hoặc là mình là người hiểu biết được năm ba ngoại ngữ, mình tinh thông thiên văn, địa lý, nhân sự, cho dù mình có biết tất cả những cái đó đi nữa, kiến thức nhiều hay là ít, cao hay là thấp, thì tất cả nó chỉ là sự ngộ nhận những cái phù phiếm mà thôi.
Tại sao mình khổ? Là bởi vì mình thấy được, bởi vì mình thấy là ở trong bản thân mình nó có cái mà mình đang có, và trong cái mình đang có nó lại có mình. Ví dụ như mình thấy trong cái ly này nó có mình, mình có quan hệ với cái ly này. Cái ly này bể là mình buồn.
Bậc Thánh thấy cái nào ra cái này, thấy ly là ly, mình là mình. Còn trong nguyên văn, Đức Phật hướng dẫn xong rồi, Ngài mở ra phần nói thế này: “Kẻ vô văn phàm phu, kẻ vô pháp văn”, tức là người thiếu học. Kẻ vô văn phàm phu đối chiếu tự ngã với địa đại, thấy địa đại là ta, thấy ta trong địa đại, cho nên mình bị dính mắc.
Tiếp theo, Ngài nói rằng người đó không hiểu địa đại. Tức là ngày nào mà mình còn chấp như vậy thì mình chưa thật chứng, chưa thấy được nữa. Phàm phu đối chiếu tự ngã với địa đại, đối chiếu địa đại với tự ngã, thì ta nói là người đó chưa hiểu tự ngã.
Rồi Ngài nói rất là nhiều vấn đề. Xong cuối cùng, Ngài nói: “Phàm phu thấy có ta trong Niết-bàn, thấy có Niết-bàn trong ta. Người đó đem Niết-bàn đối chiếu với tự ngã, đối chiếu tự ngã với Niết-bàn. Cho nên ta nói là người đó chưa hiểu Niết-bàn.”
Cho nên tôi kể lại một câu chuyện. Người này có lẽ đại đức hết các bạn. Hồi Đức Phật Niết-bàn khoảng 300 năm thì có một vị đại đức, ngài tên là Maha Sankar… Maha… Maha Nagar… Xin lỗi, Thamma Linna. Có vị đại đức tên Thamma Linna, tinh thông Tam tạng chú giải, đắc được Tứ thiền, Ngũ thông, nội tâm vô cùng thanh tịnh, và vì nghĩ đến cái gì đều thông suốt cái đó, cho nên vị này tự nghĩ rằng mình đã là A-na-hàm.
Một ngày kia, người học trò của vị này, đó là ngài Maha Nagar, ngài mới suy nghĩ: “Thầy mình giỏi quá, giỏi quá. Không biết hôm nay thầy mình đã thành tựu được gì?” Ngài thì ngài đắc A-na-hàm rồi, thì ngài thấy thầy mình còn phàm. Mà bởi vì ổng giỏi quá đi, ổng giỏi quá đi, cho nên ổng hữu lầm.
Thì ngài mới đến gặp thầy, ngài nói: “Thưa thầy, pháp thượng nhân mà thầy, đối với thầy có phải là điều khó khăn hay không?”
Ngài nói rồi… À không, người học đạo hỏi: “Thưa thầy, thầy đã làm xong bổn phận sa-môn chưa?”
Hồi xưa chư khất sĩ hỏi nhau như vậy thôi: “Ngài đã làm xong bổn phận sa-môn chưa?” Chứ không phải như mình, bổn phận mình lo xong điện chùa là bổn phận, không phải.
Đã làm xong bổn phận sa-môn chưa? Chứ không phải như mình bổn phận, mình lo xong việc chùa là bổn phận, phải không?
Thì Ngài mới nói rồi, nói nhẹ vậy thôi. Người ta nghĩ là cái gì nên làm thì người ta đã làm rồi.
Ông thầy nói:
“Thưa thầy, một người như thầy có thể hóa ra một con voi lớn được hay không?”
Ngài nói:
“Chắc chắn. Một con, một ngàn con cũng được.”
Nhưng ông thầy nói:
“Thưa thầy, một con thôi được rồi, mà phải cho thật lớn.”
Không ngờ ông thầy vừa nhìn thì Ngài mới hóa ra một con voi to. Từ xa, ông thầy nói:
“Thưa thầy, thầy cho nó chạy về phía mình đi, chạy với tốc độ nhanh.”
Con voi là do Ngài hiện ra, cho nên Ngài đâu có sợ. Rồi trong lúc con voi đang chạy đến, theo lời tác ý của Ngài, nó chạy đến một chỗ nào đó thì ngừng lại. Nhưng người học trò dùng thần thông khiến cho nó chạy luôn. Hiểu không? Nó chạy luôn tới.
Lúc theo ý của Ngài thì nó chạy đến đó rồi ngừng, nhưng Ngài làm cho người học trò khiến nó chạy tới luôn. Thầy nó chụp người đệ tử liền, vì sợ nó chụp.
Người học trò nói:
“Thầy, à, Ngài còn sợ hay sao?”
Chỉ nghe như là ông thầy quỳ dưới chân người học trò, nói:
“Con ơi, cứu thầy!”
Người học trò nói:
“Thầy đã đứng ở ngưỡng cửa rồi.”
Những chuyện đó nói rồi. Ông thầy tỉnh ngộ, thầy đi về.
Khi người học trò vừa xoay lưng đi thì ông thầy đã lánh.
Ý tôi muốn nói rằng, ở đây Đức Phật cảnh báo chuyện đó là người phàm phu thấy tự ngã trong Niết-bàn và thấy mình, à, Niết-bàn là của mình, mà mình có Niết-bàn là như vậy.
Tức là mình phải hiểu rằng, ngay trong cuộc tu là mình đã không được quyền ôm ấp bất cứ cái gì, nói gì là ngay trong Niết-bàn, nó càng không có ngã trong đó.
Mà cái người thật sự càng tu, thật học thì càng lên cao là càng buông bỏ. Cho nên tôi nói một chuyện dĩ nhiên: người nào càng học mà càng thấy mình giỏi, càng thấy người khác dở, là người đó chưa đi tới đâu. Tôi phải nói rõ như vậy.
Mà phải nói là thấy thật lòng, thấy tự đáy lòng mình, chứ không phải mình nghe sư nói vậy rồi mình nghĩ mình dở ẹc. Rồi miệng mình nói: “Tôi dở ẹc rồi.” Không. Miệng mình cố gắng nói với người ta, mình nói rất là khiêm tốn, nhưng thật ra trong bụng mình mình ngỡ mình giỏi.
Tôi rất ghét cái đó. Mà phải nhận ra đó là một cái bệnh phàm phu mà mình bị mắc.
Có người thì mở miệng ra khoa trương, khoác lác, tự phụ. Cái đó mình không nói rồi, cái đó là quá tệ rồi.
Nhưng có người mở miệng ra, nói ngọt mà tế nhị lắm. Mình khen họ: “Không ngờ cô cư sĩ mà cô giỏi quá.”
“Có gì đâu.”
Nhưng trong bụng mình thích, vì mình học được.
Mà tế nhị lắm. Mình khen họ: “Mình không ngờ cô cư sĩ mà cô giỏi quá.” Có gì đâu chứ, mà trong bụng mình thích, học được. Bởi vậy con thấy siêu, trẻ tuổi con chịu đổ quá. “Có gì đâu, ở chùa lâu nữa là như vậy thôi.”
Mình cũng hiểu ngầm chuyện đó. Bà đọc các ông chùa nào cũng được, ở chùa lâu cũng được nghe. Nhưng vấn đề mình tu là mình giải quyết chính mình, đừng để người ta giải quyết chuyện mình. Mình muốn biết trình độ tu học cao hay thấp của mình thì mình coi cái ngã mạn của mình nó có khựng hay không.
Có một lần Đức Phật cùng với ngài A-nan đi trên một bờ sông ở Ma-kiệt-đà thì nghe thấy một khúc gỗ đang trôi. Đức Phật hỏi ngài A-nan:
“Này A-nan, theo A-nan nghĩ, khúc gỗ này có thể trôi ra tới biển được hay không?”
“A-nan đoán đi, khúc gỗ này có thể trôi ra tới biển được hay không?”
Vậy nên Phật nói rằng, khúc gỗ này đang bị tấp vào trong bờ đảo này mà sẽ không đến được biển cũng có tám lý do giống như vậy: tấp vào bờ bên đây, tấp vào bờ bên kia, tức là tấp vào nội xứ và ngoại xứ. Có hiểu không?
Có người thì ở đời sống, họ thích hướng ngoại, thích đi du lịch, thích mua cái ghế đó. Là những người sống nặng về ngoại xứ. Còn những người sống nặng về nội xứ thì họ thích đóng cửa trong phòng, ngồi suy nghĩ những chuyện kinh thiên đó. Là những người sống nặng về nội xứ.
Bị mục thì đều phải ly tham cả nội và ngoại xứ rồi. Không bị mục, khúc gỗ mà trôi thì nó sẽ không trôi ra biển nếu dọc đường nó bị mục. Bị mục là bị hết. Lòng tham dụng nhiều quá cũng bị mục.
Có một điều quan trọng mà tôi đang muốn nói là khúc gỗ nó nếu trôi dọc đường mà không bị mắc cạn, không bị vướng vào chỗ gì đó thì nó mới đi được. Chứ nếu mà nó bị vướng vào đó thì nó sẽ không đi ra tới nơi.
Mình mới nói rồi, bởi vì khi đang tu học, dù học giỏi hay tu giỏi mà còn bị tâm ngã mạn thì giống như khúc gỗ bị vướng, bị kẹt, nó sẽ đi không được. Cho nên mình không có ai làm thầy cho mình bằng chính mình. Chính mình hiểu được lòng kiêu ngạo của mình, lòng kiêu mạn của mình nó đến đâu. Nếu mình thấy lòng kiêu ngạo của mình nhiều quá thì mình phải dứt ra, chỉ có cách đó mình mới bỏ được tính ngã mạn thôi.
Chứ còn không có ai nói, mình sợ hết. Tôi nói rõ như vậy. Ngã giả mình thấy ngã mạn, ngã lạc bớt quá thì tôi cũng chạy giả chứ gì. Phẩm tính nào cũng đặc trưng, nhưng mà chính tôi phải hiểu thôi.
Tức là ngày nào mình còn cảm thấy hãnh diện vì kiến thức của mình thì ngày đó thật sự mình chưa đi được bao xa trong giáo pháp này.
Đức Phật giải rằng đối với phàm phu, dù là mình có giữ được những cái gì thuộc về vật chất hay thuộc về tinh thần, vật chất đó là bốn đại, mà tinh thần đó là kiến thức, vật là trí tuệ, ngay cả cái gọi là cứu cánh Niết-bàn, tất cả những cái đó phải được vị tỳ-kheo nhìn ngắm bằng một góc độ hết sức khách quan. Có nghĩa là nó là nó, mình là mình. Niết-bàn này thấy đây là hết?
Nhìn từ một góc độ hết sức khách quan, nó là nó, mình là mình. Bàn này thấy đây là hết, chứ vậy thôi.
Tôi mong các vị về nghe kỹ về kinh này. Tôi rất vui. Tôi ngồi đây nhìn cái giá sách của tôi, tôi thấy hiện giờ trong phòng tôi có toàn bộ Tạng Bộ. Nó mất á, nó mất ngay trong Tạng Bộ, nó mới khổ. Trung Bộ, Trường Bộ, Tăng Chi, Tương Ưng, có đủ.
Các bạn vừa vào phòng thấy mấy bộ đỏ đỏ đó. Tôi muốn sau này các bạn học xong khóa này rồi thì các bạn sẽ yên tâm rằng mình đã học hết cái đống đó. Giống như hôm nay, các bạn biết chuyện này: mấy bữa nào tôi dắt các bạn vô phòng, từ mười hai cuốn Vi Diệu Tạng đi pháp là mình đã học rồi. Tức là, nói trên background, mình đã có một cái strong background về cái đó.
Trong phòng bây giờ, đến Tâm Tạng bốn mươi lăm cuốn, là mình đã học được nội dung của mười hai cuốn rồi. Bây giờ trước mắt mình là mình đang học đến hai mươi lăm cuốn Kinh Tạng. Hai mươi lăm cuốn Kinh Tạng, cuốn này, cuốn kế theo, thì mười hai cuốn mình đã học xong rồi. Mọi người thấy không? Một cuốn đem chia đều ra, một cuốn bốn trăm trang, mà mình đã học mười hai cuốn như vậy rồi. Chắc rất là vui.
Vô phòng, một ngày tôi mở cửa, tôi nhìn. Nhiều khi tôi cũng có một chút mắc cỡ. Tức là tôi nhìn lên đó, tôi nghĩ: “Ồ, mình có được một cái khái niệm về mười hai cuốn đó, và mình cũng đã đem nó ra cho người ta rồi.” Rất là vui.
Ít nhất, tôi thấy mình tiếc là cái gì chứ? Chứ vô chùa hoài, vô chùa làm gì, vô chùa được cái gì? Tôi đi được ba mươi năm mà, đâu có hay. Mà cái hay ở chỗ là cái tủ đó đó. Tôi học được gốc tư rồi đó. Đáng lẽ bao nhiêu đó là tôi...
Ba mươi năm, nếu tôi sống được ba, bốn năm nữa thì... Nếu chết thì chết, tụi nó muốn chết, tụi tôi không muốn nữa.
Nói chung là đúng, hơn hai mươi năm ăn cơm của đàn-đánh-thí thì tôi thấy là tôi cũng không có phụ lòng. Cuộc đời tôi cũng bê bối, phải nhìn nhận, rất là bê bối. Nhưng mà cũng làm được việc. Tôi có quá khứ như một sĩ quan hoặc biệt động quân như vậy. Có nhậu nhẹt, có gái gắm, ví dụ như vậy đó. Nhưng mà đại khái ra trận đánh ngon.
Yêu ai đó, có nhiều khi mình không yêu cá nhân mà mình yêu nguyên gia đình. Thế nên mình đi đâu cũng nhớ. Người ta tốt với mình, cái hình đó mình nhớ. “A lô, má khỏe không? Ba khỏe không?” Mà ba má cũng hỏi: “Con khỏe không?”
À, đó, tôi nhớ. Tôi về miền Thịnh, tôi có thương một cô. Tôi có thương một cô bị chiêu thiên giới. Cái phần nó rất là sâu, bị nước xoáy, bị nước xoáy, với là bị năm tầng cúng, bị bắt càng, bị một, bị nội ngoại xứ, bốn người giết và năm kia. Rồi ra xoáy ra đây, tổ chức tạng đó bị chìm phía giữa không? Chìm vô giọng đó là bị hỏng giới lực. Tôi bây giờ không biết cái khúc, nó bị một, rút hai, ba cái luôn, mắt càng, bị mụt.
Không có lửa nào bằng lửa dục. Không có lỗi nào bằng lỗi sân. Không có cấu uế nào bằng cấu uế si. Không có lửa nào bằng lửa dục, không có lỗi nào bằng lỗi sân.
Cô này sân lớn hơn sân bay. Cô này không có ăn lạc nào bằng ăn lạc nước bay.
Có một câu là cái gì về dễ nhớ nè. Tôi nghĩ rằng cái gì về là cái gì? Hỏi cái câu này, mấy cô mà học đô Pali, cái câu này rất là dễ nhớ:
B M A T O T R A D A T H I S O C O.
B M A T T O T R A D A T H I, phải không?
Mấy cô mà học Pali, câu này rất là dễ nhớ: “B M A T O T R A D A T H I S O C O. B M A T T O T R A D A T H I”, phải không?
Pimato, có nhiều người đắc quả bằng cái câu này lắm. “Pimato vip... Chayati...” Câu này rất là hay: “Bê mất tư chai tí xô cô, bê mất tư chai tí pha giang, bê mất tư huyết bẩm mũ tắc xê nắp tí xô cô cú tố pha giang”.
Chứ đâu phải là giữa dòng mà tôi viết, chứ chưa hiểu được. Chứ đâu phải là giữa dòng mà tôi viết.
Rồi, bây giờ các vị ghi... Bữa mà con nghe mấy từ thầy tăng tụng kinh, có cái chữ gì? Mọi người đứng còn mắc cười quá. Có cái chữ gì không?
Bên kênh Nam tông, nó nói nhiều cái. Như kênh của em có cái câu mà sách: “Bê sách và... Bức thập, sách tên bức thập bà láp bà ta”, chữ “bà láp” đó, “bà láp bà ta”.
Rồi trong bài kinh Mấy Chuyện Cơn, có một câu: “Gia-tha-wa-ri-wa-ha-pu-ra-pa-ri-pu-ren”. Thì có một ông sư cũ Việt Nam, ông ấy vô, ông ấy đâu có chịu học kinh, ông ấy cứ nhái à. Cứ nhái lúc mà mình đọc chung, mình không phát hiện. Khi ông ấy đọc một mình, ông ấy mới lộ ra.
Mình đọc: “Gia-tha-wa-ri-wa-ha-pu-ra-pa-ri-pu-ren-ti-sa-ga-rang”, giống như các dòng nước, trăm sông đổ về biển như thế nào, thì cái phước mà tí dũ làm cũng xin đổ cho người quá khổ như vầy.
“Pu-ren-ti” tức là đổ đầy, tu-phiu á. Mà ông đọc rồi: “Cháu thao quà ri quà ha bu ra bà ri bu ri bà ri bu ra”.
Mà lúc này tôi hết tụng nổi rồi, mà tôi không có đúng. “Nhả ta qua đi qua, bu ra, bà ri bu ri, bà ri bu rên”.
Nói chung là riết muốn sửa xe luôn: “Bà ri bu ra, bà ri bu rên, bà ri rên, bu ru ra, bà ra bu ru, bu ri, bà ra bu rên”.
“Đi đâu hả? Bộ lẫn hả? Bộ lẫn hả, bộ lẫn hả? Bộ lẫn hả, bộ hổi, bộ lấn hổ, bộ lẫn hỏi, bộ lẫn hổi. Bộ lừn hả, bố lẫn hả?”
Điều gì đó phải đăng gơ lại lô.
Nhưng mà kênh Nam tông có cái sướng này, kênh Nam tông là người ta khó nhái lắm. Giờ Bắc tông, nó ra nó vô, ra đăng đê xô, bà già ra kéo bà già vô. Chứ bên Nam tông mình đâu có cách gì mà mình nhái được đâu.
Nam tông mình... Bắc tông thường đọc bài đó, bài ông làm hay Bắc tông bài ông đó. Chủ kỳ viên.
Ờ... Trong khu vườn của ông Cấp Cô Độc, trong khu vườn của Cấp Cô Độc.
Và nội dung bài pháp thoại này là Đức Phật tóm tắt toàn bộ hành trình tu chứng của vị tỳ-kheo vào trong bảy... Bảy thái độ đối diện thế nào? Vào trong bẫy thái gì? Thái độ đối diện thế nào?
Ở đây tôi cũng cần nhắc sơ cho các vị. Tôi nói là lần sau này tôi muốn các vị xem kênh, không có chỗ nào bị kẹt. Từ cái đơn giản đến cái rắc rối.
Thì bây giờ tôi nhắc cho các vị nghe một chuyện, rồi sau này tôi không nhắc nữa. Cái chùa này được gọi là chùa Kỳ Viên. “Kỳ Viên” là chữ âm thôi, mà chữ Phạn là “Chê-ta-quanh” á. Chê-ta là tên của một ông hoàng tử. Chê-ta nghĩa là chiến thắng, còn quanh á là rừng. Nhưng mà trong trường hợp này mình phải dịch là vườn ngự uyển.
Cái khu vườn này rất là đẹp. Hồi đó Phật thành đạo rồi đó. Trước khi mà Phật thành đạo, Ngài Thích Ca lấy rồi đi ngang qua cái xứ Ma Kiệt Đà và chùa Bình Sa Vương. Thì vua thỉnh Ngài ở lại với mấy vua để mà...
Vua Tần-bà-sa-la lấy rồi đi ngang qua xứ Ma-kiệt-đà và chùa Bình Sa Vương, thì vua thỉnh Ngài ở lại với mấy vua để mà... Là vua mến quá đó. Vua nói: “Bây giờ Ngài ở lại, Ngài làm vua đó, thì vua sẽ nhường cho Ngài một nửa quốc gia.”
Ngài nói: “Cả quốc gia còn bỏ, nói đến chuyện một nửa làm gì?”
Vua nói: “Nếu khi nào Ngài thành Phật thì Ngài độ trẫm.”
Khi thành Phật rồi, vào rằm tháng Tư, đến rằm tháng Giêng năm sau, tức là năm Ngài thành Phật vào rằm tháng Tư, năm Ngài 35 tuổi, thì vào tháng Giêng của năm Ngài 36 tuổi, vua Bình Sa chính thức dâng cho Đức Phật khu rừng Trúc Lâm để làm chùa.
Cũng chính tại miếng đất này xảy ra một sự chuyện đặc biệt. Trong lịch sử chư Phật ba đời, có ít nhất một lần đại hội Thánh Tăng. Đức Phật mình tuổi thọ ngắn, chỉ có 80 tuổi thôi, cho nên trong đời Đức Phật chỉ có một lần đại hội Thánh Tăng.
Trong kỳ đại hội này có ba điểm đặc biệt. Đó là tất cả chư Thánh Tăng mà về dự hội không cần Đức Phật kêu gọi, tự động kéo về bằng thần thông.
Thứ hai, tất cả vị Thánh Tăng đều là những vị A-la-hán, không có vị nào dưới A-la-hán.
Điều thứ ba là tất cả vị Thánh Tăng đều là những vị lục thông, không có vị nào mà không có thần thông.
Ba điểm đặc biệt này đều tập hợp về đúng ngay cái điểm chùa, chỗ mà Đức Phật đang ở đó.
Chư Phật quá khứ thì có đến ba hội chúng, ba lần đại hội như vậy. Mà một lần như vậy thì vài chục ngàn cho đến một trăm ngàn. Chư Phật Thích Ca mình thì chỉ có một lần đại hội Thánh Tăng thôi. Và trong lần đó thì số lượng rất là ít, chỉ có 1.250 vị.
Đó là chùa Trúc Lâm, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo.
Rồi khoảng hai năm sau, để tụi mình coi kỹ là phải vậy hay không. Nhưng mà nếu tụi nhớ là khoảng hai năm sau thì Đức Phật gặp ông Cấp Cô Độc.
Cấp Cô Độc, cái tên thật của ổng, cái tên mẹ đẻ của ổng là Sudatta, Su-đát-ta. “Su” là tốt, còn “đát-ta” là được cho. Nếu mình hiểu một cách tóm tắt, hiểu một cách nôm na, Su-đát-ta rõ nghĩa là “trời cho”, con trời cho. “Su” là tốt đẹp, nhưng mà ở đây mình hiểu nôm na là trời cho. Su-đát-ta, tức là mình cầu sao rồi được vậy đó, thì cha mẹ đặt là Su-đát-ta.
Nhưng mà về sau, ổng trở thành Phật tử rồi, thì ổng có một cái tên mới. Đó là Anāthapiṇḍika, Cấp Cô Độc.
Piṇḍika này từ gốc chữ Pāli là chữ piṇḍa. Cái đó là thức ăn, mà piṇḍika là người cung cấp thức ăn, người nuôi dưỡng.
Anātha có nghĩa là homeless, có nghĩa là người không nhà cửa, không có thân nhân nương tựa, người vô gia cư, người không có cái gì hết. Đó là anātha.
Bữa nào rảnh, thời gian dư, ngồi đó chơi, nói xem. Phân tích cái chữ anātha này, chữ anātha này nghĩa rất là đặc biệt. Anātha là chỗ nương nhờ, mà anātha này có nghĩa là người không có chỗ nào để nương nhờ.
Đức Phật được gọi là Lokanātha, tức là chỗ nương của thế gian.
Trong 32 cái từ đồng nghĩa, synonym của Niết-bàn, có chữ nātha. Nātha có nghĩa là chỗ nương nhờ cho chúng sinh.
Cho nên khi mình học mênh mông như vậy, mình chỉ cần nhìn đến tầng cấp của chữ đó là mình nghĩ là đủ cho chuyện trên đời hết.
Cho nên, khi mình học mênh mông như vậy, mình chỉ cần nhìn đến tăng cấp của độc là mình nghĩ là đủ cho chuyện trên đời hết.
Ông không có biết đạo. Ông tình cờ đi đến thăm người anh. Thấy người anh, mỗi khi gặp mình thì ông anh mừng. Bữa nay mình đến gặp ông anh, ông anh bận rộn quá, chỉ hỏi ông anh chỗ nằm ngủ rồi chỗ ăn uống vậy thôi. Rồi ông anh mới xin lỗi, nói:
“Nghe, mỗi khi em đến thì anh biết. Mà bữa nay, mai anh mắc cúng dường cho Phật, có chư tăng nữa, cho nên anh bận. Em đừng có buồn.”
Ông chỉ nghe có một chữ “Phật” thôi, ông hỏi:
“Bây giờ Ngài đang ở đâu?”
Rồi ông chỉ chỗ. Ông hỏi mai gặp. Mà đêm đó, ông không ngủ được. Cái chữ “Phật” ám ảnh, không ngủ được. Ông nói: “Bây giờ không có cách gì mà sáng mai đâu, chết liền đó”, rồi ông băng ra Đông Kinh.
Ông đi. Đông Kinh nói là ông đi, trời ơi, đêm tối mịt mù và xa lắm. Ông đi Đông Kinh là vì cái ý niệm lạ của ông nghĩ đến Phật đó. Hậu tự ông phát sáng, không phải cái mình gọi là hào quang. Khoa học gọi là bio-plasma, cái ánh sáng sinh học đó. Mà vì cái tâm mình yếu quá nên không có, còn ông là có.
Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ, chư tăng Campuchia lúc dịch kinh, theo sự chỉ đạo của các vị Hòa thượng để hoàn thành bộ Đại Tạng Kinh. Có những vị học giỏi lắm rồi, vị thì dịch, vị thì viết. Mà thay phiên nhau. Có nhiều vị, lúc đang làm, bị lên máu, chết luôn trên bàn viết rồi bị khắc nghiệt như thế. Cái công trình mười mấy năm không chán còn.
Mà cái điểm đặc biệt là có nhiều vị, trong lúc viết, đĩa thái dương có điện, đang viết như vậy thì cái đèn nó tắt đi, gió thổi tắt. Mà vị đó không hay đèn tắt vì viết tập trung quá. Tự nhiên cứ thấy chữ mà viết. Xong người ta đốt đèn lên, thấy vị này vẫn còn viết rào rào như vậy. Người ta mới hỏi:
“Hồi nãy giờ đèn tắt, sư có viết hay không?”
Hỏi tắt lúc nào thì ổng vẫn viết. Ổng tập trung quá đó.
Ổng nói: “Bây giờ nói tui nghe nè, khi tui đang viết bài mà bên Việt Nam trời tối, cũng hay tới lúc mà ai đó kêu tui: ‘Sinh Nguyên ơi, tối rồi!’ Thì lúc đó tui buông mắt tui ra một cái là tui không thấy. Mà tui không được định tâm nha.”
Cái vị đó cũng vậy. Đèn tắt hẳn mà vẫn viết.
Cấp của độc cũng vậy. Ông nghĩ đến Phật, ông tỏa sáng. Nhưng mà phương xa đi như vầy, đi ngang một cái nghĩa địa vắng quá, ông giật mình một cái. Lúc đó, sự sợ hãi xuất hiện trong lòng ông, cho nên cái vị đó mất, ông không thấy đường nữa.
Lúc đó có một vị trời, vị thổ thần ở trong khu rừng đó. Vị thổ thần mới nói thế này:
“Ngươi hãy biết rằng mỗi bước chân của ngươi hiện giờ có giá trị liên thành. Biết là có bao nhiêu vàng bạc trao đổi, mỗi bước chân này cũng không được ngươi bỏ phí. Hãy đi đi.”
Vậy ông cứ bước, ông đi. Ông đi riết, gần tới cái vật này. Từ xa, thấy cái vị đang đi kinh hành ở cánh rừng trước mặt. Cái vị nói:
“Sư đệ, ta nè, như là đang ở đây.”
Ông nói:
“Trời ơi, người lao quắc còn biết tên mình!”
Ông tán ông, thì nó nói: “Ốc bươu, ốc sên, ốc len, ốc đắng, ốc gạo, ốc hương”, thì nó nổi cùng với dân.
Đã quá, ông tới gặp Ngài. Ngài chỉ nói cho ông nghe thêm là: “Cái gì mà nó có thì nó phải mất.”
Cái gì có thì nó phải mất, dù hạnh phúc hay đau khổ, không có nhiều đời mà, không có nhiều đời. Cho nên chỉ cần nghe câu đó là xong rồi đó.
Giống như mình đang thất tình, mình buồn, mình đang bị trái ngang, bị mất người thân, mình buồn. Gặp cái Phật, cái gì người ta có là phải mất rồi.
Mình buồn, mình đang bị trái ngang, bị mất người thân, mình bèn gặp Đức Phật. Cái gì người ta có rồi cũng phải mất. Nghe thọ nhận câu đó là hạnh phúc hay là đau khổ, nói như thế đó.
Khi ông đắc rồi, trong đầu ông khởi lên câu gì? “Dân kiên trì sẽ bước ra, dân phàm ăn sắp qua.” Ăn cái ruột phàm, ăn phàm. Cái gì có thì nó mới mất đó, ông nghĩ như vậy.
Ông đắc rồi thì sáng hôm sau, Phật đến nhà ông anh của ông để dự lễ. Lúc bấy giờ, ông tới gần đó, chăm sóc Đức Phật, hầu hạ cơm nước chư tăng. Ông hỏi: “Sao mẹ của em không rảnh vậy?”
Các ông nói: “Không rảnh mới lạ. Nhà là đạo tràng của em mà.”
Việc như vậy mà từ đó ông nuôi dưỡng người nghèo. Một ngày như vậy, trong nhà mỗi ngày ông cúng hai ngàn vị tỳ-kheo tại nhà. Bảo quý sư cũng mỗi ngày hai ngàn vị tỳ-kheo trong nhà.
Ông có một vị thiên nữ ở trong cái cửa phòng đó. Mỗi lần Đức Phật với chư tăng đi ngang đó, đi vào đó, thì đức độ các vị ấy làm cho thiên nữ không ở trên ngạch cửa được, mà nàng phải đi tuột xuống đất. Nhiều lần như vậy, thiên nữ rất bực mình. Nàng nói: “Mấy thằng cha đầu trọc này cứ tới luôn, làm phiền bọn ông tới rồi tụi nó xuống.”
Ông đi về, nàng lại leo lên. Nàng bực rồi. Cái đêm đó, nàng mới nói: “Lúc đó, Cấp Cô Độc, cái lúc ông suy sụp đó, ông làm ông thua lỗi rồi. Của cải ông trôn thì bị nước cuốn trôi xuống sông, đất thì sạt mất tiêu, trộm cướp, rồi phần nợ trái khó đòi, bao nhiêu vàng bạc, rồi điêu đứng giống như trái banh đó chứ.”
Ông tụi nó khổ quá, nhà ông chỉ còn cháo thôi. Mà ông nói: “Chư tăng, chư tăng không chê cháo thì cứ đến nhà này ăn cháo.”
Thì nàng nghe như vậy, nàng biết cái chuyện đó. Cho nên cái vị thiên nữ đó, đêm hôm đó, đến ở đầu vườn. Ông mới nói: “Nè, ông Cấp Cô Độc, ông xưa đất ta ơi, ông thấy không? Nhà ông đâu có nghèo mà một ngày ông nuôi hai ngàn vị tỳ-kheo như vậy. Ông không nghèo cũng là lạ đó.”
Ông thấy không, nhà ông đâu có nghèo mà một ngày ông nuôi hai ngàn ông tỳ-kheo như vậy. Ông không nghèo cũng là lạ đó.
Cái con đầu ổng thành thánh mà. Ông nói: “Xưa nay ta để ngươi ở nhà này, vì ta nghĩ ngươi cũng là thiện bạn lữ, pháp hữu của ta. Mà ngươi không có kính lễ ta, ngươi còn nói xấu Tăng, thì nói xấu ta. Bảo ta không muốn ở đây nữa.”
Cái uy lực của một vị sơ quả khiến cho một vị thiên nữ không có dám ở đó. Bà ấy đi cầu cạnh mấy vị trời có quyền lực nhiều ở trong khu vực đó. Bà nói: “Ai đó cấp Cô Độc, ta không dám đụng tới ông ấy.”
Bà giới thiệu ông lên Tứ Đại Thiên Vương. Tứ Đại Thiên Vương gặp bà, bà nói gì đó. Tứ Đại Thiên Vương nói: “Cái đó ta cũng không dám rớ tới đâu.”
Nhưng mà bây giờ ông đang làm ăn thua lỗ, mấy con nợ quịt rồi đó. Bà nghe vậy mới nghĩ làm sao đem trả nợ lại tất cả những vàng bạc mà ông chôn hồi xưa đến giờ, bị mất đó. Bà gom hết, để ở nhà ông Cấp Cô Độc.
Tiền này mới chịu. Bà mới khiến cho mấy người kia, bà báo mộng cho họ sợ đó. Những người quỵt nợ của ông Cấp Cô Độc, bà trả hết rồi cho ông. Rồi bà dùng thần thông, đem tất cả những vàng bạc mà ông chôn, bị lạc, bị mất rồi đó, đem hết để chất một kho đầy.
Ban đêm, bà mới hiện ra đứng ở đầu giường ông Cấp Cô Độc. Bà nói: “Tôi hiểu rồi. Ông đang cần tiền để ông làm phước chứ gì? Thì đây, tất cả những gì ông mất, tôi trả lại cho ông. Và ông cho tôi ở lại nhà của ông này.”
Ông được việc lắm. Nó lành Cấp Cô Độc.
Hôm nay chúng ta học về bài kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc. Đây là bài kinh thứ hai của Trung Bộ Kinh. Bài kinh này được thuyết tại Kỳ Viên tịnh xá.
Thế nào là Kỳ Viên? Kỳ Viên là vườn. Còn cái Kỳ ở đây là tên của vị hoàng tử. Vị hoàng tử này hồi đó rất giàu có, lấy khu vườn này làm chỗ vui chơi thôi.
Phật sau khi có chỗ Trúc Lâm rồi thì Phật phải đi tới lui ở Rājagaha. Nhưng mà về Sāvatthī, Phật không có chỗ ngủ, Phật phải ngủ ngoài đồng trống.
Cấp Cô Độc, sau khi đi nghe Phật và đắc quả, trở về nhà anh ổng, ổng nói: “Ở đây là chỗ dân cư đông đúc, thị tứ phồn thịnh, không thể nào mà không có chỗ dừng chân cho Thế Tôn và Tăng chúng.”
Do đó, ổng đi tìm một miếng đất nơi nào vừa ý, không quá xa chỗ thành phố để Phật và chư Tăng có thể đi bát được. Miếng đất này phải rất là nghiêm túc. Muốn mua đất cũng phải vừa phải, nhớ đó: không quá xa để chư Tăng có thể tới lui đi bát, không quá gần để khỏi bị ồn. Mà cảnh trí phải được.
Cuối cùng, ổng tìm được một chỗ rất là tuyệt vời, đó là khu vườn của ông hoàng tử Kỳ-đà.
Trời, ông hoàng tử mê miếng đất này, làm sao ông chịu bán. Ông nói không có bán. Ông Cấp Cô Độc cứ nghĩ hoài. Ông hoàng tử thấy vậy, nói: “Thôi được, miếng đất người ta quý lắm. Mà ông nhắm ông trải vàng được thì ông mua.”
Ông hoàng tử nói cho nó qua. Ông Cấp Cô Độc nghe nói thì giữ lời. Xong rồi, ông lấy vàng ra trải. Ông nói ông kia nói trải tới đâu là lấy đất tới đó.
Mấy cái chùa này có một bản dịch của chữ Hán kêu là chùa Bố Kim. “Bố” là trải, “kim” là vàng. Chùa Bố Kim tức là chùa Trải Vàng.
Ông đang trải như vậy thì người hầu báo là hết vàng rồi. Ông đứng suy nghĩ. Ông hoàng tử thấy vậy, nói: “Tiếc tiền hả?”
Họ báo là hết vàng rồi thì ông đứng suy nghĩ: “Ông Hoàng, ông Hoàng chưa ta?” Ông thấy vậy, ông nói: “Tiếc tiền hả? Thôi, tiếc thì thôi.” Ông nói: “Không, tôi đang nghĩ cái kho nào gần hoàng gia...” Ông nói: “Thôi khỏi, phần còn lại ta cúng.” Nói với Ngài, ta có cúng mới, cúng một Phật và xin cái chùa mang tên của ta, chùa Chiêu Táo Anh.
Cho nên bài kinh này được học, được giảng tại đây. Kể từ bây giờ trở đi, nghe chuyện chùa Kỳ Viên Cấp Cô Độc là mình không có cái gì mình không biết nữa. Thế là những chuyện về Cấp Cô Độc mình đã nói hết rồi. Thế nào là chủ Kỳ Viên cũng đã nói rồi.
Còn cái chữ Savatthi, tại sao gọi là thành Xá Vệ? Gọi là Savatthi là bởi vì ở trong kinh nó... Cái này trong cái đĩa, tụi bay về coi thử. Tụi bay có cái đĩa đó, nó có cái CD-ROM của...
Mà các bạn biết, đặc biệt là cái đó chưa được dịch sang tiếng Anh. Nó chỉ mới có trong thư viện thôi. Chữ Savatthi, Sa-vat-thi. Cái tên Sanskrit của nó là Sarvasti. Chữ Sarva, Sarva, nó có nghĩa là tất cả. Tất cả. Còn asti, nó có nghĩa là có. Chữ Sarvasti này là chữ Pali, nhưng mà nó là một cái tên được thoát thai từ chữ Sarvasti. Nó cũng có nghĩa là có tất cả.
Còn tất cả là sao? Tức là ở đó cái giống gì cũng có. Còn cái chữ Xá Vệ là chữ âm thôi nha. Chữ âm giống như Washington là Hoa Thịnh Đốn. Rồi chữ San Francisco là Cựu Kim Sơn. Hay là New York là Nữu Ước. Hawaii là Hạ Uy Di.
Rồi mình nghĩ, “Mỹ Hạ” là chắc là ở dưới. Rồi “Uy” đó là thấy hù người ta sợ. Rồi “Di” là có con gì đó. Mấy đứa nhỏ còn cục đá biển mà đi rải. Cái này còn gì, mấy đất ở đây nữa.
Savatthi là âm... Mảnh đất này, ở đó cái gì cũng có là sao? Trầm hương, ngọc ngà, châu báu. Rồi vua chúa cũng ở đó, rồi triệu phú, rồi những tài danh kỹ. Cái gái làm điếm hạng sang cũng nằm ở đó. Những tu sĩ mà ăn học cao cấp, những bậc thức giả, bác học cũng nằm ở đó.
Nói chung là từ chỗ ăn chơi cũng là đệ nhất, rồi tu hành cũng là đệ nhất. Vua chúa, quan quyền cũng nằm ở đó. Cái gì ở đó cũng có hết, cho nên gọi là Savatthi, là một cái thành phố giống gì cũng có.
Như vậy đó, đó là mình đã học được phần nội dung kinh.
Phiền não nói gọn lại chỉ có ba là tham, sân, si. Nói rộng thì có thể nhiều hơn, mở rộng qua những phân tích mà thôi. Qua những phân tích mà thôi, đóng gọn lại.
Một người tìm đạo giải thoát. Nhưng trong hành trình tu chứng của một người tìm đạo giải thoát, các phiền não luôn có thể xuất hiện qua nhiều hình thức.
Cám dỗ hoặc thử thách, có phân biệt ra hai chữ này không?
Nhiều hình thức luôn, có thể xuất hiện qua nhiều hình thức: cám dỗ hoặc thử thách. Có phân biệt ra hai chữ này không? Hai chữ này là hai chữ phản nghĩa nha anh. Cám dỗ hoặc thử thách, vi tế hoặc thô thiển, thiện hay bất thiện.
Đức Phật dạy rằng, dù có phải sống qua bao nhiêu hoàn cảnh, dù có phải sống qua bao nhiêu hoàn cảnh giữa cuộc đời tục lụy tế toái này, giữa cuộc đời hệ lụy tế toái này, tức là rắc rối đó. Hệ lụy là ràng buộc, tế toái là rắc rối. Manh manh muốn đủ cái gì là chấp chặt để làm cho mình bị ảnh hưởng tâm.
Giữa cuộc đời hệ lụy tế toái thì công phu tu học, công phu tu tập của vị tỳ-kheo chỉ cần khéo biết vận dụng, khéo biết vận dụng đúng lúc, đúng nơi bảy biện pháp sau đây, thì chắc chắn có thể chấm dứt phiền não và chứng ngộ Niết-bàn.
Các bạn có biết rằng, khi mình học với Dư pháp rồi đó, mình rất là phải cẩn thận khi mình sử dụng ngôn ngữ. Tôi lâu lắm rồi tôi không có dùng chữ “nhập Niết-bàn”, các bạn biết không? Bởi vì Thiền gọi là có “nhập” là vì có nhập thì nó có sức, có sức thì nó mới có nhập. Cho nên mình thường dùng theo cái thói quen bên Bắc Tông, nó kêu là “nhập Niết-bàn”. Thật ra, nó nhập diệt. Mà thật ra thì không có nhập.
Giống như ngọn đèn, khi nó tắt thì mình hỏi nó tắt, thì nó tắt chứ nó không phải là ngọn lửa đi về đâu. Khi nó có đi vào cái gì đó, mình mới kêu là ngọn đèn nó nhập. Cho nên trong sách Bắc Tông thì nó sẽ kêu “nhập diệt”. Tôi không thích chữ “diệt độ”, tức là sự kiện này xảy ra sau khi Thế Tôn diệt độ được bao lâu đó. Tôi rất là thích chữ “độ”, tức là vừa qua, còn “diệt” tức là mất. Chứ còn mình dịch là sao, khi Như Lai nhập diệt?
Bởi vì cái chuyện ra đi của con người nó giống như ngọn đèn. Khi nó tắt thì hỏi cái ngọn lửa đi về đâu? Các bạn có học chút đỉnh về chemical hoặc về cái khí rồi đó, các bạn biết lắm. Hỏi cái ngọn đèn mà nó tắt, cái ngọn lửa nó tắt, vậy nó đi về đâu? Mình không có kêu nó nhập được.
Cái chữ nó quan trọng lắm. Đừng có nói sẽ xài chữ nào, chữ không biết sao mình hiểu thôi. Người có học thì mới hiểu, còn người không học là họ sẽ bị, như cái đó, nghĩ “nhập” là đi vô trong cái gì đó.
Rồi một cái chữ nữa là mình phải cẩn thận. Có lẽ ta phải nói cho đúng là Bồ Tát đản sanh, Bồ Tát thành đạo và Phật Niết-bàn, chứ không có cái vụ mà Phật thành đạo. Xin lỗi, là tầm bậy.
Bây giờ nếu nói Phật thành đạo, vậy hỏi chứ đã là Phật rồi, còn thành đạo là thành gì nữa? Cũng giống như ông tổng thống là ông đắc cử rồi, nó bậy. Mà phải nói là ông George Bush đắc cử, chứ không nói là ông tổng thống đắc cử. Còn nếu một tổng thống đắc cử thì phải kêu ông tái đắc cử, chứ không có vụ một tổng thống đắc cử. Vậy thì, xin lỗi, hỏi nếu mà kêu một tổng thống đắc cử thì trước đó kêu ông đắc cử cũng là cái gì?
...đắc cử. Vậy thì họ xin lỗi hỏi, nếu mà kêu một tổng thống đắc cử thì họ hỏi vậy chứ trước kêu ông đắc cử cũng là cái gì? Chứ kêu ông Trump, các bạn để ý báo chí Mỹ, nó sẽ xài chữ gì? Nó đang nói với những ứng cử viên là nó đã kêu ông gì đó thôi, chứ nó không có để chữ “tổng thống” là ông đó. Mà khi đã kêu là tổng thống thì ông đã đi qua giai đoạn bầu cử rồi.
Trong Phật pháp mình cũng như vậy, không bao giờ có cái chuyện đó. Mình không bao giờ nói câu đó. Hơi ví dụ giống như Maria sau này đứng trước khi nàng hạ sinh cùng con là trinh nữ. Có những điều mâu thuẫn với “trinh nữ”; “trinh” với “nữ” nó không gặp nhau được.
Thành đạo, lý quá khứ phải là cái gì cũng phải là Phật cảnh với thành. Còn cái chữ bên Bắc Tông là Như Lai đã thành Phật từ vô lượng kiếp, thì mình phải nói đó là một cách nói kết hợp.
Thành đạo là thành sao? Có nghĩa là Ngài đã thấy được con đường giác ngộ gì mà Ngài viết tâm nguyện trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên Ngài không thể đắc quả A-la-hán được.
Nói thật, về pháp, một cái xác lý là nói như vậy. Chứ mình không thể nói là Ngài đã thành Phật trong vô lượng kiếp. Nói vậy là không được. Nói mà phải giải thích thì được.
Bởi vì chữ Bodhisatta là chữ Bồ-tát. Chữ Bodhi có nghĩa là giác ngộ, hiểu biết; còn Bodhisatta là chúng sinh. Bồ-tát là gì? Bồ-tát là Bodhisatta, có nghĩa là chúng sinh có trí tuệ giác ngộ, biết được sinh, già, đau, chết này có một con đường giải thoát.
Đó là Bồ-tát của mình, là Bồ-tát Sumedha. Ngài gặp Phật Nhiên Đăng, nhìn hình bóng của Phật, Ngài thích quá. Ngài nghĩ rằng: “Ta giống như một người trai trẻ có sức mạnh, có thể bơi qua dòng sông. Nhưng có một điều là ta không thể bơi qua một mình khi có quá nhiều người cần qua sông. Tại sao ta không đóng một chiếc tàu để có nhiều người đi chung?”
Nhưng Ngài nghĩ rằng, với sức của Ngài, Ngài có thể trở thành vị A-la-hán. Mấy bạn nghe kỹ đi. Nhưng mà không được. “Ta phải trở thành một vị Phật để ta có thể cùng với nhiều người được giải thoát.” Trong kinh nói như vậy.
Có một chuyện kể rằng, đi trên biển rồi bị chìm tàu, một tay bơi, một tay cõng mẹ, lội biển bảy ngày, lội vô tới đất liền. Đến lúc có một vị Phạm thiên, vị Phạm thiên từng biết Phật pháp. Vị Phật thì nhiều đời mà, hết Phật này tới Phật khác. Vị Phạm thiên này là người có gặp Phật quá khứ.
Ông nhìn cái người thường đứng này, ông nghĩ: “Cái người có tâm hồn như thế này dễ sợ quá.” Ông mới xuống và nói: “Cái tâm hồn vĩ đại như Ngài thì Ngài có thể nguyện thành Phật để tế độ chúng sanh. Hôm nay Ngài cõng mẹ, nhưng mai này Ngài cõng cả chúng sanh.”
Nghe như vậy, bắt đầu kể từ đó, Ngài phát nguyện. Ngài nói rằng: “Bất cứ việc thiện nào ta cũng làm, bất cứ việc ác gì ta cũng tránh, để ta đạt được quả vị Chánh Đẳng Giác.”
Là cái gì Ngài cũng biết. Ngài bắt đầu nguyện. Ngài nguyện như vậy thì một thời gian sau, do cái tâm hành thiện lành của Ngài đó, Ngài có lúc nhận phạm nghiệp này, nghiệp nào đó. Ngài sẽ làm người nữ, làm công chúa. Ngài là em gái họ, em gái bà con của một vị Phật tên là Tâm Than Cát. Phật này đó là... vị Phật này là...
Vị Phật này Niết-bàn xong... Phật Tanh Hăng Cá Rát Niết-bàn xong... Tanh Hăng Ca Rô Ma, Vì Rô Mê, Thanh Ca Rô Ma, Giai Xuân Xa... Phật Tanh Hăng Ca Rô là Phật...
Phật Tanhăngkara là Phật thứ nhất trong vô số Phật. Nhưng mà tôi chỉ nói một giai đoạn lịch sử đó thôi. Cái Phật đó là Phật Tanhăngkara. Các cô không cần chép cái này. Nếu muốn chép thì chép, nhưng cái này các cô nhớ đi.
Rồi cái Phật kế là Phật Medhăngkara. Một Phật đó là Phật Saranăngkara. Saranăngkara. Rồi một Phật thứ tư là Phật Dipăngkara, đó là Phật Nhiên Đăng.
Vị Phật này là em họ của Phật trước. Em gái Ngài vào, Ngài nói: “Con muốn nguyện làm Phật giống như Thế Tôn.” Phật nói: “Nữ không có thọ ký được. Ta không có thọ ký cho nữ được. Con ráng tu tập, để thành nam thì sẽ có Phật thọ ký cho.”
Trải qua một thời gian rất lâu, nàng gặp được Phật Dipăngkara. Không phải trong suốt thời gian này nàng làm nữ. Nhưng có điều lúc đó nàng chưa đủ ba-la-mật.
Đến thời Phật Nhiên Đăng rồi đó, lúc này Ngài là một vị Bà-la-môn, một ông công tử. Cha mẹ chết rồi, gia sản cũng tan hết. Ngài ở bên mình. Một buổi chiều đó, Ngài đi tắm xong rồi về ngồi nghỉ. Ngài nghĩ: “Nhà này, cha mẹ một đời lao lao khổ khổ, có cái gia sản này. Cha mẹ cũng bỏ mình đi, phải trắng tay rồi tới phiên mình rồi cũng bỏ mình đi.” Ngài nghĩ không được, phải tìm một con đường nào để rút ra khỏi con đường này.
Ngài mới cho người đánh trống, nói rằng: “Kể từ hôm nay, công tử sẽ bố thí cho hết những gì mà chàng có, để chàng đi tu.”
Dân chúng thích lắm, bu lại. Trời ơi, thông báo bố thí rồi đói khổ rồi nữa. Rồi họ vô khiêng nguyên một cái bình bằng đồ cổ. Rồi họ vô lấy nguyên một cái đồng hồ Rolex, Longines, Omega, Patek Philippe. Được rồi, ở đây còn tưởng tượng để đi tu được một tháng.
Sau khi cho hết rồi, Ngài mới vô rừng tu. Ngài tu, Ngài đắc tứ thiền, ngũ thông. Trong kiếp đó, Ngài đủ duyên để đắc lậu tận thông, tâm minh và tứ lệ thông tích. Các cô có nhớ không? Tức là ba hạng trí tuệ, ba hạng Bồ-tát trí tuệ: đức tính và tinh tấn.
Cái hạng trí tuệ, nghe cái lần đầu tiên mà được thọ ký, nếu mà chỉ cần đổi ý là đắc được lậu tận thông, tâm minh, trí tuệ thông minh. Còn hạng đức tính, trong cái lần đầu tiên được thọ ký mà nếu đổi ý thì có thể đắc được lậu tận thông, tâm minh. Còn cái hạng tinh tấn thì nếu có đổi ý, chỉ đắc được lậu tận thông thôi, yếu hơn.
Khi Ngài ở trong rừng như vậy, bữa đó Ngài đi ngang. Ngài dùng thần thông bay ngang khu rừng đó. Ngài đi bát, Ngài nhìn thấy dân chúng đang khiêng đất, thì có người hỏi Ngài: “Làm gì đó?”
Người ta nói: “Làm đường cho Phật với chư Tăng đi. Chư Tăng với Phật sắp đi đến hoằng pháp ở dưới này.”
Ngài nghe vậy, Ngài nói: “Cho ta xin một khúc để làm, một khúc đường để ta làm.”
Người ta thấy Ngài có thần thông, chỉ cho Ngài cái chỗ. Trời đất ơi, rễ cây, không đường sá gì hết. Tụi con làm hết.
Ta làm. Ngài thấy Ngài có thần thông, Ngài chỉ cho Ngài cái chỗ. Trời đất ơi, rễ cây, không đường sá gì hết, tụi nó lông chông hết. Tại nghĩ Ngài có thần thông. Thật ra, Ngài nói làm bằng thần thông thì ta vung tay là xong rồi. Nhưng mà không, ta phải làm bằng sức của mình, phủ đất với nhiều thứ.
Ngài mới nói, Ngài xuống, Ngài khuân đất, Ngài lấy đất mà làm. Ngài khuân, làm, làm, làm. Biết làm sao, sức người mà có hạn. Phật chưa tới thì còn một khúc, làm cho nó xong. Ngài nhìn từ xa, Ngài nhìn thấy Phật.
Bữa nào tôi đi tìm cái hình đó, tôi cho mấy cô coi. Cái hình nó đẹp lắm, cái hình mà trước khi Phật chưa thành đạo, Ngài đạp lên mình của người ta. Đẹp lắm.
Ngày gặp Đức Phật, tôi nhìn thấy, tôi nhìn mê mẩn. Trong cái thời đó, Phật Nhiên Đăng rất đẹp. Phật này cũng đẹp, nhưng Phật Nhiên Đăng to lắm, hầu án người nhiều lắm. Tôi nhìn, tôi nhìn mê mẩn. Tôi nằm trải dài xuống cái nền ấy, tôi đọc một câu:
“Bạch Thế Tôn, cái mạng này của con, con đã cúng dường như vậy. Con chỉ mong là được giống như Ngài.”
Thì Đức Phật Nhiên Đăng đứng trước đầu, Ngài nhìn và nói:
“Đây là vị Phật tương lai.”
Sau khi Ngài nói xong, Ngài bước một bước lên trên mình như vầy, rồi bước một bước lên trên đầu như vầy, rồi bước ra, bước nhẹ nhàng. Thấy chị gặp như mình làm bước không?
Đã được bước xong rồi thì chư Tăng không ai dám bước qua, mặc dù Bồ Tát hiến thần thông cho tất cả những người bước qua, nhưng mà chỉ có Phật bước qua thôi. Chư Tăng nể, biết là vị Phật tương lai, ai dám bước?
Chư Tăng mới có những vị đó, có thần thông đó. Vị này đưa hoa ra, tự nhiên có cái vị mới rải đó. Một trăm ngàn vị tỳ-kheo rải bông. Trong cái đám đông mà quần chúng đứng nhìn, có một người cũng rải tên là Xuân Ích Ta, tức là bạn lành của Bồ Tát trong kiếp đó. Xuân Ích Ta tức là hiền trí, người thông minh.
Còn người con gái đứng nhìn cái cảnh đó là Xuân Nít Ta, tức là bạn lành.
Thì nàng đứng, nàng nhìn, nàng thích quá đi. Tay nàng cầm tám cái bông, nàng mới chia cho Bồ Tát. Nàng nói là chia cho năm cái, cúng dường năm cái, còn dư ba cái. Nàng mới nguyện:
“Từ đây về sau, Ngài đi luân hồi ở kiếp nào, tôi ở bên cạnh, tôi lo cho Ngài.”
Thì Đức Phật Nhiên Đăng thấy vậy, Ngài mới nói với Bồ Tát:
“Xin người ta đi. Kể từ đây, nàng này sẽ giúp đỡ Bồ Tát. Bồ Tát đi đâu, Bồ Tát hành ba-la-mật, nàng giúp.”
Tí như bà bố thí gặp người đàn bà khác mà chồng cho nhiều quá là nàng đó cho, cho đến cuối cùng, tới khi nàng đó người ta xin là Ngài muốn cho, Ngài cho mà không giận, không giận.
Bởi vì trong kinh có cái hình mà Bồ Tát, người ta xin cánh tay của Ngài, Ngài cho. Ngài hỏi: “Em cho không?” Người ta đồng ý cho, Ngài chặt liền.
Mình nghe mình không tin, nhưng mình phải hiểu, trong đời nó có những cách như vậy, nó mới thành ra Phật được. Bởi vì có biết thấy không?
Mình không tin, nhưng mình phải hiểu: trong đời nó có những cách như vậy, nó mới ra Phật được. Bởi vì có biết thấy không? Có biết bao nhiêu vị giáo chủ, sao Phật Thích Ca mà muốn làm giáo chủ, nhưng đời nó một ít bữa là nó mất rồi?
Mà tại sao Phật đến mấy ngàn năm nay, người ta thà chết chứ người ta vẫn chuyển kinh sách, đem về dịch, để truyền bá về cái đất này, luôn cả đất này, bao trùm tam thiên đại thiên thế giới? Cái phước của người đó vĩ đại lắm.
Có những người họ hoài nghi về Đức Phật, nhưng khi họ đọc giáo lý, họ nhận ra đó là một tác phẩm dễ sợ quá, dễ sợ quá. Xin lỗi vì tôi đang thu âm, tôi không nói rõ ràng. Nhưng đại khái tôi chỉ nói rằng có rất là nhiều người muốn làm giáo chủ, bày vẽ đủ thứ để lôi kéo, thậm chí còn nhận những phương tiện truyền thông đại chúng, truyền hình, báo chí để mà kêu gọi. Nhưng mà muốn mãi, muốn rồi, họ vẫn làm một cái phạm vi thôi, đơn giản như vậy.
Đức Bồ-tát mà kể từ cái hôm đó nghe thuyết pháp như vậy rồi thì ngài vào rừng để ngồi trong nửa tháng, không ăn cơm mà tụng kinh. Tại sao mà một vị Bồ-tát, lần đầu tiên được thọ ký, phải đắc Tứ thiền, Ngũ thông? Bởi vì với cái trí đó mới có cái niềm tin mãnh liệt như mình bây giờ đó.
Mình không có đắc gì hết. Mình gặp Phật đó, mình nghĩ cái ông đó có phiền não không? Có hiểu không? Thấy ông đẹp, mình cũng thích, hiểu đó, nhưng mà lúc này mình hiểu không? Hiểu gì đâu. Ông đẹp đó, chắc mấy bà này ghen thêm nhiều lắm, chỉ nghĩ như là: “Chết cha nè!”
Còn cái vị ngồi đắc Tứ thiền, Ngũ thông đó thì: “Trời đất ơi, cái chuyện đó là họ rõ lắm.” Chính họ, họ không còn cái chuyện đó nữa, mà làm sao ông kia mà có cái chuyện đó được? Không có chuyện gì vô lý.
Cho nên, đồng thời người đó cũng có trí biết rõ kiếp trước, kiếp sau. Tại Ngũ thông nó có Túc mạng thông mà. Thì với cái trình độ đó, cái niềm tin nó ghê gớm lắm.
Còn như mình bây giờ, mình có học bao nhiêu cuốn này đi nữa, cái đức tin mà nó có giới hạn, nó có vấn đề hết. Tôi nói hoài, tôi nói bây giờ có một vị ông trời nào, ông chư thiên nào, ông vị thiên thần nào mà hiện ra, sáu mặt, ba mươi hai tướng tốt, mà nói cái gì mình nghe hết rồi, mình không có cãi đâu, mình không có cãi đâu.
Ở nãy tôi nói cái gì mới qua đề đó? À ha, đúng rồi, tới hôm rồi, tới đâu rồi? Niết-bàn, chứng ngộ Niết-bàn.
Có những trường hợp phiền não cần phải được đoạn trừ bằng chánh thị kiến.
Niết-bàn, chứng ngộ Niết-bàn.
Có những trường hợp phiền não cần phải được đoạn trừ bằng chánh tri kiến. Đó là tất cả những vấn đề liên hệ về hữu, vô, thường, đoạn; nói gọn là 62 tà kiến đã được đề cập trong Kinh Phạm Võng.
Tôi rất muốn các vị nên duy trì cái lớp này. Một tuần lễ, tôi bận thì bận, nhưng ngày thứ bảy tôi vẫn dùng để giảng lại. Ít nhất cũng phải ba tiếng đồng hồ. Các vị biết, nói về Dương pháp đó, ba tiếng đó là động lực của tôi, động lực rất tốt để tôi thư giãn như vậy.
Một vấn đề giáo lý, khi mình trình bày là mình phải suy tư đầu, đuôi, gốc, ngọn, ngang, dọc, trên, dưới. Phải suy tư để mình trình bày cho người ta. Nếu mấy cô nghe kịp cái đó thì cái trí của mình nó trải ra, trải ra. Phải nói, nếu mình mới học thì mình không có cơ hội nào mà cái tâm thiện của mình khởi lên như vậy.
Chưa, không có. Trước nói như là có một người quen với bạn rồi mà mê rồi đó, họ nói gì mà mình không tin? Có vấn đề. Mà để mình biết như vậy, mình cũng được ra khỏi cái đông người. Kiến thức phải nhiều, kiến thức phải nhiều.
Ví dụ như có một lần, có ông đó bị cùi, ông đi ăn xin. Ông nghe đâu có đông người, ông nghĩ ở đó phải ăn, nên ông đi tới. Mà ông ăn ngoài, ông tới nghe Phật pháp. Nghe Phật thuyết pháp xong, ông đắc đạo. Ông ra đường, ông đi về đó.
Thì Đức Đệ giải thích nó thử không? Nó hiện ra hồi nãy. Đức Đệ giải thích, hiện ra là hiện ra hình Đức Phật.
Nói hồi nãy là người ta nói các pháp đều vô thường, vô ngã. Nhưng mà thật ra nó không phải cái nào cũng vậy, nó cũng có cái nó thường.
Ông Quyền tên Lễ này mà nghe nói giọng Đức vậy, nó nghĩ không phải là Phật. Nghe người ta đọc là nổi óc. Từ vụ này ra mới có mấy bước à. Mà cũng còn rửa được 32 túi thuốc màu, ăn chớm màu, y vác tuyên thức.
Một lần thôi, mà chỉ cần mình tự mình nói, hồi nãy người ta nói như vậy đó. Nhưng mà thật ra nó không phải, nó cũng có cái đó mà vô thường. Vừa nghe nó đứng kia, liền mất người mà là Phật. Đức Phật xin lỗi, biến mất liền.
Nó giỡn nữa, còn mình nghe những người đánh xích mình thử như vậy, nó bị bất tịnh không?
Tại vì các vị quan tâm với pháp quá, muốn tìm hiểu chánh pháp, phải thay đổi một con người như vậy hay không? Tự nhiên có tương tượng gì, tôi nói cho nghe. Một người đó là thầy Thầm Nhân Trưng như vậy. Ông không phải là người xấu, nhưng ví dụ như ông nói với pháp, ông không thay thiết. Nhưng một bữa nào, miễn như những người làm cộng đồng đang đam mê với đường công danh của cuộc đời, thì tự nhiên một ngày, mình thấy họ nghe ông thầy pháp nói xong, tự nhiên họ về tuyên bố là họ không làm gì với cộng đồng nữa, rồi họ lên gặp bà Như Hòa Anh Thiên.
Thấy cũng lạ chứ. Mình cũng tiếp xúc chứ, đi coi còn sao chứ. Tôi có việc, tôi tiếp xúc quá. Tôi đắp ráp sắp sắp rồi tôi hỏi chứ:
“Ông Thắm, cái gì mà ông kỳ vậy?”
Nó lạ, nó lạ. Bởi vì chuyện Phật ba đời rất là... là điều phải sanh như cái dòng quyền Nguyễn là sao? Bởi vì khi đi tu, người ta mới từng, người ta mới ức. Chứ ông trai này, cái gì chắc cũng có, chắc cũng kỳ chứ.
Sao chắc kỳ chứ?
Vì khi đi tu, người ta mới từng trải, người ta mới ức. Chứ ông trai này, cái gì chắc cũng có, chắc cũng kỳ chứ. Sao chắc kỳ chứ? Khi mà ức quá, đồng tâm, người ta hỏi. Người ta hỏi là chết, gặp Ngài là khỏe rồi. Ngài làm một phát là nó lên tới đâu, lên mây luôn.
Đặc biệt như vậy đó. Còn mấy con hỏi làm sao được quả, thì phải nói rõ đó là cái ba-la-mật mạnh đó, cái ba-la-mật thấy hồi nhỏ. Tôi mới hiểu, tôi nghĩ sao mà hành đủ quá: cái ba-la-mật mười, ba-la-mật mà không phải đơn giản.
Chính ba-la-mật nó bổ trợ, nó hỗ trợ cho ngũ quyền của mình. Thiếu một cái, ngũ quyền nó không cân bằng. Mà nếu ngũ quyền không cân bằng thì trí tuệ thiền quán của mình có vấn đề.
Chứ ba-la-mật mình thiếu thì ngũ quyền nó không cân bằng. Ngũ quyền này là tính tự nhiên. Cái mình thấy là đi trong ba-la-mật, nó có cái tuệ quyền, nó có cái tuệ, trí tuệ. Niềm tin của mình nó không cứng, mà cái tín quyền nó phải nhờ cả mười cái ba-la-mật hỗ trợ, nó mới mạnh được. Mà người ba-la-mật yếu thì tín quyền rất là yếu.
Bởi vậy, cái vị thánh trong kinh, nó không phải thánh phàm mà kiếp chót. Dù họ có tài kiến giải mấy, nhưng khi họ đã tin cái gì rồi đó, dù lúc đó chưa có rắc rối mà họ đã tin rồi, họ có thể bán mạng cho cái niềm tin đó. Vậy đó, họ mới đắc được.
Bởi trong năm cái nhân mà đắc đạo hiện thế, đắc đạo ngay trong đời này, nó có một nhân rất là đặc biệt. Đó là niềm tin sắt son với thầy bạn mà dạy mình thành thiền. Nó có cái chuyện đó.
Rồi mấy cô sẽ hỏi tôi thêm lần xưa: lỡ thầy dởm sao? Thì tôi nói là anh xui thôi. Nhưng ít nhất là khi anh tu, là anh phải tin vào vị thầy đó. Còn mà anh không tin, bởi vì anh nghĩ mình phải nương vào cái câu ông bà dạy mình là: lựa bạn mà chơi, lựa thầy mà học. Nó phải chấp nhận nó thôi.
Bởi vì mình có phước, mình gặp thầy. Trời ơi, thì một là mình tính theo tầng bảy của ổng, còn hai là mình nghi ngờ ổng, cái nào cũng tới quẩn hết. Phải tu đúng ông thầy đó. Mà ông thầy trong kinh còn nói, xem là đúng, học ông thầy đó là phải làm ông thầy hướng dẫn đúng theo Tam tạng và chú giải rồi đó.
Mình vì bản thân mình đó, là ngũ quyền mình phải trong sáng. Cái đó là không có biết tập luyện gì hết, chứ mình thời mình phước ít mà thời mình chính xác phước ít, cho nên mình phải được gần như là hoàn chỉnh cái đó, phải hoàn hảo cái đó rồi.
Một cái nữa là mình phải có một cái trú xứ và thực phẩm thích hợp. Thầy bạn thích hợp, trú xứ thích hợp, thực phẩm thích hợp và pháp môn thích hợp.
Tức là như ngài Xá-lợi-phất, pháp này có một người học trò dạy ba tháng, không đắc gì hết, chứ có còn nhớ cái đó không? Cuối cùng, Tôn trưởng pháp này bèn trình nè. Tức là thầy thích hợp, bạn thích hợp, trú xứ thích hợp, thực phẩm thích hợp. Cái này là pháp nhỏ của tôi luôn, bởi nhỏ nó không có nhiều bị...
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái này là pháp nhỏ của tôi luôn rồi, nó không có nhiều bị...
Ở bên Thái Lan, dân Tây phương da trắng qua bên hành thiền, họ nghe như vậy, một thời gian họ sợ lắm. Họ nói: “Trời ơi, tối vô ngồi gớm, không dám ngủ luôn.” Họ thấy cái thân không rồi. Rồi thấy ngồi xung quanh toàn là phân, toàn là nước tiểu, thấy ghê lắm. Lên bàn ăn là mình không dám ăn, thực sự là như vậy.
Những người da trắng, có một số đông họ rất là sợ cái đó. Tại vì khi họ thấy nhiều đó, mình tạo gọi là cái tưởng tượng của họ mạnh lắm. Chỉ cần mà mình không có tu, mình chỉ nghe học, mình chỉ học, mình nghe thầy giảng thôi đó, mình không có mạnh. Mà người không hành, ở quán mà thấy tóc, lông, móng, răng, da, rồi đọc ngược lại da, lông, tóc, lông, móng, cái đống xương, đống thịt, đống bụng đó, rất là dễ sợ.
Ví dụ như trong thân trưởng người, tôi có những cái gớm mà ít ai biết. Những cái gớm như thế này: những cái chuyện mà người ta sợ, cái mũi hoặc là đồ dơ. Trong đời thiết thì chắc dơ phải không, phân, nước tiểu, đàm, nhưng mà tôi không có ghê. Tôi ghê cái rau mà dính vào răng. Chứ em nhìn tôi ghê, có hiểu không? Hoặc là bóc dính dính.
Mỗi người nó có một cái kỵ. Tôi nghi ngờ nếu mà nó có thể có duyên đời trước, chắc là từ đó tôi tu mấy cái đó. Tu cái nào thì bây giờ mình sanh ra mấy cái kỵ cái đó. Phân thì mình cũng gớm đi. Trời ơi, ai mà không gớm phân? Nhưng mà tới phân thì nó dơ rồi, sao tôi bỏ cái phân bên kia chứ tôi không...
Tôi nghĩ như tôi đang đi mà sao nó bị động đậy vậy, tôi thấy ghê rồi tôi bỏ đi chứ tôi không có... Nó không có động ở trong đầu của tôi. Nhưng mà tôi nói chuyện nghe, tôi thấy cái miếng rau dính miệng là hồi đó dính miệng rồi.
Có nhiều người họ thích hợp với đề mục tử thi. Chỉ cần họ nhìn qua xác chết một lần là họ về, họ không còn thương mến người khác ai được nữa. Họ cứ nhìn người đó, họ nghĩ là người này chỉ còn cái thân này thôi, giống cái ghê. Họ chỉ nhìn mắc cười một lần thôi, một lần, chỉ một lần họ nhìn xác chết.
Cũng như ngày mục của vị đó, ngày chết đó của ta ở thời xưa bên Ấn Độ. Ngày đi bán, ngày gặp cô ấy, cô ấy cũng nhìn. Nghe cô ấy cười, nhìn cái hàm răng của mình, nghĩ là nguyên buổi sương. Họ nhanh lắm, họ nhiều đời lắm, họ quen.
Đức Phật nói chúng sanh nó có giống như bốn hạng ngựa đó. Có những hạng ngựa thấy giơ cái roi lên là nó chạy rồi. Có những hạng ngựa roi chạm lên da nó mới chạy. Có những con ngựa mình đánh đến thịt nó cũng không chạy. Có con ngựa mình đánh đến xương nó cũng không chạy. Chúng sanh cũng vậy.
Có những người họ bị sốc cái là họ đi tu liền. Tôi thì tôi dễ vui thôi, nhưng mà tôi nghĩ rằng tôi có những cái đấy, tôi bị xúc động lắm. Ví dụ như cái gì mà tôi thích mà nó bị trầy cái là tôi hết thích rồi.
Trong đời tôi có thích vàng, thích trang sức, thích tiền, nhưng mà đối với nó tôi cũng nản, nản lắm. Cái điện thoại của tôi rất là đắt tiền, điện thoại rất là tốt. Mà bữa nay tôi phát hiện ra là nó bị xước. Tự nhiên đối với nó, tôi thật sự chán.
Không phải nói như vậy là tôi bạc, nhưng mà tôi thấy đối với đạo Phật rất là tốt. Bởi trong kinh, Đức Phật nói, tôi thấy kinh này nó rất là hay, kinh nghiệm lắm. Đức Phật nói rằng có những cái chán, có những cái buồn nên có. Là bởi vì khi nó có, nó làm cho thiện pháp...
Rồi về nghe mấy người bên ngoài nói: “Ông sư nói vậy chứ, mình sống mà cái gì mình cũng mau chán vậy thì tôi bỏ bà nghe.” Tôi nói chứ...
Ở bên ngoài nói, ông Sương nói vậy chứ: “Mình sống mà cái gì mình cũng mau chán vậy thì tôi bỏ bà nghe.” Tôi nói chứ, bà nói không, cái điều đó phải như vậy thôi. Còn chuyện ông bỏ tôi là chuyện khác, đó là ông phụ tôi. Nhưng lời của Phật nói là như vậy: mình đối với thế gian, mình càng ít nắm thì mình càng hạnh phúc.
Mình giống như con khỉ mà thò cái tay vào trong cái hũ dừa, bữa tôi dạy ở Trình Điển đó. Mình muốn thoát được cái bẫy thì phải buông nó ra mới lấy tay ra, chứ không phải muốn nắm mà dễ thoát, không có. Khi ta nắm một món gì đó thì ta không thể nào thoát được, hiểu không?
Thế khi muốn giải thoát, người ta phải biết tại sao ta không cầm được đạo giải thoát trong tay. Vậy chắc trong tay ta đang cầm cái gì đây?
Ông có nhớ bộ phim điện ảnh không? Thứ mình nghĩ về danh lợi. Mình là một người có PSD, mà mình nghe ông Sư Giác Nguyên không có PSD, thì lúc đó trong tay ta đang cầm cái PSD. Mình đang làm chủ một cái cơ sở business mà mình khinh thường sư, nó không có tiền. Ổng giảng giảng chứ ổng cũng nghĩ đến tiền thôi. Lúc đó mình đang cầm cái cơ sở business trong tay, và đạo giải thoát không đến được với mình là vì sao? Vì mình đang cầm đồ, mình nắm cái kia.
Và tôi nhắc câu nói đó trong cái phim Hidden Dragon and Crouching Tiger, sư phụ của cô Nguyên nói với nó: “Con nắm tay lại, con đánh ra một chưởng, con chỉ hạ được một người. Con buông tay ra, con nắm được thiên hạ.”
Nó hay lắm, nó hay lắm. Chứ tôi nhớ vụ con khỉ mà nó đưa tay vô cái hũ dừa, nó nắm lại trái cây trong đó. Nó nắm hoài, người ta lại không nghĩ ra được cái chuyện tại sao nó bị kẹt. Nó mắc cười. Mà thật ra nó đơn giản là buông cái tay ra thì nó lấy tay ra.
Chứ tôi nhớ hồi nhỏ tôi có đọc, hồi đó tôi học tiếng Pháp. Hồi đó tôi bỏ, chứ không phải nói vậy nghe là tôi giỏi. Hồi đó tôi học, rồi tôi bỏ. Hồi đó tôi học dịch tiếng, biết mấy chuyện đó không?
Tôi học cái chuyện có con chuột. Có hai con chuột chơi thân nhau, mà mỗi ngày nó hay leo vô hũ mứt ăn. Một con chuột nhà ở đó lâu, thấy vụ này, nó dắt con chuột kia về, nó nói: “Nhà tụi con có hũ mứt ngon lắm, cho hai đứa ăn.”
Nhưng mà cái hũ mứt đó ở trong nhà của Tây, mà nó kín mít. Muốn đi vô hũ mứt đó là phải nhìn đằng sau cái tủ, nó có cái lỗ. Thế là con chuột nhà đó, nó theo cái ống nước, chui qua cái lỗ, mới vô cái tủ. Nó ăn xong rồi chui ra cái lỗ, theo cái ống nước nó xuống.
Nó rủ con chuột bạn ở phố về. Nhưng mà thấy đang ăn ngon, nó nói: “Nè, mày ăn ít thôi, ăn nhiều là mày chết đó. Cái lỗ mày coi, nó bé lắm, mày ăn sao mà mày chui ra được? Mày ăn nghe!”
Cái đó không phải chuyện cười đâu. Cái đó nó nói nhiều lắm, nghe cô. Cô có nhiều sở hữu quá đó, cô khó thoát đau khổ lắm.
Thì nó nói: “Tao đó, tao sống được ở trong cái ngôi nhà này là bởi vì tao biết không?”
Ông nói: “Khó thoát đau khổ lắm.” Thì nó nói: “Tao đó. Tao sống được ở trong cái ngôi nhà này là bởi vì tao biết. Tao lúc nào ăn, tao ăn món ăn ngon hay ăn dở, tao không biết, lúc nào cũng vừa đủ cái bụng rồi.”
Trong kinh nghiệm có một câu: “Cầm được thì bỏ xuống được, mới nên cầm.” Tức là mình lúc nào cũng phải chừa đến đường rút.
Trong Kinh Mồi, trong kinh có những con nai. Nó ăn mồi xong, nó mê, nó nằm luôn, ta bắt nó. Có những con nai ăn vừa đủ, nó đi đến bằng con đường an toàn nào thì nó rút vô bằng con đường an toàn đó. Đó là những con nai khôn ngoan.
Cũng giống như vị tỳ-kheo đi vào đời, đi hoằng pháp, đi dấn thân vào cõi nhân sinh mà đối diện với ngũ trần và biết đường rút lui. Ở ngũ trần thì giống như bầy nai đi ăn và biết đường rút lui.
Còn những vị dấn thân mà không biết đường rút ra thì giống như bầy nai đi vào trong làng, ăn bẫy, ăn đồ của bẫy nhưng mà không biết đường rút ra.
Hồi nhỏ, tôi có đọc một câu chuyện, tôi hoài kể cái chuyện chuột thành phố. Câu chuyện rất là vui.
Có một con chuột ở dưới nhà, nó dắt một con chuột đói ở ngoài đường về. Nó nói: “Nhà tao có đồ ăn ngon lắm.” Nó dắt bạn về tới nhà. Thằng bạn nó hỏi: “Ở đâu?” Nó dắt đi băng qua nhà bếp. Không thấy bàn, không thấy chủ nhà, nó dừng lại, lấy làm ngạc nhiên.
Nó nói: “Rủ đi ăn mà phải vô nhà bếp chứ. Chủ nhà còn nghèo hơn tao với mày nữa. Tao thỉnh thoảng còn gặp được thịt, chủ nhà này quanh năm không có thịt.”
Nó hỏi: “Vậy chứ mày dắt tao đi đâu?”
“Tao dắt mày vô nhà tắm ăn xà bông.”
Tôi đọc tới đó, tôi bật cười. Nghe mấy cái này nè. Cái này giờ nó ăn cục xà bông này nè. Xà bông mà làm bằng dầu dừa, nó cũng còn ngọt.
Chuột kia nhỏ lắm, nó đâu quen ăn xà bông. Nó ăn một góc, nó gặm qua góc kia, nhấm nhấm nhấm hai, ba cái, nó no rồi đi uống nước.
Chuột kia nói: “Sao mày ăn kỳ vậy?”
“Mình ăn ít ít thôi, mai mốt còn ăn nữa.”
Anh kia nói: “Tao đang đói quá. Tao thấy mày ăn, tao cũng thèm.” Rồi nó ăn hết nửa cục.
Thằng kia nói: “Mày ăn thì mày chết. Ngày mai là bình thường.”
Mà thiệt, khi mà cái cục xà bông đó mình ăn chút chút, chủ nhà lấy để cho mình ăn hoài. Còn nó ăn hết một nửa cục, chủ nhà về thấy rồi dẹp luôn, để lên cái chỗ mà chuột khỏi leo. Nó đói luôn.
Đức Phật nói thái độ của vị tỳ-kheo đi vào đời giống như con ong thưởng thức nụ hoa nhưng không làm cho cái hoa bị ảnh hưởng.
Vị tỳ-kheo đi vào đời cũng vậy. Mình hiểu nôm na giống như con chuột ăn cục xà bông. Nó ăn như thế nào mà chủ nhà không phiền. Nó ăn như thế nào mà chủ nhà phiền, nó là chết.
Đó là những kinh nghiệm sống.
Đức Phật nói rằng, nói gọn là có ba. Nhưng nói rộng thì trong toàn bộ cuộc tu của người đệ tử Phật, chúng ta phải có đến bảy trường hợp phải đối diện phiền não.
Vì sao? Vì phiền não luôn luôn xuất hiện với chúng ta qua mỗi hoàn cảnh và qua thiên hình vạn trạng, muôn hình muôn vẻ. Mình không ngờ được.
Và mỗi hoàn cảnh như vậy thì mình phải có một cách đối diện. Cách đối diện đầu tiên đó là chúng ta phải có những phiền não cần phải được đoạn trừ bằng tri kiến. Và những phiền não đó là gì?
Điểm đầu tiên đó là chúng ta phải có những phiền não cần phải được đoạn trừ bằng tri kiến. Và những phiền não đó là gì? Đó chính là các tà kiến. Rồi đây mình mới nói rõ thôi.
Một người không từng biết gì về ngũ uẩn, xứ, giới, đế; một người không từng biết gì về quán xứ, giới, đế, pháp duyên hệ, pháp duyên sinh, vậy chắc chắn không thể tránh được những suy tư ngớ ngẩn:
“Đời trước ta là ai? Ở đâu? Đời sau ta sẽ là gì và ở đâu? Và ngay bây giờ ta đang là gì giữa cõi đời này?”
Các bạn biết rồi, mình không học thì mình sẽ không thấy rằng thật ra con người đều có những suy tư như vậy. Có khi mình buồn quá đó, mình nghĩ: “Mấy thằng đó đi làm cái gì? Có như mấy cô nghĩ đó không?”
Có cái đêm hồi đó, tôi nhớ hồi nhỏ mà tôi nằm, nằm ngửa ngó trời. Mình mênh mông, mình cứ tưởng tượng: “Nó đi hoài, nó đi tới đâu?”
Và có những người họ đơn giản, họ nói: “Thôi, đâu ai biết gì đâu, mình cũng cần gì mình biết.” Thế là mình sống trong u mê.
Còn anh chàng kia thì tức tối, cứ đi tìm, đi tìm trong tuyệt vọng. Còn bên kia thì sống trong u mê. Cả hai đại độ, không biết đại độ nào tốt hơn.
Anh thì cam phận số phận của buổi sống trong u mê, không cần biết nhiều, thôi chỉ cần đói ăn, khát uống, lấy chồng, lấy vợ, đẻ con, đẻ ra một ghe là được rồi. Đó là sống u mê.
Còn bên này là bươn trải trong tuyệt vọng để tìm hiểu, kể kính thiên văn rồi học về vật lý không gian, rồi hình học vũ trụ, có cái này kia kia. Nó vẫn là một sự bươn trải ở trong tuyệt vọng thôi.
Và cả hai cái độ này, biết không, đó là những cái tà kiến trong cái nhìn của Phật gia, Phật gia đó là của nhà Phật.
Trong cái nhìn của Phật gia, vạn pháp chỉ là vạn pháp, những thành tố phù du sinh diệt theo quy luật nhân quả và tám tướng sinh diệt. Sát-na đời này là kết quả của sát-na đời trước, là kết quả của sát-na đời trước. Sát-na đời sau là tác phẩm của sát-na đời này.
Ngài Sát-la-pháp từng nói rằng… Cái đầu tiên nó hơi rắc rối, cho nên tôi phải giải thích cho các bạn biết nhiều; ngay sau tôi viết rất là ngắn.
Ngài Sát-la-pháp từng nói rằng: toàn bộ sự hiện hữu của mọi thứ trên đời, mọi thứ đấy là bao gồm chúng sanh trong đó nhé, chúng sanh, nhà cửa, đất đá, vân vân, chỉ là sự tiếp nối sanh diệt của danh sắc mà thôi.
Có thể ngay bây giờ—không phải có thể, mà chắc chắn—ngay bây giờ bốn người mình trong lớp chưa đạt đến cái trí tuệ, cái định độ là ai đụng tới mình, mình lầm bầm. Nhưng mà phải chứng nhận rằng cái thấm thiết này nó từ từ sẽ trở thành một vốn liếng thôi mà.
“Sao hôm nay tự nhiên cô học, cô phân tâm quá vậy?”
Có thấy cô phân tâm hả? Tôi dạy vi pháp mà. Kỳ hả?
Một vốn liếng thôi mà. Sao hôm nay tự nhiên cô học, cô phân tâm quá vậy? Có thấy cô phân tâm hả? Tôi dạy Vi pháp mà. Kỳ hả? Không biết phân tâm hay không phân tâm. Tự nhiên Vi pháp thì phân tâm, tự nhiên không phải là phân tâm. Cái chỗ này tôi muốn là phân tôm, mà nếu là phân tôm thì không sao.
Tự nhiên tôi đọc Vi pháp chứ nó dạy tôi các cái nhạy. Tôi đọc được người ta, nó đọc tôi. Tôi tưởng là nó hơi quá, nhưng mà đọc được. Có gì mà con nghĩ như thế đó không? Biết, con biết. Nếu mà tuổi tháng ngoài, tuổi tháng gái hay lắm đó. Biết con nghĩ cái gì? Biết. Biết con nghĩ cái gì? Mà cái đó cần cái hành thiền. Hành thiền sinh á.
Như nguyên đám ngồi, mình đang nói về cái đề mục này nha. Mình đến, có một thiền sinh trong lớp, trong cái khóa mình mới gặp, hành động là mình biết. Vị thiền sư phải có khả năng nói. Tới mỗi khi tôi nhìn thấy người đang ngồi, lấy hoạt chỉ ngay mặt cô đó luôn. Cô ngồi lúc cô thở rồi không có nghe nữa, vì biết cô đang bị stress. Thiền sư mà, tổ sư phải biết cái đó.
Từ đầu sáng giờ cô sống, mọi người không có hết, nhưng mà bây giờ không có được. Đang ngồi, bữa hôm nay chúng ta sẽ nói về sự khác biệt giữa hơi thở trong thiền chỉ và thiền quán. Đang nói: “Ông làm gì mà nhìn mặt cái chị tróc kia? Cô không có nghe nữa. Cô bự đâu mày? Cô đi xách nước cho chúng, cho đại chúng xài, mà có mình cô là cô hiểu không?” Hiểu tại sao ông này đuổi mình đi? Bởi vì sao? Bởi vì cô đang nói chuyện nhà cô mà cô chưa hay tâm trí với thiền sư. Cô nhìn mắt nhé, rất là cầm, rất là cầm, rất là cầm.
Có nhiều thiền sư cũng nghĩ ra thiền sinh đó. Thiền sinh bốn mươi mấy chục người, mỗi người vào phòng, vào phòng ngủ ngục người biết đó để nghe nghe. Nhưng mà nè, hoặc có nhiều vị lên trình pháp, trình pháp thiếu nhà viết. Nói lên trình pháp này hả? Ủa, sao cô có tặng cô hai cái lỗ tai bên trái vậy? Cô luyện gì, cô phải đi tìm hiểu tại sao cô bị cái đó, cô mới thành thiền được.
Mà thật ra là cô chưa hề gãi được cái điển duyên đó, đứng bằng thiền sư. Tôi mà biết một chuyện đó, tôi thấy dễ sợ, là không phải thiền sư, mà một người rất là bình thường.
Một người này tôi bắt ở bãi tượng gần chỗ tôi. Ổng đắt đến mức mà người ta có nhiều người bệnh nan y, xơ gan, cổ chướng, cam tích, phù, này không lên bệnh viện, mọi người nghe không? Mà biết ông đắt đến mức đó mà người ta đó, cơm đùm cháo nóng, ghe xuồng, đậu chật nguyên cái làng đó để đến cho ông bắt mạch.
Ông bắt rất là lạ. Ông bắt, ông hỏi chuyện cô, hỏi cô kia nhà nông, trồng trọt, vườn cây, toàn hỏi không. Ông bắt nói chuyện vậy đó. Bắt xong rồi ông đi, đi, đi, ông đưa cho người ta, người ta hốt. Mình thấy đúng không?
Nhưng mà có biết không? Ông hốt, mình ở xa, mình hốt một lần ba mươi thang. Cô cháy ba thang, không biết. Cô nấu, cô xắt thuốc mà bị cháy ba thang, không biết.
Nhưng mà sáng nay tôi có hỏi một ông thầy thuốc Bắc. Ổng nói ổng phải nhận là ổng phục. Nói cái chuyện đó thì ổng phục thiệt, nhưng mà ổng đoán là, đối với cái người làm thuốc nhiều năm, họ nhìn là họ biết. Cái chuyện chính xác là ba thang hay bốn thang, cái này là lên tới thiên tài rồi.
Mà ổng nói mình đoán là một phần cái này: nếu mà họ uống đủ thuốc mà nó còn mát, họ không có màu đâu. Cái môi của họ đang bỏ màu đó, người ta đoán ra được. Tức là nếu mà nuốt ba mươi thang thì người ta có vị. Có biết một chuyện tức là cái mạch của mình nó có chu kỳ, các bạn biết không?
Là nếu mà nuốt 30 tháng thì người ta có vị, có biết một chuyện, tức là cái mạch của mình nó có chu kỳ, các bạn biết không? Vào thời trăng tàn, cái mạch mình nó đi khác. Cho nên có những lúc trong đời của mình, không phải trong đời mà trong tháng, có những lúc bắt mạch cô đang bị sốt, nhưng bắt mạch nhảy tràn lan làm tôi thấy không sao hết. Tại cái tháng này là tháng trời mùa hè.
Mùa hè là mạch phù. Mạch đó nhiều, cho nên không sao hết. Nhưng mà mùa đông, mạch phù là bậy, là bệnh nhiều lắm. Mùa đông phải là mạch trầm.
Còn mạch… nói, dạy mình trăm cú. Trầm là mạch nó yên, còn mạch phù là bừng bừng. Còn mạch sáp là mạch chết.
Thí dụ như mạch của người chết, nó có những loại mạch như mạch tước trác. Tước trác là con chim sẻ nó mổ. Nó đi như vầy, thay vì mình… Còn nó là mình… yên, yên lâu lắm nha. Mình tưởng chết rồi mà không. Cứ làm hai, ba cái nữa. Chết, chết. Cái đó là tướng trạng, cái tay kỳ.
Cái tay mà chẳng có… Mình bắt, phải lo sợ lắm. Rồi chết rồi. Với hai đứa nào đi, con tim mà… Cuối cùng mà bắt mạch chân mà bắt là chết. Đau mà, mạch chân mà bắt là mất.
Rồi đôi khi lắm à, nam túc nữ phù. Đàn ông mà khi sưng chân, đàn bà khi sưng mặt. Người lớn nữa mà. Đàn ông mà khi bệnh, mình trải qua bệnh nhiều, mà cái chân của mình là… Thầy là hơi ngại rồi. Thầy thường là thầy kiếm chỗ thầy thăng trước.
Thấy cái chân mà sưng như vậy, đàn bà mặt sưng bậy. Nam túc nữ phù. Đó, có những cái đó, trời ơi, dựa vào những cái đó họ đoán ra.
Nhưng có những người dựa vào đó cũng bậy. Những ông đó đi khám bệnh cho người ta, ông nói: “Bệnh mà sao còn hẹn tụi nó cấm cho ăn quýt, mà sao mà ăn quýt?” Ông kia nói: “Trời ơi, tôi ăn có một trái mà sao thầy biết?” Tôi nói: “Biết, bắt mạch là biết liền.”
Cái ngọc trỏ vậy, nó hỏi: “Thầy ơi, sao thầy biết?” Tôi nhìn dễ dàng mà thấy giấu quýt.
Bữa sau thằng học trò đi khám bệnh. Khám xong, nó nói: “Cấp ông ăn thịt gà, sao ông ăn gà?” Ông kêu: “Đâu, cả tháng này tôi đâu ăn gà.” Ông cãi quá chừng. Cuối cùng, nó khen thầy này giỡn, ông đi về.
Nói thầy nó, thầy nói: “Người ta ăn quýt, người ta chịu nhận. Còn con nói người ta ăn gà, mình tóm nhận.” Ông hỏi: “Mọi người có thấy cái gì?” Ông nói: “Mọi người kiếm chỗ lông gà.”
Ông nói: “Thôi rồi, con ơi. Từ con gà mà qua cái chỗ lông gà, nó xa lắm con à. Nhiều khi cái thằng nó ăn ở ngoài miền Bắc, mà cái chỗ lông gà nó đem tới bán ở miền Nam á. Trời ơi, mày ngu quá à!”
Còn cái giỏ quýt thì nó rõ ràng hơn. Mấy đứa nào ăn thì cái giỏ nó ở đó thôi. Giỏ quýt là sao có chuyện mà thằng ăn ở miền Bắc mà bỏ giỏ lông ở miền Nam chứ? Cái chỗ lông gà có thể lắm à nha.
Trời ơi, nhiều người ớt cười, lành băm hết luôn, lành băm.
À, cái gì quên mất tiêu rồi. Tôi nói tới đâu tôi quên rồi? Bây giờ tôi nói trong bài mình tới đâu rồi?
Hết luôn, lành băm… À, cái gì quên mất tiêu rồi. Tôi nói tới đâu, tôi quên rồi. Bây giờ tôi nói trong bài mình tới đâu rồi? Chính cái thấy này dẫn đến trí tuệ giác ngộ về bốn đế. Chính cái thấy này dẫn đến trí tuệ giác ngộ bốn đế.
Tôi nhớ lần đó, tôi có biết một chuyện mắc cười lắm, mà nó cũng có loại là bị học pháp lắm, học hoài, xé tiền não hoài hoài. Như bữa đó, Hương có giận mấy người trong lớp á, nó không muốn đi học. Nó đi trong lớp mà nó ngủ, dở gì cũng xong, nó gạt nhau vậy đó, ngủ giận vậy đó.
Thì thực ra, cái này cũng bị cộng á. Cái chỗ này nói được là có một ông đó hồi nhỏ đi học ở trường làng, trung học ở trường làng. Nói trường làng vậy thôi, chứ ra là trường thị xã đó. Mà học về hóa học, học về hóa học là anh này, anh kia, nước, cốcô, rồi phosphor, rồi hydro, natri, kali, đồ đồ đồ. Ông đó còn thua đi chăn trâu, hái bào ngăn nè.
Thật tình, chính vì mê đi quá rồi ông đó bỏ học, rồi đi Trảng Châu. Rồi gặp mấy ông này, mấy ổng làm giáo liên, rồi tự giáo liên nó chuyển hệ vô. Nó làm đặc hại, là cầm súng chính quy luôn á, lên bộ đội chính quy. Lúc đó anh vô Đông Bưng, anh mới biết chuyện đó.
Mà hồi đó ổng học, rồi mình tiêu rồi. Là anh nói, khi thèm rượu quá, rượu đế mà không có, lấy cồn pha với nước biển nhậu cũng được. Hồi kia anh kể đó, anh nói: “Lúc tôi nhậu ở đó, giữa rừng, tôi mới thấy trật.” Hồi đó mình không nghĩ, không biết trong đời nào có lúc mình xài, mà tới lúc mình vô rừng, mình lấy nước biển á.
Có lúc thuốc men, bồn phiền uống không có, nhưng mà nhiều lúc nó có, có nhiều vụ nó dư. Nó dư là ở ngoài này mình chuyển vô đó. Mình chuyển vô, chuyển đi cái serum đó, truyền dịch cho mấy thương bệnh binh của họ đó. Chẳng hạn nhiều khi nhiều quá đó, rồi đem anh em chiêu đãi trong đó. Buồn quá muốn nhậu mà không có đủ đá, trúng chua, giống như uống rượu thì cần thêm.
Anh cũng biết chút ít về cái đó. Khi mà có bàn, hoặc là lấy nước biển, tại tôi có từng nếm nước biển, tôi biết nước biển nó có nhiều loại. Nhưng cái loại mà bữa tôi nếm, nó chua chua mà ngọt á, thì tha thứ. Còn với chút nước dừa nữa thì có thể là nhậu cũng tốt lắm. Thì ngọt quá, mình thấy có nhiều cái gì nó lạ.
Mình có hiểu biết chút ít thì mình mới thấy kiến thức đời này nó có là tốt, chứ không phải xấu.
Ngày mai này, các vị đi hành thiền mà chỗ nào không đầy, không bạn, mà nửa đêm thôi mà ngồi… Mình đi hành thiền, mình thấy cái gì? Cô thấy ông Diệp, cô thương quá, gặp ảnh, ông ấy nói: “Cô mừng, cô đi theo là cô chết.”
Thương gì là thương, biết đó là ảo, không có theo. Theo là điên. Còn không là mình thở, vật mình thích quá. Tối hành thiền, mình đang đi, mình thở, mình thấy vật ngồi trước mặt mình, lớ lớ lớ lớ lớ, lớ lớ lớ lớ. Đó là ma nó phá mình.
Ma đây không hẳn là… lần thiên nhân, mà ma có năm loại ma: phiền não ma, pháp hành ma, chư thiên ma, thiên tử ma, thiên nhân ma. Ma đều như là…
Thiên nhân ma có năm loại ma: phiền não ma, pháp hành ma, chư thiên ma, thiên tử ma, thiên nhân ma.
Ma đều như là... Có nhiều khi ma quỷ phá mình đã đành, là do cái tâm vọng của mình. Có các ông hành thiền, mỗi lần hành thiền thì thấy nguyên một con nhện bự, giống như con trâu, chụp lên người. Con nhện có cái mặt rất ghê, bự bằng con trâu mà chụp lên người mình thì làm sao chịu nổi.
Ổng la lên. Lâu lâu ổng ngồi thiền, tập trung một lúc thì lại thấy con nhện đó. Cuối cùng, ổng nói cho thầy biết. Thầy nói:
“Bây giờ thầy chỉ con một cái vẽ bùa. Khi nào con nhện hiện ra thì con lấy cây viết, sẵn rồi cứ vẽ, vẽ lên bụng nó hai nét thôi.”
Khi nào thấy nó hiện ra thì phết lên bụng nó hai nét. Từ đó sẽ không còn hiện lên nữa. Rồi ổng...