Các vị có nghe không? Cảm ơn. Sáng nay chúng ta học một bài kinh rất là quan trọng. Chúng ta biết rằng chính Đức Phật đã nói về Tam Bảo bằng ba định nghĩa.
Định nghĩa một là về Phật Bảo. Chư Phật ba đời mười phương là những vị A La Hán tự mình giác ngộ, không cần thầy dạy, là những vị Chính Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đó là Ngài nói về Chư Phật.
Thứ hai là Ngài định nghĩa về Chánh Pháp. Chánh Pháp được Chư Phật khéo thuyết giảng, có nội dung thiết thực, nhắm đến hiện tại, tự mình chứng ngộ, vượt ngoài thời gian, có hiệu năng hướng thượng.
Thứ ba là Ngài nói về Tăng. Ngài dạy rằng Tăng Bảo là những vị đi theo con đường đúng, con đường thẳng, gồm bốn đôi tám vị, xứng đáng với tất cả những lễ phẩm, tặng phẩm, sự kính lễ của nhân thiên, là ruộng phước vô thượng của đời.
Bài kinh này sâu ở chỗ Ngài định nghĩa thế nào là bài Svakkhato. Trong bộ Thanh Tịnh Đạo, phần Định, có dạy rất rõ: hành giả muốn tu sáu pháp tùy niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên. Trong đó dạy niệm Phật là niệm làm sao. Đa phần người Việt Nam niệm Phật chỉ biết niệm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Nam Mô Bổn Sư, hay niệm Nam Mô Buddhaya, chỉ biết là Đấng Cúng Dường. Nếu hiểu như vậy thì nghèo quá. Trong khi mở Thanh Tịnh Đạo ra, người ta giải thích chữ Arahant là sao, chữ Thiện Thệ là sao, rồi chữ Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn định nghĩa ra làm sao.
Mình niệm Phật theo đúng tinh thần Nguyên thủy là phải ngồi yên lại, suy tưởng về ý nghĩa của mỗi hồng danh thì mới gọi là niệm Phật. Trong Phật giáo Nguyên thủy không có vụ réo tên ra niệm, bởi vì nếu chỉ réo tên mà không hiểu nghĩa thì không có công dụng như khi mình hiểu nghĩa.
Sáng nay chúng ta cùng nhau học bài kinh này. Chính Đức Phật giải thích thế nào là Svakkhato Dhammo. Dĩ nhiên Ngài không giải thích từng chữ mà lấy ý chính. Có ông Bà-la-môn đi đến với Phật pháp, nghe Chư tăng tụng đọc mỗi ngày thấy lạ, không biết chữ "khéo" là sao, "hiệu năng hướng thượng" là sao, "vượt ngoài thời gian" là làm sao. Ông hỏi Đức Phật và Ngài trả lời.
Trong chú giải dạy rất rõ, Sanditthiko có nghĩa là tự mình thấy. Phật pháp của Đức Thế Tôn, chính Ngài dạy rằng: cho dù nắm chéo y của Ta mà không hiểu Ta, không làm đúng lời Ta thì cũng như xa ngàn dặm; còn người sống xa Ta ngàn dặm mà hiểu được Ta, làm đúng lời Ta thì giống như đang ở bên cạnh Ta.
Như sau: "Người sống xa ta ngàn dặm mà hiểu được ta, làm đúng lời ta thì giống như đang ở bên cạnh ta." Đó là một bài kinh.
Có điều thứ hai nữa là Sanditthiko, có nghĩa là phải tự mình hiểu chứ không có ai có thể ăn giùm cho người khác no. Cho dù đó là cha ruột, mẹ ruột, vợ con cái của mình đi nữa, mình cũng không thể nào vì tình thương mà hiểu đạo thay cho người ta được. Không biết bao nhiêu lần tôi trình bày chỗ này: một ly cà phê hay một miếng sầu riêng, mình không thể nào ăn rồi diễn tả cho người ta nghe cái mùi, cái vị của nó được, trừ phi mình đưa cho người ta một miếng. Đó là chuyện bình thường nhất ở đời chứ không có gì cao siêu như trong Phật pháp.
Chỉ riêng chuyện ngoài đời, muốn cho người ta biết hương vị của miếng sầu riêng hay ly cà phê ra sao, chuyện đầu tiên là phải đưa để người ta tự thưởng thức. Trong đạo mình cũng vậy, mình có thương ai thì cũng phải hướng dẫn cho họ vào đạo, mở đường và gợi ý cho họ.
Các vị có biết rằng nền giáo dục Âu Mỹ và Á Châu khác nhau một điểm rất lớn. Đặc biệt là Việt Nam, Tàu hay Thái Lan, nói chung vùng Đông Nam Á mình có kiểu giáo dục rất lạ, đó là giáo dục nhồi sọ. Từ đó mới dẫn đến chuyện thi cử bằng cách học tủ, học gạo, chứ không có kiểu giáo dục như Âu Mỹ. Bên Âu Mỹ, bài vở người ta không tìm cách nhồi nhét y như xứ mình, cho nên không có chuyện học gạo học tủ để rồi đi thi trúng tủ.
Trong đạo không có vụ đó. Trong Phật pháp, y như giáo dục Âu Mỹ, có nghĩa là đến với Thế Tôn, Ngài chỉ gợi ý thôi. Thậm chí Ngài nhìn vào căn duyên của mỗi người, có người thì Ngài nói một bài kinh dài, một pháp thoại thăm thẳm, giải thích từng li từng tí; có người thì Ngài nói ngắn gọn thôi.
Ví dụ như có vị tỳ kheo mà hôm qua tôi trích dẫn, khi bị bệnh, Ngài chỉ nói thế này: "Đừng nghĩ rằng ngươi đang bị đau, mà hãy nghĩ rằng cơn đau đang có mặt." Người hữu duyên có trí nghe là hiểu ngay. Hoặc là Ngài gặp một vị du sĩ đến hỏi xin học pháp giác ngộ, Ngài chỉ trả lời vắn tắt: "Khi thấy thì chỉ biết là có cái thấy, chứ không có người thấy. Chỉ có nghe, chỉ có sự nghe, chỉ có lỗ tai đang làm việc chứ không có ai nghe."
Rồi một chỗ khác trong kinh giải thích rất độc đáo về Tứ Diệu Đế như sau: "Chỉ có sự khổ chứ không có người bị khổ. Chỉ có nguyên nhân tạo khổ chứ không có ai tạo khổ. Chỉ có sự chấm dứt khổ chứ không có người thoát khổ. Và chỉ có con đường thoát khổ chứ không có ai hành trì hết." Mình nghe thấy rất kỳ, nhưng nếu học giáo lý căn bản thì thấy mọi thứ lạ lắm. Khi anh thấy anh hay, là anh đã đang dở rồi.
Ngay cả trong thiền định, chỉ quán, hay trong giới luật, bố thí, trong học đạo, trong bất cứ một công đức nào, hễ khi mình thấy mình hay là bắt đầu mình dở rồi. Vì sao? Vì tất cả phàm phu đều là những con bệnh, đều là những bệnh nhân. Không có ai đi khoe với người khác là: "Bữa nay tôi uống thuốc", không ai khoe là: "Bữa nay tôi đi rửa ghẻ, bữa nay tôi xài bao nhiêu bông gòn, bữa nay tôi xài bao..."
Không ai khoe là bữa nay tôi đi rửa ghẻ, tôi xài bao nhiêu bông gòn, bao nhiêu thuốc tím, bao nhiêu thuốc đỏ. Không có ai đi khoe kỳ cục như vậy. Mình đang bị bệnh, từ ngày phát hiện ra mình bị ung thư hay tiểu đường, một ngày uống bao nhiêu thuốc, tôi không hình dung ra được chuyện phải đi khoe cái đó. Chuyện mình tu hành cũng y chang như vậy.
Chuyện mình bố thí là mình đang uống thuốc để chữa bệnh mọn xẻn, bủn xỉn. Chuyện mình giữ giới, nghe pháp, ngồi thiền là mình đang uống thuốc. Không có ai đi tự đắc, tự hào, tự mãn, kiêu mạn, tự tôn vì chuyện mình uống thuốc hết. Bất cứ người nào thấy mình đang tu, đang làm phước mà thấy mình hay là người đó đang bị thêm một chứng bệnh nữa. Bản thân mình đã là phiền não rồi, mình biết đạo, hành thiền, làm phước, bố thí, trì giới mà lại kiêu ngạo với những thứ đó thì coi như bị bệnh chồng thêm bệnh.
Phải hiểu được cái đó gọi là Sanditthiko. Sanditthiko là chuyện của ai nấy biết, chứ không ai biết giùm ai hết. Mình tu mà còn mong người ta biết là hơi lạ, bởi vì mình tu là để giải quyết vấn đề của mình. Mong người khác biết có nghĩa là mình tu giùm cho người khác hay sao?
Thứ hai là Akaliko. Akaliko trong chú giải giải thích là na kalam apekkhati, có nghĩa là không có một hệ thống giải pháp nào, không có một công đức tu hành nào mà có kiểu cho quả lạ lùng như Đạo và Quả trong đạo của mình. Sẵn đây tôi cũng nói luôn, bà con ghi giùm cái này: rất nhiều người cho rằng quan hệ của Bốn Đế là giống nhau, là Tập đế tạo ra Khổ đế rồi Đạo đế tạo ra Diệt đế. Cái đó là sai.
Ngay trong tên gọi là mình đã thấy rồi. Tập đế tạo ra Khổ đế là đúng, vì Samudaya có nghĩa là sự tạo ra. Nhưng Đạo đế không tạo ra Diệt đế mà nó dẫn đến Diệt đế. Nhớ nhé, nó dẫn đến Diệt đế. Tập đế tạo ra Khổ đế, nhưng Đạo đế dẫn đến Diệt đế. Đó là lý do tại sao Đạo đế có tên là Magga, tức là con đường. Con đường không tạo ra cái gì hết, nó chỉ dẫn đến. Ý nghĩa của con đường là dẫn đến, còn Samudaya là sự tạo ra.
Ở đây, một người đủ duyên lành ba-la-mật cộng với pháp môn hành trì đúng với tinh thần Bát Chánh Đạo thì nó dẫn đến một kết quả là không tiếp tục sống trong ngộ nhận nữa. Ba-la-mật đầy đủ cộng với pháp môn hành trì đúng với Bát Chánh Đạo thì dẫn đến kết quả là không còn ngộ nhận, tức là misunderstanding, không còn hiểu lầm nữa. Nghĩa là không còn thấy trên đời này có cái gì để mình thích, và từ đó cũng không thấy trên đời này có cái gì để mình ghét. Khi nào không còn dục ái thì cũng không còn sân nữa. Còn đối với các cảnh thiền thì không, các cảnh thiền mình có thể...
Khi không còn dục ái nữa thì cũng không còn sân nữa. Còn đối với các cảnh thiền thì không. Các cảnh thiền mình có thể thích trong cảnh thiền, nhưng chưa bao giờ có chuyện ai đó bất mãn trong tầng thiền mà mình đạt được.
Riêng cảnh dục thì có. Ví dụ mình thích ăn bánh xèo, nhưng nếu quý vị ép mình ăn tới cái thứ năm, thứ bảy thì lúc bấy giờ quý vị hết thích rồi. Nhìn nó là quý vị đã muốn trào ra rồi. Bất cứ cái gì trong ngũ dục nó đều có mặt trái rất quái gở. Đó là lúc mình mê, mình mê dữ lắm, nhưng khi đã chán rồi thì coi như bỏ không kịp. Từ cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh hương, cảnh vị, cảnh xúc đều như vậy hết. Ngay cả tình cảm nam nữ, cũng đối tượng đó, hồi nào mình thương sống thương chết, nhưng đến hồi nản rồi thì chỉ muốn chết chứ không muốn sống chung được.
Nhưng riêng cảnh thiền thì không. Cho nên đây là lý do vì đâu mà dục ái và sân là một bộ phức hợp. Và khi duyên lành Ba-la-mật hội đủ, tự nhiên hành giả thấy rằng ở trên đời này không có cái gì để mình thích, cũng không có gì để bất mãn. Khi hành giả thấy như vậy rồi, tùy theo mức độ Ba-la-mật, có người thấy như vậy đắc Sơ quả rồi ngưng, có người đắc Nhị quả rồi ngừng, có người đắc Tam quả rồi ngưng không đi xa nữa, có người đắc Tứ quả mới xong.
Chuyện thứ hai, khi họ thấy trên đời này mọi thứ không có gì để thích, không có gì để ghét, tại sao họ thấy được cái đó? Dựa vào cái gì mà thấy được? Dựa vào trí tuệ. Ví dụ như họ tu Tứ Niệm Xứ, họ biết đi là đi, ngồi là ngồi, nằm là nằm. Bao nhiêu năm nay họ tu có bao nhiêu đó thôi. Tôi nhắc lại, không có quán chiếu gì hết. Tôi xin nói rõ, không có quán chiếu danh sắc gì hết, cứ chánh niệm. Buổi đầu không có quán chiếu gì hết, cứ sống chậm lại.
Đây là lý do vì đâu mà hành giả Tứ Niệm Xứ ở một số truyền thống như truyền thống Pa-Auk, truyền thống Mogok, truyền thống Mahasi... bắt học giáo lý trước. Bởi vì học giáo lý lót lòng xong rồi thì coi như mình đã có trí văn, trí tư. Khi có văn có tư bỏ túi rồi mới bắt đầu tu Tứ Niệm Xứ. Phải nói rõ cái đó.
Còn thời Phật, có nhiều người không học gì hết mà vẫn đắc là vì sao? Là bởi vì họ có Ba-la-mật sâu dày và người dạy họ là bậc Thánh. Thời Phật, đa phần người dạy cho người ta đắc đạo đều là bậc Thánh. Còn thời nay, cái Ba-la-mật sâu dày của mình làm sao bì được với người thời đó. Thứ hai là người thầy hướng dẫn cho mình đâu có được như thời xưa. Thời xưa là Đức Thế Tôn, Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp... còn thời này mình đâu có được bậc thầy cỡ đó.
Cho nên thầy bây giờ thua thầy xưa, trò bây giờ thua trò ngày xưa. Mình đừng mở kinh ra thấy hồi xưa người ta không học gì mà đắc, rồi mình bắt chước không học. Kiểu đó giống như thấy người ta không làm lụng gì hết, cứ ra mua tờ vé số về làm tỷ phú, rồi mình bắt chước không học hành, không làm lụng, chỉ mua tờ vé số rồi nhịp chân ngồi chờ trúng. Chuyện đó hơi lạ. Cho nên, ý nghĩa là gì? Là khi duyên lành Ba-la-mật cộng với pháp môn tu chính xác...
Nghĩa là gì? Là khi mà duyên lành Ba-la-mật cộng với pháp môn tu chính xác rồi thì tự nhiên đạo xuất hiện và quả xuất hiện. Đạo xuất hiện là sao? Là chỉ một sắc-na tâm thôi. Ngay trong sắc-na đó, nó có hai nội dung: cắt đứt phiền não bằng cách thấy rõ Bốn Đế và biết Niết-bàn là cái gì. Chỉ một sắc-na thôi, rồi sau sắc-na tâm đạo đó lập tức là tâm thánh quả.
Cái này người không học A-tỳ-đàm thì tôi chỉ nói tới đó thôi, còn quý vị có học thì tôi nói thêm chút. Cái người đắc đạo, nếu là người lợi căn, trí nhiều, thì sau tâm thánh đạo, tâm thánh quả sẽ xuất hiện ba sắc-na. Còn người độn căn, trí chậm, thì sau sắc-na tâm đạo, thánh quả đó xuất hiện hai sắc-na thôi. Cái quả trổ nhanh như vậy, không có gián đoạn. Tức là đạo ở đâu là quả tiếp nối ngay sau đó.
Tôi nhắc lại, đắc là đắc cái gì? Là hành giả thấy rằng tất cả mọi thứ ở đời là khổ. Cái gì thuộc về sáu căn, sáu thức, sáu trần tất cả đều là khổ. Tại sao vậy? Một là nếu nó đắng, là khổ đã đành; mà nếu nó ngon, là dễ chịu thì nó cũng vô ngã, vô thường. Mà cái gì vô ngã, vô thường thì cái đó cũng là khổ. Cho nên hành giả thấy mọi thứ là khổ. Mà nếu mọi thứ là khổ thì thích cái gì cũng là thích trong khổ.
Nếu hành giả hiểu được hai cái này thì lập tức nhận ra rằng trên đời này không có gì để mình thích, cũng không có gì đáng để mình ghét. Khi mình coi nó là đống rác, mình đẩy nó qua một bên thì chuyện trong đống rác đó có cái gì mình không quan tâm nữa. Bởi vì đối với mình đó là đống rác rồi. Mình không cần phải lục lọi trong đó để thấy đây là xác chuột, đây là thân người, đây là giấy vụn, đây là lon, là chai, đây là bắp, đây là vỏ chuối, đây là vỏ dưa. Mình không cần quan tâm nữa, mình chỉ đẩy nó về một góc: đây là đống rác. Các ngài thấy rằng mọi thứ là khổ là đủ rồi.
Và nếu mọi thứ là khổ, không có gì đáng để thích thì cần gì phải bất mãn. Cái quan trọng là chỗ đó. Cho nên nói theo A-tỳ-đàm thì quả vị Tu-đà-hoàn chỉ diệt trừ thân kiến và hoài nghi. Còn giới cấm thủ, thật ra thân kiến và hoài nghi là đủ rồi, vì giới cấm thủ được tạo ra từ thân kiến và hoài nghi. Cho nên rất nhiều chỗ quý vị nghe giảng và đọc sách thấy nói đến quả vị này người ta chỉ nói đến hai cái phiền não thôi, đó là thân kiến và hoài nghi.
Thân kiến là thấy rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, là của tôi. Còn hoài nghi là thắc mắc về chuyện kiếp trước, chuyện đời sau mà liên hệ đến cái tôi. Ví dụ như không biết tôi từ đâu tới đây, tôi chết rồi đi về đâu, không biết hiện giờ tôi là ai trong vũ trụ trời đất này mà sao tôi khổ quá. Cái đó được gọi là hoài nghi. Nói gọn là chấm dứt được thân kiến, hoài nghi. Nhưng nói cho đủ, hỏi vị Tu-đà-hoàn có diệt trừ được tham sân hay không, thì mình mới nói là có. Khi một người không còn thân kiến, hoài nghi nữa thì đối với các phiền não còn lại, họ cũng phải có sự hạn chế.
Người không còn thân kiến, hoài nghi nữa thì họ cũng phải diệt đối với các phiền não còn lại, họ cũng phải có sự hạn chế ít nhiều. Ví dụ như trong 8 tâm tham, thì 4 tâm tham hợp tà, tức là tâm tham đi với tà kiến, thì vị Tu-đà-hoàn không còn nữa.
Còn tâm sân thì sao? Có hai loại tâm sân: một là sân ác có thể dẫn đến sa đọa, thứ hai là mạn. Vị này còn yếu lắm. Tâm sân có bốn thứ là: sân, tật, lận, hối. Sân tức là hờn giận, bực bội, sợ hãi. Tật tức là ghen tị. Lận là bủn xỉn. Hối là ray rứt, tiếc nuối. Vị này chỉ còn cái ray rứt, tiếc nuối và còn một chút phiền lòng thôi, chứ riêng cái tật và lận thì vị Tu-đà-hoàn không còn nữa.
Do không còn thân kiến nên vị Tu-đà-hoàn tuyệt đối không còn bủn xỉn. Bủn xỉn có năm thứ, nghĩa là: không muốn chia sẻ chỗ ở của mình; không muốn chia sẻ thức ăn, vật dụng của mình cho ai; bủn xỉn tình cảm, không có bực bội khó chịu khi mà người của mình đi đến với người khác; bủn xỉn uy tín, nghĩa là không có bực mình khi ai đó ké nhờ danh tiếng của mình. Phàm phu mình thì bủn xỉn về tiếng tăm, bủn xỉn về tài vật, bủn xỉn về chỗ ở, bủn xỉn về tri kiến, tức là không muốn chia sẻ cái biết của mình cho người khác vì sợ người khác giỏi giống như mình.
Một người đã không còn thân kiến, hoài nghi thì họ cũng không còn bủn xỉn, ích kỷ. Không còn ganh tị, ghen tuông nữa. Vị Tu-đà-hoàn không còn ganh tị. Trong tình cảm thì mình gọi là ghen tuông, ngoài tình cảm mình gọi là ganh tị. Vị Tu-đà-hoàn không còn hai phiền não này nữa. Như vậy, vị Tu-đà-hoàn nói gọn là chỉ có chấm dứt thân kiến và hoài nghi. Nhưng đối với trường hợp những người học tạng kinh điển rộng, thì vị đó đối với 10 kiết sử đã có những hạn chế rất nhiều.
Về ngã mạn cũng vậy, ngã mạn có chín loại, đó là: hơn, bằng, thua đem nhân với hơn, bằng, thua. 3 nhân 3 là 9. Nghĩa là: hơn mà nghĩ là hơn, nghĩ là bằng, nghĩ là thua; bằng mà nghĩ là bằng, nghĩ là hơn, nghĩ là thua; thua mà nghĩ là bằng, nghĩ là thua, nghĩ là hơn. Như vậy 3 nhân 3 là 9. Với vị Tu-đà-hoàn, chỉ còn lại có 3 cái ngã mạn thôi: thua biết là thua, bằng biết là bằng, hơn biết là hơn, chứ không còn 6 cái sai lệch kia.
Ngay trong một khoảnh khắc rất ngắn, chỉ một sát-na thôi, vị đó thấy rằng mọi thứ đang khổ. Ngay khi thấy như vậy, vị đó thấy luôn cái thứ hai là nguyên nhân của khổ. Thứ ba, muốn hết khổ thì không thích trong khổ nữa. Thứ tư, sống bằng ba nhận thức vừa kể chính là con đường thoát khổ. Cả bốn cái này cùng lúc có mặt. Khi mình biết đây là mẹ của mình, thì mình cũng cùng lúc hiểu rằng đây là vợ của ba, con gái của ngoại và con dâu của nội. Ngay lúc đó nhìn một cái là biết liền, mặc dù mình không nghĩ rõ như vậy nhưng tất cả những cái biết đó cùng lúc có mặt. Nhìn người đàn bà đó, biết đây là người mẹ của mình, vợ của ba, con gái của ngoại, con dâu của nội. Như vậy, ở đây cả Bốn Đế hiện diện ngay lập tức.
Người mẹ của mình, vợ của ba, con gái của ngoại, dâu của nội, hiểu như vậy thì ở đây cả Bốn Đế ngay lập tức trong một thời gian rất ngắn, chỉ có một sát-na tâm, một đơn vị tâm lý cực nhỏ bất khả phân bất khả ly, vì nó thấy liền bốn cái sự thật này. Thấy rằng mọi thứ là khổ, thích cái gì cũng là thích trong khổ, và hễ thích trong khổ thì tạo ra cái khổ mới. Muốn hết khổ thì đừng thích trong khổ nữa, và sống trong những nhận thức này được gọi là con đường thoát khổ.
Akāliko có nghĩa là đạo đâu thì quả ở đó, và đồng thời thấy được Khổ cũng như là thấy được Tập, thấy được Diệt, thấy được Đạo. Đồng thời khi thấy bốn cái này thì vị ấy cũng cắt đứt các phiền não theo số lượng tương ứng với tầng thánh mình chứng. Ngay lúc mình thấy được Khổ, Tập, Diệt, Đạo bằng trình độ của Tu-đà-hoàn thì lập tức mình cũng cắt đứt thân kiến, hoài nghi, ganh tị, bỏn xẻn, một phần tham và một phần sân, một phần ngã mạn. Các vị theo kịp không? Ngay lúc đó, và đặc biệt như vậy, gọi là quả vị thánh nhân không bị ảnh hưởng trong thời gian, vượt khỏi thời gian tính.
Tiếp theo là thách thức mọi thử nghiệm (Ehipassiko). Có nghĩa là trên đời này, tôn giáo nào, hệ thống tư tưởng nào, ngay cả những công trình khoa học, mình càng đào xới nó càng nảy sinh vấn đề. Ví dụ cách đây ba bữa người ta nói ăn tỏi nhiều là tốt, tưởng sao ba ngày sau người ta nói ăn tỏi nhiều có hại, rồi tuần sau lại nói ăn tỏi có lợi. Nói chung đó là về khoa học. Còn về tôn giáo, tôn giáo nào mình phanh phui ra về nội dung giáo lý, sớm muộn, ít nhiều, sâu cạn, rộng hẹp, cái nào cũng nảy sinh vấn đề. Nhưng riêng con đường giải thoát của chư Phật thì càng hành trì mình sẽ càng thấy cái vi diệu của nó.
Tôi nhắc lại lần nữa, Đức Bổn Sư Thích Ca của mình thành đạo năm 35 tuổi, Ngài Niết-bàn năm 80 tuổi. Kể từ đêm thành đạo năm 35 tuổi dưới gốc Bồ Đề cho đến khi Ngài Niết-bàn dưới gốc cây Sa-la, Ngài không cần có thêm một cái nào hết trong nhận thức, trong hiểu biết. Ngài không cần thấy lần thứ hai, thấy một lần là đủ rồi. Không phải bữa nay nói vầy rồi ngày mai nói khác. Từ đêm thành đạo đến đêm Niết-bàn, Ngài không có đổi khác trong nhận thức, bởi vì nhận thấy một lần là đủ rồi.
Cho nên trong Bát nghĩa Như Lai, ý nghĩa tại sao gọi là Như Lai, trong đó có cái nghĩa là kể từ đêm thành đạo đến đêm Niết-bàn, Đức Như Lai nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Những gì Đức Như Lai đã thấy và đã biết như thế nào thì đến lúc Niết-bàn mọi thứ y chang như vậy. Trong Trung Bộ Kinh nói rằng: "Này các Tỳ-kheo, những gì Ta đã nói về Bốn Đế thì Ta có nói thêm bao nhiêu lần nữa thì Ta cũng chỉ nói như vậy, không có nói khác đi được". Và không riêng Ta, chư Phật ra đời mười phương cũng vậy, khi nói về Bốn Đế thì cũng nói như vậy chứ không thể nói khác được. Do đó các Ngài được gọi là các đấng Như Lai.
Ý nghĩa Ehipassiko là thách thức thử nghiệm. Với một nội dung hoàn hảo như vậy, mình càng nghiên cứu và mình càng hành trì thì mình chỉ càng thấy ra sự kết nối mật thiết của các vấn đề giáo lý. Còn nếu mình thấy ở đó có một mâu thuẫn là do cái thấy của mình có vấn đề, chứ còn trong tất cả các lời Phật thì luôn luôn đồng nhất.
Có một cái mâu thuẫn là do cái thấy của mình có vấn đề. Nhớ chỗ này nhé. Chứ còn trong tất cả các lời Phật thì luôn luôn có một hệ thống mật thiết với nhau. Có điều đặc biệt nữa là không ít phật tử hiểu lầm thế này, họ hiểu theo kiểu mẫu giáo, có nghĩa là Tạng Luật có một nội dung coi như không mắc mớ gì Tạng Kinh, rồi Tạng Kinh thì không mắc mớ gì Tạng A-tỳ-đàm. Nhưng thực tế, khi mình học cho căn bản một chút thì mình thấy rằng Tạng Luật, Tạng Kinh và Tạng A-tỳ-đàm có nội dung bổ trợ cho nhau. Bổ trợ có nghĩa là vừa bổ sung vừa hỗ trợ cho nhau.
Tạng A-tỳ-đàm là Ngài phân tích thế giới và chúng sinh ở góc độ rốt ráo nhất. Tạng Kinh là Ngài nói về thế giới và chúng sinh bằng những khái niệm, ngôn ngữ bình dân nhất, gần gũi với chúng sinh nhất. Còn Tạng Luật là Ngài dạy mình sống theo tinh thần của Tạng Kinh và Tạng A-tỳ-đàm.
Tôi nhắc lại, Tạng A-tỳ-đàm cho mình thấy về thế giới và chúng sinh theo góc nhìn rốt ráo nhất để mình không còn thấy trong đó có cái gì hay, cái gì dở để mà thích, để mà ghét. Tạng Kinh cũng nội dung đó nhưng bằng ngôn ngữ và những khái niệm rất gần với chúng sinh đời thường. Còn Tạng Luật là Ngài dạy mình sống theo tinh thần của Tạng A-tỳ-đàm và Tạng Kinh.
Bên Tạng A-tỳ-đàm thì Ngài dạy rằng danh sắc, thân tâm và vật chất, tinh thần luôn sanh diệt trong từng phút, không có gì đáng để nắm giữ. Còn Tạng Kinh thì nói thế này: sáu căn, sáu trần đều là vô thường, chết rồi bỏ lại hết, chỉ có công đức tu hành là giúp được cho mình mà thôi. Đó là Tạng Kinh.
Qua tới Tạng Luật thì sao? Ngài cấm mình không sát sanh nghĩa là mình phải kiểm soát tâm sân của mình. Ngài cấm mình không trộm cắp nghĩa là kêu mình nhìn lại cái tâm tham của mình. Ngài bảo mình không được nói dối, cái này mình phải nhìn lại tâm tham và tâm sân của mình. Giới nào phạm vào phiền não nào, trong đó người ta có nói rõ để mình học. Cho nên tôi nhắc lại, Tạng Luật là kiểu sống dựa trên tinh thần của Tạng Kinh.
Tại sao Tỳ-kheo không được giữ dư y? Bởi vì khi anh giữ dư y như vậy, rõ ràng là anh không có thì giờ để kiểm soát đời sống của mình. Bởi vì anh phải để ý coi cái y của anh để chỗ đó có bị ẩm mốc, chuột cắn, mưa dột hay bụi bặm không. Một vị Tỳ-kheo mà càng dư đồ nhiều thì phải mất rất nhiều thời gian vào đó. Còn các vị cãi rằng "tôi giữ vậy thôi chứ không có chăm sóc gì hết" thì mình miễn bàn.
Sáng nay học cái định nghĩa về cái đó rất quan trọng. Tại sao gọi là Opanayiko? Có nghĩa là nội dung giáo pháp hướng thượng, dẫn đến sự hướng thượng. Khi ta giữ Giới, Định và Tuệ, có nghĩa là ta từng bước nâng mình lên. Khi ta giữ giới, có nghĩa là ta đã tự mình chấm dứt chủng tử đọa xứ. Khi ta giữ giới là ta đã gạch một đường ngăn cách giữa ta với bốn loài đọa xứ, bởi vì ta làm chủ được thân và khẩu.
Giới là ta đã vạch một cái đường ngăn cách giữa ta với bốn loài đọa xứ. Bởi vì ta làm chủ được thân nghiệp và khẩu nghiệp. Khi ta tu giới là ta đã ngăn chặn chủng tử sa đọa.
Thứ hai, ta tu tập định học thì ta ngăn chặn chủng tử dục giới. Định có hai loại: nếu là định sắc giới thì mình ngăn cản chủng tử dục giới; nếu là định vô sắc thì mình ngăn chặn chủng tử sắc giới. Các vị nghe kịp không?
Tôi nhắc lại, tại sao giáo pháp của chư Phật được gọi là hướng thượng? Là bởi vì ngay lúc mình giữ giới là mình đã ngăn chặn chủng tử đọa xứ. Khi mình tu thiền sắc giới là mình đang ngăn chặn chủng tử dục giới. Khi mình tu thiền vô sắc là mình ngăn chặn chủng tử sắc giới. Và khi mình tu Tuệ, có nghĩa là mình đã ngăn chủng tử luân hồi nói chung. Rất đặc biệt như vậy.
Tôi nhắc lại lần nữa, thích cái gì cũng vậy, thích mà không có công đức thì sẽ sanh làm cái loài tương ứng. Thích ăn ngon mà không có công đức sẽ sanh làm loài ăn tạp. Thích đẹp mà không có công đức thì sẽ sanh làm loài diêm dúa sặc sỡ. Thích thưởng thức mùi thơm mà không có công đức thì sẽ sanh ra mấy loài ong bướm. Thích mà thiếu công đức thì giống như người giàu thích ăn ngon thì có yến sào, bào ngư; còn người nghèo thích ăn ngon thì chỉ có rau rác, đồ tạp nhạp, vì nghèo mà háu ăn nên ăn toàn đồ bậy, đồ bệnh.
Cho nên, thích ăn ngon mà thiếu công đức thì sanh làm loài ăn tạp; thích đẹp mà không có công đức thì sanh làm loài hoa hòe sặc sỡ. Pháp hướng thượng có nghĩa là từng bước tu tập. Mỗi một công đức mình tu tập đang đẩy mình ra khỏi một góc ác pháp, đẩy mình ra khỏi sự sa đọa. Vì mỗi công đức các vị tu tập đều giúp các vị đi ngược lại con đường sa đọa.
Ví dụ như pháp bố thí, mình tu hạnh bố thí là đang đi ngược lại thế giới của sự nghèo túng. Mình giữ giới là đang đi ngược lại sự yểu thọ, bệnh hoạn. Bởi vì giới không uống rượu giúp cho mình đời đời tỉnh táo, không bị mất trí, không bị Alzheimer, không bị khùng điên, không bị tâm thần.
Còn giới không nói dối giúp mình đời đời sinh ra có uy tín. Trong kinh Chú giải nói, phạm giới nói dối dẫn đến mấy chục quả xấu. Ví dụ như quả của nói dối là sanh ra bị hôi miệng. Mặc dù nhân gần có thể là do bao tử hay vệ sinh, nhưng nhân xa là do không giữ giới nói dối. Chính vì nói dối mà sanh ra làm người cao quá mức, thấp quá mức, mập quá mức hay ốm quá mức một cách kỳ dị. Có thể là do nói dối, vì nói dối là nói sai sự thật.
Là vậy đó, ốm kỳ dị, mập kỳ dị, cao kỳ dị, thấp kỳ dị cũng có thể là do quả nói dối. Vì sao? Tại vì nói dối là nói sai sự thật. Hồi xưa mình không thật thì giờ mình cũng bị vậy. Kích thước kỳ dị, nhưng dĩ nhiên đó chỉ là một trong những nhân, chứ không phải thấy người ta vậy là đều từ một nhân. Nhớ nhé, nhiều khi mình trêu chọc người khác mình cũng có thể bị cái đó.
Trong các vị đại Thanh văn của Đức Phật, có một vị thời gian tu tập tương đương với Ngài Ca Diếp, Ngài A Nan, cũng tu một trăm ngàn đại kiếp. Vị này có một thắng hạnh rất vi diệu, đó là trong tất cả đệ tử của Đức Thế Tôn, nói về âm thanh thì vị này chỉ đứng sau Phật. Khi vị này nói chuyện, người ta nghe cứ tưởng là Phạm Thiên nói, cảm thán là Thù Thắng Đệ Nhất Diệu Âm. Tên tiếng Phạn là Lakuntaka Bhaddiya, hoặc như tiếng Việt gọi là chim Ca Lăng Tần Già, có nghĩa là đám đông xôn xao âm thanh đặc biệt như vậy. Nhưng ngài có một ngoại hình rất kỳ cục, đó là ngài rất thấp và béo tròn.
Nhiều người không biết, nhìn vị Thánh tăng Ba-la-mật sâu dày và trí tuệ vời vợi như vậy, tự hỏi vì đâu ngài bị cái nghiệp kỳ cục như thế. Đó là bởi vì nhiều nghiệp cộng lại. Nghiệp thứ nhất là ngài từng trêu chọc một bậc Hiền thánh có chiều cao khiêm tốn. Nghiệp thứ hai là trong tiền kiếp, ngài từng góp ý giảm bớt chiều cao của một ngôi bảo tháp, không phải do thiện chí mà do tiếc của giùm người khác. Tháp cao mười mét, ngài thấy làm hơi phí, bảo thôi làm bảy thước được rồi. Không ngờ cái ý đó làm cho đời sau sinh ra lúc nào thước tấc cũng thiếu.
Và nghiệp ác thứ ba là trong tiền thân, có một kiếp ngài làm vua nhưng có một cái tật rất kỳ cục, giống như Vua Trụ ngày xưa. Vua Trụ đem tù nhân ra hành hạ để nhìn cho vui. Ông thích bắt mấy người phụ nữ mang thai mổ bụng ra coi hoạt động của bào thai ra làm sao. Ông dụ mấy ông cụ bà lão lớn tuổi vật lộn với nhau để ông coi. Ông nói rằng nhìn đám trẻ khỏe mạnh lực lưỡng vật nhau thì thường quá, nên nhìn mấy ông cụ bà lão lụm cụm vật lộn nhau coi có kịch tính không. Cho nên có nhiều nguyên nhân lắm.
Bây giờ tôi trở lại nội dung. Có nghĩa là thông tin này có hiệu năng hướng thượng. Khi ta giữ giới là ta đã cắt đứt chủng tử vọng ngữ. Khi ta tu tập thiền sắc giới là ta đã cắt đứt chủng tử dục giới. Khi ta tu thiền vô sắc là ta cắt đứt chủng tử sắc giới. Khi ta tu tập Tuệ quán thì ta cắt đứt chủng tử luân hồi. Nhưng cắt được tuyệt đối hay tương đối còn tùy thuộc vào Ba-la-mật nữa. Cho nên nói chung, tu tập Ba-la-mật là mình tự nâng mình lên một chiều cao mới. Đây là lý do vì sao giáo pháp của Ngài được gọi là có hiệu năng hướng thượng.
Tiếp theo, cho tôi xin bài mới. Tôi viết lộn rồi, ốm hay thấp là một trong những cái quả của nói dối chứ không phải là nhân. Cho tôi xin cái chú giải. Dạ đúng rồi. Cái thứ hai nữa, cuối cùng là phải có trí. Có nghĩa là giáo pháp của chư Phật chỉ dành cho người có trí. Ngay khi Ngài thành đạo dưới gốc Bồ Đề, Ngài có suy nghĩ thế này: Đạo Ta sâu thẳm, cái đạo mà Ta chứng đắc nó sâu thẳm, đi ngược dòng đời, liệu Ta nói ra có người hiểu hay không, ai trên đời này có thể hiểu được.
Đạo ta sâu thẳm, cái đạo mà ta chứng đắc nó sâu thẳm, đi ngược dòng đời, liệu ta nói ra có người hiểu hay không? Ai trên đời này cũng thích ôm ấp nắm giữ, ai trong đời này cũng thích cái này ghét cái kia. Bây giờ ta ra đời, ta lại nói một sự thật là không có gì để ôm ấp, không có gì để nắm giữ, thì liệu có người nghe được hay không?
Chúng sanh trong đời giống như các loài sen. Có những bông sen mới nhú ra trong sình, có những bông sen đã lên khỏi mặt sình nhưng còn nằm trong nước, có những bông sen đã vươn lên mặt nước chờ nắng gió mưa sương để nở, và có những bông sen đã hé nụ, chỉ chờ một buổi sáng là nở ngay. Chúng sanh trong đời cũng có nhiều loại, nhiều hạng. Mong Thế Tôn nghĩ đến chỗ đó mà có lòng đại bi đi thuyết pháp độ sinh.
Tuy đạo này khó thấy thật, nhưng không phải là không ai hiểu. Bởi vì quý vị nhớ chuyện này: cứ mỗi lần có một vị Phật ra đời là có vô số người được nghe pháp. Chư Phật luôn luôn nhắm đến hai đối tượng để thuyết pháp: một là người có khả năng chứng đạo, và hai là người có khả năng hiểu đạo. Cho dù hôm nay họ không có khả năng chứng đạo với Ngài, nhưng với những gì họ nghe được, họ sẽ đắc đạo ở đời vị Phật khác. Nhớ có hai đối tượng để Phật thuyết pháp độ sinh: một là người có khả năng chứng đạo, hai là người có khả năng hiểu đạo.
Đây là lý do vì sao cứ mỗi vị Phật ra đời lại có vô số người đắc đạo. Họ ở đâu ra? Không phải dưới đất chui lên, không phải trên trời rớt xuống, mà đây toàn là những người đã từng học đạo với chư Phật ba đời. Có người học trực tiếp, có người học gián tiếp. Trực tiếp là gặp thẳng chư Phật, còn gián tiếp là nghe qua người này người kia. Đến một ngày khi duyên lành hội đủ, họ cũng sẽ hóa độ.
Chẳng hạn như đời Đức Phật Thích Ca, có một chuyện thương Ngài lắm. Ngài là một ông vua đi tu, là một đấng Pháp Vương, cha lành ba cõi, là Tứ sinh từ phụ, vậy mà chuyện đói no là chuyện rất bình thường. Cứ mỗi lần Ngài đi độ sinh, có nhiều trường hợp. Bữa đó, Ngài vì độ một người mà nhịn đói, đợi gần tới giờ ăn mới đi bát. Thay vì đi lúc 8, 9 giờ, bữa đó Ngài đợi tới 10 giờ mới đi. Tại sao? Tại vì Ngài biết bữa nay Ngài sẽ gặp một người rất đặc biệt, đó là một cặp vợ chồng già.
Khi hai vợ chồng đang dọn cơm sắp ăn, thấy Ngài ôm bát, họ mới nói: "Dọn cơm ra mà ăn cũng không yên miệng". Nói vậy nhưng bà vợ vẫn cầm nồi cơm đi ra múc một miếng bỏ vô bát cho Ngài. Ngài lấy tay chặn lại. Bà mới nói bằng tiếng Magadhi: "Bhikkhu na bhikkhana", có nghĩa là người ăn xin thì không có từ chối đồ ăn. "Bhikkhu" là người ăn xin, "bhikkhana" là đồ ăn. Hay ở chỗ hai chữ này viết gần giống nhau. Giống như tôi thuyết pháp có câu này: "Thường sống trong đêm, chim sẻ thường gặp may mò. Thường sống bằng đời đêm, thì kẻ đó sẽ thường gặp may mò". Những câu nói dễ nhớ.
Bà mới hỏi: "Tại sao Bhikkhu mà lại từ chối bhikkhana? Tại sao người ăn xin mà lại từ chối thức ăn?". Ngài mới trả lời thế này: "Không phải vậy, bởi vì Bhikkhu có nhiều nghĩa. Một là người đi khất thực, nghĩa thứ hai là..."
Thế này không phải khác, bởi vì chữ Tỳ-kheo có nhiều nghĩa. Một nghĩa, Tỳ-kheo là người đi khất thực. Nghĩa thứ hai, Tỳ-kheo là người hiểu rõ trần gian này là của tạm, ghé ăn bữa rồi bỏ đi luôn, không đáng để mà lưu dấu đời đời, vì thế giới này là thế giới của danh sắc.
Hai ông bà vừa nghe xong câu nói thế gian này chỉ là ghé lại để ăn một bữa rồi đi, thì coi như đắc pháp. Lúc đó đệ tử gặp Phật mới hỏi: "Bạch Thế Tôn, vợ chồng đó già cả không biết Phật pháp mà chỉ nghe một câu mà đắc đơn giản quá. Chúng con tu mấy chục năm rồi không có nghĩa lý gì hết, chưa được như họ". Ngài mới nói rằng: "Hai ông bà này bây giờ thấy họ như vậy, chứ đời Phật Ca Diếp, họ là một cặp vợ chồng cũng tào lao như mình nè. Nghe pháp rồi tai này qua tai kia, không hiểu gì hết. Nhưng họ biết mọi thứ do duyên mà có, có rồi phải mất. Họ cứ nghe kiểu chớp nhoáng, nhưng mà chớp nhoáng nhiều lần thì nó cũng sáng, chớp nhiều lần thì nó cũng thấm. Cho nên do ông bà cứ nghe hoài, nghe cái câu thân này chỉ là của tạm, chỉ là danh sắc sinh diệt thay đổi trong từng giây phút, cứ nghe hoài nghe hoài như vậy đó".
Cùng một lúc hiểu hết, thấy Thánh đạo có mặt là quả cũng có mặt ngay. Thấy được tướng vô thường là thấy được khổ và vô ngã. Thấy được khổ lập tức thấy được tập, diệt, đạo. Và thấy được những cái đó lúc nào thì phiền não cũng được cắt đứt ngay lúc đó. Tất cả mọi chuyện được hoàn tất trong một khảy móng tay, trong một nháy mắt. Đây là lý do vì sao được gọi là A-ka-li-kô. Người ta nói có câu "Tu nhất kiếp, ngộ nhất thời" là như vậy, chỉ cần duyên lành hội đủ.
Hôm nay tôi chịu khó hướng dẫn bà con quý vị, lý do rất đơn giản là trước mắt thấy vậy đó, nhưng biết đâu một lúc nào đó trong đời, nếu nghe trong đời này có duyên, biết đâu quý vị đi về Miến Điện, lúc ngồi thiền quý vị nhớ mấy bài học này cũng có chỗ xài được. Còn nếu không, qua đời sau kiếp khác gặp gỡ chánh pháp, mình học nhanh hơn người khác mà mình không biết vì sao. Đó là vì mình đã từng làm quen với nó mà mình không ngờ. Tôi hỏi các vị, có nhiều chuyện không ai dạy mà mình tự biết, có không? Ví dụ như tự nhiên đến mười tuổi mà biết thương người dưng, có ai dạy chữ tình đâu. Hay là chữ hiếu, có những đứa trẻ hiếu thảo từ nhỏ. Những cái đó là do ai dạy? Là do cái tập khí ba đời nó vậy, chứ không ai dạy hết trơn.
Cho nên sáng nay mình học bài kinh này. Ở đây Đức Phật dạy thế nào là thiết thực hiện tại, thế nào là vượt ngoài thời gian, có khả năng hướng thượng. Giải thích thế này: Xưa nay do tham, do sân, do si mà chúng sanh làm toàn chuyện hại mình hại người. Bây giờ nghe được giáo pháp của chư Phật rồi thì mình không còn tiếp tục tham sân si nữa, cho nên mình không còn làm, không còn nói, không còn nghĩ cái chuyện có tác hại là hại mình hại người nữa. Xưa nay lúc chưa biết đạo thì chúng sanh bị tham sân si chi phối khiến cho tam nghiệp bất thiện, làm toàn chuyện hại mình hại người. Nay nghe được chánh pháp rồi thì không tiếp tục để cho tham sân si tác động, ảnh hưởng, chi phối nữa, mình không còn tiếp tục làm chuyện hại mình hại người nữa. Ý nghĩa này chính là ý nghĩa của toàn bộ bài kinh gọi là: Tự mình thấy, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng thượng. Đó là nội dung giải thích.
Đây là lý do vì sao trong kinh, các vị coi trong Chính tạng, có những bài kinh giống nhau y chang về nội dung lẫn cách nói. Có những trường hợp giống nhau về nội dung mà cách nói khác nhau. Rồi có những bài kinh nội dung nói về hai vấn đề khác nhau thì dĩ nhiên cách nói cũng khác nhau. Tôi nhắc lại, có ba trường hợp: một là nội dung và cách nói giống y chang nhau; hai là nội dung giống nhau mà cách nói khác; ba là cả nội dung lẫn câu chữ đều khác nhau.
Khi tôi giảng kinh, những bài nào trùng, đã học rồi thì tôi lướt qua. Bây giờ đến bài kinh số 56, đây là bài đáng để bà con lưu ý. Tôi ngưng lại một chút. Các vị biết giảng trên mạng có một lợi thế là nếu tôi thuyết pháp theo đề tài tự chọn hoặc theo đề tài quý vị đề nghị thì cũng có cái hay, đó là bà con được nghe món mình thích. Nhưng ngược lại, có những đề tài mình không nghĩ tới, không biết tới hoặc tạm thời không có hứng thú thì coi như mình đẩy qua một bên luôn. Còn khi tôi giảng Kinh tạng, có nhiều bài tôi không thích lắm nhưng trong kinh có thì tôi không bỏ sót.
Chẳng hạn như bài kinh số 56 này có tựa là Người giàu. Ông này đến hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn, con nghe nói hình như trên trái đất này có những thời kỳ cây cối xum xuê, nhân loại giàu có sung sướng. Rồi con nghe cũng có lúc trái đất này mọi thứ điêu tàn, người và của đều thưa thớt ít ỏi, thiên nhiên thì trái gió trở trời. Tại sao vậy?
Các bạn có biết rằng khoa học hôm nay cho chúng ta biết một chuyện, đó là những vùng đất, những châu lục hiện nay không phải là diện mạo duy nhất của trái đất. Có biết bao nhiêu châu lục một thời nổi lên, bây giờ chìm xuống. Có những nền văn minh bị vùi lấp bởi đất đá, cây cỏ. Chẳng hạn như hôm nay, các nhà khoa học dùng phương pháp hiện đại nhất để phát hiện ra bên dưới rừng Amazon có những ngôi cổ thành chìm sâu trong lòng đất.
Ông này hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn, con nghe nói có những thời kỳ trên trái đất này thiên nhiên rất thuận lợi, mưa thuận gió hòa, cây cỏ xum xuê tươi tốt, thức ăn dễ tìm, loài người sống sung sướng thịnh vượng. Và có những thời kỳ mọi thứ trên trái đất này đi ngược lại, không được như vậy, là vì sao?
Có nhiều nguyên nhân lắm. Chỗ này kinh điển khuyên mình rằng, chuyện tự nhiên của trời đất, mọi thứ có mặt thì phải có lúc vô thường, đó là quy luật thứ nhất. Nhưng quy luật thứ hai là tại sao trời đất mưa không thuận, gió không hòa, trái gió trở trời? Đó là bởi vì đời sống tâm linh của chúng sinh trong thời kỳ đó quá tệ. Các vị biết lịch sử của thành Pompeii không? Bị núi lửa phá hủy một trăm phần trăm trong một đêm. Trong kinh nói có những vùng đất, có những thời kỳ mà người dân ở đó trác táng sa đọa, họ không có tu hành, khiến cho chư thiên ở vùng đó họ nổi giận. Những vùng đất mà lòng người hiền không được tôn trọng.
Tệ hạnh khiến cho chư thiên, hễ nhìn thấy là họ nổi giận. Những vùng đất mà lòng người hiền không được tôn trọng, không được bảo vệ thì cũng khiến cho chư thiên nổi giận. Họ chỉ cần nói với nhau rằng: "Nó không biết điều, để cho nó sống chật đất". Chỉ cần họ nghĩ như vậy thôi.
Sự ích kỷ của người Tàu và người Việt, những xứ sở mà tôi đã nhiều năm sống trong nền giáo dục đó. Ở đây tôi không nói đến chính trị, ở đây rất khoa học. Cái ý thức, cái học thuyết đó nó tạo cho người ta một kiểu sống rất bậy bạ: thứ nhất là luồn cúi, sợ hãi, giả dối, ích kỷ. Cái này dù những người trong nước nghe có nổi điên lên thì tôi cũng phải nói thật. Chính người nào có cái đầu một chút thì họ phải nhìn nhận rằng, khi bước ra ngoài, họ thấy những thứ không phải như vậy nó không tệ như thế. Tức là họ chỉ biết tranh thủ quyền lợi cho mình, giả trá, lừa đảo, lươn lẹo, nịnh bợ, uốn lưỡi nịnh hót, luồn cúi, lừa đảo được là lừa đảo, tranh thủ. Đây là những đặc điểm của dân chúng, dĩ nhiên không phải tất cả đều như vậy.
Chính vì cái tâm tư của chúng sinh ở những xứ đó như vậy, nó dẫn đến chuyện họ sản xuất hàng hóa một cách vô trách nhiệm. Làm hàng giả, hàng nhái, rồi tha hồ gây ô nhiễm mà không chút bận tâm. Các bạn biết những xứ như Nhật, Mỹ, Thụy Sĩ, nhiều năm qua chuyện làm ô nhiễm thiên nhiên là tội nặng không tưởng tượng được, và họ tìm đủ mọi cách để bảo vệ môi trường.
Có một chuyện này khó ai ngờ, bên Thụy Sĩ, mỗi ngày tiền nước sạch mình dùng chỉ bằng một nửa tiền nước dơ. Khiếp như vậy. Người Việt Nam không bao giờ nghĩ tới, vì nó không bao nhiêu tiền, nhưng nó nặng là cái tiền người ta xử lý nó. Một khảo cứu của World Bank, tức là Ngân hàng Thế giới, có hai chuyện đáng lưu ý: 50 năm nữa thì một nửa dân Trung Quốc sẽ bị ung thư. Đó là kết quả khảo sát. Thứ nhất là đa phần những vùng dân cư của Trung Quốc, dưới mặt đất và trên cao đều ô nhiễm, đầy các mầm bệnh. Sản xuất vô trách nhiệm.
Cho nên ở đây Đức Phật mới dạy, khi mình sống bất thiện, ác xấu, thì điều đầu tiên là mình tàn phá thiên nhiên, tàn phá môi trường. Bên Nhật, Thụy Sĩ, Mỹ, Đức người ta rất kỹ, nhưng riêng những nơi đó thì cứ đút tiền là họ làm. Người dân không được giáo dục về những vấn đề khoa học, nên cứ ai tranh thủ quyền lợi thì làm. Tôi chỉ lấy riêng trường hợp đó, nó khổ là vì cái học thuyết quái thai và quái gỡ, hoang tưởng trong gia đình, trong xã hội và giữa các quốc gia.
Tiếp theo các kiểu hành động vô trách nhiệm, hôm nay các vị vào Walmart, Trung Quốc đã thành một công trường, một cái xưởng, một nhà máy cho toàn cầu. Cả thế giới này hôm nay, thậm chí ở châu Âu, người ta cầm món đồ lên thấy "Made in China". Ở đâu mà ra? Món đồ đó đều được sản xuất tại Trung Quốc. Cái não trạng đó đẩy Trung Quốc vào chỗ biến đất nước họ thành như vậy, và hôm nay các vị lãnh đạo lại tiếp tục nhập về...
Nó biến đất nước Trung Quốc và hôm nay, các vị lãnh đạo lại tiếp tục nhập mấy cái rác điện tử của nước ngoài vào nước mình. Khi mình sống mà thải ra những chất thải độc hại đó, thì trước khi hại người khác, đầu tiên là mình tự giết mình. Khi mình sống bằng tâm bất thiện, trước khi hạ được ai thì bản thân mình đã bị hại trước.
Trong kinh nói rằng, khi mình có lòng hại người, khi mình sống bất thiện thì giống như mình uống thuốc độc mà mong cho người khác chết vậy. Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia, không bằng tâm hướng tà gây ác cho tự thân. Có nghĩa là kẻ thù luôn tìm mình để hại, nhưng trong kinh nói không có kẻ thù nào đáng sợ bằng chính cái lòng bất thiện của mình. Nếu các vị có lòng hại tôi mà tôi có đầy đủ phước báo, quý vị không có cách nào hại được, tôi khẳng định như vậy. Còn sở dĩ người ta hại được mình là bởi vì ngay lúc đó có một ác nghiệp quá khứ nào đó trổ quả, thì người ta mới hại mình được. Chứ còn không thì trầy trật, không cách nào người ta hại mình được. Cho nên kẻ thù lớn nhất trên đời này chính là bản thân mỗi người.
Kẻ tàn phá môi trường, tàn phá hệ sinh thái trên thế giới này chính là nhân loại. Khi mình sống vô trách nhiệm, sống bằng một cái đầu thiếu suy nghĩ, thiếu thông minh, thiếu tình thương, thiếu bao dung, thiếu vị tha thì chính mình tàn phá môi trường sống của mình. Đó là nội dung của bài kinh số 116. Tôi đúc kết nội dung bài kinh này ở một điểm: môi trường có hai loại là môi trường thiên nhiên và môi trường sống nội tâm.
Trong kinh nói rằng, ở nơi chốn nào đi đứng nằm ngồi bằng tâm bất thiện thì nơi đó chính là cảnh giới sa đọa. Nơi nào mình đi đứng nằm ngồi bằng tâm từ bi hỷ xả thì đó chính là cõi Phạm Thiên. Nơi chốn nào mình đi đứng nằm ngồi bằng nhận thức về Tứ đế, về Tam tướng, về 12 Duyên khởi thì đó chính là thánh xứ, là trụ xứ của thánh nhân. Cho nên cái chùa này là chuồng heo hay là cõi Phật thì tùy thuộc vào người sống ở đây sống bằng tâm gì. Ở ngoài gắn một tấm bảng to đùng là tổ đình này, chùa nọ, nhưng trong đó sống toàn bằng tâm bất thiện thì đó vẫn là cái chuồng trại chăn nuôi.
Có một câu rất hay: Chùa càng to, Phật càng nhỏ. Có nghĩa là khi mình thương mại hóa ngôi chùa, tăng ni không bận tâm đến tu học mà chỉ nghĩ đến chuyện thu gom vật chất, thì lúc đó chùa càng to nhưng Phật càng nhỏ. Sự tráng lệ phải nằm ở hoạt động của chùa, nằm ở tâm tình của những người đi chùa. Tôi nói thật, nếu cái chùa này ngủ một đêm sáng ngày dậy mà nó biến thành nhà tranh, chùa lá, tôi không buồn bằng việc ngủ một giấc dậy thấy mọi người thành tà kiến hết, rồi xin xăm, bói bài, nhảy múa đồng bóng. Cái đó tôi rất buồn đau.
Nguyên đám bỏ đi hết, thành tà kiến hết rồi, xin xăm rồi bói bài rồi nhảy múa đồng bóng. Cái đó tôi rất là buồn, đau, vô cùng đau. Nhưng mà nếu mình ngủ một giấc, học đạo và hành thiền, quý vị nghe kịp không, cái đó không có gì đáng buồn hết. Buồn mà nó còn là điều thú vị nữa. Thú vị ở chỗ cho thấy trên đời này có phép lạ trong một đêm, mình thưởng thức chứ không phải là mình buồn. Cái mình buồn ở đây chính là phật tử trong một ngày mà bỗng nhiên không còn nội dung tâm linh nữa, không còn phẩm chất trong lòng nữa, cái đó mới đáng sợ.
Tiếp theo là bài kinh số 57. Bài kinh này có nội dung rất là thú vị. Có ông Vacchagotta tới hỏi Đức Phật, ông nói: Con nghe đồn Thế Tôn nói là cúng ở chỗ khác không có phước bằng cúng cho Thế Tôn và đệ tử Thế Tôn, đúng không? Đúng, nhưng mà sai. Bởi vì ta có câu: Một nửa sự thật là dối trá. Một nửa cái bánh vẫn là cái bánh, nhưng một nửa sự thật là dối trá.
Ví dụ như bà vợ hỏi: Đêm qua anh đi đâu suốt đêm không về? Nói: Anh đi chùa. Đúng hay sai? Nhưng mà tới 10 giờ ông đã ra khỏi chùa rồi, sau 10 giờ ông hoàn toàn không có ở đó. Ông đi đâu theo cô nào đó, thì nói đi chùa là dối. Rất đúng là ngày hôm qua, 7 giờ anh có mặt ở chùa nghe giảng tới 10 giờ, mà anh dối như vậy thì một nửa sự thật xài không được. Một nửa cái bánh ăn được, nhưng một nửa sự thật thì không.
Người ta đồn rằng Ngài chỉ bảo cúng cho Ngài và đệ tử phước nhiều thôi, thì Đức Phật Ngài giải thích thế này: Nói như vậy là xuyên tạc Ta, nói như vậy là xuyên tạc Như Lai. Trong đây Ngài nói rõ: Ta đã từng nói rất nhiều lần, ngay cả một miếng cơm thừa cá cặn mà đem đổ cho côn trùng, cho súc sanh còn có công đức. Đã nhiều lần Ta nói như vậy thì làm sao mà Ta chống cái chuyện bố thí cho người này người kia? Thức ăn thừa, cơm thừa cá cặn mà đem đổ cho cầm thú nó ăn còn có phước báo, thì nói gì cái chuyện Ta cản người khác làm phước cho người này người nọ.
Tuy nhiên Ta có nói cái này: Cúng dường cho người tu tập, cúng dường cho người có giới hạnh thì công đức lớn hơn người không có giới hạnh. Cúng dường cho người có thiền định thì công đức lớn hơn là cho người không có thiền định. Tại vì sao? Vì trong đây nói rõ, cái người nào mà tâm không còn năm triền cái nữa thì bố thí cho họ công đức lớn. Chuyện đó rất là đơn giản thôi, bởi vì họ là hàng hiếm trong thế giới này.
Ở đây chắc bà con không biết giải thoát tri kiến. Giải thoát ở đây có nghĩa là Đạo và Quả thì gọi là giải thoát. Còn giải thoát tri kiến tức là 19 cái trí phản tỉnh được gọi là giải thoát tri kiến. Chữ phản tỉnh có nghĩa là nhìn lại. Nhìn lại cái gì? Nhìn lại coi mình đã trừ được phiền não nào, nhìn lại xem phiền não nào còn dư sót, nhìn lại tầng Thánh nào, tầng Đạo nào mình đã đắc, tầng Quả nào mình đã đắc và nhìn lại Niết-bàn mà mình đã chứng. Nhìn lại phiền não đã mất, phiền não còn lại, rồi nhìn lại Đạo đã đắc, Quả đã đắc, rồi nhìn lại Niết-bàn mình đã chứng. Phản tỉnh này đem nhân cho bốn tầng Thánh là bao nhiêu? Tại sao chỉ có 19 thứ? Vì ba tầng đầu họ nhìn lại cái phiền não đã trừ và phiền não còn dư, nhưng riêng vị A-la-hán thì chỉ nhìn lại phiền não đã trừ chứ phiền não đâu còn dư đâu. Như vậy thì 5 nhân cho 4 là 20, nhưng mà tại vì...
5 nhân 4 là 20. Nhưng tại vì vị A-la-hán đã đoạn tận hết những phiền não còn sót lại, cho nên đó là Giải thoát tri kiến. Vị Thánh nào đắc quả xong cũng phải nhìn lại xem mình đã đi được bao nhiêu quãng đường đạo nghiệp. Như vậy, với Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến, thành tựu năm pháp này mà cúng dường cho vị đó thì công đức rất lớn.
Trong kinh nói, trong đời Đức Phật có hai bữa ăn được xem là công đức lớn nhất. Thứ nhất là bữa cơm của nàng Sujata. Nhờ bữa ăn đó, Ngài có sức khỏe để tu tập từ phàm sang thánh, chứng thành Phật đạo. Bữa ăn thứ hai công đức không kém, đó là bữa ăn cuối đời của Ngài trước khi rũ bỏ gánh nặng, không còn khổ thân nữa. Bữa ăn cuối cùng của ông Cunda được xem là bữa ăn công đức vô lượng và có quả báo tương đương với bữa ăn của nàng Sujata.
Ngài giải thích rằng: Ta chưa từng nói chỉ nên cúng dường cho Ta hay cho đệ tử của Ta. Ta nói thế này: Dầu là cơm thừa cá cặn mà bố thí cho loài cầm thú, súc sinh, con ong, con kiến cũng có công đức. Có điều, tùy thuộc vào đức độ của đối tượng cúng dường mà công đức đó nhiều hay ít.
Sẵn đây, quý vị ghi giùm tôi kinh Cúng dường phân biệt trong Trung Bộ Kinh. Quý vị cứ mở mục lục Kinh Trung Bộ ra, tìm bài kinh số 142. Bởi vì Trung Bộ Kinh có 152 bài, thì bài này là bài 142. Trong đó có nói đến nhiều đối tượng. Ví dụ, bố thí cho loài cầm thú cũng có phước. Bố thí cho loài người mà không tu hành gì hết thì không bằng bố thí cho một người có tu hành. Bố thí cho người có giới thì quả lớn hơn người không giữ giới. Bố thí cho người có thiền thì quả nhiều hơn người không thiền. Bố thí cho bậc Thánh sơ quả thì quả báo nhiều hơn. Cúng dường cho bậc Thánh cao hơn thì quả báo nhiều hơn bậc Thánh thấp. Và cuối cùng, nếu cúng dường cho cá nhân thì phước báo không bằng cúng dường cho tập thể.
Cúng dường cho cá nhân có đức độ thì phước nhiều hơn cá nhân không đức độ, nhưng cúng dường cho tập thể thì phước báo vẫn nhiều hơn cúng dường cho cá nhân. Ví dụ, bây giờ tôi quý vị sư này quá, tôi cúng cơm cho vị sư này vì vị ấy tu hành trong sạch, tinh tấn. Phước báo đó vẫn không bằng cúng cho một nhóm chư Tăng, mặc dù có thể có vị còn lôi thôi hay tai tiếng, nhưng lúc cúng tôi nghĩ đây là tập thể Tăng. Khi cúng dường cho tập thể Tăng, đừng nghĩ gì hết, chỉ nghĩ đây là tập thể Tăng thì phước nhiều hơn cúng dường cá nhân.
Đừng quan trọng ở chỗ này chỗ kia. Đây là câu thần chú: Muốn được công đức vô lượng thì khi làm phước, ta phải thực hiện bằng tâm vô lượng. Công đức vô lượng chỉ có được bằng cái tâm vô lượng. Tâm hạn chế thì chỉ cho ra công đức hạn chế. Cái này quan trọng vô cùng. Muốn được công đức vô lượng thì bất cứ việc gì, nếu làm bằng tâm vô lượng thì mới cho ra cái quả vô lượng. Trong đây có nói thế này.
Bất cứ công đức nào đi nữa mà làm bằng cái tâm vô lượng thì nó mới cho ra cái quả vô lượng. Trong kinh có nói thế này, chỗ này bản tiếng Việt hơi tối nghĩa nên tôi giải thích: Trong tương lai sẽ có hạng chư tăng với mảnh y vàng quấn quanh cổ, theo ác giới. Ta nói rằng cúng dường cho tăng chúng là vô số công đức. Cho nên khi cúng dường cho những cá nhân không có giới lực, lúc đó trong kinh nói thế này: Phật giáo khi trải qua 5000 năm - bây giờ là khoảng năm 2560, 2562 - nhưng sau này nữa, họ để tóc rồi đi bát, mặc dù vậy người ta nhìn vào vẫn biết đó là ông sư bởi vì trên cổ quấn miếng vải. Đem vật thực cúng dường những vị đó thì công đức vẫn vô lượng, bởi vì những vị đó ít ra họ là những dấu vết sau cùng của một vị Chánh đẳng giác, là dấu vết sau cùng của Tăng bảo, là dấu vết sau cùng của chánh pháp ở đời.
Cho nên thay vì mình chửi đó là ông sư hổ mang, thì mình hãy nhớ rằng dù sao "con hổ mang" đó cũng đang làm sư. Đừng nói rằng tại sao bên hoa lại có gai, mà hãy nói rằng tại sao bên cạnh gai vẫn có hoa. Một cái là tại sao bên cạnh hoa lại có gai - đó là negative (tiêu cực). Mình nghĩ ngược lại: tại sao bên cạnh gai mà vẫn có hoa - đó là positive (tích cực). Tại sao mình mắng người ta là sư hổ mang mà mình không chịu nghĩ rằng họ cũng chịu làm sư? Cách suy nghĩ như vậy thì công đức sẽ khác rất nhiều.
Thay vì mình nghĩ đây là vợ của mình thì mình chán, nhưng nếu nghĩ đây là người dưng thì nó nhẹ hơn một chút. Có ông đó đi bác sĩ tâm lý, bác sĩ bảo bây giờ chỉ có cách là mỗi khi sắp nổi giận, ông cứ vô nhà tắm nhìn thẳng vào trong gương. Như vậy, chúng ta lại có một bài kinh khác. Tiếp theo là kinh tạng khác, như là Kinh Tam Minh (Tevijja Sutta). Trong đó, các vị Bà-la-môn nói rằng một vị Bà-la-môn đúng tiêu chuẩn là phải thành tựu Tam Minh. Tam Minh ở trong tiếng Pali là phải có huyết thống thanh tịnh.
Theo Bà-la-môn, xã hội Ấn Độ chia làm bốn giai cấp: giai cấp Bà-la-môn, giai cấp Sát-đế-lỵ, giai cấp thương gia và giai cấp nô lệ. Có những thời kỳ quan niệm phân chia giai cấp này rất khắt khe (strict). Chính các ông Bà-la-môn bày ra, giống như các ông nho sĩ của Tàu để làm thế. Cái bóng của người nô lệ trên đường mà họ lỡ giẫm lên, họ về phải tắm mỏi tay luôn. Cái bóng người nô lệ quét ngang người họ cũng không chịu, lỡ giẫm lên cái bóng của người nô lệ họ chịu không nổi. Trong gia đình mà lỡ có ai ăn thịt heo là mình và người đó phải súc miệng nhiều lần bằng bùn đất, với ngụ ý là bùn đã dơ nhưng dùng cái dơ này để rửa cái kia còn dơ hơn nữa là thịt heo. Nó giống như mình lấy dầu để chùi, dầu dơ thật nhưng vẫn sạch hơn cái kia. Khi mình xẻ mít xong, mủ dính, mình hay lấy dầu hỏa lau xong rồi mới lấy cái khác lau lại cho sạch. Hoặc khi xẻ mít, bôi dầu ô liu hoặc dầu ăn lên trên con dao thì mình xắt nó cũng sạch. Nó cũng còn một cách của nhà quê đó là sau khi mình xẻ xong, nếu dính nhiều quá thì...
Trên con dao mình xắt, có một cách của nhà quê là sau khi xắt xong, nếu nhựa dính nhiều quá thì dùng cám. Cách rẻ tiền nhất là bôi dầu vào để tẩy mủ cho sạch.
Bên Bà La Môn, họ cho rằng một vị Bà La Môn hoàn chỉnh là suốt bảy đời cha ông, nội ngoại, ông cố ông sơ, không lấy người ở giai cấp khác. Đó là một huyết thống thanh tịnh. Thứ hai là trì chú chuyên môn, sống bằng chú thuật bùa phép. Thứ ba là vị này phải là người thông suốt các chuyên ngành đặc biệt của bộ Vệ Đà. Trong đó gồm có 18 môn học. Trong kinh Vệ Đà của Bà La Môn có phong thủy, bùa chú, võ thuật, binh thư, thơ ca, văn học, nghệ thuật, chính trị, vương pháp... tất cả 18 môn võ thuật, kiếm cung thương giống như bên Tàu có thập bát ban võ nghệ vậy.
Trên bộ này có 18 chuyên ngành thì một vị Bà La Môn hoàn hảo, một là phải có huyết thống thanh tịnh, nghĩa là bảy đời ông bà cố tổ không có lấy người ngoài giai cấp. Thứ hai là bản thân người đó phải là nhà trì chú, tụng niệm, nói thẳng là thầy bùa. Thứ ba là phải tinh thông các chuyên ngành của bộ Vệ Đà. Ông này đến nói với Đức Phật rằng Bà La Môn là như vậy.
Nó không giống như Tam Minh trong giáo pháp của chư Phật. Một con người hoàn hảo không phải dựa vào ba cái đó. Thứ nhất, huyết thống thanh tịnh, cho dầu bảy đời ông bà của mình không lấy người ngoài giai cấp thì chuyện đó cũng không đủ khiến mình trở nên đạo đức. Thứ hai, chuyện bùa chú cho dù có linh nghiệm cách mấy cũng không đủ khiến mình trở thành một người đáng kính. Thứ ba là tinh thông các học nghệ, các chuyên ngành ở trong bộ đó. Trong đời, đâu phải kiến thức quyết định giá trị một con người. Đâu phải bác sĩ, luật sư, kỹ sư đều là những người có đạo đức. Cái bằng cấp suông thì chưa đủ, nó chỉ cho biết anh có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực đó thôi. Còn cái bằng chưa đủ để nói lên nhân cách của một con người, bởi vì có những ông bác sĩ cũng hại người, cũng lừa đảo, lật lọng, lương lẹo.
Cũng có biết bao nhiêu người mù chữ, thất học nhưng họ rất khả kính. Trong đời, tôi biết không ít những người chữ nghĩa gom lại chỉ vừa bằng cái lá me thôi mà cực kỳ khả kính. Trong số những người Phật tử mà tôi biết, tôi phải xem họ là những vị thầy. Thầy ở chỗ nào? Nhờ nhìn họ mà tôi tin rằng trên đời thánh nhân có thật. Họ hào sảng, rộng rãi, mở rộng bàn tay không toan tính, lúc nào cũng sống và nghĩ đến người ta trước. Nhờ họ mà tôi mới tin Bồ Tát có thật. Họ là những cuốn kinh biết đi. Mặc dù bản thân họ không biết chữ, nhưng chính họ tôi coi là thầy, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bồ Tát đâu phải toàn là dân trên trời, mà chính những người nhà quê dốt chữ đó lại dạy cho tôi biết thế nào là Bồ Tát. Ví dụ như ở Vĩnh Long, có bà cụ không biết chữ, cả đời đi cắt lá môn rồi dành dụm mua được vài cây vàng, đi gõ cửa mấy cái chùa nghèo để cúng dường.
Bà Long không biết chữ, cả đời đi cắt lá mướn rồi dành dụm mua vàng. Mua đủ vài cây vàng vậy đó, bà đi gõ cửa mấy cái chùa nghèo ở nhà quê xin lợp nóc, chỗ thì sửa cái cổng, chỗ xây lại một đoạn tường rào. Cả đời bà làm cả chục cái chùa quê, tuy không lớn, tầm tầm vậy đó, mà bà vừa lợp nóc, vừa làm rào cả chục cái chùa như vậy.
Bản thân bà không biết chữ, mà khi hỏi lý do, một nhà khoa học phải ngả nón. Bà dốt mà bà nghĩ sao? Ai trong lúc đau buồn, trong lúc bấn loạn tư tưởng đều phải nghĩ tới chùa. Mà chùa dột như vậy thì tới chùa họ ngồi ở đâu? Cho nên tôi không biết chữ nghĩa, tôi không biết kinh kệ, nhưng tôi chỉ biết chùa là chỗ dựa tinh thần. Có nhiều người mà cái chỗ dựa đó tường hư, cổng hư, mái hư thì người ta dựa vô đâu? Có ai dựa vô bức tường sắp sập đâu? Thế là tôi chỉ giúp cho họ chuyện đó.
Bà dốt mà bà nói được tới đó thì phải nói là cái giá trị đạo đức không nằm ở chỗ anh có kiến thức chuyên ngành chuyên môn hay không, mà ở chỗ nhân cách của anh, đạo đức của anh ra sao. Chứ còn kiến thức chuyên môn thì chưa chắc lắm. Một là sự thanh tịnh trong huyết thống, hai là mình có giỏi bùa chú hay không, ba là mình có tinh thông những học nghề chuyên môn hay không, bấy nhiêu đó không đủ.
Trong khi đó, Tam Minh trong đạo Phật lại khác. Tam Minh thứ nhất là đắc chứng thiền định, thấy rõ quả luân hồi. Thứ hai là thấy được nhân luân hồi. Và thứ ba là thấy được tội khổ luân hồi để rồi chấm dứt nó. Muốn đắc được Tam Minh, chuyện đầu tiên là phải lìa bỏ năm dục, không có thích thú trong năm dục nữa mới đắc Sơ thiền. Chán Sơ thiền mới đắc Nhị thiền. Tôi nhắc lại: phải chán năm dục mới đắc Sơ thiền, chán Sơ thiền mới đắc Nhị thiền, chán Nhị thiền mới đắc Tam thiền, chán Tam thiền mới đắc Tứ thiền. Đắc Tứ thiền này mới có khả năng đắc được Tam Minh.
Cái Minh thứ nhất là Túc Mạng Minh, thấy được quả sanh tử. Có nghĩa là gì? Thấy được mình kiếp trước, người ta kiếp trước từng sống ở đâu, mặt mũi ra sao, thích cái gì, ghét cái gì, ác hay thiện. Thấy được quả luân hồi là thấy được tiền kiếp của người ta.
Cái Minh thứ hai là Sanh Tử Minh, là thấy được nhân quả, vì đâu mà người ta lại sanh ra như vậy. Thí dụ như Túc Mạng Minh là thấy được mình, hoặc là bà áo nâu này, kiếp vừa rồi làm hoàng hậu, làm vua, kiếp trước nữa làm ăn mày, ăn cướp, kiếp trước nữa làm thầy chùa, linh mục, rồi kiếp nữa làm du đãng, kiếp nữa làm thương gia, kiếp trước nữa làm tổng thống, thủ tướng, giáo hoàng... đó gọi là thấy được quả luân hồi. Còn nhân luân hồi là thấy rõ rằng do nghiệp sát sanh mà người ta bị như vầy, do nghiệp bố thí mà người ta được như vầy. Thấy được quả luân hồi thì gọi là Túc Mạng Minh, thấy được nhân luân hồi gọi là Sanh Tử Minh.
Rồi tới cái thứ ba mới ghê, là Lậu Tận Minh. Thấy rõ rằng đời sống này chỉ là sự quẩn quanh của nhân và quả. Mười hai thứ này đều là Khổ đế. Muốn hết Khổ đế thì đừng thích trong Khổ đế nữa. Như vậy, đối với sự đắc chứng Bốn Đế, vị này chấm dứt nhân và quả, chấm dứt sanh tử luân hồi. Sự chấm dứt luân hồi này được gọi là Lậu Tận Minh. Đó là Tam Minh trong Phật giáo, gồm từng bước như vậy. Trước hết phải...
Dứt sự luân hồi này được gọi là Lậu tận minh. Đó là Tam minh trong Phật giáo, gồm từng bước: trước hết phải nhàm chán năm dục, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, mới đắc được Sơ thiền. Chán Sơ thiền mới đắc Nhị thiền. Chán Nhị thiền đắc Tam thiền. Chán Tam thiền, với trình độ tu thiền, mình mới thành tựu được ba minh.
Minh thứ nhất là thấy được cái quả luân hồi, mình đã sinh ra ở đâu, làm người hay thú. Minh thứ hai là Sanh tử minh, thấy được vì đâu kiếp đó mình làm người, vì sao kiếp đó mình tạo nghiệp gì, thiện hay là ác. Minh thứ ba là thấy rằng nhân quả đều là sự lẩn quẩn trong ba cõi sáu đường, trong vô thường, khổ, vô ngã. Tất cả đều là Khổ đế. Thấy rằng còn đam mê cái gì đi nữa cũng là đam mê trong Khổ đế. Mà hễ đam mê trong Khổ đế là tiếp tục tạo ra Khổ đế. Muốn hết Khổ đế thì đừng tiếp tục có Tập đế nữa. Sống bằng ba nhận thức này cộng lại được gọi là Đạo đế.
Ba minh này mới là ba minh của chư Phật ba đời mười phương. Còn nội dung của Ba-la-môn thấy thì hay nhưng xài không được, không chặt chẽ và giá trị không tuyệt đối. Lý do là bởi vì sự thanh tịnh về huyết thống chẳng là cái gì hết trong thực tế. Thứ hai, bùa chú cũng chẳng có giá trị thực gì hết trong thực tế. Và thứ ba là kiến thức chuyên ngành, dĩ nhiên mình sống bên đời cũng cần, nhưng xem nó là tất cả là sai.
Nên nhớ rằng nhiều thứ ở đời này rất cần thiết nhưng không nên xem là tất cả. Ví dụ như nhan sắc có cần không? Đẹp trai cũng dễ thuyết pháp. Người con gái có nhan sắc thì cũng dễ nhìn, dễ làm việc, dễ xin việc hơn người không có nhan sắc. Rồi sức khỏe, tiền bạc, trên đời này có nhiều thứ rất cần thiết nhưng đừng bao giờ xem là tất cả. Vì nó mà cái gì cũng làm là sai. Cho nên tôi nhắc lại, kiến thức chuyên ngành là cần thiết, tôi không phủ nhận giá trị của nó, nhưng lấy nó làm thước đo giá trị của một con người thì tuyệt đối không nên.
Bây giờ mình đã giảng xong bài giảng sáng nay và hẹn lại bà con chiều nay gặp ở đây. Chúc các vị một ngày vui. Xin chào quý vị.
Bài 52. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Các Bà-La-Môn (tt1)
Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.
Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.
Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
- Định nghĩa Tam Bảo
Giải thích chi tiết về Phật, Pháp, Tăng theo lời Đức Phật trong Kinh Tăng Chi.
- Ý nghĩa niệm Phật
Phân biệt cách niệm Phật trong Phật giáo Nguyên thủy và các truyền thống khác.
- Giáo dục và hiểu biết Phật pháp
So sánh phương pháp giáo dục và cách tiếp cận Phật pháp qua trải nghiệm cá nhân.
- Giáo lý Tứ đế và vô ngã
Phân tích sâu sắc về Tứ đế và quan niệm vô ngã trong Phật pháp.
- Duyên sự và kinh nghiệm tu tập
Chia sẻ các câu chuyện thực tế minh họa duyên sự trong hành trình tu tập.
- Ba minh trong thiền định
Trình bày ba minh: minh luân hồi, sanh tử và lậu tận minh trong thiền định.
- Giá trị thực tiễn và chuyển hóa
Nhấn mạnh không nên xem các yếu tố đời thường là tất cả trong tu tập Phật pháp.
Giữ lại một điều có thể thực hành
Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.
- Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
- Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
- Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.