Bài 34 · Pháp thoại

Kinh Tăng Chi | Chương Hai pháp | Phẩm Các Hy Vọng (tt1)

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

1:45:4316.461 từƯớc đọc 63 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 34 / 108 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương Hai pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dung

  1. Hai tâm thái căn bản

    Giải thích về tâm thái thích và bất mãn là nguồn gốc của khổ đau.

  2. So sánh lòng tham và sự bất mãn

    Lòng tham ví như biển cả vô tận, bất mãn như ngọn lửa không bao giờ tắt.

  3. Mức độ thích của các bậc thánh

    Phân biệt sự giảm thiểu thích và bất mãn qua các tầng thánh hữu học và A-la-hán.

  4. Nhận thức và trí tuệ

    Nhận thức hợp lý giúp giảm tham sân và khổ đau trong đời sống.

  5. Ảnh hưởng của môi trường và tiền nghiệp

    Sở thích hình thành nhân cách và cách sống dựa trên tiền nghiệp và môi trường.

  6. Thực hành chánh niệm

    Tứ niệm xứ giúp hành giả nhận thức rõ vô thường, vô ngã trong từng khoảnh khắc.

  7. Ứng dụng trong tu tập

    Chánh niệm và tỉnh giác trong sinh hoạt hàng ngày là con đường giảm phiền não.

Transcript đã chỉnh

Sáng hôm nay mình học tiếp hai hạng nữa: người khó thỏa mãn. Thứ nhất là tích chứa các loại dưỡng. Thứ hai là thu phí các loại dưỡng.

Chúng ta biết rằng chúng sinh trong đời này, dù ở cảnh giới nào đi nữa, thì cũng chỉ quanh quẩn trong hai tâm thái: thích và bất mãn. Thích rồi bất mãn. Cái thích đó được ví dụ giống như lòng tham, như biển. Có bao nhiêu nước đổ vào cũng không đầy được. Còn sự bất mãn của chúng sanh thì giống như lửa. Có bao nhiêu cũng đốt hết trơn.

Lòng tham thì như biển, còn cái bất mãn thì giống như lửa vậy đó. Nếu ví dụ là lửa, quý vị có cung cấp cho nó bao nhiêu nhiên liệu thì nó không bao giờ biết no. Càng có thì lửa cháy càng lớn. Còn nước trong biển, bây giờ quý vị có đem bao nhiêu nước đổ vô biển thì tôi không tin là mình có đủ nước để làm cho biển tràn. Không được. Cái biển chừng đó, nước muôn sông đổ về thì trước sau vẫn vậy. Mà lửa thì quý vị có cung cấp cho nó bao nhiêu nhiên liệu, tự nhiên nó đốt. Nhiên liệu được ký hiệu là vật chất. Đốt có bao nhiêu nhiên liệu đi nữa thì ngọn lửa cũng không có đủ mà dừng lại.

Lòng mình cũng vậy. Trong cuộc đời này cứ thích rồi ghét, ghét rồi thích. Hai cái này nuôi dưỡng lẫn nhau, và cứ như vậy. Nhiều lần tôi nói, lịch sử của riêng mình và cái vòng luân hồi vô tận của mình nói chung, đó là lịch sử của những trận lửa. Là sao? Cứ thích cái này thì phá cái kia, phá cái kia để có chỗ cho cái mình thích. Rồi thời gian sau đó, tự nó bỏ mình nó đi, tự nó cháy hết, hoặc là tự mình bỏ nó. Khi không thích nó nữa thì coi như đã bị hủy, đã bị xóa sổ.

Cứ như vậy, trên cái dòng dịch chuyển bất tận, miên viễn của vòng luân hồi, chúng ta cứ mãi hoài lăn lóc trong cái sai vần của hai tâm thái: đam mê và bất mãn; tích chứa và xóa sổ. Người tu tập cầu đạo giải thoát là sao? Là không thấy có cái gì đáng để thích. Và từ đó dẫn tới chuyện không có cái gì đáng để bất mãn.

Vì có thích thì mới có bất mãn. Tôi thích màu sáng thì tôi ghét màu tối. Tôi thích mát nên tôi ghét nóng. Tôi thích ấm nên tôi ghét lạnh. Đại khái như vậy. Không có chữ thích thì không có chữ ghét.

Cái này không có chỗ nào để tham ái, không có chỗ nào để gắn níu. Thánh đã đắc quả A-la-hán. Còn vị thánh hữu học ở ba tầng thấp, tức là còn tứ đại học, các vị cũng còn có chỗ thích. Tuy nhiên, hai bậc thánh đầu tiên thì còn có chỗ thích, còn có bất mãn, mặc dù so với phàm phu chỉ là một phần triệu. Còn lên tới tầng A-na-hàm thì cái thích của vị này hạn chế tới mức tối đa, có nghĩa là vị này không còn niềm đam mê, thích thú, nắm níu trong năm trần nữa, mà vị này chỉ còn có một tí trong thiền thôi. Tuy nhiên, có nhiều người học A-tỳ-đàm hiểu lầm chỗ này, cứ tưởng A-na-hàm người ta còn thích, thì có nghĩa là cái thích đó của người ta.

Người học hiểu lầm chỗ này, cứ tưởng: nay ta còn thích thì cái thích đó giống nhau. Thí dụ ông bác sĩ cũng thích ăn ngon, người không biết chữ cũng thích ăn ngon, đứa bé nào cũng thích ăn ngon, người nông dân cũng thích ăn ngon. Mình nghe vậy, nghe cái gì cũng “cũng”, rồi tưởng giống nhau. Chứ không phải.

Ông bác sĩ cũng thích ăn ngon, ông nhà quê không biết chữ cũng thích, đứa bé cũng thích. Mình tưởng cái thích đó giống nhau, nhưng không phải. Ông bác sĩ, một phần vì kiêng khem, một phần vì nghề nghiệp, không thể tung tăng ăn uống như mình. Đặc biệt là nhận thức của ông về tác hại của các chất, về căn bản vững vàng, sâu sắc, rộng rãi, thuyết phục, có chứng minh hơn mình rất nhiều. Cho nên mình nghe ông cũng thích, nhưng cái thích của ông bác sĩ hoàn toàn không giống cái thích của một người nông dân, một người thể thao, hoặc một đứa bé.

Ở đây phải ghi nhận chỗ đó. Vị A-na-hàm không còn thích năm dục, mà chỉ còn thích thiền. Nhưng cái thích này là cái thích của người đã hiểu Tứ đế là gì, hiểu được mọi thứ ở đời là khổ. Thích cái gì cũng là thích trong khổ, vì vị đó thấy rất rõ. Chỉ còn điều do sót dư một chút vô minh, cái thấy Bốn đế chưa rốt ráo như vị La-hán, nên vị này còn có một chút cảm thấy thích thú trong thiền.

Trong kinh ví dụ giống như một người ngồi ở trong nhà xí, nhà cầu, tình cờ nghe một mùi thơm ngon lành của hoa sứ bay qua cửa sổ. Người ấy nói: “Ồ, sáng nay hoa nở thơm quá.” Có thích, nhưng cái thích của một người nhận thức rất rõ rằng ta đang ngồi trong nhà cầu, quanh ta có bao nhiêu thứ bất tịnh, bao nhiêu thứ vi trùng, vi khuẩn. Biết rất rõ, chỉ còn có một chút thích trong mùi hoa sứ thoảng qua cửa sổ. Nhưng cái có này rất yếu.

Biết rõ mình đang ngồi trong toilet, biết rõ mình đang ở trong tình trạng bất tịnh, biết rõ trong mình đang có vô số mầm bệnh. Nghe thơm thì nghe vậy thôi. Như thấy một người cùi mà họ xài mỹ phẩm, mình biết rõ cùi là gì. Mình nhìn thấy lở loét, họ có xịt nước hoa đắt tiền thì mình cũng biết. Khi nghe mùi đó mình có một chút thoải mái, nhưng mình biết rõ: mùi này thơm, nhưng cơ thể là cùi lở, bất tịnh.

Nói khác đi, mình đừng có tưởng là cái thích nào cũng giống nhau. Người ta biết rất rõ, nhìn rất rõ mùi hương này từ một thân cùi lở mà đi ra. Mùi thơm kia cũng từ trong một hình hài, trong một cảnh sắc thấy ớn như vậy.

Như vậy, ở đây có hai trường hợp khổ: thỏa mãn khổ và bất mãn khổ. Trường hợp thứ nhất là đam mê, trường hợp thứ hai là sự bất mãn.

Phần này có hai trường hợp: khó thỏa mãn khát vọng. Thứ nhất là đam mê, và trường hợp thứ hai là sự bất mãn.

Cái đam mê đó, bớt mê nó cũng còn nhiều. Cả một cuộc hành trình sinh tử của mình, buồn vui khổ lạc gì cũng vẫn quanh quẩn ở trong đó, vẫn còn ở trong cái thích rồi ghét này. Còn có thích thì còn có ghét, còn có ghét thì còn có khổ. Thích mà không được cũng khổ. Mình ghét, mình bỏ, mình né tránh, còn sống cũng đã khổ.

Làm ơn nhớ giùm cái này. Nó rất là bình thường nhưng mà nó sâu vô cùng. Toàn bộ đời sống của chúng ta chỉ vẫn bên trong thích và ghét.

Vì đâu mà có cái công thức này? Là bởi vì thích chính là gốc của ghét, mà ghét là gốc của khổ trực tiếp. Như vậy thì cái thích là gốc của khổ gián tiếp. Ghét là cái gốc của khổ trực tiếp. Mà dầu gián tiếp hay trực tiếp cũng đều là khổ.

Cái trái lựu đạn, lúc nó có chốt, nó chưa có rút chốt, nó nằm trong túi mình, nó vẫn là cái lựu đạn. Nó là gián tiếp, nghĩa là ngay bây giờ chưa có chuyện gì hết, nhưng mà nó là lựu đạn.

Ngày xửa ngày xưa, tôi có đọc một câu chuyện ngắn của ông... có kể những câu chuyện mà quý vị nghe là tào lao, nhưng mà tôi nói tôi coi đó là công án để quán.

Có cái cô nọ may mắn có được một tấm chồng giàu sang, quyền lực. Cô có cả một tương lai chói lọi, rực rỡ, lung linh, lấp lánh. Nhưng có một điều, trong quá khứ của cô có góc tối mà không mấy người biết, và bản thân cô cố giấu. Đó là cô trong một cuộc tình lỡ với người xưa, có con với người ta.

Mà cô vẫn còn đẹp, cô vẫn còn trẻ, cô vẫn còn thanh xuân, vẫn còn gợi cảm. Thế là cô dễ dàng có được cuộc tình thứ hai, nhưng mà cô tìm mọi cách để giấu giếm đứa con của cô với người trước.

Vì nhớ con quá, cho nên thỉnh thoảng cô hẹn với người mình nhờ chăm sóc, dắt em bé tới chỗ gầm cầu gần nhà cô để cô chạy ra nhìn con, ôm con, hôn con, nựng nịu, trò chuyện, vui đùa tí tí rồi mới chạy về. Lâu lâu làm như vậy.

Có cái lần đó, bà vú nuôi, bà mà chăm sóc đứa bé, phải đem đứa bé tới giao cho cô xong thì có việc phải đi. Như vậy cái địa chỉ còn lại có hai mẹ con thôi. Hai người đang vui đùa như vậy thì thình lình bà thấy ông chồng đi tới. Bà sợ quá, bởi vì toàn bộ tương lai của bà nó sẽ nằm hết trong buổi chiều này, cũng như bây giờ bà làm gì, phản ứng, đối phó tình huống ra sao.

Bà nhìn quanh không có cách nào, không có chỗ nào để giấu con được. Bà thấy dưới chân cầu có cái lồng sắt để bảo vệ chân cầu. Bà mới kêu con chui xuống dưới. Xong rồi bà cũng tỉnh bơ nói chuyện với chồng, giống như đi hóng mát vậy.

Nhưng mà bà vừa nói chuyện với chồng, vừa nhận ra một chuyện cực kỳ kinh hoàng, đó là nước đang lên. Theo cái đà này, một lát nữa nước sẽ ngập hết cái lồng sắt này, con bà nó chết. Mà bà cứ mãi phân vân giữa hai quyết định: một là cứu đứa bé lên...

Có một bà mẹ, nó chết mà bà cứ mãi bồng quay đầu. Cho thấy có hai quyết định: một là bồng đứa bé lên để cứu nó, hai là cứ lặng lẽ coi như không có gì xảy ra. Nước cứ ngập dần, ngập dần, ngập dần.

Các vị nhớ, tôi không phải là phụ nữ, tôi không phải là người mẹ, và tôi cũng chưa từng có con. Nhưng cái cảm giác này, tôi nghĩ rằng bản thân chúng tôi và tất cả mọi người đều hiểu được cảm giác của người mẹ trẻ lúc ấy. Chắc chắn là có đồng cảm ít nhiều, sâu cạn.

Thôi thì cô ấy cứ nói chuyện với chồng, mà mắt vẫn cứ liếc về phía cái lưới sắt, cái vùng mà mình bọc cái chân cầu. Cuối cùng thì bà cứ giằng co rằng: con mình bị điên, cái đầu mình nói mình còn thời gian. Coi như nước nó không có thời gian, nó cứ từng bước tiến tới, từng bước, từng bước. Cuối cùng khi bà quyết định cứu con thì nó đã chết rồi. Nó chết rồi, mà bà hóa điên từ đó, gọi là bà mẹ điên.

Tôi kể chuyện này không phải để cho các vị sốc, các vị giật mình khó chịu, mà tôi muốn nói rằng cái khổ nó là một cái gì đó chắc chắn như vậy. Cái mà mình thích hay cái mà mình ghét đều là nguồn khổ hết. Chỉ có điều là nó tới chậm hay tới nhanh, nó trực tiếp hay gián tiếp, chỉ vậy thôi.

Ai trong chúng ta, dầu là nam nữ, già trẻ, chư Tăng hay cư sĩ, chúng ta ai cũng có một đứa con như vậy trong tâm tư của mình. Cái mình thích, mình tìm đủ cách mình đè nén, mình đè nát. Mình không ngờ là vấn đề đó chỉ có thể được giải quyết bằng một cái nhìn thấu suốt. Còn chúng ta âm thầm cất giữ riêng một niềm đam mê, thương thích nào đó, thì cũng giống như bà mẹ trẻ kia âm thầm giấu đứa con rơi của riêng mình.

Trong lúc này, tôi chắc một trăm phần trăm tôi cũng có trong đó nữa. Chúng ta khổ vì những cái mình thích. Vì nó mà chúng ta trả một cái giá rất là đắt, đắt vô cùng.

Các bạn kể đoạn kinh mà nội dung kinh dị đó, có nghĩa là mãi mãi bị khổ triền miên trong hai nỗi niềm đó là thích với ghét. Không bao giờ chúng ta khỏe mạnh hết. Ở đâu có thích, ở đó có ghét. Cái thích mà nó bất tận thì cái bất mãn nó cũng vô bờ. Và tất cả máu trần gian này đều đi ra từ đấy.

Cho nên, thu xếp đời sống lại, từ vật chất đến tinh thần. Hãy luôn luôn tâm niệm rằng cái gì thật sự là tối cần thì chúng ta có phải đổ máu, đổ lệ thì cũng đáng. Còn cái gì không cần thiết mà chúng ta tiêu hoang quá nhiều thời gian, công sức, tiền bạc, tâm tư, thì có phải là không nên hay không?

Sau đó chúng ta khổ đâu mà chúng ta không biết. Sắp xếp thời gian, khi mà quỹ thời gian chúng ta luôn luôn có hạn và cực kỳ hạn chế. Tôi nhớ hôm trước tôi nói rồi, trong mỗi sanh tử đó, thân người rất là khó được, chánh pháp thì càng khó gặp. Vậy khi có được cơ hội mang thân người, gặp được chánh pháp, chúng ta đã tiêu hoang bao nhiêu thời gian? Còn nhớ không? Thời gian ngu và thời gian ngủ. Thời gian ngu tức là từ bé cho đến năm mà chúng ta có khả năng trưởng thành nhận thức, thì cỡ 15, có nhiều người từ 20, có người 25. Thời gian ngu đầu đời rồi.

Khả năng là trưởng thành nhận thức thì cỡ 15. Có nhiều người phụ nữ từ 20, có người 25. Thời gian ngủ đầu đời, rồi thời gian ngủ người ta tính khoảng một phần ba đời người là ngủ. Trừ thời gian ngủ, chúng ta còn lại bao nhiêu?

Trong thời gian còn lại ấy, chúng ta phải chia ra rất nhiều việc, cho bao nhiêu thứ, cho cơm áo, những bận rộn, buồn vui, đau lo. Nói chung, cái giây phút mà chúng ta... Tôi nghĩ thời gian mà chúng ta tạo nhân lành và hưởng quả lành không có nhiều đâu.

Các vị nhớ câu: đời người ngắn ngủi, mà thời gian tạo nhân lành và hưởng quả lành không có nhiều. Tạo nhân lành là sao? Là thời gian chúng ta sống bằng thiện tâm, bằng lòng lành. Thời gian này không có nhiều. Rồi thời gian hưởng quả lành cũng không có nhiều.

Các vị đừng có nói với tôi là các vị đẹp, giàu, có tiếng tăm là hạnh phúc. Tôi không có tin cái đó đâu. Bởi vì anh có tiền, tiền với anh là tiền, anh là anh, chứ không phải có tiền là có hạnh phúc. Mặc dù đã nói là có tiền không phải vạn năng, nhưng không có tiền thì vạn sự bất năng. Đây là công thức.

Nhưng mà nhớ giùm cái này: nhan sắc, tiền bạc, tiếng tăm là chuyện của tụi nó. Căn bản là anh có hạnh phúc hay không.

Cho nên tôi nói rằng trong một đời người, bỏ thời gian ngủ ra, chúng ta còn lại bao nhiêu của 75 năm? Trong cái còn lại đó, ít nhiều thì nhiều thứ lắm. Chỉ trong cái bài ấy, cơ hội, thời gian mà chúng ta hưởng quả lành và tạo nhân lành không có nhiều.

Ở đây chúng ta thấy trong thế giới chúng sinh có mấy loại. Có người thời gian tạo quả lành, nói cho đúng là tạo nhân lành, nhiều hơn thời gian hưởng quả lành. Nghe kịp không? Thời gian tạo nhân lành là sao? Là thích tu tập thiền định, tuệ quán, nghiên cứu kinh điển, phục vụ. Thời gian dành cho nhân lành nhiều hơn hưởng quả lành, họ không thích hưởng.

Hạng thứ hai là thích hưởng quả lành, dành thời gian cho quả lành nhiều hơn là nhân lành. Tức là thích thưởng thức, nhưng mà quên tạo, hoặc tạo rất ít.

Như vậy, hạng số hai là dành nhiều thời gian cho quả lành, để hưởng quả lành hơn là gieo nhân lành. Hạng thứ ba là thời gian hưởng quả lành và nhân lành đều ít. Có nghĩa là cả một cuộc đời, một là cơ cực, hai là tách bạch, thời gian hưởng quả không có bao nhiêu. Giàu nghèo tôi không thèm nói, tức là không có thời gian hoặc không có điều kiện để hưởng quả lành. Từ đó họ cũng không có thời gian, không có đủ tâm tư để họ lập nhân lành.

Như vậy, hạng thứ nhất là không có nhiều thời gian cho quả lành nhưng có nhiều thời gian cho nhân lành. Hạng thứ hai là có nhiều thời gian để hưởng quả lành nhưng không có nhiều thời gian để tạo nhân lành. Hạng thứ ba là cả nhân lành và quả lành đều không có thời gian. Hạng thứ tư là hạng họ có thời gian để hưởng mà cũng có thời gian...

Quả lành thì không có thời gian. Hạng thứ tư là hạng có thời gian hưởng quả lành mà cũng có thời gian tạo thêm nhân lành mới.

Tôi nghĩ nơi này thì tùy quý vị lựa chọn nội dung này thôi. Trong nội dung này, tôi nghĩ rằng ít trước đông sau, dù có bao nhiêu người đi nữa, 50, 30, thì chắc chắn không có người nào nằm ngoài bốn hạng. Có người nào đó thích hạng thứ tư: có thời gian hưởng quả lành mà cũng có thời gian để tạo nhân lành. Nhưng có người gọi là không có thích, cũng không thiết tha quả lành, còn thích tạo nhân lành thôi.

Thí dụ như bây giờ các vị đi vào cái khu thiền viện Miến Điện, thử coi nha. Hưởng quả, bực cái gì. Ngoài bệnh viện là nó bị kẹt luôn ở Miến Điện. Mỗi người có cái lồng chiếu, xà-lỏn, ngày ăn một buổi, rất nhiều le lưỡi. Nước trái cây chua lét, cào bao tử mà cũng ráng. Tối thì cái mùng nó lủng còn hơn cái lỗ mũi, muỗi nó bay quanh. Tự do còn ăn thì ăn ba cái thứ đồ Miến Điện, dầu ở cả tất cả. Rồi ngủ lạnh. Cái thì quá mặn, cái quá ngọt, cái quá chua, cái lạnh nhất.

Để hỏi nó quả là quả nào? Nhưng mà từng bước chân trong đó cực kỳ an lạc. Mỗi một giây phút thiền sư, phật tử vui và khỏe, thì cái đó là mình đang tạo nhân lành.

Vì vậy, có người nói là người thiết tha với nhân lành. Chứ nếu mà nói rằng họ thích hưởng quả lành thì xin thưa, thiền viện làm cái gì? Tôi đã nói ăn không giống ai, ngủ không giống ai, đồ mặc không giống ai, chỗ ở không giống ai, mà làm làm cái gì? Nhưng mà họ thích nhân lành.

Người thích hưởng quả lành thì đi Singapore, đi Thái Lan, đi qua châu Âu, Mỹ, hưởng đi du lịch cho nó sướng. Cái thằng kia còn mắc chứng gì mà gửi qua Miến Điện? Xin lỗi, mũ không mà. Tôi nói thiệt, ai muốn hưởng quả lành mà đi qua Miến Điện rồi chịu không thôi. Có cái gì mà hưởng? Khách sạn thì muỗi, bụi, dơ, nhà tắm không có ra cái gì hết, mà trả tiền thì tiêu chuẩn dưới đất, giá tiền trên mây. Nhưng mà qua đó chỉ có tạo nhân lành là số một. Còn về Âu Mỹ là chỉ hưởng quả lành, còn cơ hội tạo nhân lành là sau.

Rồi còn lại mấy hạng kia thì các vị tự hiểu. Đã nói rồi, hạng một là dành nhiều thời gian tạo nhân lành hơn mà hưởng quả lành. Hạng hai là dành nhiều thời gian hưởng quả lành mà ít thời gian cho nhân lành. Hạng thứ ba là không có thời gian để hưởng quả lành, cũng không có thời gian để tạo nhân lành. Hạng thứ tư là chia đều thời gian, lúc nào cũng có cả hưởng quả lành và tạo nhân lành.

Trong đề này, tôi nghĩ rằng chắc hạng một với hạng bốn thì có nét. Hạng một chắc có, hạng hai, hạng ba thì tệ quá, nhiều quá. Nhưng hạng một là thích tu hơn hưởng. Hạng thứ tư là thích hưởng nữa.

Thì tôi mới mượn bài kinh giảng luôn cho bà con. Ở đây biết rõ có hai hạng người khó mà thỏa mãn. Nói đơn giản luôn, bốn trường hợp này, hạng thứ nhất có thỏa mãn là thích tu. Còn cái hạng thích là bất mãn thì bỏ rồi.

Làm ơn cho xin bài mới, cảm ơn rất là nhiều. Cái đoạn này sáng nay có bị bỏ túi. Bốn trường hợp này cũng đủ để tu rồi đó.

Ở đây nó lại có chuyện nữa. Sao? Trong nhãn này tôi cũng bị ném đá, nhưng thôi, miễn là cái gì ném xong nhớ đừng có giấu tay. Ném đá đường hoàng được rồi. Tại sao tôi nói như vậy?

Bị ném đá, nhưng mà thôi, miễn là cái gì ném sau nhớ đừng có giấu tay. Ném đá đểu tao được rồi nha.

Tại sao tôi nói như vậy? Cái đầu số 6 này, đứa con ngày dài ra, ngài dạy rằng đó là... cho xin chú rể có hai cá nhân làm cho mình có tâm tham, mà có hai nhân làm cho mình có tâm sân nha. Có rất nhiều nhân lắm, nhưng mà có những chỗ này nói rất là gọn.

Ở đây tôi xin mở ngoặc nói thêm là rất nhiều bà con bị một cái bệnh gọi là bệnh chim lồng cá chậu. Có một cái hội chứng, tôi nói gọn là hội chứng cá cảnh. Cái này trong Pali gọi là cái gì ta? Idam sacca abhinivesa, hội chứng cá cảnh nha. Hoặc là gọi tắt nữa là hội chứng... thôi, xin cho em cà phê con không? Alo. Hội chứng cá cảnh, tôi mới vừa ghi xong đó.

Cái hội chứng đó là sao? Có nghĩa là luôn luôn cho rằng cái gì mình có là số 1, là duy nhất; bản thân mình là cái rốn của vũ trụ; cái gì mình biết là đủ rồi, mà cái mình biết là đủ rồi nha. Cứ cho như vậy, rồi lấy đó làm khuôn, đem đo toàn vũ trụ. Cái gì mà nó đúng cái khuôn thức của mình là cái đó xài được, còn cái gì mà nó vượt ngoài cái tầm biết của mình thì cái đó là tào lao, là bậy bạ nha.

Cái hội chứng tâm lý này tôi gọi là hội chứng cá cảnh. Các vị cứ tưởng là tôi bịa ra, nó khổ như vậy. Cho nên tôi mới bàn, viết cái chữ Pali cho bà con thấy đó là idam sacca abhinivesa. Idam là “đây”, là “này” nha. Còn sacca là chân lý, là sự thật. Abhinivesa là thiên chấp. Idam sacca abhinivesa có nghĩa là luôn luôn cho rằng “cái này nè, cái này nè là đúng”, mà ngoài ra là sai.

Tôi nói, bây giờ bà con mà nghe giọng nói không chính xác thì làm ơn copy cái chữ đó đem luyện Google giùm nha. Trăm năm tùy ở người ta, ai cũng vậy. Còn nhớ không? Trăm năm đâu phải người ta... Cái gì không biết thì tra Google. Tao nói có tiếng Pali ở đây, sướng muốn chết luôn. Em copy cái này đem liệng trong Google, nó không nói cái gì. Em chính là hội chứng cho là đây nè, cái này nè, ở trong cái đầu hủ của mình là số 1, còn ngoài ra là tào lao.

Thì ở đây chúng ta biết rằng nó có tới một tỷ một số đặc tả các khái niệm liên lạc rồi. Xong, cảm ơn, cầu nhiều... Tôi trả lời vì đâu rồi? Cá... bị hay không? Sao kỳ vậy? Cái biển không nghe không? Cá cảnh. Một tỷ chỗ của nó, mỹ nhân huyền ảo. Nhưng mà ở đây thì chư ngài chỉ nói gọn, đây là nói gọn chỗ này nữa rồi.

Cái thứ nhất đó là để có tâm tham thì cần có hai cái nguồn gốc. Một đó là... Pali là gì ta? Một cái là xuất thân mất mát đó. Chữ trong chú giải bên Miến Điện thích là xuất thân. Mất... là món ăn có ngon lành, cảnh như ý. Có cảnh như ý. “Như ý” đây phải nói rõ, cái này nó không phải là một cái giá trị bất biến, mà nó là duyên. Là sao? Có nghĩa là đối với người này đó thì cái đó là đẹp, là thơm, là ngon, là hấp dẫn; nhưng mà đối với người kia thì chưa chắc nó là như vậy.

Cho nên ở đây, tao mở định nghĩa dùm nha. Cái nãy tôi nói tôi sắp bị ném đá là với cái chữ subha này, bạn ghi giùm tôi cái chữ subha. Nó có hai nghĩa nghe: đẹp và đáng thương. Thường thì người ta chỉ biết có một cái nghĩa thôi. Thường người ta chỉ biết có một nghĩa, đó là anh sẵn... cho nên từ đó mới là tối ngày cứ thường lạc ngã tịnh, hoặc là bất tịnh là để mà quán bất tịnh. Thật ra cái...

Anh sẵn, cho nên nó từ đất nước, là cái tối ngày cứ là thường lạc ngã tịnh, hoặc là bất ngờ là để một bức tĩnh.

Thật ra, cái chữ “tịnh” nghĩa đó, các bạn nghèo, quý vị nào mà nghi ngờ tôi, chắc mà hay mệt thôi. Bây giờ các vị kiếm ở trong tiếng Anh, nói cái gì âm giùm tôi, cái chữ là “sạch sẽ” hả? “Beautiful” hả? Không phải rồi.

Chữ “tịnh” trong nghệ thuật, hội họa hoặc là tranh, cứ để trong Google, để cái khí quan như vậy đó, còn được tiếng Anh sao, đúng không? Tôi chỉ nói tiếng Anh đây thôi.

Rồi đó, các vị thấy coi, con người ta đó, cái chữ xuất phát là cái gì? Ta lấy cái nhân nghĩa làm đẹp. Chỉ có ý nghĩa, xét cho cùng, nghèo lắm. Bởi vì có rất nhiều thứ trong đời này, biết chuyện sạch dơ nó quan trọng, thì đừng nói là người ta đang làm ơn.

Nhớ nhìn cái anh đó, vô lý ngay từ đầu. Rất nhiều thứ trong đời, ví dụ như mình giờ nói cái xe hơi, thì nói đến đó là đẹp. Chỉ cần đẹp và xấu. Mà cái đẹp đó là cái nhìn về một con người. Ví dụ như người ta làm ra nó, để đẹp xấu trước, cái nổi bật, cái cốt lõi, tôi nói trước mắt mình, nó là thứ yếu nữa.

Bây giờ mình đi vô chữ “sướng” này, mình sẽ lấy cái nghĩa nghèo nhất, gần nhất nha. “Như ý” ở đây, cái chữ mà “sướng” trong Tăng ở đây phải hiểu là cái cảnh như ý, cảnh vừa ý.

Cứ bị hỏi tôi, “Nhưng làm sao tụi nó...” Dạ, nè, đối với con bò, cái cảnh như ý nó không giống như ý của con cò. Và cái cảnh như ý của con cọp nó không giống như là cảnh như ý của con thỏ. Con thỏ nó không giống của con người. Mà con người khác nhau: nữ khác nữ, xấu khác nữ đẹp, trai xấu khác trai đẹp. Cảnh như ý nó cũng khác.

Thì, cứ suy ra, một là tiền nghiệp, hai là khuynh hướng tâm lý, và ba là môi trường sống. Ba cái này nó đã khiến cho cái thích của chúng ta, cùng giống nhau mà không giống nhau, khiến cho cái gọi là cảnh như ý của chúng ta không giống nhau. Cho dầu chúng ta có cùng một dòng máu, cùng cha cùng mẹ, lớn lên trong cùng một gia đình, đi học chung một lớp, một trường, lớn lên là có những cái gì trong pháp này, giữa chúng ta có một tỷ cái riêng.

Bên cạnh cái tương đồng, cái gu của người này, cái thích của người này, chắc rằng nó không thể nào mà nó giống người kia. Kể cả trường hợp cả hai người đều nhìn nhận là giống nhau, nó cũng có những cái điểm sai khác nha.

Cái điều kiện mà nó tạo tâm tham, thứ nhất là mình gặp cảnh như ý. Nhưng mà cái chuyện này nó đủ chưa? Chưa. Cái thứ hai gọi là suy tư hợp lý, hay nhận thức hợp lý.

“Nhà hợp lý” có nghĩa rằng, trong chú giải giải thích “hợp lý” là sao? Hợp lý có nghĩa là luôn luôn, trong đầu của người cầu đạo giải thoát, luôn luôn không có quên được cái khía cạnh tam tướng của vạn hữu, của danh sắc. Nghe nó rất là kém, nhưng mà không bao giờ quên.

Bình thường, trực nhớ hay lắm, đẹp lắm, giỏi lắm, ngon lành lắm, thơm tho lắm. Nhưng cái chữ “nhưng” luôn luôn là bằng vàng. Nhớ chữ “nhưng” nền bạn bè nha. Nhưng sao ta? Nhưng mọi thứ do duyên mà có, rồi mà đây này cũng do duyên mà mất.

Cái nhận thức đó quan trọng vô cùng. Cái kẻ nào mà thường trực sống bằng cái nhận thức này nè, thì cái thích, rồi cái ghét, cái này một, giảm đi. Giảm thì cái ám mà hãy kèm cái ghét mà giảm, thì khổ giảm. Mặc dù khổ thật sự nó đến từ nhiều nguồn, nhưng mà chuyện đầu tiên là người bớt bất mãn, là người bớt bị bức bối.

Tôi nhắc lại lần nữa nha. Cái công thức: thích càng nhiều thì ghét càng nhiều mà.

Ví dụ đơn cử, tôi nhắc lại lần nữa nha: công thức là thích càng nhiều thì ghét càng nhiều, mà ghét càng nhiều thì khổ càng nhiều.

Ví dụ ghét nóng lắm, ghét lạnh, ghét mặn. Kết quả: chua quá, nắng quá, ghét cái giọng nói đó, mình ghét cái cười đó, mình ghét cái gương mặt đó, ghét phong cảnh đó, cái chật hẹp đó, bụi bặm đó, ồn ào đó, hôi hám đó. Nói chung là tất cả những gì làm cho bà con ghét, tôi xin khẳng định rằng đều đi ra từ cái thích của bà con hết.

Tôi nhắc lại lần nữa: tất cả những gì làm mình khổ đều đi ra từ cái thích mà ra hết. Nghĩ dùm tôi đi, dạ thưa, cái ghét nó đi ra từ đâu? Nó đi ra từ cái thích. Bà con bớt thích, tự nhiên bà con bớt ghét. Cực kỳ dễ hiểu.

Ở đây, khi mà mình có điều kiện cho tâm tham là một: cảnh như ý. Cái thứ hai đó là gì? Sống thiếu nhận thức, không có khả năng nhận thức hợp lý, quên nhiều thứ, quên ba cái đặc điểm của vạn hữu, của danh sắc. Đó là mọi thứ luôn biến đổi, vô thường. Mọi thứ đang trong tình trạng trở thành một cái khác, là vô thường.

Khổ là sao? Có ba mức:
Một là sự có mặt của những thứ mình ghét.
Thứ hai là sự vắng mặt của thứ mình thích.
Và thứ ba là sự lệ thuộc các điều kiện mới có mặt.
Cả ba cái này cộng lại được gọi là khổ.

Nhớ nhìn cái này. Cả ba cái này gom lại gọi là khổ. Chữ này không còn gói gọn trong vấn đề cảm giác nữa nha, không phải đâu. Nếu mà cảm giác, cái khổ này là cái khổ mà mình hiểu theo nghĩa đau trên cơ thể đó, thì nó là giá rẻ. Cái khổ mà mình hiểu theo đạo giờ, nó không chỉ là cảm giác đau đớn trên thân xác, sức khỏe nha, mà còn là cái khổ do bất toàn, bất toại, không an toàn. Cái gì bất toàn, bất toại, không yên, không ổn, toàn là sự sợ hãi, kinh hoàng, cái gì làm cho mình bồn chồn, ray rứt, không yên tâm, thì được gọi là khổ. Nhớ cái đó.

Còn vô ngã có nghĩa là gì? Mọi thứ không có cốt lõi đơn thuần, cá biệt, thì được gọi là vô ngã. Vô thường, khổ, vô ngã, các vị phải nhớ giùm cái này nha.

Thứ nhất, anicca là vô thường, có nghĩa là cái gì có rồi là mất.
Thứ hai, dukkha là khổ, có nghĩa là cái gì làm cho mình bất toàn, bất toại, không có yên tâm, cái ấy gọi là khổ.
Thứ ba, anatta là vô ngã, có nghĩa là cái gì không có cốt lõi, nghĩa là mọi thứ đều do lắp ráp và duyên hợp mới có, chứ nó không có nguyên khối.

Nó giống như bong bóng vậy đó, giống như bọt nước vậy. Sắc thân này giống như cục bọt. Cảm giác buồn vui giống như bọt nước vậy nha. Tưởng, kinh nghiệm của mình, kiến thức của mình trong đời, khái niệm, quan niệm của mình về vuông tròn, ngắn dài, đen trắng, mặc ấm, đói no, đều là ảo hóa, như là những làn đốm.

Chú ý, thì khái niệm, quan niệm của mình: vuông, tròn, ngắn, dài, đen, trắng, mặc ấm, ăn no, đủ đầy... Ảo hóa.

Như là những lời, cái đốm trắng trên đường. Chắc trưa nắng nóng, nhìn trên mặt lộ, mình thấy nó có gì đó rưng rưng, run run. Chả biết đó là gì. Chắc là do body, do cát, do hoa nắng, rồi bây giờ nhìn lên nóc xe hơi, mình thấy nó cũng rực rỡ.

Rồi nha, đi xa hơn nữa, các anh luôn có nhớ lại tất cả những thứ tiện nghi nhất trong đời này. Nó giống như là cái cây chuối. Có nghĩa là mình tưởng là mình có một cái tôi, nhưng thật ra nó giống như cây chuối vậy. Có nghĩa là lột tình, lột lớp, cuối cùng không còn cái gì. Cái chúng ta luôn là cây chuối. Nhớ nha, nhớ nha. Cứ lột tới đó thì vẫn không có gì hết nha.

Rồi đó là gì? Về vật chất và sắc pháp. Về cái tâm, tâm lý. Còn cái sinh lý, cái tâm về tâm lý của mình là cả trong đó, gồm có ghen tị, bản năng, vô minh, tham sân si, ái mạn, ganh tỵ... Đã còn giới thiệu cho mình về thiền định, chánh niệm, tinh tấn, kham nhẫn, từ tâm... gom đóng lại, nó thành ra là một thằng Tèo vậy đó. Chứ thật ra không có cái gì hết.

Mình là một nắm cát. Ví dụ đúng không? Nắm cát, mình bỏ thêm tí xi măng, cho ít nước vào, mình bèn gọi đó là bê tông. Chứ thật ra, bỏ cái lõi sắt ra, tách rời ra nước ra nước, cát ra cát, xi măng ra xi măng, từng hạt nhỏ từ hạt bụi xi măng, tách ra từng hạt cát, từng phần nhỏ của giọt nước. Nước tách ra được, cát tách ra được, xi măng tách ra được, cái cốt sắt tách ra được, thì mình cũng tách ra được. Nói về tầm đó, nó chẳng còn là gì hết. Nhớ nha.

Nếu như chú vị nhìn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó giống như tiền, như cây chuối. Cái tưởng, cái thức của mình y chang như là trò ảo thuật gia làm một đồng thành ra một trăm, rồi một cái khăn nữa thành ra con chim bồ câu, rồi cũng thành ra lũ hoa hồng gì tùm lum hết. Nhưng mà thật ra tất cả là trò ảo thuật, toàn là bị gạt. Gọi là đẹp, xấu, bị gì... Một trăm có thể biến thành mật ngọt, đồng biến thành công, hỏi đâu? Vậy lại đi biểu diễn bằng chi? Một ngày không biết được chiều dài ngày nó sống được rồi nha. Ngày biến hình năm bảy chục ngàn, một ngày kiếm năm chục ngàn là sống được rồi. Trước tại sao phải đi biểu diễn? Hiểu cái chuyện vậy. Mình cũng phải hiểu chứ.

Cho nên ở đây đó là cái thứ nhất, kêu là do có cái cảnh như ý. Cái khả năng nhận thức đơn nghèo, quá nghèo. Là sao nghèo? Tức là nó không có được những suy nghĩ như nãy.

Đơn giản tôi nói là mình, tôi có uống mười một lít mật gấu cũng không dám nói tôi là thiền sư hàng giả. Nhưng mà sư giảng bắt buộc phải nói chuyện cho bà con nghe với những nhận thức đó. Nếu có niềm tin, cộng với ba mươi lăm cái gì đó, đi bao xa cũng tới nha. Về lý thuyết nó là như vậy.

Luôn luôn nhớ giùm bạn: luôn sống trong cái nhận biết rằng cái gì anh thấy chập chờn ấy, do cái tâm đoàn tụ có rồi mất. Cái đó gọi là vô thường. Cái thứ hai là, cái gì trên đời này nó cũng là cái nguồn gốc gián tiếp, trực tiếp của các bất toại. Nha em, phải biết rằng khoa học hôm nay cho chúng ta biết rằng cái mặt trời nó cũng có lúc nào đó tiêu hủy, trái đất này cũng có lúc nó biến mất. Cái này trong kinh nói cái đó lâu rồi, ngoài cũng nói như vậy nha, cũng nói nhiều về cái này nha.

Đó, mặt trời, mặt trăng và trái đất này, tuổi thọ nó không phải là không có giới hạn đâu nha. Nếu ba cái ông thầy đó mà...

Mặt trời, mặt trăng và trái đất này, tuổi thọ của nó không phải là không có giới hạn đâu. Nếu ba cái ông thầy đó mà không có giới hạn, thì sợ gì ba cái bánh bèo, phù du trên cái mặt đất này.

Rồi cái thứ ba, “đa sa lắm anh” ở đây có nghĩa là mọi thứ trên đời này không có cái gì gọi là cốt lõi hết. Tất cả là vì cái chuỗi vật lộn từ mê tới ra. Cuối cùng, cái chúng nó có lỗi là vì nó còn là mê. Khi chúng ta lộ trình mê ra thì không có gì để thương ghét, xả hết.

Mà khổ một nỗi là cái ba-la-mật mình nghèo quá. Từ đó nó mới dẫn đến những cái chuyện, ví dụ như gặp thầy không ra gì. Có ông thầy nói giỏi, vậy thôi; có ông thầy tu giỏi mà kiến thức thì nghèo, ví dụ như vậy. Rồi hiện bạn người ta tào lao, bạn nhiều chuyện, bạn không đủ để trở thành là gương lành nữa. Mình nương theo đó là thêm ra thầy, bạn, hỗ trợ tới trú xứ. Nếu mà thầy bạn đã không ra gì, thì trú xứ kể còn chi. Trú xứ là nhiều khi thầy không làm, bạn không làm, mà trú xứ nó trục trặc, nghèo; hoặc là việc nhà, hoặc là sức khỏe bản thân, hoặc là vấn đề cơm gạo áo tiền.

Tất cả những cái điều kiện đó cộng với cái niềm tin của chúng ta, nếu ba-la-mật mình nghèo quá thì nó đủ thứ chướng duyên hết. Còn mọi người ba-la-mật mà vẫn là sung mãn, đầy đủ, thì cho dầu có bao nhiêu ngoại cảnh trục trặc, họ vẫn có thể thẳng tiến đến cái thời gian đắc đạo. Thực ra nó chỉ có một giây đâu, có một chút gì. Có cái này, mình còn có thể vừa chạy ba gác, đạp xích lô, buôn gánh bán bưng, bán chè giải, bán cháo, bán vé số, bán bánh mì, bánh mì gõ; chúng ta có thể đắc đạo ngay trong hoàn cảnh ngặt nghèo.

Nhưng nỗi khổ một chỗ là truyền hình, chúng ta chỉ nhận được những cái hướng dẫn tào lao, những cái chuyện hướng dẫn chức trách. Đó là những tấm gương, chúng ta chỉ bắt gặp những cái gương sống không ra gì. Từ đó niềm tin bị tổn giảm, rồi từ đó nó cũng ảnh hưởng đến cái đạo nghiệp của mình.

Chứ còn đúng ra, cái hiểu được thế nào tạo ra tham, thế nào tạo nên sân, là đủ tu rồi, quý vị nha. Bởi vì ngay cả đức Phật và các vị La Hán, nói chung, cũng là vị tỳ-kheo, vị sư phụ, và các ngài mấy ba tháng rồi, nhưng cũng vậy nha. Các bậc Thánh hiền ba đời mười phương, trong đời sống thường nhật của các ngài, các ngài cũng gặp biết bao nhiêu là cái cảnh như ý nha, có chứ. Cái này nghe siêu dữ lắm: ngài là Phật, nhưng mà một cơn gió mát đi ngang, một cái mùi thơm của hoa rừng thổi tới, ngài biết chứ, sao lại không biết. Cũng có sáu căn mà, cũng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Nhưng cái thứ hai là ngài khác mình ở chỗ ngài suy tư không hợp lý, không có như lý, cái đó không có nữa. Ngài bỏ qua phiền não đã hết. Chứ còn đối với cái gì, ngài vẫn rất rõ: con dòi thích phân, con thỏ thích cỏ, con người thích cơm. Ngài thấy rõ. Ngài thấy bằng nhãn lực, thấy bằng cái sự thấu triệt, rốt ráo và triệt để. Cho nên mình biết rằng, mình hiểu mấy câu này, nghe nó kỳ lắm, nhưng mà nó sâu chỗ nào? Sâu ở chỗ là, thì ra những thứ ta thích chỉ có giá trị rất là ước lệ, giá trị mặc định và giá trị rất là tương đối thôi, chứ không có ngon lành như mình nghĩ đâu.

Ở trong mắt một anh bạn nhậu, trên đời này không có cái gì mà nó qua được đồ nhắm. Trong mắt một người phụ nữ thích làm đẹp thì không có gì qua được phấn son, quần áo, lụa là. Trong mắt của một ông giáo sư, tiến sĩ thì...

Một người phụ nữ thích làm đẹp thì không có gì qua được phấn son, quần áo lụa là. Trong mắt của một ông giáo sư, tiến sĩ thì cái thích của ổng hoàn toàn không giống như với những hạng mà tôi vừa kể.

Em không thích đi ngắm hoa, đã thích tennis. Không muốn có thời gian đi với cây xanh, với gia đình. Có người lại thích trở thành member của một câu lạc bộ nào đó. Nhiều lắm, thú vị nhé.

Cho nên, cái quan trọng ở đây, tôi là nói rằng nó là cảnh như ý. Nó là những điều kiện cần có cho tâm tham. Nhưng mà nó còn cái thứ hai mới ghê. Dầu cho cái cảnh nó có ra sao đi nữa, mà quan trọng là cái tâm lý của anh không có được cái nhìn thích nghi, chín chắn này, không yoniso, có nghĩa là hợp lý nha. Ngài bên châu Phi dịch theo bản Hán dịch là như lý. Nhưng lý ở đây chỉ là như lý tác ý.

Tôi cần quý vị nhớ là nhận thức hợp lý, nhận thức thích hợp, hợp lý. Rồi bây giờ, đó là tôi nhắc lại lần nữa, nhắc lại lần nữa. Đây là điều mà tôi đã nói không biết là bao nhiêu lần. Nghe qua thì nó không có gì chú ý hết, nhưng mà nghe kỹ là gì? Hai nhân tạo ra tâm tham: một là cảnh như ý, hai là cái khả năng nhận thức không hợp lý, hay nhận thức hợp lý.

Từ bây giờ, mình trong đời sống thường nhật, từng ngày của mình mà thích cái gì, thích cái gì, cái đó không phải đơn giản đâu quý vị nha. Tôi cũng hù quý vị thế luôn. Coi cái gì chính cái mình thích, nó dẫn đến cái hành động, kiểu sống của mình nha. Và chính từ cái chỗ hành động theo kiểu sống của mình, chúng ta có biết cảnh giới nào tương ứng với cái hành động và cái kiểu sống của mình. Tâm tư riêng của mình lớn chuyện lắm, quý vị nha, lớn lắm nha. Chứ không phải chỉ là chuyện lớn, mà nó là cực lớn, vô cùng lớn, mà thậm chí là ghê nữa.

Mỗi ngày cứ nhớ mình đang thích cái gì, bình thường thích cái gì, cái gì mà mình đam mê nhất. Chính cái niềm đam mê ấy, nó mới tạo ra cái nhân cách, cái khuynh hướng tâm lý, nó tạo ra cái tiền nghiệp cho kiếp sau nha. Lớn chuyện lắm nha.

Cho nên đừng có dừng lại ở chỗ chỉ học đơn giản: cảnh như ý cộng với chút suy tư không hợp lý là ra tâm tham. Hiểu về nó như vậy nghèo lắm. Còn cái quan trọng là chỗ cảnh như ý, tức là mình như thế nào mình mới thấy cái cảnh đó là cảnh như ý. Đi rà soát lại giùm tôi đi nha. Cái chủ đề quan trọng lắm.

Con người của mình nó ra sao thì cái gu, cái khẩu vị của mình nó cũng theo đó mà nó hình thành nha. Cái này lớn chuyện lắm nha. Tôi nhắc lại, con người mình nó làm sao mà cái gu mình kiểu đó chứ. Và chính cái khẩu vị ấy làm nên cách sống của mình, cá nhân cách của mình, làm nên cái nét riêng, cái đặc điểm tâm lý của con người mình. Nhớ nha, cái này quan trọng lắm nha.

Khó lắm, không phải ai cũng cho biết đâu nha. Nó sâu lắm. Phải để ý xem bình thường mình thích cái gì. Chính cái thích ấy, nó tạo ra con người của tôi thời gian tới.

Rồi bây giờ qua cái thứ hai là cái khả năng nhận thức. Tôi nói rồi, có nghĩa là nhận thức trên cái nền tảng của trí tuệ quán: kết quả nghiên cứu, có nghĩa là luôn nhớ rằng mọi thứ vô duyên mà có. Có rồi phải mất. Nghe riết nó chán, nó nhàm, nhưng mà tôi xin bảo đảm: kẻ nào mà bình thường xuyên sống trong cái nhận thức này nè, cái thứ cặn bã, tôi hứa, tự nhiên là thích giảm, thì ghét giận cũng giảm. Mà ghét giảm thì khổ giảm. Vậy còn đòi gì nữa? Tu mà phiền não bớt, an lạc tăng, thiện tâm nó tăng, rồi còn đòi cái gì nữa. Còn cái chuyện mà đắc, xuống đất thì phải... không phải dễ.

Tiền não bớt, an lạc, tân thiện tâm nó tăng. Rủi còn đâu cái gì nữa.

Còn cái chuyện mà đặt xuống dốc, phải không? Phải gõ cửa hỏi. Không cho thì thôi, chứ còn bạn nào mà có lắm, còn muỗng cà phê mà giật là cái gì, nhé.

Rồi, kế tiếp là có hai điều kiện cho tham sân có mặt. Các bạn, sự bất mãn đối với ngoại cảnh, đối với nội thân ngoại cảnh, hay chung quanh, settings, tùy hoàn cảnh, nó có hai. Đó là cảnh bất toại ý, hay là cái gì ta nhận thức vô lý.

Nhận thức vô lý là sao? Nhận thức vô lý có ý nghĩa là không có suy tư trên nền tảng trí tuệ niệm xứ, là suy tư không hợp lý. Còn cái cảnh bất toại là sao?

Tôi nhắc lại lần nữa, tôi nhắc lại một lần nữa. Con người mình nó như thế nào? Mình mới ghét cái đó. Mình thích cái gì, mình mới ghét cái khác. Từ cái thích đó nó mới dựng lên cái ghét đó.

Các vị còn nhớ, ở trong văn học dân gian Việt Nam của mình có câu: lấy chồng nghề biển, hồn treo cột buồm. Em cảm ơn anh nói cái câu đó giùm.

Lấy chồng nghề biển, hồn treo cột buồm, có nghĩa là mỗi lần chồng ra khơi đó là cái gì cũng quên hết. Mình cứ nhớ cái biển, không biết bữa nay sóng to gió lớn không, ảnh đánh cá có được hay không, anh em đi chung thì có ai bệnh hoạn gì không, có bất hòa gây gổ gì không. Trong bờ còn xoay sở chứ còn ngoài khơi là coi như chỉ có trông cậy vào trời đất thôi, sao các vị biết không? Ở trên là trời mà dưới là biển.

Tôi hỏi bây giờ anh em không vui, cãi cọ, bất hòa, mâu thuẫn cũng phiền. Có ai đó đổ bệnh cũng phiền. Máy trục trặc, máy gió cũng phiền. Rồi ra khơi không gặp mẻ cá nào lớn cũng phiền. Sóng to gió lớn cũng phiền. Tàu hư, tàu lủng cũng phiền.

Đó, vì thương chồng cho nên mới có câu lấy chồng nghề biển, hồn treo cột buồm. Có nghĩa là sao? Thương cái gì thì mình bèn gửi cái nỗi khổ mình, đính kèm theo cái nỗi nhớ niềm thương.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà tôi nhắc cái câu thơ này đâu. Mà kẻ nào có một chút xíu vậy cũng hiểu tại sao cái câu nói rất là đúng. Nói chỗ này, lấy chồng nghề biển, hồn treo cột buồm, đang nghe là lo đó.

Có nghĩa là mình mến cái gì, mình móc, mình gửi cái lo của mình theo. Nhớ nha. Cho nên hết thảy cái gì, do khuynh hướng tâm lý tiền nghiệp, mình ưa được cái gì đó, môi trường sống nó làm nền tảng cho ta thích cái gì. Chính cái thích nó làm nên nhân cách của chúng ta. Từ cái thích này nó mới đi ra bước nghe, nó nè, thích cái này nó đã tạo ra cái ghét. Cho nên muốn né cái ghét thì mình phải kiểm soát lại bằng cái gọi là như lý tác ý, nhận thức hợp lý.

Cái này rất quan trọng. Có nghĩa là luôn luôn nhớ rằng... Có nhớ câu chuyện chú thỏ không? Tất cả con cọp thích sống, con người thích cơm, rồi con thỏ ghét... không giống như con cọp, nghe.

Tôi nhớ có một lần, con thỏ nó đi câu. Con thỏ nó đi câu ba ngày không có một con cá nào ăn hết. Đến ngày thứ tư, có một con cá to gấp ba lần con thỏ, nó nhảy lên khỏi mặt nước, nó chửi. Nó chửi: “Ngày mai mà mày đi câu, mà mày còn lấy cà rốt làm mồi là tao giết mày luôn”.

Các vị nghe có động trời không? “Ngày mai mày đi câu mà mày còn lấy cà rốt làm mồi, tao giết mày luôn”.

Nghe lời con cá, nó cũng rất muốn ăn mồi, mà ông nội cứ đem cà rốt treo như vậy thì chết con cá. Con cá mà cuối cùng phải đứng về phía con thỏ luôn. Có nghĩa là con thỏ muốn bẻ...

Như vậy thì chết con cá nha em. Con cá mà cuối cùng còn phải đứng về phía con thỏ luôn. Có nghĩa là con thỏ muốn bẻ cà rốt tròn, nó cứ tưởng thỏ phải cà rốt cho nó. Tưởng tượng cái tướng nó ngó thấy là nó ghét, mà còn cái cà rốt vô đó thì chỉ là sợi dây mảnh thôi, không một chút là con mèo ăn cho nổi, nhé em.

Thì mình cũng vậy. Cái sở thích của người này không giống người kia, mà từ đó cái ghét của người này không giống cái ghét kia. Cho nên hai cái đó nó quan trọng sâu xa ở bề là sao? Có nghĩa là mình phải thường xuyên để ý xem mình thích cái gì, và tại sao mình thích cái đó.

Cái thứ hai mới ghê. Do tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý, mình thích cái này. Nhưng nếu nó là cái không nên, nếu đó là cái không nên, thì anh tiếp tục tạo ra một cái chủng tử không nên tạo. Còn bây giờ tao đang ghét cái gì? Cả đám đó, mình ghét cái gì, thấy ghét, thì nó có phải là nền tảng để tạo ra một cái chủng tử bất lợi cho mình trong kiếp sau không?

Đừng có tưởng là cái thích rồi ghét là chuyện tự nhiên của con người. Nhân viên, thưa quý vị, đừng có hồn nhiên như vậy nha. Nó tạo ra cái con người của mình, chẳng những đời này mà còn đời sau.

Các ngài luôn luôn nhớ rằng mọi thứ mình thích và mọi thứ mình ghét đều là vô ngã, vô thường. Cái điều nữa không kém quan trọng, đó là những gì ta thích, những gì ta ghét, nó được tạo ra từ cái con người trước đây và hiện nay của ta. Và nếu ta không kiểm soát nó, thì cũng chính nó sẽ tiếp tục tạo ra cái con người sau này của chúng ta, trong ngày mai, ngày mốt, tuổi kia, đời sau, kiếp khác, nhé em.

Rồi, cho tôi xin cái bài mới dùm. Cảm ơn nhiều nha.

Vậy mới có hai duyên khiến cho tà kiến, tiếng Anh gọi là... Các vị biết cái này là dễ bị ném đá nữa. Cái này tôi nhớ tôi giảng rồi. Nếu có thì còn nhớ không? Tôi chắc không.

Có nghĩa là do nghe lại từ người khác. Gần đây lại có người dịch là “tiếng nói với người khác”, thì bị nghe hơi rảnh không em? Có chỗ dịch cứng nữa mà quên rồi. Nhưng mà cái này, sutamaya, có nghĩa là do nghe lại, đọc lại, học lại từ người khác. Đó là một trong hai nhân sinh tà kiến.

Số một là do tác động cộng hưởng từ người khác, nói gọn là do mình nhận ảnh hưởng từ người khác. Có chỗ ghi gọn còn đây đúng là do nghe, do học, do đọc thông qua người khác. Tức là kiến thức vay mượn, kiến thức cà phê từ người khác, mà lầm nó thành kiến.

Cái gì biết trên đời này, có cái gì mà nó oan ức cho mình? Mình lái xe, mình bị đụng chết, mình không có tức. Mình băng qua đường, mình giao mạng mình cho cái thằng mù mà nó lái xe, thì các vị tưởng tượng mình chết, mình có hận không? Rồi mình nhờ thằng ngu, thằng mù nó dắt mình qua lộ. Nó dắt đi là mình cứ đi thôi, là mình chết vì nó. Chết kiểu đó quá là dễ.

Đây cũng vậy. Trường hợp một, nó là chuyện như thế này đó: bản thân ta đã vô minh mà lại kiếm thêm một hướng dẫn vô minh khác. Thì đó là trường hợp gọi là người mù sờ voi.

Có rất nhiều người Phật tử không chịu tình trạng đó, cứ tưởng chuyện người mù sờ voi là chuyện ngụ ngôn của dân gian nước này nước kia. Xin thưa với bà con, chuyện đó trong kinh mình có nói tới. Không biết bà con còn nhớ hoặc có đọc hay sao, tôi nhắc lại: như người mù sờ voi.

Chuyện đó trong kinh mình có nói tới. Không biết con còn nhớ hoặc có đọc hay sao, tôi nhắc lại, như người mù sờ voi, là có trong kinh điển của mình chứ không phải là nói rằng ba cái gì ở đâu lạ lắm.

Hai mươi lăm thế kỷ trước, kinh điển của mình, lời dạy của Thế Tôn ra đời, của thánh chúng ta đã có rồi. Cái hiểm sai, cái nhận thức sai về cuộc đời, nó đến với chúng ta từ hai nguồn. Một là do chúng ta tiếp nhận một sự hướng dẫn, một sự trao truyền không chính xác, bậy bạ. Cái này là khả năng nhận thức của chúng ta có vấn đề.

Ví dụ như người ta nói rằng mọi thứ ở đời này do một đấng chí tôn từ cõi cao xanh nào đó an bài, sắp xếp, ban phước, tha tội, sáng tạo muôn thứ ở đời. Người ta nói vậy. Nhưng tại vì mình thiếu cái sự khôn ngoan, mình thiếu cái hiểu biết, mình không tự có một chủ kiến, một lập trường sáng suốt cho riêng mình, mà cứ cả đời đi múa đuôi, múa lân. Người ta múa đầu nào, mình múa theo đó. Nó leo lên cây tre mình cũng leo theo. Nó nói cái cây đó ra trái cây cầu, mình cũng nói cây cầu. Ví dụ như vậy, mình chỉ múa đuôi thôi, bạn ơi. Nó quá nguy hiểm.

Cho nên ở đây cứ nhớ cái này. Chúng ta vốn dĩ sinh ra tự do, không có gông cùm xiềng xích. Cái chuyện mà chúng ta bị nhốt tù trong những ý thức hệ chính trị, trong những quan điểm, giáo điều văn hóa, xã hội, đạo đức, là do chính chúng ta chọn lấy. Cha chúng ta, mẹ chúng ta, ông bà, anh em quyến thuộc, bạn bè, trăm sớm ngàn chiều không có ai quyết định cái đó, trừ chính bạn.

Cái tang thương nhất là mình mang cuộc đời buồn vui hể hả của mình giao cho người khác. Mới cách đây một năm, tôi biết một chuyện rất là đáng buồn. Một người rất thông minh mà bao cái buồn vui của mình giao cho người bạn đời. Rốt cuộc, người bạn đó đã tác động làm cho cô Phật tử này coi như tan nát, và cuối cùng đi đến Tây phương. Thì tôi chỉ có thể chia buồn cùng tang quyến, chứ tôi đâu có biết làm gì được, vì tôi chỉ có khả năng vậy thôi. Quý vị đang tang gia bối rối, tôi chỉ có thể nói như vậy thôi.

Chứ còn đúng ra thì phải nói, giao phó cả cuộc đời cho người khác mà có hai trường hợp. Giao phó mình là giao thân gửi phận vào cái bóng tùng quân xứng đáng thì nên giao. Còn yếu mà giao trứng cho ác thì chết. Cái quan điểm nhận thức của mình cũng vậy. Mình đem cả một cuộc đời, cả tâm tư nhận thức của mình, mình gửi cho người ta. Gửi một cách mà người ta nói cái gì mình cũng tin, người ta bậy mình cũng bậy theo, người ta đúng mình cũng không biết đường nào. Như vậy thì quá nguy hiểm. Cái đó gọi là mù đui.

Đối với vị hữu học nghĩa là mình đã mang thân phàm phu rồi, chúng ta biết mình đã bị mù rồi. Bây giờ mình lại mù thêm một lần nữa, có nghĩa là đã mù rồi mà thay vì banh mắt ra chụp hình lại còn lấy cái chụp trùm như cái chai, đậy nắp lại. Là mù tập, hay là mù tập hai.

Như vậy thì có nghĩa là những cái bi kịch nhân sinh toàn bộ là do hai nguồn. Một là do người khác tác động cho mình. Thứ hai là do bản thân mình không có khả năng nhận thức.

Tôi xin nhắc lại một lần nữa điều mà tôi đã nói không biết bao nhiêu lần. Tất cả sách vở, tất cả băng giảng, giảng sư, pháp sư, thiền sư trong tam giới này, tôi không dám đụng tới.

Các giảng sư, pháp sư, thiền sư trong Tam tạng, tất thảy đều, cho đến ngày hôm nay, tôi không dám đụng tới thánh nhân. Nhưng các vị hiện đại, kể cả chư Tăng, thì tất thảy đều có dấu ấn cá nhân ngay trong hướng dẫn của mình.

Như ngài Xá Lợi Phất, ngài rất là thâm mật. Chỉ có phát ngôn, bất tịnh quán đó là ngài tới. Ngài đó sớm muộn gì cũng đem dạy cho mình, có bắt buộc hay không.

Rồi vị kia thì khác, cái này không thể. Như vậy, tôi đọc không biết bao nhiêu cuộc đời của các bậc thánh hiền. Thánh nói chung là người lạ lắm. Tâm đắc cái gì thì bèn lấy nó ra mà dạy. Còn có cả hai ông thì đó là tiền duyên: vị Chánh Giác, hoặc là ngày xưa đã mất hai cái vị ngọt ngào, quyến luyến đó. Ba thì coi như là còn.

Do căn tính của người ta. Đa phần những vị còn lại, đa phần nha, coi như là cái gì hợp với mình thì mình sớm muộn cũng theo cái đó, chứ phải nói như vậy. Các vị La-hán đâu có dở như mình đâu, các ngài hơn mình nhiều lắm. Nhưng mà nói gì thì nói, đi đâu thì đi, cuối cùng các vị cũng trở về với cái sở trường của mình.

Đó là ngài Xá Lợi Phất. Ngài vận chuyển qua pháp môn là Tăng thượng. Còn ngài Phú Lâu Na thì có một ngàn lý do để quán niệm, chứ cái thứ nhất là do sở trường của ổng. Giúp người ta, ổng đâu có dám đụng tới cái sở đắc thể lỏng. Cái thứ hai, vì cầu danh, vì cầu lợi, ổng sẵn sàng hy sinh học trò, đệ tử, miễn là giành được sự ngưỡng mộ, ngôi cao. Chứ ngài Phú Lâu Na có cái tuyệt chiêu làm mê người ta lại là chết nha.

Cho nên tất thể hướng dẫn của phàm phu đều mang dấu ấn cá nhân. Tôi nói lần nữa, có hai cái động cơ, chứ không hẳn bất thiện hết, nghe nha. Làm ơn. Tôi xin đi đầu, quỳ lạy tất cả các vị thiền sư nha. Không phải công kích người nào mà tôi cho nó gọn.

Tất cả các vị đều có ít nhiều gởi gắm quan điểm cá nhân đó. Cho nên khi mà chúng ta học đạo, học giáo lý, học thiền với các vị, chúng ta cũng tỉnh táo một chút. Không phải họ sai, nhưng mà cứ đè mình ra khỏi sở trường, vọng vô, không. Mình ta còn có cái sở trường mà rất là khó ăn với những cái không hợp với mình. Nhưng mà mình không có thể thành ra biểu hiện lão luyện, cao tay, bằng cách nói như mình thích.

Các pháp sư cũng vậy, giảng sư cũng vậy. Cái quan trọng nhất là nói cái gì mà động được mình, động ra bất kỳ một cái động cơ thiện nào. Mà nếu không có thiện xảo thì ở tính buổi đầu, nói cho mình vui đó, mình theo đạo rồi sau đó tính tiếp. Nhưng mà khổ một chỗ, qua cái chặng đường mẫu giáo, qua cái chặng đường mẫu giáo ấy, thì ta không còn đường rút chân nữa mới bị nha.

Cứ mới vô là thấy mặt sờ sờ là chấp nhận. Tao hỏi, nó mê được rồi là dắt đi qua cái khác, nó không chịu nữa, không chịu nữa.

Một trong những bi kịch lớn nhất của các trường phái Tịnh độ đó là làm thui chột hết sức tinh tấn nghiên cứu kinh điển của người tu. Có nghĩa là vô là cứ cho nó lục tự Di Đà hết. Đây tôi nói, có thật là chánh tà, sai đúng, đừng có nói nha. Vì trong tôi không biết ai đang nghe cái này. Tôi chỉ nói vắn tắt vậy thôi.

Rất nhiều vị cứ nghĩ rằng cho đệ tử vào đạo bằng con đường đơn giản, dễ nuốt, dễ ngửi, dễ nếm, dễ đi. Nhưng mà họ quên rằng khi mà nó nếm rồi, nó quen rồi, nó thấy cái kiểu tu tiện hết, thì vị tưởng tượng kinh điển bao la, kết tinh của huệ giác muốn chết, thế mà cuối cùng gói gọn lại còn một câu niệm Phật. Thì các vị...

Tượng kinh điển bao la, kết tinh của huệ giác, muốn chết. Thế mà cuối cùng còn gói gọn là một câu niệm Phật. Thì các vị có thật lòng không?

Vậy mà không biết bao nhiêu người tụng kinh to đùng. Nó không đẹp mà cứ nhớ sư phụ trao cho cái gì thì mê, một đời theo đuổi cái đó. Mà quý vị lại tiếp tục cam tâm. Thì tôi xin thành kính trao tặng bản vàng bia đá cho địa chỉ trên, khắc thuộc lòng dòng chữ “hội chứng cá cảnh”, nha.

Ý nghĩa là sao? Là không có khả năng trở về với trời cao đất rộng, mà vẫy trong cái lồng kiếng. Mỗi ngày thò vô, liệng cho vài viên thực phẩm công nghiệp rồi cứ như vậy đó. Lâu lâu bữa là chủ thay nước. Mà mình, cả một vũ trụ càn khôn bao la bát ngát, gói gọn trong cái bể, cái cặp bài viết của kẻ bị tưởng tượng.

Suy nghĩ coi, chúng ta có phải làm đau lòng hai đấng sinh thành? Vốn dĩ sinh mình ra tay chân tự do, mà khi đi vào đời, đem cái tự do ấy đặt xuống, tròng vô cổ kẻ mà trao cho mình các quan điểm chính trị, văn hóa, tôn giáo, xã hội. Làm một đứa con như vậy, các ngươi có thấy đau lòng không? Cái đó tôi chưa xong là tôi đã thấy đau lòng nha.

Thằng Tú mình đẻ ra con cá cảnh còn tội. Lại một con chim cảnh nữa. Chiều nó cũng như vậy. Vì lý do, điều kiện, nghiệp nhân mà chúng ta chấp nhận vội vã tin người khác. Mà trên đời này, chúng sanh đó có hai loại.

Loại một là dạng sính tôn. Tại sao? Vì sao? Thấy mình là đỉnh của đỉnh, cho rằng đây là chân lý của mình.

Hạng thứ hai là cái đứa khoái dựa, lúc nào cũng phải kiếm chỗ dựa. Có nghĩa là cứ là xài, rất là sợ phải suy tư một mình, rất là sợ cái gọi là chủ kiến, cái gọi là lập trường, rất là sợ. Cứ tin theo người khác cho tới khi chắc ăn. Nó bậy thì có lẽ bây giờ người ta theo nó bậy hết rồi, sao còn mình nữa? Nó đâu thiếu cái này cái kia. Thế là dựa vào đám đông cho nó chắc ăn.

Còn không, nói thì tôi nói. Thì bữa nay đừng có buồn nha. Tao lâu lâu nói bữa cho nó đã.

Khi mình là phàm phu, là mình đến với đạo chưa có ngộ đạo. Mặc dầu mới tạo chứ chưa ngộ. Là nảy mến mà chưa kịp thấy thế nào hết. Là đâm ra cái người mặt mũi, giọng nói, hàm răng, vầng trán, lỗ tai, gò má, nụ cười, giọng nói mà nó ok, cứ tưởng tượng như vậy là Từ Hải chết đứng.

Quý vị biết câu “Từ Hải chết đứng” không? Mà sao nó nhã dữ. Còn chết cái kiểu quý vị là chỉ cái chân nó đứng thôi, chớ Từ Hải còn nhã đùng ra. Nhưng mà cứ kiểu theo đạo, mà theo cái kiểu danh sắc, tướng, giữ sắc, chấp ngã, thì có những thứ mà nó chết rồi vẫn ươm giữ. Nước này làm cái kim tự tháp gì đó, ướp cái xác lại đó nha.

Cho nên là mình phải có cái khả năng nhận thức. Mà nhận thức yếu quá, nhận thức yếu của chúng ta lập tức trở thành mồi ngon cho tà kiến.

Khi hòa tấu cái này, cái quan trọng nhất là người ta nói gì kệ người ta. Người ta nhiều lắm. Mình chỉ có tin Tam bảo, tin Pháp sư là cái người cung cấp món ăn cho mình tham khảo, nha. Bày ra đó một bàn, thì con đầu mình lựa. Chứ còn mà chưa gì hết, mà mình coi như mình đem gắn lên đầu chàng một cái vầng nguyệt với đủ thứ, rồi nguyên một cái tòa sen, làm như vậy là chết béng nha.

Và cái điều đó trở thành một thói quen nhiều kiếp. Quý vị hiểu chứ? Không có nghĩa là bây giờ gặp Phật thì mình rẻ tiền như vậy. Nhưng mà cũng là cái đám vẫn trong tù.

Còn đời sau, sanh ra mình gặp đạo Hồi, đạo Chúa, là tan thương. Có bị tưởng tượng theo một cái đạo mà coi như giết chóc, âm mưu, rồi khủng bố, rồi hại người, rồi máu lệ. Nó bị tưởng tượng là vì đâu? Vì đâu nó ra nông nổi đó? Nó vì đâu mà ra cái tình trạng đó? Vì cái thói quen.

Rồi máu lệ, rồi nó bị tưởng tượng, là vì đâu? Vì đâu nó ra nông nổi đó? Nó vì đâu mà ra? Cái chữ “tình”, vì cái thói quen là chúng ta sợ suy tư, sợ suy tư, không có chủ kiến, không có lập trường, sợ đứng một bên lạnh lẽo, cô đơn, tìm chỗ dựa.

Những người này phước nhiều thì lớn lên, kiếp sau tất cả được ngồi xe lăn, mình không được. “Tao có đi được đâu, có tự đi thì phải ngồi xe lăn.” Ví dụ vậy.

Tôi nói thêm, sẵn nói tâm lý nha. Đừng bảo không cho nói. “Tiểu đường tâm lý” là cái người khoái ngọt. Còn bữa nay tôi nói cái hạng thứ hai là sao? “An tâm lý” có nghĩa là hai cái cánh nó không có tự đi. Còn nếu mà không đủ phước làm người, thì làm cái cảnh, cái bị... biết không? Không có giò. Nó đẻ ra là bố mẹ nó ở trong lồng, trong chậu rồi cứ thế mà nó đi tới, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc ở trong cái gọi là lồng chậu ấy.

Các thế hệ sau kế thừa, kết nối, cũng vẫn tiếp tục trong đó, không dám suy tư độc lập. Cho nên sáng nay mình học về cái duyên khởi của tâm tham, của tà kiến. Bây giờ mình ngồi tại đây, cả ba cái đó nó đều dẫn đến một cái ở người lớn của chúng ta, đó là: dầu là tà kiến hay là tham ái, sân hận, tất thảy đều đi ra từ cái khả năng nhận thức bần cùng, thiếu máu, gầy còm, suy nhược, suy dinh dưỡng ở trong ta.

Có nghĩa là chúng ta biết rằng để đối phó với tà kiến và tham ái thì chúng ta chỉ có một con đường là ánh sáng, ánh sáng của trí tuệ. Mà ánh sáng thì nó có ba nguồn tư lương và tu văn, có nghĩa là những gì chúng ta nghe, những bài học chúng ta đọc, mà có gạn đục khơi trong, đổi từ từ, như kiểu lọc nước. Đó là kế thừa có phê phán. Mình chẳng phải nghe theo người khác không, có chọn lọc, có biết phân biệt lựa chọn.

Nhưng mà nếu mình nghe như vậy rồi mà không chịu học ai, không chịu lắng nghe hết, thì chúng ta lấy cái gì để bồi đắp vốn liếng suy tư, lấy gì làm vốn, làm cái cứ liệu để mà đối chiếu so sánh đây? Cho nên mình phải nương tựa vào người khác. Có ai trên đời này mà lại không có thầy trên đầu? Chứ về... không có.

Có cả trường hợp chúng ta học với những người mà chúng ta không ngờ là thầy của mình. Có trường hợp đối với quý vị, chúng tôi có thể học được những câu nói hay, những suy nghĩ hay từ một ông cụ ngồi ở nhà ga nào đó. Có nghĩa là chỉ cần một câu đó thôi, thay đổi cái nhìn nhận thức của mình về đời sống, về cuộc đời, về tôn giáo, về văn hóa. Chỉ một câu đó thôi.

Tôi nói câu này dễ bị ném đá lắm. Là tại thế này, cảm thấy tôi nói được, coi như tôi vị pháp vong thân. Có nghĩa là tôi tình cờ có nghe một câu nói ở phe phản quốc, thì không nên như này. Có nghĩa là gì? Là người không có chút lòng trung thành, đúng. Nhưng mà nói rằng đòi cực đoan, ngộ anh chị, nó đi ngược lại với tinh thần Phật pháp. Là vì sao? Vì trong cái dòng chảy luân hồi, làm gì mà có chuyện chúng ta có một quê hương vĩnh viễn, làm gì để chúng ta có một đất mẹ vĩnh cửu.

Kiếp này làm người Việt, kiếp sau làm người Tàu. Kiếp này thì đấu tranh, giành giật, xác định chủ quyền biển đảo, Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; cột mốc biên giới Việt, Miên, Lào, từng ngày và từng ngày cho người ở canh giữ, đủ thứ. Rồi mai này tắt thở, ai cấm mình đi về Tàu? Ai cấm mình làm người Khmer? Ai cấm mình làm người Lào? Đâu có. Cấn nghiệp nó đi mà, nghiệp nó đưa đi.

Nhớ, mình yêu dân tộc được, mà nhớ dân tộc chỉ là một mảnh.

Nghiệp nó đưa đi mà. Nguyên việc nhịp nó đưa đi, nhé.

Đẹp. Tây Ninh thương yêu dân tộc được mà. Nhớ, dân tộc chỉ là một mảnh nhỏ xíu của cái gọi là chúng sanh. Yêu đất nước được thì yêu, nhưng yêu đất nước này, yêu môi trường sinh thái, yêu cái nơi chốn mà thích hợp cho đời sống tâm linh.

Em chỉ cần câu “đất nước là một hằng số bất kỳ, đó là một giá trị tuyệt đối” là sai phép. Bởi vì phải biết rằng kiếp sau của chúng ta có thể là ngày mai. Tôi tuyệt đối mong mỏi không coi ai đó, cái gì đó, là chung thân. Nghe một phút giây chia sẻ của tôi mà nói rằng tôi đang có cái thấy giống gì, mà tôi mê nó, giữ khư khư, là không có.

Mọi thứ ở đời, vạn hữu tồn sinh trong các cõi, tất thảy đều vô thường hết đó. Tất tẩy mọi thứ đang ở trong vòng chảy của biến động. Cho nên mọi giải pháp chính trị, nói chung mọi thứ, nó đang trong cùng một dòng biến động liên tục. Vì vậy mọi giải pháp chính trị chỉ là giải pháp tạm thời cho cái khúc, cái chỗ đó mà thôi, chứ không phải cái gì để mình tôn thờ.

Lập trường, quan điểm, chính sách, kỹ thuật, công nghệ, không có cái gì riêng sang, làm khai giảng thiên hình vạn trạng. Các dòng đời lúc này lúc khác, tất cả chúng ta đều là những chiếc lá trên dòng. Nhất định tất thảy những giải pháp về văn hóa, kể cả cục vàng, cũng đều là như vậy.

Ví dụ như mình thấy sáng nay khỏe, người ta bảo các con quán bất tịnh đi con, 55 phút. Tu hay thở đi con, 15 phút sau, 15 phút sau nữa, dịp tiếp theo thời gian đi thẳng. Pháp hành nhận đạo mỗi lúc mỗi khác, với mỗi người mỗi khác.

Chúng ta cho rằng khuôn vàng thước ngọc về kinh tế, về chính trị, quốc phòng, về văn hóa, về giáo dục, về cốt lõi, thì có thể coi như lưu trữ lâu dài. Nhưng trong hình thức thể hiện, chính chúng ta bị dính cái nổi tiếng ngoan cố này, cho nên cái gì chúng ta biết thì nói đều là tuyệt đối. Cái tiếng Pali gọi là ngoan cố. Nói tôi là lòng đầu, nhưng có nghĩa là lì như cao su. Coi như nếu mình bị dính cái hội chứng này rồi thì ai cứu mình?

Cái nguy hiểm nhất là chúng ta không biết là mình chết. Cho nên với tôi, chỉ mong một điều, đó là đời đời sinh ra con có khả năng hoài nghi mọi thứ. Có lời nguyện này nghe rất là kỳ nha, nhưng mà tôi đã quá ngán cái thế giới hôm nay. Cho nên cũng nên bổ sung trong những lời nguyện của tôi, có một câu là: đời đời sinh ra cho con khả năng hoài nghi. Cái câu đó hay chứ. Dầu có pháp, tà pháp, không cần biết, đời đời sinh ra con có được cái khả năng quán chiếu. Con đừng có mà cắm đầu cắm cổ bàn thờ phụng một cá nhân, một lập trường, quan điểm, chủ trương, chính sách nào mà không bao giờ có phản quang bác lại.

Như vậy thì mình đang học về hai cái nguồn duyên khởi của các tà kiến. Còn nhớ tôi có giảng tất cả tà kiến, tức là những nhận thức sai lầm của chúng ta trong đời này, nó nằm gọn trong hai thứ thôi. Ôn lại cho những người mới: tất cả tà kiến, tức là những nhận thức sai bét trơn cẳng, có hai, đó là thường kiến và đoạn kiến.

Thường kiến nói nôm na là tin chắc vào một cái tôi thường hằng bất biến, một cái tôi đi từ lúc này qua lúc khác, từ nơi này qua nơi khác. Thay vì phải hiểu rằng mọi thứ chỉ là lắp ráp, nối tiếp, liên hệ, cộng hưởng với nhau, không có một cái gì đó gọi là...

...răng, thay vì phải hiểu rằng mọi thứ chỉ là lắp ráp thôi.

Tướng chỉ là sự liên hệ, cộng hưởng nhẹ. Không có một cái gì gọi là cốt lõi, không có gì đó gọi là thuần nhất, độc lập mà có thể tồn tại được. Một cây tăm xỉa răng, một sợi tóc, một hạt cát, một giọt nước, tất thảy đó đều là một khối tổng hợp của nhiều thứ, chứ không phải chuyện đơn thuần.

Trên đời này không có cái gì là rốt ráo, là riêng lẻ hết. Giọt nước không có mà hạt cát, hạt bụi bay theo gió, nó cũng là sự cộng hưởng đó, là sự lắp ráp, ghép nối của rất là nhiều thứ khác mới làm nên cái hạt bụi.

Tôi hỏi một câu: mình nghĩ rằng hạt bụi nó nhỏ quá, nó không phải là cái khối tổng hợp của nhiều thành tố gì hết, phải không? Một câu đơn giản. Nếu anh nói với tôi rằng bụi nó nhỏ quá nên không đủ để chứa thành tố, thì tôi hỏi này: các vị có tin rằng có những vùng đất bị ô nhiễm và không ô nhiễm không?

Không khí ở những nơi như Thụy Sĩ, nó rất muốn có bụi chứ nó không đủ để ô nhiễm. Chỉ cần bụi thôi, nhưng cát bụi ở đó có thể sẽ không giống cái bụi Trung Quốc, bởi vì trong từng cái hạt bụi công nghiệp có hàm lượng kim loại nặng nhiều. Còn ở những nơi mà hãng xưởng, công ty, nhà máy sản xuất công nghiệp, tất thảy đều được kiểm soát chặt chẽ về khí thải, thì khác. Cứ nói Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, thì cái vụ này có những khác biệt lắm.

Bây giờ, mình đi tìm một cái tôi. Trước hết, anh nói ngay rằng bản thân mình, với tiếng Việt, có một cái tôi đây, có tôi kia. Rồi cái tôi này bị cái tôi kia gây tổn thương, mình mới nổi điên lên.

Mình phủ nhận những gì mà mình không thấy, không biết. Thí dụ như mình không thấy nhân quả báo ứng, đời sau, kiếp trước; mình không thấy luân hồi, địa ngục, cõi trời; mình không hề biết trên đời này có những nơi gọi là hiền thánh đã chấm dứt sinh tử, không còn huyền ảo nữa. Mình không biết gì đâu.

Cho nên cái loại tà kiến thứ nhất là cứ đi tìm và tin tưởng vào cái tôi. Còn cái thứ hai là phủ nhận triệt để những gì mà khả năng hạn hẹp, dài một tấc rưỡi của mình không có rờ tới được.

Nói gọn, thường kiến có ba.

Một là tin vào cái tôi, một cái tôi không do lắp ráp mà thành, không phải hình khối, mà như là có sẵn vậy đó.

Cái thứ hai là tin vào sự có mặt của một cảnh giới thiên đường, một cảnh giới vĩnh hằng, đời đời bất diệt.

Cái thứ ba là tin vào sự có mặt, sự hiện hữu của một đấng Chúa Trời, Đấng Chí Tôn tối cao, vô thường sáng tạo muôn loài, ban phước, tha tội.

Ba cái tin tưởng này thuộc về thường kiến:
thứ nhất là tin vào cái tôi,
thứ hai là tin vào sự có mặt của một đấng tối cao,
thứ ba là tin rằng rốt cuộc có một cảnh giới, một nơi chốn, một không gian vĩnh hằng.

Ba cái này được gọi là tà kiến, gọi là thường kiến.

Đoạn kiến cũng có ba.

Thứ nhất là vô hành kiến, nghĩa là cho rằng không có chuyện ác gì hết. Thích thì làm, không thích thì thôi, không có gì hết.

Thứ hai là ngẫu nhiên kiến, có nghĩa là cho rằng mọi thứ ngẫu nhiên mà có, không có lý do nhân duyên gì hết. Mới ghê.

Vô hữu kiến có nghĩa là phủ nhận triệt để, phủ nhận triệt để những gì mà mình không thấy được.

Kiến có nghĩa là phủ nhận triệt để. Phủ nhận triệt để những gì mà mình không thấy được, không hiểu được, không chứng minh được.

Dĩ nhiên, luôn có nhiều người nghe tôi nói điều này rất khó chịu: “Tôi chưa chứng minh được, thì tại sao?” Tôi đâu có bắt. Tôi chỉ nói là chưa có chứng minh được thì đừng có bác.

Anh đang nói tiếng Việt Nam cho người Việt Nam, tôi nói rất rõ. Tôi đâu có xúi quý vị tin bừa, tin cuồng, tin quáng những cái quý vị chưa chứng minh được. Nhưng trong tinh thần Phật pháp, với tấm lòng từ bi thật sự, tôi xin khuyên rằng mình đừng vội vã tin khi mình chưa chứng minh được; nhưng cũng đừng có dại khờ mà bác bỏ, phủ nhận một điều mà bản thân mình cũng chưa có bằng chứng là nó không có. Vì cái kiểu này hơi vội.

Thí dụ, nói chuyện nhẹ thôi, về ma quỷ. Mình không có khả năng chứng minh là mấy cái loại đó có thiệt, nhưng mình dựa vào đâu để mình nói là nó không có? Mình chỉ có một nguồn duy nhất là mình chưa có thấy bao giờ, rồi mình đem dựa vào đó mà phán rằng nó không có. Các vị nghĩ có động trời không? Các vị nghĩ tôi nói tào lao, nhưng có nguy hiểm là cái gì không?

Hay là có thí dụ như bữa hôm nay ghé chỗ mẹ mày của tôi, chỗ ở xứ tôi đó, tôi có nói cái này. Tôi nói: “Đêm hôm em đi ra đi vào nhớ mở đèn. Cẩn thận nha.” Vì sao? “Con không có tin. Từ nhỏ đến lớn con nhìn đâu thấy con nào hết.” Các vị nghĩ cái thái độ ngoan cố, lì lợm đó có nên không? Nó không nguy hiểm à?

Người ta đã nói thẳng: “Cẩn thận.” Nghe nói rất đúng. Quý vị chưa từng thấy con nào, nhưng quý vị cũng không có bằng chứng để nói rằng cái này không có. Vậy mà cứ nhắm mắt nhắm mũi chống lại. Mai này mà bị đắt đỏ thì ráng chịu nha.

Còn chuyện mình tôi có thấy không là chuyện của tôi. Tôi chỉ nhắc thôi: cẩn thận, đêm hôm ra vô nhớ mở đèn lên. Vì sao? Nghe để con rắn. Đằng này không có nhà, không có chứng minh được, rồi không tin. Không tin là tắt đèn, đi ra đó, ngồi trên cỏ một hồi rồi bị cắn, kêu trời. Đừng có quay ngược lại ghét thầy, kêu: “Tại Tết không thấy.” Thằng ngu.

Ok, như vậy thì chúng ta đã học xong cái duyên khởi của tà kiến.

Nghe tà kiến thì gọn lắm: chỉ có thường và đoạn. Thường là đi tìm một cái tôi bất biến. Đoạn là phủ nhận toàn diện, triệt để những gì mình không thấy, không hiểu, không chứng minh, không nhận biết được.

Còn nói cho rộng thì thường kiến có ba. Nhưng ba cái này nghe một lần không có nhớ đâu. Quý vị biết không, tôi làm thầy chùa bốn chục năm rồi, nói vậy là người ta nhớ được như vậy đó. Chứ còn mấy điều tôi nói, tôi chỉ là buộc họ đọc nhiều chứ nhớ không nổi, trừ khi họ học từ nhỏ. Kém rồi, phải nghe nhiều lần.

Bây giờ mới có 10 giờ 20. Quý vị cho xin thêm một bài nữa, sẵn nói luôn. Sau này chúng tôi không có giảng hết hai tiếng là vì nhiều lý do. Thứ nhất, đang rất lu bu. Có biết cái gì không? Hôm bữa tôi mới dọn về, tôi rối rắm trong ngoài, mình cô đơn nhiều khi ngại vụ cột xiêu. Muốn đi hoằng pháp cũng sợ nhiều gian nan.

Ở đây chúng ta có ai đang nghe về tà kiến là đã giảng rồi. Khi mà có hai duyên, hai cái lý do mà tạo ra tà kiến, thì đó cũng chính là hai cái duyên mà tạo ra chấp kiến. Quý vị chịu nghe không?

Có hai duyên, hai cái lý do mà tạo ra tà kiến, thì đó cũng chính là hai cái duyên mà tạo ra chánh kiến. Quý vị nghe có kỳ không?

Muốn có tà kiến, có hai nguồn. Một là nghe người khác. Hai là do suy nghĩ chưa có tới.

Còn bây giờ, cái nguồn có chánh kiến nó cũng gồm có hai: một là cũng nghe người khác chỉ dạy; hai là cuộc đời nó trao cho mình cái gì, chưa biết tốt xấu, mà cái quan trọng nhất là mình đón nhận nó ra sao.

Các vị nghĩ mà xem, nếu tôi đặt vào tay của một đứa bé một trái chanh, đứa bé mới có hai tuổi, đưa nó chơi thôi, thì quý vị nghĩ nó làm gì với trái chanh đó? Khi nó mới có 18 tháng, 22 tháng mà nó cầm cái chanh, nó sẽ làm gì? Rồi tôi đưa nó hũ đường, nó sẽ làm gì? Tôi đưa nó cái hũ muối, nó sẽ làm gì? Nó đâu có biết làm mặn, làm chua, làm cay.

Nhưng mà với một bà nội trợ, một người đàn bà trên 18 tuổi, một người phụ nữ trên 18 tuổi, mà tôi đưa cho họ chanh này, đường này, muối này, rồi còn ớt nữa, rất nhanh. Trong khi đó, một đứa bé với mấy cái này thì nó chỉ lắc đầu.

Là vì sao? Là vì khả năng của nó, khả năng nhận thức của nó về thế giới, không cho nó hiểu biết nó phải làm gì với ba cái thứ đó.

Thì đời cũng vậy, và Phật pháp cũng giống nhau ở chỗ là người ta trao cho mình, mà mình có khả năng nhận nó hay không. Mình kiểu gì nhận? Biết xòe tay đón nhận những gì? Kiểu gì? Để nhận xong rồi mình làm gì với nó?

Ví dụ sáng nay mình lại nghe cha linh mục giảng về Chúa, rồi qua bên chùa mình lại nghe mấy ông sư nói về Phật. Cái chuyện đó là chuyện của người ta. Mà cái quan trọng nhất là mình nghe Chúa, mà nghe bằng cái đầu có nhận thức, thì vẫn có được lợi lạc từ lời Chúa. Mà bây giờ mình nghe lời kinh Phật bằng một cái nhận thức nhân lành, thì mình vẫn được lợi lạc từ kinh Phật.

Còn cái kiểu nghe mà thiếu hành trang, thiếu nền tảng, thì dầu nghe cái gì, mình chỉ đem rác về cho cái đầu mình thôi.

Muốn có chánh kiến, cái đầu tiên là chúng ta nhận được gì. Nhưng mà chưa hết, nên nó mới có cái duyên thứ hai. Còn lại, nói ghê gớm, chúng ta nhận được gì, mà chúng ta đã làm gì với cái nhận đó?

Bởi vì chúng sinh chúng ta sinh ra đời, cái đầu chúng ta trống lỏng, có gì đâu. Nhưng rồi lớn lên, trường lớp, thầy cô, sách vở, bạn bè, rồi chòm xóm, người ta mới trao truyền cho mình cái kia, cái này, cái nọ. Cái vấn đề là anh đã đón nhận nó ra sao, anh đã làm gì với nó, chứ không phải mấy cái đó.

Anh em mới hai tuổi thì chanh, đường, muối, ớt rồi đó, anh làm gì được? Nó nằm ở chỗ đó. Cho nên nó là cái điều kiện để tạo ra chánh kiến, rồi cũng tạo ra tà kiến nữa. Là sao? Là ở sự xử lý, là ở cái điều thứ hai đó.

Có nhiều thứ lắm. Thì tôi có nói, muốn có chánh kiến của mình thì ta phải có ánh sáng của trí huệ. Mà ánh sáng ấy nó đi ra từ ba nguồn.

Một là thiên văn, có nghĩa là những gì chúng ta học, đọc và nghe được từ người khác. Đó là thiên văn.

Thứ hai là tư văn, tức là cái khả năng mà chúng ta gặm nhấm, thấm thía một mình. Mình làm gì cũng nhớ cái đó.

Trong tiếng Anh nó có một cái chữ rất là đắt, đó là cái chữ “ruminate”, tức là cái khả năng suy tư, hay là cái thói quen tư quán.

Nhớ nha, cái đó rất là quan trọng. Nó là như vậy.

Thói quen tuệ quán rất là quan trọng. Nhớ nha.

Mà thật ra, nó cũng dựa vào hai cái. Có nghĩa là dựa vào cái gì? Dựa vào từng người khác để biết, và dựa vào suy tư của chính mình. Nhớ nha. Giữ vào người khác cũng là mình mà, giữ vào suy tư cũng là mình.

Thì cũng giống như đây, dù có ba, dù là kể hay được kể, hay là được giúp nhau, bởi vì cho mình và cho người, không có cái nguồn thứ ba nào hết. Chính là cái mình ra, chính là cái mình ra.

Bởi vì có người thì họ đọc sách, ngồi tưởng tượng. Có người đặc biệt, có thần thông, có thể nhớ tiền kiếp, có thể quán tương lai, cho nên họ thấy rõ ràng có thiên đường địa ngục, thấy có kiếp trước, thấy cõi trời. Họ có điều kiện đi xa hơn.

Nhưng mà cái góc còn lại là gì? Cho nên, dù có thần thông, có nhớ tiền kiếp, thì hỏi lại, cái thấy đó cũng theo kiểu khác, nó sang một tí. Sang làm sao? Cái người mà không có thiền định, không có thần thông, thì nếu mà không mắc vào tà kiến, chỉ đơn giản là tại vì tôi không có chứng minh được có kiếp trước kiếp sau. Có ai chết rồi về cho người khác thấy đâu. Tôi chỉ nghe kể, nói dóc không, rồi chứ biết sao giờ.

Tôi nói là tôi có tin, nhưng mà cái ông đắc thiền thì khác. Ổng có nhìn thấy. Nhưng cái khổ của ổng ở chỗ là cái khả năng nhìn thấy của ổng nó có giới hạn. Thí dụ như kiếp trước, kiếp sau, ổng chỉ nhìn được một trăm kiếp. Ổng mới khẳng định thế này: chúng ta chỉ mới có mặt trong cuộc đời này một trăm kiếp, và chúng ta sẽ tiếp tục luân hồi đầu thai thêm một trăm kiếp nữa là kết thúc.

Thì cái biết của ổng, nó cũng có chỗ nó sang hơn mấy thằng cha ngồi lý luận tưởng tượng, đúng không? Nhưng mà cái chung cuộc thì nó vẫn giống nhau ở điểm đó là sự hạn chế trong nhận thức. Nhớ nha, sự hạn chế.

Cho nên là nhớ cái này nè. Dầu chúng ta là ai, có đắc thiền, đắc định; chúng ta có học thức, hay là bình dân dốt chữ, nhưng mà có một điều quá tốt: thói quen biết nghi ngờ cái con đường mình đi, cái nhận thức mình có, rất là tốt. Là bởi vì chúng ta luôn luôn phải thấy rằng cái biết của tôi so với điều tôi không biết nó cũng chỉ như hạt cát trên sa mạc.

Cát sa mạc người ta còn có thể đếm được, sa mạc người ta còn có thể đo được. Nhưng mà cái biết của tôi, đem so với cái tôi không biết, thì cái không biết, cái mà tôi không biết, nó là vô hạn vô bờ. Phải nói nhiều cái sao mà không nghĩa lý gì đâu. Biết vì sao không nghĩa lý? Tỷ lệ với cái số kiếp, với cái kho tàng hiểu biết, hôm nay con số của mình có là bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn chỉ là con số. Nghe chỗ đó nha. Nó vẫn còn là con số.

Mà chúng ta sống được cuộc đời này, mình khổ là vì vô minh, không thấy gì hết, mà muốn hết vô minh là sống phải có trí. Thì có ba nguồn học: nghe, đọc, và hành trì. Chỉ khác là cái khả năng thấm thía, suy tư, gặm nhấm, tiêu hóa của bản thân.

Thứ ba đây là chức năng nhận thức vấn đề thông qua sự hành trì thực chứng. Thí dụ như miệng nói và tai nghe: mọi thứ là vô ngã, vô thường. Như vậy, không có ai thấy được cái vô ngã vô thường đó một cách sâu sắc cho bằng cái người tu tập. Bởi vì chính tôi, trong từng hơi thở, trong từng phút chánh niệm, thấy những lúc buồn, lúc vui.

Cái người tu tập được xây bởi chính nội lực trong từng phút chánh niệm, thấy những lúc mình buồn, lúc vui, lúc ganh tị, bỏn xẻn, lúc sân si, lúc ưa thích, tương tư, nhung nhớ. Một ngày, chỉ có hành giả Tứ niệm xứ, chỉ có hành giả Tứ niệm xứ mới thấy được, thấm thía tới nơi thế nào là sự vô thường.

Còn không tu tập thêm, cứ ngồi nói, ngồi nghe không, thì không nghe được. Phải tu tập, tiếp tục trong từng hơi thở. Hơi thở trước không phải là hơi thở này. Cái tâm biết hồi nãy cũng không phải là cái tâm biết bây giờ. Hồi nãy thở bằng tâm tham, bây giờ thở bằng tâm sân. Hồi nãy thở ra bằng tâm sân, bây giờ khác rồi.

Hồi nãy ngồi rất là thoải mái, bây giờ ngồi biết là đang ngồi, nhưng bây giờ nó có kèm thêm cái đau rồi. Hồi nãy lúc mới vô, nửa tiếng đầu tiên thì nó ở đâu? Bây giờ đau quá, đau mỏi gối giống như bị lấy búa mà gõ. Còn cái cột sống, cái thắt lưng của mình có đau không? Chịu không? Chịu không được.

Chính hành giả Tứ niệm xứ là người thấy rất rõ cái vô ngã, vô thường trong từng khoảnh khắc. Còn oai nghi, hành giả chỉ sống chánh niệm. Có nghĩa là làm gì biết cái đó. Hồi đầu niệm còn bé yếu, mình làm mười việc, mình nhớ có ba. Sau đó lên đến năm, bảy, rồi mười. Có nghĩa là không bỏ sót cái gì hết. Cái gì nổi bật thì ghi nhận cái đó.

Đang đi, biết là đang đi. Nghe một cái bùm, giật mình, biết là đang giật mình, rồi đi tiếp. Đang đi như vậy thì tự nhiên đạp phải cái gai. Đau. Tiếng la đau, biết là tâm sân đang có mặt, biết thân đau và tâm sân. Nó lang thang, biết. Rồi mới ngồi xuống, biết là đang ngồi, gỡ cái gai, biết rất rõ là đang gỡ, chỉ vậy thôi, rồi đi tiếp, biết là đang đi.

Trong lúc đang đi, nó lại có ai gọi mình. Lúc mình biết là nghe, quay lại để nghe, ngước nhìn, mình cũng nhìn bằng trách nhiệm. Vừa nhìn người đó là nghe trong lòng sao, sẽ biết ngay đây là tổng hợp vừa nhìn thấy, cái lòng nó bật giọng điệu lên để tâm sân hiện ra. Biết ngay tức khắc, kịp thời. Nếu làm được thì đó là tôi, là hành giả Tứ niệm xứ.

Nãy giờ tôi quên nữa, không có giải thích. Hành giả tu bên Miến Điện, một số khóa thiền, hành giả có mặc đồng phục. Nhưng không phải kiểu ăn, kiểu nói không giống ai. Hành giả đi đứng từ đầu tới cuối không phải lò mò lắm, không phải như bệnh mới hết. Mình sống bình thường như bao nhiêu người, có điều là tỉnh giác, chánh niệm. Nó biết rõ mình đang làm cái gì, chứ không phải...

Anh đang nghe nhạc guitar. Tôi yêu...
Chị đang nghe...

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở mục lục Tăng Chi để đọc bản kinh gốc.