Bài 14 · Pháp thoại

Bài 14: Kinh Tăng Chi (Chương 1 Pháp) - Phẩm Người Tối Thắng (tt8)

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

2:06:1313.524 từƯớc đọc 52 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 14 / 108 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương 1 Pháp) - Phẩm Người Tối Thắng (tt8) . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dung

  1. Gia đình trưởng lão Niên

    Giới thiệu thân thế và mối quan hệ trong hoàng tộc Thích Ca.

  2. Tỳ-kheo-ni Nandā

    Hành trình xuất gia, chứng quả và sở trường thiền định.

  3. Nguồn gốc hạnh Thánh tăng

    Phân biệt phước xưa và luyện tập nhiều đời trong tu hành.

  4. Cuộc đời Tỳ-kheo-ni Sona

    Hoàn cảnh gia đình và tấm gương thiền định kiên trì.

  5. Các loại A-la-hán và khả năng đặc biệt

    Giải thích về tam minh, ngũ thông và túc mạng minh.

  6. Bhaddā Kāpilānī - Mẹ của Rāhula

    Nguyện hộ pháp và vị trí đặc biệt trong hàng đệ tử Phật.

  7. Bài học về phúc họa đời thường

    Sự chuyển hóa và mối liên hệ giữa phúc và họa qua các sự kiện.

Transcript đã chỉnh

Thưa quý vị, bây giờ mình học tiếp về cuộc đời của Trưởng lão Ni Nan-đà. Đây là em ruột của ngài Nan-đà, vị anh em cùng cha khác mẹ với Thái tử Tất-đạt-đa. Có nghĩa là bà cũng là con ruột của bà Kiều Đàm Di Mẫu. Bà Di Mẫu có một người con trai là ngài Nan-đà và một người con gái là nàng Nan-đà, một kiều nữ sắc nước hương trời.

Sau khi toàn bộ quý bà mệnh phụ phu nhân hàng đầu của dòng Thích Ca đi xuất gia hết, trong đó có bà Gotami và bà Da-du-đà-la, thì nàng bị xem là lẻ loi. Khi các vị này đi xuất gia hết thì nàng cũng đi xuất gia. Nhưng vì nàng quá đẹp và còn cố chấp vào nhan sắc, giống với bà Khema ở điểm là vừa xuất thân danh giá vừa có nhan sắc thiên kiều bách mị, cho nên nàng có cái tôi rất lớn. Nàng đi xuất gia nhưng rất ngại gặp Đức Phật, bởi vì nàng nghe kể lại là Ngài thường có những bài pháp thoại về sự bất tịnh của thân xác. Dường như giáo pháp của Ngài không có chỗ nào trang trọng cho nhan sắc nữ giới hết, cho nên nàng không muốn gặp Thế Tôn.

Nhưng rồi dần dà, đã là người xuất gia thì cũng phải có lúc gặp Đức Phật chứ không thể tránh hoài được. Đức Phật xét thấy duyên lành giác ngộ của nàng đã đến lúc chín muồi, cho nên Ngài dùng cách mà Ngài đã độ cho bà Khema. Nghĩa là khi Tỳ-kheo-ni Nan-đà đến hầu Ngài, Ngài dùng thần thông để tạo ra một mỹ nữ đứng quạt hầu cho Ngài. Nàng không nghe pháp mà cứ nhìn mỹ nữ đó. Rồi một lát sau, mỹ nữ đó từ một người trẻ tuổi, trong từng phút từng phút trở thành một bà lão cằn cỗi, héo tàn. Nhân đó nàng tỉnh ngộ. Trong niềm xúc động đó, Đức Thế Tôn thuyết pháp và nàng đã chứng quả A-la-hán.

Sau khi chứng quả, nàng có một biệt hạnh là thường xuyên nhập định. Phần lớn thời gian trong ngày và trong đời của nàng là nhập định. Nhờ sở trường này mà một ngày kia, trước mặt đại chúng, Đức Phật đã tuyên dương: Trong các đệ tử Tỳ-kheo-ni của Ta, Tỳ-kheo-ni Nan-đà là vị đệ nhất trong các vị thiền giả, tức là vị thường xuyên sống với thiền định. Ở đây có chữ Jhanasayi, nghĩa là người thích thú, hoan hỷ trong thiền định.

Chúng ta ôn kỹ lại biệt hạnh của các bậc Thánh Tăng, Thánh Ni, có một điểm là tất cả các hạnh đều nằm trong hai trường hợp: một là do phước xưa, hai là do sự luyện tập nhiều. Hai cái này khác nhau. Do phước xưa, ví dụ như Đệ nhất tài lộc Sivali, Ngài không cần làm gì hết thì tự nhiên vật thực cúng dường luôn đầy đủ. Hoặc có cái phước là đời này không cần làm gì mà cơ thể vẫn khang kiện, khỏe mạnh, hoặc được chư thiên ái kính. Ngài không có làm thêm cái gì hết, chỉ...

Cơ thể ngài tráng kiện, khỏe mạnh và được chư thiên ái kính. Thật ra ngài không làm gì hết, chỉ từ từ tu hành rồi đắc quả, xong rồi tự nhiên trở thành một nhân vật được chư thiên ái kính. Cho nên trường hợp thứ nhất là do phước xưa là như vậy.

Trường hợp thứ hai là do rèn luyện nhiều đời. Ví dụ như chúng ta thấy Đệ nhất Trí tuệ, Đệ nhất Đa văn, Đệ nhất Đầu đà, Đệ nhất Thần thông, Đệ nhất Thuyết pháp. Họ đạt được những vị trí đó là do nỗ lực từ đời xưa, nhưng cũng phải do đời này nữa. Cái "đệ nhất" này rơi vào hai trường hợp. Trường hợp của ngài Nanda cũng phải do luyện tập. Có nghĩa là khi chứng thánh đạo xong rồi, ngài phải là người như thế nào mới được chứ.

Ngài Bakula là đệ nhất Thiền giả. Đệ nhất Thiền giả có nghĩa là ngài thường xuyên nhập định nhiều nhất so với các vị Tỳ-kheo khác. Hình ảnh một vị Thánh tăng thường xuyên nhập định như vậy là một tấm gương sáng cho người hậu tấn về sau thấy rằng, không có một pháp nào đáng để cho một người tu hành an trú hơn là thiền định, dù đó là định quán. Bởi vì thế giới này là thế giới của sáu trần, mà xét lại thì không có trần nào đáng để mình sống chìm sâu trong đó hết. Bất đắc dĩ, khi đã chứng ngộ mà chưa nhập Niết-bàn thì phải làm sao? Các ngài chọn lối sống an trú trong thiền định, đó là cách an toàn nhất và dễ làm gương sáng cho chúng sinh nhất. Ngoại trừ những vị đi hoằng pháp như Đệ nhất Pháp sư, Đệ nhất Trì luật, Đệ nhất dàn xếp trú xứ tăng chúng, Đệ nhất trong việc giáo hóa cư sĩ... còn lại, việc một vị A-la-hán thường xuyên nhập định cũng là một kiểu nêu gương.

Tiếp theo, chúng ta học về Tỳ-kheo-ni Sona. Đây là một câu chuyện buồn của cuộc đời bà, nhưng mà đẹp. Buồn ở chỗ bà xuất thân là một người có chồng con, giàu sang phú quý. Đến tuổi già, con cái chia tài sản rồi chúng thấy không có lý do gì phải chăm sóc một bà cụ lẩm cẩm, nay bệnh mai đau. Người này đẩy cho người kia, người kia đẩy qua người nọ, cuối cùng không ai nuôi bà hết. Chuyện này ngày nay cũng không phải là lạ. Cả một đời tuổi trẻ mình lo cho con, rồi lo cho cháu nội, có người lo cho cả cháu cố nữa.

Tôi nói điều này để quý vị rút kinh nghiệm. Cái dở của mình là không giữ lại cái gì cho mình. Làm phước thì cứ làm, lo cho con thì cứ lo, nhưng phải nhớ rằng trong cuộc đời này, ngoài Phật pháp ra thì không có gì có thể làm điểm tựa cho mình hơn là tiền bạc. Có tiền rồi thì mình dễ nói chuyện với người thế gian. Có những người mình chỉ cần một ít tiền là nói chuyện được, có người cần nhiều hơn, có người phải dùng số tiền lớn mới dễ nói chuyện. Đó là theo quan điểm thế gian. Mình cứ một lòng một dạ tin rằng mình thương con thì con thương mình, nhưng mình phải suy nghĩ đến khía cạnh thứ hai.

Ở thế gian mình cứ một lòng một dạ tin là mình thương con thì con thương mình. Nhưng cái suy nghĩ đó thiếu cơ sở là vì sao? Là vì con gái mình sẽ nghe lời chồng, và con trai mình nó sẽ nghe lời vợ. Nhớ là hai đứa rể dâu, cái tình nó khổ như vậy. Chưa kể con mình nó lớn lên, nó thương con của nó theo bản tính tự nhiên.

Chuyện này quý vị trông cậy con cái nó có hiếu thì tôi xin nói trước, đó là một sự trông đợi rất mạo hiểm. Nó chỉ có 50-50 thôi, bởi vì 50% là nó dành hết tâm tư tình cảm, thời gian công sức cho con của nó. Đâu có nghĩa là nó không thương mình, nhưng trong thâm tâm này, ai may mắn có con chí hiếu thì tôi xin long trọng chúc mừng. Chứ còn tôi nói thiệt là khả năng thực tế mà con nó thương mình, thương cha mẹ hơn thương con của nó, xác suất này hơi thấp nha.

Hình như bà chưa biết qua chuyện này, thế là lại giao hết cho con. Sau khi giao hết rồi, chỉ còn đôi bàn tay trắng thì đối mặt với cái không của tuổi già cô đơn. Bà nghĩ đến chùa, nghĩ cửa Phật thì bi mẫn bao giờ cũng rộng mở cho những cảnh đời cơ nhỡ. Bà vô chùa, vô trong thiền viện xin xuất gia. Nhưng một bài học thứ hai ở cuộc đời là không có nhờ vả cửa chùa dễ dàng như vậy. Ở chùa cũng có thân thế thì dễ, còn nếu không có con cháu gia đình, không phải là đại thí chủ gửi gắm thì cũng khó. Tự nhiên mình xách xe đi chùa với tuổi già hẩm hiu, rách rưới thì cũng hơi khó, nhất là gặp toàn phàm phu.

Thế là người ta thương, sau nhiều cân nhắc thì cũng cho bà tu, nhưng đẩy bà vào cái thế là người làm. Có nghĩa là giúp việc, cái gì dơ, cái gì nặng, cái gì mất công, tốn thời gian thì đẩy cho bà. Chỉ chừng đó thôi, còn tất cả những đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì đó thì không có phần bà.

Một ngày kia, các sư cô phàm phu được mời đi xa tụng lễ. Lẽ ra thì đi hết, nhưng thấy bà cụ này không tiền bạc gì nên cho ở nhà tập sự. Trước khi đi, các cô có dặn là tụi này đi tụng kinh xong về là phải có nước nóng để tiện thể tắm, chứ thường đi xe về mệt người khó ngủ lắm. Dặn rồi bà ở nhà xách nước. Mấy điệu trẻ thì đi hết rồi, bà thân già lụm cụm sắp xếp cho đủ. Loay hoay làm sao không biết, bà trượt chân té ở cái bậc thềm.

Lúc vừa mới gãy xương, đau quá đau, bà mới lấy cái đau đó làm đề mục niệm xứ. Bà đắc một lèo tới A-la-hán. Ngũ uẩn giai không, bà chứng quả A-la-hán tứ quả. Ngay khi đắc xong, bà ngồi đó nhập thiền luôn. Mấy cô đi tụng kinh xong về thì bắt đầu đòi đi tắm. Về tới nơi thì gặp bà cụ nhem nhuốc ngồi lim dim, chung quanh thùng một nơi, đòn gánh một nẻo, nước thì đổ tung tóe.

Mấy cô mới mắng: "Cái bà già này không có căn, không có tu, chỉ báo đời cửa đạo. Dặn có chút xíu nước nóng về tắm mà cũng không có". Bà nghe như vậy, bà mới chỉ tay vào cái bồn ở đằng sau. Bà chỉ tay một cái là ngoài đó đầy ắp nước, khói lên nghi ngút. Họ hết hồn, tưởng bà là phù thủy hay dạ xoa, mấy bà đó mới tá hỏa.

Nước nóng hổi dội lên liên tục, hết hồn họ tưởng bà là phù thủy hay bà là Dạ Xoa. Nhưng mấy mươi người đàn bà đó thấy bà không bị trầy xước gì hết. Khi biết chuyện, họ mới biết là bà đã đắc đạo đắc quả rồi. Chỉ trong vòng ba giây sau, bà đứng trước mặt Đức Phật. Đức Phật khen ngợi trong hàng đệ tử của Ngài, nếu nói về đệ nhất tinh tấn thì phải nói đây chính là người đệ nhất tinh tấn. Bà nhẫn nhục chịu đựng, không than trách một lời trong chừng đó thời gian mà vẫn chu toàn bao nhiêu chuyện tạp dịch trong viện không hề sơ thất. Đã vậy, ngay trong cơn đau đớn của thân xác mà vẫn lấy đó làm đề mục tu tập thì phải nói là có một không hai. Cho nên xét tiền duyên và nguyện cũ của nàng từ kiếp trước, bây giờ Ngài xác định đây là vị tỳ-kheo-ni đệ nhất trong giáo đạo của Ngài về hạnh tinh tấn.

Tiếp theo là tích về nữ cư sĩ, bà con có thể tìm trong chú giải Pháp Cú. Có hai bản dịch, một của Hòa thượng Pháp Minh, hai là của Thiền viện Viên Chiếu. Tại sao tôi giới thiệu hai bản này? Bởi vì đây là hai bản dịch được xem là sáng sủa nhất, thuần tiếng Việt nhất. Còn các bản dịch khác thì đôi khi có vấn đề. Chẳng hạn như tôi đi tìm cho quý vị đọc, có một bản dịch động trời gọi ông ngoại của bà Visakha là Triệu phú Danh. Tôi nghe ngạc nhiên vì tiếng Pali không phải như vậy. Ông ngoại của bà Visakha tên là Mendaka, nhưng bản tiếng Anh ghi là Men, người dịch không biết sao lại dịch thành Triệu phú Danh.

Trên internet cũng có nhiều bản dịch tiếng Anh thú vị, như Dhamma dịch thành nước Pháp, Kusala dịch thành Germany tức là nước Đức. Cho nên nếu quý vị muốn thưởng thức, hãy tra Google sẽ thấy những trang rất thú vị. Đúng như lời cụ Nguyễn Du: Ba trăm năm trong cõi người ta, cái gì muốn biết thì tra Google. Tôi đề nghị quý vị chỉ chú ý đến hai bản dịch của Hòa thượng Pháp Minh hoặc của Thiền viện Viên Chiếu, đây là hai bản dịch ổn nhất. Không phải tôi chê các bản khác, nhưng thấy hay thì giới thiệu để quý vị đỡ khổ. Chúng ta chỉ lấy ý chung vì tôi nôn nóng đi qua phần sau, phần giáo lý mới hấp dẫn, còn phần kể chuyện này bà con có thể tự đọc được. Ở đây mình học về tích của bà Samavati, cũng có một trăm ngàn đại kiếp tu tập Ba-la-mật, đến đời Đức Phật của mình thì nàng sinh làm một cô tiểu thư.

Bà cũng có 100 ngàn đại kiếp tu tập Ba-la-mật. Đến đời Đức Phật của mình, nàng sinh ra là một cô tiểu thư, rồi xuất gia, chứng lục thông. Chư vị nhớ lục thông có nghĩa là gì? Đó là Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Biến hóa thông và Thần túc thông. Vị La-hán nào cũng có những khả năng này nên đại khái giống nhau. Nhưng sở dĩ có vị được gọi là đệ nhất là bởi vì có hai lý do: một là vị đó chuyên sâu về lĩnh vực đó, hai là khả năng của vị đó không ai bì được, gọi là đệ nhất.

Vị Sakula này, sau khi chứng quả A-la-hán lục thông thì cũng giống như các vị A-la-hán khác, nhưng bà có điểm đặc biệt là sở trường về Thiên nhãn. Bà có thể thấy xa, thấy nhiều và thấy nhanh. Tại sao lại thấy nhanh? Thí dụ như về Túc mạng minh, những việc quá khứ mà chư vị phải nhớ bằng cách dò. Chữ dò có nghĩa là xem lại từng đời một, như cầm đèn dầu đi từng bước. Còn thấy kiểu đèn pin là khác, mình cần rọi chỗ nào là bấm ngay chóc chỗ đó. Với cái thấy của đèn pin thì mình thấy nhiều và thấy nhanh hơn. Còn kiểu dò bằng đèn dầu, cứ bước từng bước qua hoa lài, hoa lý, biết kiếp nào mới xong.

Bên Tăng có Ngài Anuruddha đệ nhất Thiên nhãn, Ngài nhìn thấy vô số thế giới, nhiều hệ mặt trời với tốc độ rất nhanh. Thí dụ muốn biết chuyện này ngoài ở đây có ở vũ trụ khác hay không, Ngài chỉ cần tác ý là biết ngay lập tức. Biệt hạnh của các vị Thánh đệ tử của Đức Phật, như Thiên nhãn, là khả năng mà bản thân tôi cũng rất thích. Trong các vị đệ nhất, có đệ nhất Trí tuệ, đệ nhất Thiên nhãn, đệ nhất Luận nghị, đệ nhất về Thiền định. Mỗi vị có một sở trường riêng, không vị nào gồm thâu hết được, cho nên mỗi người chỉ đắc một thứ thôi.

Tiếp theo là nàng Kundala Kesi. Kundala có nghĩa là xoắn, uốn xoăn; Kesa là tóc. Nàng có mái tóc xoăn giống như nhân vật Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng vậy. Nàng cũng có 100 ngàn đại kiếp tu tập Ba-la-mật với hạnh nguyện trở thành vị đệ nhất chứng đắc nhanh chóng, giống như Ngài Bahiya Daruciriya bên Tăng. Có nghĩa là không cần nghe nhiều, chỉ cần nghe sơ qua là chứng đắc.

Quý vị còn nhớ có bốn hạng người trong Phật pháp:
Một là Ugghatitannu, nghe một câu đã chứng.
Hai là Vipacitannu, nghe một bài pháp thoại đầy đủ mới chứng.
Ba là Neyya, phải được hướng dẫn hành trì từng bước mới chứng.
Bốn là Padaparama, giỏi lắm cũng chỉ dừng lại ở mức độ hiểu văn tự mà thôi.

Sẽ được hướng dẫn hành trì từng bước mới chứng. Hạng thứ tư là Padaparama, có nghĩa là giỏi lắm cũng chỉ là một vị pháp sư Tam Tạng, không gọi là giỏi lắm được. Chữ "ma" là maximum, là tối đa. Hạng số một là Ugghatitaññū, nghe một câu đã đắc. Trong đó chia ra nhiều cách, bởi vì có người nghe xong là đắc thẳng một lèo lên A-la-hán, hay là đắc từng bậc: Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả.

Có những người đắc chậm không phải vì họ thiếu trí, mà bởi vì họ là bậc đại trí nên đắc chậm. Có trường hợp người đắc chậm vì thiếu trí, nhưng cũng có người đắc chậm là vì quá nhiều trí. Như vua đi đâu phải chuẩn bị nhiều hơn một người nghèo. Người nghèo quá thì chỉ cần một cái ba lô, một chai nước với nắm cơm vắt muối mè là xong. Mang theo ổ bánh mì, trái táo bỏ vào túi là xong. Còn nếu là triệu phú, tỷ phú, đi đâu cũng có vệ sĩ, người giúp việc, có người dắt theo thú cưng, rồi vali hành lý dài dằng dặc. Nào là mỹ phẩm, nữ trang, năm cái áo thì phải đi kèm chục đôi giày dép. Nó rườm rà lắm.

Ở đây mình nhớ, cái này Kinh nói chứ không phải tôi nói. Có người đắc chậm là người thiếu trí, nhưng cũng có người đắc chậm là vì quá nhiều trí. Như vua đi đâu phải chuẩn bị nhiều hơn người nghèo. Minh chứng cái này, ở trong Chú giải nói Ngài Xá Lợi Phất, nếu Ngài nghe một câu mà đắc liền thì Ngài là người thượng trí, nhưng Ngài phải mất hai tuần sau mới chứng A-la-hán. Cái chậm này là do Ngài nhiều trí. Nghe đắc liền là nhanh, mà đắc chậm là do nhiều trí đặc biệt.

Còn bà này, sau 100.000 đại kiếp tu hành, đến đời Đức Phật mình, bà sinh ra trong một gia đình rất giàu sang phú quý. Cuộc đời của bà trong đây kể vắn tắt thôi. Bà đẹp người đẹp nết, lại là con nhà giàu, hội đủ điều kiện để lấy bậc công hầu khanh tướng. Nhưng một ngày kia, bà đứng trên lầu cao nhìn xuống, thấy người ta đang dẫn ra pháp trường để chém đầu một anh ăn cướp. Anh này râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao, tướng mạo tuấn tú như Từ Hải. Nàng thấy hình dáng đó thì chịu không nổi, thương lắm, có lẽ là tình kiếp xưa.

Cho nên nàng chạy xuống năn nỉ cha già, bằng mọi giá dàn xếp đi cửa sau với nhà chức trách để thả anh chàng này ra. Nghĩa là bỏ tiền ra mua mạng anh ta, rồi dẫn về. Từ một người một chân trong một chân ngoài ở Quỷ Môn Quan, tự nhiên bây giờ được một giai nhân kiều diễm lấy làm chồng. Tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc sang trọng, thơm phức. Cái này không phải nếp thường mà là nếp một, như xôi nếp một, như đường mía lao. Về nhà sướng lắm quý vị biết không. Tôi không chỉ chuyên tâm thiền định, nghiên cứu kinh điển mà còn đọc báo chí thường xuyên. Tôi thấy thời sự thông báo có nhiều người yêu đúng hạng này.

Đọc báo chí thường xuyên, tôi thấy thật sợ. Có nhiều người yêu trai lưu manh, vì yêu mà làm tất cả. Có được một người yêu vừa đẹp, vừa trí thức, còn mình là cái thằng thất học, lưu manh, xăm trổ đầy người, mà tự nhiên một ngày đẹp trời được người ta để mắt tới thì mình nghĩ làm sao? Không biết ơn thì thôi, đằng này anh ta lại nảy sinh ý định bóp cổ giết nàng để lấy đi vài triệu bạc. Quý vị thấy đó, chỉ vì vài triệu mà giết một người có duyên với mình.

Thường ngày ở Việt Nam, mình thấy có những người mặc kín mít, nghe tôi giảng kinh thì nhút nhát không dám nhúc nhích. Nhưng bây giờ, nếu có một thí chủ nào đem về nuôi, bảo giảng kinh là giảng, bảo đứng là đứng, vậy mới gọi là duyên. Bây giờ, một người xăm trổ như anh ta nghĩ làm sao? Vì muốn món tiền nho nhỏ mà nỡ lòng nào bóp cổ người yêu mình như vậy.

Kiếp trước chắc cũng có phước đức nên mới lấy được một người con gái đẹp, giỏi giang, có bối cảnh như vậy. Nhưng anh ta không cam tâm, muốn trở lại cuộc đời bay nhảy, cho nên anh ta dụ nàng lên trên núi. Anh nói rằng ngày xưa, lúc anh bị án tử, anh có cầu khấn với linh thần rằng nếu mạng thoát được nạn này, rời khỏi ngục quan thì anh xin có một lần trả lễ.

Nàng nghe vậy cũng có chút luyến tiếc, thương quá nên cũng gật đầu. Hai người sắm sửa lễ phẩm, làm một mâm lễ vật trang trọng đem lên núi, chỗ mà anh ta đã lựa chọn kỹ càng. Lên trên đó, anh ta mới nói thật: "Bây giờ anh nói thật với em, anh phải giết em để anh sống." Nàng nghe như vậy, thấy tình nghĩa bao lâu nay tan vỡ, mới nói: "Thôi thì một ngày một bữa cũng là tình nghĩa. Trước khi anh giết em để tế lễ thần linh, anh cho em lạy anh một cái để tạ từ." Anh ta nghe vậy thì đồng ý. Nhân lúc anh ta đang đứng như vậy, nàng đẩy một cái vèo, anh ta rơi từ trên đỉnh núi xuống vực chết.

Ngày nay cũng có những kẻ lưu manh như vậy, nhưng không dùng cái gian xảo mà thắng được. Các cụ nói không nên có lòng hại người, nhưng cũng không nên thiếu lòng đề phòng người. Sau khi sự việc xảy ra, nàng Bhadda mới nghĩ trong bụng: "Bây giờ mình phải làm sao đây?"

Nàng nghĩ mình là phận liễu yếu đào tơ, thân hình mảnh mai như thế này mà cuộc đời lại tan tành như thế. Bây giờ về nói với bố mẹ sao đây? Trong tình huống này, nàng Bhadda thấy mình không còn mặt mũi nào mà về với cha mẹ. Ngày xưa đã lạy lục van xin gia đình để lấy anh ta, bây giờ về nói sao đây? Cộng thêm trái tim cũng đã tan nát rồi, còn gì nữa đâu mà sống ngoài đời.

May nhờ thiện căn từ rất nhiều đời, nên sau khi đi xuất gia, nàng vào trong đạo học thấy rất dễ. Sau khi đi nhiều nơi, nàng đã học được tất cả bí kíp, kinh điển của các bộ phái và cuối cùng nàng trở thành Đệ nhất biện sĩ.

Bí kíp kinh điển của các bộ phái, và cuối cùng trở thành đệ nhất biện sĩ. Người có biện tài là người rất giỏi, siêu quần. Ở phương Tây thời trung cổ, người ta giải quyết vấn đề giữa đàn ông với nhau bằng cách đấu kiếm. Còn bên Ấn Độ, những ai thấy mình tài giỏi, là tu sĩ được người đời trọng vọng, thấy mình cần có một cuộc thách đấu về biện tài thì sẽ có người tìm đến thách đấu. Giống như ba má của ngài Xá Lợi Phất, cả hai người đều là những biện sĩ tài giỏi. Khi họ gặp nhau rồi lấy nhau, sinh ra ngài Xá Lợi Phất.

Ở đây cũng vậy, lời thách đấu được thực hiện bằng cách lấy một nhánh cây ghim lên một đống cát. Tự mình đắp một đống cát rồi ghim nhánh cây đó lên, đó là lời thách đấu. Trẻ con chơi thì không nói, nhưng người lớn mà nhổ nhánh cây đó là chấp nhận lời thách đấu. Một ngày kia, ngài Xá Lợi Phất nghe thấy chuyện đó. Ngài mới hỏi mấy đứa nhỏ: "Cái này có người ghim phải không?". "Dạ, có người ghim". Ngài nói: "Các con giỏi lắm, nhổ bỏ giùm ta đi". Ngài bảo mấy đứa nhỏ nhổ bỏ. Ngài dặn: "Nếu cái người ghim đó hỏi ai nhổ, thì cứ nói là Tôn giả Xá Lợi Phất nhổ".

Dĩ nhiên vị biện sĩ kia tìm đến ngài. Ngài là đệ nhất trí tuệ mà người kia lại muốn tỉ thí với ngài. Sau đó, vị biện sĩ tìm đến thực hiện cuộc biện luận, nhưng rồi đã bái phục và xin đi xuất gia. Ngài hỏi người đó một câu thôi: "Trên đời này người ta hay nói số 1, số 2, số 3, số 4. Vậy theo ông, cái số 1 quan trọng nhất là cái gì?".

Không ai sống ở đời mà lại không nhắc đến những con số. Dù là người mù chữ thì cũng phải biết các con số. Ví dụ như một đồng hai đồng, một xu hai xu, một hào hai hào. Không ai sống mà không dùng đến con số: một ngôi nhà, hai ngôi nhà, một con sông, bốn con suối, năm quả đồi, tám ngọn núi. Cuộc đời này bao giờ cũng sống với những con số. Nhưng con số nào là quan trọng nhất? Vị biện sĩ làm sao biết được. Bởi vì chúng ta biết rất nhiều thứ, nhưng nếu chỉ biết những con số để luận kiếm, tranh chấp thì vẫn cứ là một kẻ phàm phu trong sinh tử bao la. Nhưng có những con số mà khi biết rồi, quãng đường sinh tử tự dưng rút ngắn lại. Những con số đó là cái gì?

Con số đầu tiên, số 1 quan trọng nhất chính là: Muôn loài sống nhờ vật thực. Con số 2 quan trọng nhất là gì? Số 2 quan trọng nhất là Danh và Sắc. Cứ như vậy, những con số này nếu mình biết được thì mới dẫn đến giải thoát. Còn nếu mình là tiến sĩ toán học, tiến sĩ vật lý, tiến sĩ hóa học, mình có biết bao nhiêu con số đi nữa thì cũng chỉ là kiến thức thế gian mà thôi.

Dù mình có là Tiến sĩ Toán học, Tiến sĩ Vật lý, hay Tiến sĩ Hóa học, mình có biết bao nhiêu con số, bao nhiêu bảng tuần hoàn hóa chất đi nữa, thì không có con số nào quan trọng bằng điều này. Nàng nghe xong thấy quá lạ lùng, vì chưa bao giờ nghe qua. Nhất là khi hiểu được câu đầu tiên mà ngay cả ở Việt Nam, mang tiếng là bao nhiêu năm học đạo nhưng ít ai chịu hiểu: Muôn loài sống nhờ thực phẩm.

Câu này là nội dung của toàn bộ Phật pháp. Các vị còn nhớ không? Các thiện pháp là thực phẩm cho người thiện. Nhờ có thiện pháp mình mới có nhan sắc, sức khỏe, trí tuệ. Còn các bất thiện pháp cũng là thực phẩm, nhưng nó dẫn đến địa ngục, lửa dữ, nỗi khổ niềm đau, sự đói lạnh và thương tích. Nói chung, mọi thứ trên đời này tồn tại đều phải nhờ đến những nguồn năng lượng hỗ trợ, và nguồn năng lượng đó được coi là thực phẩm.

Vấn đề là ta là loại chúng sinh nào, đang sống bằng loại thực phẩm nào, và loại thực phẩm đó sau đó biến thành cái gì tiếp theo. Như vậy, toàn bộ Phật pháp chỉ là vấn đề thực phẩm. Hôm nay, hay từng ngày, từng bữa, khi quý vị nghe chúng tôi nói chuyện cũng là quý vị đang ăn. Quý vị ăn cái gì, tâm trạng ra sao, hệ thống tiêu hóa hô hấp thế nào là chuyện của quý vị. Nhưng phải nói rằng, mỗi lần mình đọc sách, mỗi lần nghe ai đó nói chuyện là một lần mình đang nạp thực phẩm, nạp dưỡng tố vào cho đời sống của mình.

Cho nên câu muôn loài sống nhờ thực phẩm bao trùm từ đất đá, cây cỏ đến con cừu, con ong, cái kiến, cho đến Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, rồi đến Phạm Thiên, Ác Ma Thiên Tử, Càn Thát Bà, Câu Bàn Trà... Tất thảy đều sống trong sự hỗ trợ của các nghiệp khác nhau. Tất cả điều này nằm trong bốn loại thực phẩm. Chỉ một câu về thực phẩm này thôi đã bao gồm cả nhất thiết càn khôn, sơn hà vạn tượng.

Nghe xong nàng thích quá, mới đề nghị xin xuất gia. Vì sao nàng xuất gia? Trong một dịp trước mặt đại chúng, Đức Phật đã xác nhận rằng trong hàng đệ tử của Ngài, không có một Tỳ-kheo-ni nào có khả năng chứng đắc nhanh như vậy. Đó là câu chuyện vừa đẹp vừa buồn của nàng.

Tiếp theo là chuyện về nàng Sakula, vị Đệ nhất Thiên nhãn, có sức mạnh tương đương như Ngài Anuruddha bên tăng chúng. Phải nói rằng, các nữ cư sĩ, tín nữ nên xem bà là một trong ba hình mẫu để chọn lựa. Một là dẹp bỏ cái thân nữ này đi, tinh tấn tu tập thiện pháp để nếu đủ duyên thì thành nam, còn không thì chứng đạo ngay trong thân nữ. Giã biệt cái thân này, tinh tấn tu hành, đủ duyên thì thành nam cho vui với người ta.

Tâm sự vẫy tay giã biệt, cảm thấy rất đẹp. Cúi đầu vui mặc tu hành, đủ duyên thì thành nam cho vui với người ta. Còn nếu vẫn tiếp tục là thân nữ thì cũng phải đắc đạo trong hình thức của nữ giới, đó là sự thật. Trường hợp thứ hai là cùng nắm tay song hành với một vị Bồ Tát để lo đại sự cho ba cõi nhân thiên như bà Da Du Đà La. Có nghĩa là bên cạnh Bồ Tát, bà có tấm lòng nghĩ đến vạn loại hữu tình trong ba đời mười phương. Cực lắm chứ, nếu chỉ là chuyện tình cảm nữ nhi thông thường thì không đủ gan để đi suốt con đường của bà Da Du.

Kính thưa quý vị, tôi phải nói rằng bà Da Du là một người mà mỗi lần nhắc lại, tôi nghĩ mình chỉ nên chắp tay đảnh lễ. Bà tu tập thời gian lâu gấp đôi Phật Độc Giác, gấp bốn lần ngài Mục Kiền Liên, ngài Xá Lợi Phất. Quý vị nghĩ xem, sống lâu như vậy mà trong suốt thời gian đó chỉ đi làm một việc thôi, đó là hỗ trợ cho người khác thành Phật, còn mình vẫn đứng bên lề lịch sử. Đây mới đúng là tâm tư của một vị nữ nhi đệ nhất anh thư.

Đó là hạng thứ hai. Một là quên đi thân nữ, cúi đầu tu hành, đắc quả thành nam hay thành nữ cũng được, miễn là đừng chỉ lo cho riêng mình. Hai là làm như bà Da Du, cùng nắm tay Bồ Tát để lo đại sự. Hạng thứ ba này mới vui, đó là đi một mình có vẻ quạnh hiu, nên chọn lấy một người mà lúc rảnh thì coi nhau là bạn đời, lúc bận thì coi nhau như bạn đường. Đi một mình thì mạnh lắm. Có nhiều người tuy mang thân nữ nhưng đã vượt khỏi cái tầm nhi nữ thường tình từ lâu rồi. Họ sống bằng tâm hồn của bậc đại trượng phu, đầu đội trời chân đạp đất. Có điều, sâu thẳm trong trái tim, họ cũng cần một vòng tay đủ ấm, đủ mạnh để hộ trì. Đó là hình mẫu thứ ba, hình mẫu của nàng Ti-xá-ni mà mình đang học đây. Đi suốt cả trăm ngàn đại kiếp chỉ thương có một người. Trong tam thiên đại thiên thế giới này, nếu nói về tình quân thì nàng chỉ biết có một người thôi. Đừng nghe như vậy mà tưởng là hạng phụ nữ tào lao.

Hễ ngài làm vua thì nàng là hoàng hậu, ngài làm chủ nhà thì nàng làm nội tướng. Đặc biệt là khi ngài phát tâm vào rừng tu hành, nàng cũng đi theo. Cái này mới ghê, ngài đành lòng bỏ đi, nàng cũng đành lòng bỏ theo. Ngài bỏ nhà, nàng bỏ nhà. Ngài lên rừng, nàng lên rừng. Chuyện này tôi xin ngả mũ bái phục. Tu tập các hạnh Ba-la-mật, bố thí, phục vụ, hồi hướng thì có thể làm được, nhưng cái vụ người ta đi tu mình cũng đành lòng đi theo, bỏ hết tất cả để theo chân người ta, thì chỉ có những người như nàng Ti-xá-ni mới làm nổi. Và rất nhiều kiếp như vậy, giống như bà Da Du Đà La với Bồ Tát.

Đó chính là hành trình của chúng ta, và rất nhiều kiếp như vậy. Có người nói Bồ Tát chắc là tình cảm ái ân sâu nặng, xin thưa không phải đâu. Thương lắm, nhưng cái gì cần cho là ngài cho. Để đắc thành Phật đạo, Bồ Tát nói một câu mà tôi nghe chịu không nổi. Khi người ta đến xin, ngài chỉ nói một câu thôi: "Người ta xin là để mình phát thành Phật đạo, giúp ta một lần đi." Hàng hàng nước mắt rơi xuống, đại địa chấn động. Nhiều lần và nhiều lần như vậy, thưa quý vị, kể lại chuyện xưa bao nhiêu kiếp ngài cho mắt, cho đầu, cho tay chân, cho vợ con. Chuyện cuối cùng là ngài đem mấy đứa con của mình cho luôn. Ngài dạy con lễ Phật chia tay, không dám nửa lời trái ý. Ngài không còn gì để chờ, không còn người, không còn vật, không còn nhà, không còn đất, không còn gì sở hữu nữa. Ngài đem con ra cho luôn mà vẫn lấy làm hỷ lạc.

Ở đây tôi chỉ kể một vài đoạn thôi. Ngài đắc thiền, đắc định, ngài sanh lên cõi Phạm Thiên. Ở cõi Phạm Thiên là không còn nam nữ nữa. Rồi khi trở xuống, ai phải làm thân nữ mới hiểu, cái chuyện hưởng thụ trong trần gian này coi như tê lưỡi không cảm giác, ngạt mũi không cảm giác. Lạ lùng lắm, thương người ta là hỗ trợ người ta đi, chứ đâu phải thương người ta rồi kéo người ta xuống. Muốn thương Từ Hải là phải như Thúy Kiều, hay như Quỳnh Như của Phạm Hải. Sau nhiều kiếp như vậy, đến kiếp cuối cùng, tôi nhấn mạnh một chuyện: thân nữ hay thân nam, làm nữ cỡ nào để có thể gặp được những bậc tùng quân có số má trong tam giới, mà ngược lại nam cũng vậy, làm nam thế nào để người ta dựa vào, còn nếu không ai dựa thì một mình trong trời đất cũng sung sướng.

Sau nhiều kiếp, đến kiếp cuối cùng, ngài làm một vị thái tử, một thiếu gia triệu phú, gia tư bậc thượng giàu lắm. Trang trại của ngài rộng đến mức không tài nào đi bộ hết được, phải cưỡi ngựa, cưỡi voi đi xem, nhắc nhở người làm. Nhiều lần vào buổi trưa nắng gắt như vậy, ngài cưỡi ngựa đi vào trang trại, ngài thấy cảnh đang cày, những con trùng bị xới lên, đất nóng quá chúng mới nhảy ra ngoài, rồi mấy con chim se sẻ, chim nhỏ sà xuống bắt ăn. Con chim lớn thì rượt giành mồi của con chim nhỏ. Những người nông phu, những gia nhân mồ hôi nhễ nhại, áo quần lấm tấm, trời đổ nắng lửa thiêu thân. Bản thân ngài tuy mặc quần áo lụa nhưng cũng thấy nóng nực, con ngựa cũng khó chịu. Ngài nhìn hết tất cả những cảnh đó xong rồi ngồi suy nghĩ: "Quái lạ, mình là chủ, mình là thiếu gia, là đại gia, là công tử mà mình..."

Ai mà sanh ra xong rồi ngồi nghĩ, cái gì quá vậy ta? Mai mình là chủ, mình là thiếu gia, mình là đại gia, mình là công tử mà mình còn chịu không nổi, thì mình làm sao mà cứ luân hồi như vậy hoài, cứ đẻ ra sinh ra như vậy, làm sao chịu nổi trời? Vì nghĩ như vậy, tôi nghĩ như vậy.

Còn mình thì sao? Trưa nắng thì mặt kênh thẳng, miễn là có tiền là mình êm rồi. Mình đến nằm, mình đi xe, đừng nói chi, có tiền tôi đứng nghiêm trang mà nghe, nghĩ đến tiền rồi là đã thấy vui rồi. Một ngày nọ, chán quá mà gia đình ép ngài lấy vợ. Ngài mới thuê thợ làm một cái tượng vàng nguyên chất thật đẹp. Ngài nghĩ là đúc một cái tượng mà đẹp như vậy thì không còn cách chi mà có người giống nữa hết trơn. Mũi như vậy, môi như vậy, dáng như vậy, tai như vậy, mắt như vậy, cằm như vậy... Ngài chọn ra một cái mẫu mà coi như là tuyệt sắc nhất, đẹp nhất, lộng lẫy nhất. Ngài mới kêu thợ làm xong rồi nói: "Bây giờ nếu mà kiếm được cái cô nào giống y chang như vậy thì con lấy, còn không thì thôi cho con miễn đi".

Thì không ngờ là gia đình đi lục lại cũng mau ra một nhân vật y chang như vậy, đẹp như vậy. Dĩ nhiên nét tương đương, nhưng mà cái tượng vàng đẹp hơn người thiệt. Tôi nhớ tôi kể rồi, lúc mà ngài rước dâu thì hai người mới gửi thư cho nhau. Lấy là lấy theo ý định gia đình thôi, chứ còn chán nản lắm rồi. Chuyện dài, tôi chỉ kể vắn tắt như vậy. Sau đó hai người lấy nhau cho cha mẹ vui, nhưng mà mỗi người nằm riêng một góc giường thôi.

Rồi sao nữa? Hai người đi tu rồi hẹn nhau, ai tìm được bậc Đạo sư trước thì sẽ về tìm người còn lại. Ngài Ca Diếp gặp Phật trước, ngài đi xuất gia và sau đó tìm gặp lại nàng Bhadda Kapilani. Nàng cũng chứng quả A-la-hán. Đức Phật xác nhận nàng là đệ nhất Túc mạng minh, có nghĩa rằng một đêm như vậy nàng có thể nhớ hàng trăm đại kiếp, nhớ nhanh, nhớ nhiều, nhớ giỏi và thường xuyên sống ở trong những lần nhập định để sử dụng Túc mạng minh nhiều hơn những vị khác. Với cái khả năng đó, tiếng Pali chính là gì? Khả năng hay là biệt tài đó.

Đó là câu chuyện về những nhân vật Thánh Ni mà mình vừa học xong. Bây giờ học tiếp một người nữa, đó là Yasodhara. Đó chính là ai? Chính là bà Da Du Đà La. Bà có nhiều tên gọi: một là Bhadda Kaccana như mình thấy, rồi nàng Bimba, rồi Rahulamata, rồi Yasodhara. Có nhiều tên gọi như vậy. Còn riêng khi mà đi xuất gia đó, Đức Phật gọi nàng là Rahulamata, tức là mẹ của La Hầu La.

Bà Yasodhara, quý vị thấy trong bảng chú giải ngắn ngủi, người ta nói vì bà là nhân vật quá nổi tiếng đi, thứ hai là cuộc đời của bà không cần kể nhiều, bởi vì hễ kể về Đức Phật là phải kể về bà. Cho nên bao nhiêu cái chi tiết lớn nhỏ về bà coi như mình có thể đọc thấy trong Phật sử hết rồi. Ở đây chỉ kể vắn tắt hai chuyện quan trọng: Một là bốn A-tăng-kỳ về trước, bà đã nguyện sẽ hộ pháp cho Bồ-tát thành Phật. Thứ hai là một trăm ngàn đại kiếp trước đây, bà đã nguyện trước Phật Padumuttara để trở thành một Tỳ-kheo-ni đệ nhất Thắng trí (Abhinna).

Quốc tế à cô, để nguyện trở thành một Tỷ-kheo-ni đệ nhất thánh trí (đại thần thông). Thánh trí ở đây là lục thông. Xin lỗi vì nói là ngũ thông, nói chung tại sao không phải lục thông? Ta sẽ vẫn gọi là lục thông bởi vì cái thứ sáu đó là Lậu tận thông. Cái này chính là kết quả vị A-la-hán. Trên cái tên A-la-hán có nhiều loại: A-la-hán lục thông, A-la-hán nhất thông. Ví dụ có vị A-la-hán chỉ có một khả năng thôi, chỉ có khả năng nhớ kiếp trước thôi. Hoặc có vị A-la-hán Tam minh là có ba thông. A-la-hán lục thông là có ngũ thông cộng với Lậu tận thông là sáu. Rồi A-la-hán nhất thông, chỉ hết phiền não thôi, không có thần thông gì cả.

A-la-hán Tam minh có nghĩa là có ba thông. A-la-hán lục thông là có ngũ thông. A-la-hán nhất thông có nghĩa là chỉ có hết phiền não thôi, ngoài ra không có gì hết. Và chưa kể còn trường hợp nữa, trong kinh nói rõ là có nhiều vị có đắc thần thông nhưng do tiền nghiệp nên không có đủ ngũ thông. Thí dụ như ông Cūḷapanthaka, ông chỉ có được một cái thôi, thí dụ như không có tha tâm thông, không có thiên nhãn thông mà chỉ có thần túc thông thôi. Nhớ nha, cái chuyện thần thông nó không bắt buộc phải có đủ.

Bây giờ mình trở lại bà Da-du-đà-la. Cuộc đời bà có hai sự kiện lớn. Sự kiện thứ nhất là bốn a-tăng-kỳ kiếp trước, bà đã quỳ trước mặt Đức Phật Nhiên Đăng nguyện trở thành người hộ pháp cho Bồ-tát, người mà sau này trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sự kiện thứ hai quan trọng trong cuộc đời sinh tử của bà đó là cách đây 100.000 đại kiếp, bà đã quỳ trước Phật Padumuttara nguyện trở thành một Tỷ-kheo-ni đệ nhất đại thần thông. Có nghĩa là ngũ thông của bà không ai bì được hết trong hàng Ni. Đúng là có những vị đệ nhất về Túc mạng minh, có vị đệ nhất về Thiên nhãn thông, nhưng có đủ cả năm thông như bà thì không ai bằng.

Mỗi vị Chánh Đẳng Giác có bốn người đệ tử nhớ được hơn một a-tăng-kỳ kiếp. Ở đây gồm có hai vị Thượng thủ Thinh văn, bà Da-du-đà-la và ngài Bakkula. Tổng cộng là bốn vị có thể nhớ được một a-tăng-kỳ và 100.000 đại kiếp về tiền thân. Qua nhiều kiếp như tôi đã kể, bà luôn hỗ trợ Bồ-tát. Bồ-tát làm gì bà cũng lo lắng, từ quét nhà, giặt giũ đến chăn đệm mùng mền. Có nhiều kiếp bà làm một vị nội tướng để Bồ-tát yên tâm tu hạnh Ba-la-mật. Đặc biệt là bà không bao giờ ngăn cản hay làm khó dễ khi Ngài đi bố thí, mà luôn ủng hộ Ngài làm đúng. Phải nói bà là một người phụ nữ biết chia sẻ.

Phải nói là một người phụ nữ mà chia sẻ được lý tưởng cho người đàn ông không phải dễ tìm. Có rất nhiều người cùng chồng đi hoạt động cách mạng, bôn ba làm quốc sự, nhưng khi bắt đầu có chút của ăn của để, có chút tiếng tăm là bắt đầu lo đi đánh ghen. Có cái vụ đó nữa nha.

Ví dụ như mình thấy Tống Khánh Linh, Tống Mỹ Linh lấy Tưởng Giới Thạch. Muốn tìm người đàn bà như vậy không phải dễ, kiếm được người vợ như vậy khó lắm. Người này chia sẻ lý tưởng của chồng, lại là người đầu ấp tay gối. Chuyện lớn thì chia sẻ, mà chuyện nhỏ thì cảm thông. Chuyện lớn thì chia sẻ được, mà chuyện nhỏ lại không cảm thông được thì cũng không lỡ. Với ai mình cũng tỉnh bơ, nhưng với chồng mình thì chỉ một chút sơ sẩy, mềm lòng là mình không chịu được. Chuyện lớn chia sẻ, chuyện nhỏ cảm thông, còn mình thì không có được cái bản lĩnh này. Cho nên nam thì không có nét anh hào, mà nữ thì không có dáng oanh thư.

Tôi có biết một cô, xem phim Cuộc đời Đức Phật do Ấn Độ đóng. Cô ấy cũng có chồng rồi, năm nay cũng sồn sồn tuổi. Bữa gặp tôi, cô nói mà không biết nên khóc hay nên cười: "Thưa thầy, con nhìn diễn viên đóng Bồ Tát Tất Đạt Đa đẹp trai quá, mà bà Da Du Đà La cũng đẹp quá trời. Tự nhiên con nghĩ mấy cặp như vậy mới xứng tầm, chứ nhìn lại mình bây giờ toàn là cào cào lấy châu chấu không hà. Nhìn xong con hết muốn lấy chồng luôn."

Cào cào lấy châu chấu, nếu tìm không ra người xứng đáng thì thà đi một mình, chứ "nồi nào vung nấy" mà lộn nắp thì khó lòng lắm. Cho nên, học bài học chuyện đời là để mình ngẫm lại. Tốt nhất nên tìm đọc để biết mình phải là một con người như thế nào để có thể có những người bạn đường và bạn đời thật ngon lành.

Nếu mình là người nam, mình phải là một người chồng, một người bạn trai xứng đáng với những người vợ, người bạn gái xuất sắc. Nếu mình là người nữ, mình phải trang bị làm sao để người ghé mắt nhìn mình là một bậc đại gia chứ không phải là hạng Mã Giám Sinh. Phải làm sao để bản thân mình xứng với người khác, và người đến với mình cũng phải xứng với mình.

Kể vắn tắt về bà này một chút. Có huyền thoại kể rằng, bà vốn sinh ra mang thân phận gái nhà nghèo. Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, bà cũng tu hành, cũng phát nguyện như người ta. Nhưng sau nhiều đời sinh tử, đến kiếp chót khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời hoằng hóa độ sinh, nàng lại sanh vào trong một gia đình nghèo khổ. Nhưng tại sao nàng lại lấy được chồng đại gia? Cớ sự là như thế này: Có một ông chủ tiệm vàng to đùng, một ngày kia...

Câu chuyện như thế này: Có một ông là chủ của tiệm vàng rất lớn. Một buổi sáng thức dậy, khi mở cửa dọn hàng để bán vàng thỏi, bạc miếng, ông mới phát hiện ra tất cả vàng bạc đều biến thành than hết, than củi đen sì. Có người kể rằng ông đại gia bán vàng này ngủ một đêm thức dậy thấy toàn là than củi, ông kêu trời trách đất như vậy.

Thì có người mới bảo rằng: "Chuyện này không phải tự nhiên, đây là một chuyện lạ. Ông cứ để vậy đừng có giận, khi nào có người có phước tới thì tự nhiên mọi sự sẽ trở lại như cũ." Một hai ngày sau, có cô Kisa Gotami là một người con gái nhà nghèo đi ngang qua. Thấy mấy cục than, cô mới cầm lên và nói: "Vàng bạc ai để đổ như thế này, sao lại coi như than đốt lò vậy?" Ông chủ tiệm vàng nghe thấy, ông nghĩ người này đặc biệt vì thấy than mà nói là vàng, mình không thể bỏ lỡ người này được.

Đây cũng là bài học lớn trên đời. Có nhiều khi, có những người mình thương và cũng có những cái mình cần. Nghe nói hơi bạc nhưng sự thật là như vậy. Có nhiều món ăn rất ngon nhưng không lành, ngược lại có những món rất lành dù không ngon. Ví dụ như ở quê có những món ăn rất lành như rau tập tàng, bông bí, rau nhãn lồng mọc ở bờ ao, ăn rất lành. Trong quan điểm nhân sinh và chuyện sở hữu tài sản cũng y chang như vậy. Có những thứ không ngon nhưng lành, có những thứ nhìn không bắt mắt nhưng lại là thứ mình cần. Ông chủ tiệm vàng thấy cô này tuy nghèo, nhìn không đẹp nhưng là người có phước nên cưới về cho con trai mình. Nhưng gia đình chồng lại coi rẻ thân thế của nàng.

Một ngày kia, nàng sinh được một đứa con trai. Cả dòng họ vui mừng vì đó là cháu đích tôn. Nàng là người có phước nhưng vì diện mạo không đẹp nên trước đó bị coi thường, nay có đứa con thì vị thế của nàng thay đổi, được yêu thương quý trọng. Nhưng xui cho nàng, đứa con chưa được một hai tuổi thì bỗng nhiên lăn ra chết. Các vị tưởng tượng đi, một người con gái sinh ra vốn không có nhan sắc, nhờ một chút may mắn mà bước chân vào cửa hào môn, sống trong nhà giàu. Bây giờ, điểm tựa cuối cùng trong cuộc đời để nàng nắm níu là đứa con trai yêu quý, vậy mà nó lại ra đi không một lời từ biệt. Làm sao nàng không đau cho được? Thế là nàng trở nên điên dại, bồng xác con không chịu đem chôn, cứ điên dại đi trên đường, vừa đi vừa khóc: "Ai cứu lấy con tôi? Ai có thuốc để cứu con tôi?"

Kisa Gotami bồng xác con đi trên đường, vừa đi vừa khóc: "Ai cứu lấy con tôi? Ai cho thuốc để cứu con tôi?". Có người thấy nàng khóc như thế, mới bảo: "Kisa Gotami, đi tìm thuốc đi, đi tìm người cứu con đi". Nàng khẩn thiết: "Cho tôi xin thuốc để cứu con, cứu con!". Nàng cứ đi tìm chỗ cứu con mà cũng là cứu cả mình nữa. Có người thương quá mới nói: "Cái xác này chết rồi, bây giờ ai mà cứu được. Nhưng nghe nói có Sa-môn Gotama, nghe nói Ngài đặc biệt lắm, việc gì Ngài làm cũng được. Đó là người duy nhất sau cùng mà bà có thể tới gõ cửa".

Nghe như vậy, nàng bồng xác con chạy tới gặp Ngài, quỳ sụp xuống và xin Thế Tôn cứu sống con mình. Nàng không biết rằng đứa con đã chết rồi. Khi nàng xin như vậy, Ngài nói rằng: "Nàng hãy đi vào trong làng, vào thành phố kia, xin cho Ta một ít hạt cải trắng". Hạt cải trắng tiếng Pali là Siddharthaka, tiếng Anh là white mustard seed. Ngài nói: "Bây giờ con cứ bồng xác đứa bé đi vào làng, vào phố, kiếm nhà nào cho được một ít hạt cải trắng mang về đây thì có thể cứu được con của con. Nhưng với một điều kiện là ngôi nhà đó, dòng họ đó chưa từng có người chết mới được. Còn nhà nào từng có người chết, cha chết, mẹ chết, ông bà cố, ông bà ngoại, ông bà sơ đã chết thì không được. Con đi kiếm hạt cải ở nhà nào mà dòng họ chưa từng có người chết thì mới làm thuốc được".

Đây là một cái mẹo, một cách nói của bậc Hiền trí. Nàng lúc đó có bệnh thì vái tứ phương, nên nàng bồng xác con đi gõ cửa từng nhà để xin hạt cải trắng. Người ta thấy tội nghiệp, chẳng những cho một nắm mà cho cả rổ. Nhưng khi nàng đưa ra điều kiện: "Trong nhà, trong dòng họ đã từng có người chết chưa?", thì họ nói: "Bà khùng hả? Có gia đình nào mà không từng có người chết? Có người thì cha chết, mẹ chết, anh em, cô dì, chú bác, nhà nào mà chẳng có người chết. Bà nói gì kỳ vậy?". Rồi cánh cửa đóng sầm lại.

Nàng tiếp tục đi, đi mãi đến lúc tay bồng con đã mỏi, nắng chiều đã xế. Bỗng dưng trong cơn mỏi mệt và đau thương tận cùng, trong đầu nàng lóe lên một nhận thức: "À, thì ra hạt cải trắng không thiếu, nhưng không có ai trong cuộc đời này mà trong dòng họ, gia đình lại chưa từng có người chết". Như vậy thì cái chết, cái sinh ly tử biệt này không phải là điều riêng biệt của mình.

Dòng họ trong gia đình lại chưa từng có người chết. Như vậy thì cái chết, cái biệt ly nó không phải là điều ngoại lệ, nó không phải là một nỗi đau riêng tư của mỗi một mình ta. Nghĩ vậy rồi nàng bồng xác con vào nghĩa trang chôn cất và trở lại gặp Thế Tôn. Kisa Gotami sau khi nghe Thế Tôn dạy như vậy, làm sao không chứng được? Nàng có một điều là sau khi đắc quả xong, nàng đặc biệt hoan hỷ với một cái hạnh mà người ngoài nghe hơi khó chịu, là suốt đời từ khi đắp y cho đến khi viên tịch, nàng chỉ mặc một loại y phấn tảo mà thôi.

Y phấn tảo có hai chữ Pali, một là Pamsukula, chữ thứ hai là Lukha-civara, tức là cái y thô xấu, có xuất xứ mạt hạng. Xuất xứ mạt hạng là sao? Là cái vải quấn xác, cái vải liệm tử thi, cái vải mà người ta liệm xong rồi quăng ra nghĩa địa. Trước đó người ta dùng vào việc gì thì trời biết, như là giẻ lau, vải băng bó vết thương, hay vải dùng trong kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Gom góp lại, miễn sao mình đem về giặt giũ sạch sẽ rồi bắt đầu nhuộm đúng cái màu mà luật cho phép, mình cắt mình may thành y để mặc. Cái đó có hai tên gọi, một là Pamsukula, Pamsu là bụi bặm, Pamsukula là đống rác. Tên thứ hai là Lukha, Lukha nghĩa là thô xấu, Lukha-civara là y có xuất xứ mạt hạng.

Trong kinh nếu không được giải thích thì bà con cứ nghĩ mình tu là mình chú tâm bên trong, còn diện mạo mặc cái gì cũng được. Xin thưa không có đơn giản như vậy đâu. Quý vị phải coi cái thân mấy chục ký lô của quý vị nó mạt hạng cỡ nào thì quý vị mới có thể mặc được loại y này. Coi cái thân mấy chục ký lô này tệ hơn đống rác thì mình mới đủ cái gan, đủ cái khiêm cung, đủ điều kiện tâm lý để khoác lên người bộ y này. Người mà mặc được y này là coi như họ đã tự cho mình là chân trong chân ngoài quan tài, không có sợ hãi. Chứ còn quý vị tưởng tượng một người còn tham sống sợ chết, còn coi mình là quan trọng, thì làm sao đủ can đảm thò tay lấy miếng vải liệm máu me tùm lum đem về giặt nhuộm, cắt may. Đâu phải dễ đâu quý vị.

Trừ ra người nghèo khó ngoài đời, hết đất sống rồi, bí quá thì phải mặc như vậy, nhưng cái này không tính. Bởi vì cái hạng ở ngoài đời khi không còn cách nào khác phải mặc đồ vải liệm, nhưng ngày mai có tiền họ không bao giờ muốn quay lại với nó nữa. Có nhiều người có lẽ không đồng ý nếu tôi không giải thích, cứ nghĩ mặc cái gì cũng đúng. Nhưng chỉ cần hết nghèo thì có cho tiền họ cũng không dám quay lại với kiểu y phục này đâu. Nhưng ở đây lại khác, người mặc y này là cuộc đời của họ coi như xong, họ không có chán, không có sợ nó thì mới gọi là người mặc y phấn tảo. Còn kiểu mình nghèo quá mặc đại thì không kể. Cho nên cái hạnh phấn tảo cũng là một cái gan đáng để cho nhân thiên ba cõi cúi đầu. Cái gan mà ăn đồ vứt đi cũng là một cái gan đáng để cho chúng ta cúi đầu. Mới nghe qua thì thấy có gì đâu, rồi cố ý...

Dẫu cái gan mà ăn đồ khất thực cũng là một cái gan đáng để cho chúng ta cúi đầu. Mới nghe qua thì thấy có gì đâu, nhưng xin thưa quý vị có biết cái bình bát trong tay ông khất sĩ người ta để cái gì vào hay không? Làm ơn đừng có dòm vô bình bát. Mấy buổi lễ đặt bát, bà con ở trong chùa thì đặt toàn đồ đàng hoàng không à. Ví dụ như ở Việt Nam, mình thấy một người đi bát, người ta cho mì gói là quá đã rồi, rồi cho bánh kẹo có xuất xứ rõ ràng. Còn khất thực trong cái làng xa xóm nhỏ quê nghèo, người ta để cái gì vào thì trời biết.

Ví dụ như sáng sớm đi ruộng cày, cơm còn nóng người ta múc cho mình thì cũng đỡ. Còn có thứ cơm thiu trong ấm, nó chảy nước nhớt ra, mà nhiều khi người ta đâu có biết. Người cho không muốn nhìn lại là nó đã chảy nước rồi, thấy mình đi ngang cũng hốt cho mình một nắm, liệng vô bát. Rồi hôi thiu nó nồng lên, lúc đó đói rồi nó ác lắm. Nhiều khi cái canh từ cái cặn mà mình đâu có biết, cơm rồi canh cứ tống vô chung một bát. Nói chung là khi mình biết chút ít về vi khuẩn, vi trùng, về dưỡng sinh, về thực phẩm sạch thì mình mới thấy cái gan ăn được đồ khất thực đúng là cũng bậc anh hùng hào kiệt.

Cho nên, nếu đúng là chân tu thì trong cái ăn cái mặc đã đòi hỏi mình một vốn liếng tâm lý, một hành trang tâm tư lớn lao, không phải dễ nuốt trôi nhanh đâu. Cái hạnh mà xài được cái y phấn tảo, ăn được đồ thô xấu mà có sức tu hành, cái hạnh đó luôn đáng để chúng ta cúi đầu.

Bây giờ là 3 giờ 20, mình còn 40 phút nữa. Giờ mình tiếp theo vị này, cũng nên nhắc lại, đó là một vị tên là Sigālakamātā, Đệ nhất Tín giải thoát, tương đương với ngài Vakkali bên tăng. Nàng cũng có một trăm ngàn đại kiếp huân tu ba-la-mật. Có nhiều người nghe "huân tu" mà không biết viết sao, huân tu có nghĩa là tích lũy.

Nàng được kể là sinh trong một gia đình triệu phú, rồi đi nghe pháp và xuất gia. Nàng có một điểm đặc biệt: người đến nghe pháp mà được chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn thì vô số, nhưng nàng nhìn và biết rằng mình phải xuất gia tu hành dưới chân con người đó. Nàng nhìn thấy ở tôn dung của Ngài có từ tâm, có trí tuệ, có hạnh kham nhẫn, có giới định tuệ, có cả nhân duyên đại địa càn khôn vũ trụ trong đó. Cái đẹp đó đại diện cho cái thiện muôn đời, cái chân lý muôn thuở. Nàng nhìn thấy trong tôn dung đó tất cả thiện pháp, thấy con đường giải thoát sinh tử.

Nhìn một tấm gương sáng cho muôn đời vạn đại soi chung, cho nên người chiêm ngưỡng dung nhan Thế Tôn mà phát khởi niềm tin thì nhiều, nhưng nhìn với cái nhìn thấy được con đường giải thoát, thấy được giới định tuệ, cái đẹp trong lẫn đẹp ngoài thì không phải vừa. Cho nên nàng đi xuất gia và xem chuyện chiêm ngưỡng tôn dung Ngài là đặc điểm của mình. Các vị thông thường hay nghĩ chắc là do "tướng sang", nhưng thực sự đây là Tín giải thoát.

Đặc điểm của các vị soi gương, chắc là do tôi soạn cho ghi thêm. Thật sự, tình yêu không phải chỉ là nhìn Phật, mà nên quan sát Thế Tôn như là mình thấy ra tất cả hành động. Giống như ông Bá tước Leo Tolstoy của nước Nga đã nói rằng: "Mỗi lần mà tôi có chuyện buồn, tôi nhìn lên ảnh Đức Phật. Chân dung của Ngài dù người ta vẽ lại dĩ nhiên không giống hoàn toàn, nhưng cái vầng sáng đó, trong ánh mắt đó không có chỗ cho những cái nhìn đố kỵ ghen ghét. Cái vầng trán đó không có chỗ cho những cái suy nghĩ lối mòn, suy tư thiếu bác ái. Trong cái vầng trán đó, tôi không thấy có chỗ cho sự toan tính, cho những thành kiến bảo thủ hay những tư lợi. Tôi thích cái vầng trán đó, vì nó chứa đựng tất cả những đức tính đẹp nhất mà nhân loại có thể có." Nghĩa là 25 thế kỷ sau, trên hành tinh này vẫn có người suy nghĩ như vậy khi nhìn về túc dung đức sắc của Ngài.

Cho nên vào một ngày thích hợp, trước mặt đại chúng, Thế Tôn chính thức xác nhận trong hàng đệ tử Tỳ-kheo-ni của Ngài, đệ nhất về tín giải thoát, lấy niềm tin làm nền tảng cho sự giải thoát, không ai hơn được bà Sigālamātā. Như vậy hôm nay mình đã học xong phần Tỳ-kheo-ni. Còn lại là học về hạnh lành của các vị Thiện nam và Tín nữ. Hôm nay là ngày thứ ba, chúng ta còn học ba ngày nữa là ngày mai, ngày Chủ nhật và thứ Hai. Sau đó tôi có việc phải đi.

Bây giờ mình học tiếp theo phần những vị Thiện nam có đức hạnh trong giáo pháp của Đức Phật. Nhân vật đầu tiên là hai anh em nhà Tapussa và Bhallika. Tôi nghĩ rằng rất nhiều bà con đều biết hai nhân vật này, bởi vì ai đi về Miến Điện mà không biết đại tháp Shwedagon. Dân gian truyền miệng trong đó đang tôn thờ tám sợi tóc của Đức Phật. Lịch sử của tám sợi tóc này bắt nguồn từ Ấn Độ, từ một thành phố tên là Asitañjana.

Cách đây 100.000 đại kiếp, hai người thiện nam này thấy Đức Phật Padumuttara, khi Ngài nhắc trước mặt đại chúng rằng: "Trong giáo pháp của Ta có vô số chúng sinh từ Long vương, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, Kim-sí-điểu cho đến Dục thiên, Phạm thiên, nhưng trong những người có duyên nhìn thấy Như Lai sau khi giác ngộ chính là mấy người này." Nghe như vậy, họ phát nguyện muốn đời sau được như vậy. Sau 100.000 đại kiếp tuần hoàn, đến đời Đức Phật của mình, Tapussa và Bhallika xuất hiện. Sau sáu năm khổ hạnh, Đức Phật đến ngồi dưới gốc Bồ-đề. Trước khi thành Phật, Ngài nhận cơm sữa của nàng Sujātā, rồi Ngài mới đắc quả.

Trước khi thành Phật, Ngài nhận cơm sữa của nàng Sujata. Ngài chia làm 49 vắt nhỏ, dùng hết 49 vắt đó rồi Ngài mới thành đạo. Sau khi thành Phật, Ngài nhịn suốt 7 tuần lễ, tức là 7 lần 7 là 49 ngày.

Lúc đó, có một đoàn thương lái đi buôn bằng xe bò, đi ngang qua cánh rừng gần chỗ Ngài đang ngồi. Có hai anh em dẫn đoàn 500 cỗ xe bò đi ngang qua đó. Hai ông này giống như làm nghề vận chuyển hàng hóa, bảo tiêu ngày xưa vậy.

Có một vị Thổ thần ở trong rừng, vốn là bà con kiếp trước của hai anh em này. Vị Thổ thần biết Đức Thế Tôn đã nhịn đói nhiều ngày, đang cần thực phẩm, và đây là cơ hội bằng vàng để hai người bà con của mình tạo phước. Cho nên vị Thổ thần mới dùng thần thông khiến cho các cỗ xe bị lún xuống. Hai anh em đang loay hoay không biết làm sao thì vị ấy xuất hiện, mách rằng có một vị Sa-môn cực kỳ khả kính đang ngồi gần đây, Ngài đang cần thực phẩm, hai người hãy đem đồ đến cúng dường đi. Họ có sẵn thực phẩm mang theo đường dài như bánh bột, mật ong.

Chúng ta thấy câu chuyện về Ngài rất thiêng liêng. Chư thiên trong bao nhiêu vũ trụ hằng ngày theo dõi, từ lúc Ngài giáng trần, đản sanh cho đến từng bước trong cuộc đời. Vậy mà suốt 7 tuần lễ Ngài không ăn gì, không biết chư thiên đi đâu mà không ai hiện ra dâng cúng cho Thế Tôn. Sau 49 ngày nhịn đói, Ngài thọ dụng món bánh của hai vị thương chủ.

Lúc đó, cái bình bát cũ từ thời khổ hạnh Ngài đã bỏ mất rồi. Chư Phật với Nhất thiết trí suy nghĩ rất nhanh. Ngài nghĩ rằng các bậc Chánh Đẳng Giác không bao giờ nhận thức ăn bằng tay mà phải nhận bằng bát, nhưng hiện giờ Ngài không có bình bát. Lúc đó, Tứ Thiên Vương lập tức xuất hiện. Để cho cả bốn vị đều hoan hỷ, Ngài nhận cả bốn cái bình bát rồi dùng thần lực chồng lên nhau, chú nguyện cho bốn cái nhập lại thành một. Ngài không nhận riêng của ai hết mà lấy cả bốn cái hợp thành một để đựng mâm bánh của hai anh em.

Ngài thọ thực xong rồi thuyết pháp cho họ nghe. Nghe xong xuôi, hai vị thương chủ trước khi ra đi có thưa rằng: Bạch Thế Tôn, hôm nay chúng con gặp được Ngài ở đây thật là hữu duyên...

Khi nghe xong xuôi rồi, hai vị thương gia chuẩn bị ra đi mới bạch rằng: Bạch Thế Tôn, hôm nay gặp Ngài ở đây, không biết còn có dịp nào mới gặp lại, xin Thế Tôn cho chúng con một ít kỷ vật để về chúng con thờ tự. Lúc đó Thế Tôn mới đưa bàn tay phải lên chạm lên tóc, lấy cho họ tám sợi tóc đựng trong một cái hộp vàng. Xong rồi hai vị đem về thành phố quê hương của mình. Kỷ vật của người đã chết gọi là xá lợi, còn đằng này là sợi tóc của người còn đang sống, cho nên gọi là Jiva-kesa, tức là tóc của người đang còn sống. Với duyên phước đó, họ lập tháp thờ ngay tại cổng thành, chỗ ra vào của thành phố. Cứ mỗi ngày rằm, mùng tám, họ lại thọ Bát quan trai giới. Qua nhiều cuộc bể dâu thăng trầm, tám sợi tóc đã được chuyển về tháp Shwedagon. Có rất nhiều truyền thuyết, nhưng truyền thuyết mà chúng ta biết về tám sợi tóc và thờ tháp ở Shwedagon chính là từ câu chuyện này.

Lúc đó hai anh em thọ quy giới, nhưng chỉ quy y Phật và quy y Pháp thôi chứ chưa có quy y Tăng. Về sau, người anh Tapussa trở thành một thiện nam thuần thành trọn đời tu Phật. Còn người em Bhallika thì xuất gia chứng quả A-la-hán. Vào một buổi chiều thu hiu hắt, khi ngài Bhallika đang ngồi thiền trong rừng, Ma vương xuất hiện nghịch ngợm, biến ra một hình dạng cực kỳ khủng khiếp, đáng sợ để hù dọa Ngài. Ngài trả lời rằng: Người như ta bây giờ không còn cái để thích, thì làm sao còn cái để sợ? Ác ma bèn biến mất.

Bây giờ không còn cái gì để thích, thì làm sao còn thứ để sợ? Câu này cực kỳ thâm sâu trong kinh tạng. Tại sao mình cứ giận, cứ hành, cứ khó chịu? Tại sao mình sợ hãi, sợ chết, sợ ma, sợ mối, sợ gián, sợ chuột, sợ thằn lằn, sợ bóng đêm? Đó là vì mình còn có cái thích. Còn có cái thích thì còn có cái ghét. Cho nên câu trả lời của ngài Bhallika nghe rất bình thường nhưng cực kỳ sâu thẳm, chứa đựng hết nội dung tông chỉ tu hành của bậc Đạo sư chúng ta.

Cực kỳ sâu thẳm. Và chưa hết cái nội dung của tông chỉ tu hành, bây giờ không còn cái gì để dính mắc thì làm sao còn phải sợ. Nhớ nha, cho nên mình đọc kinh, đây là một câu chuyện thật, nhưng nếu khéo dụng tâm thì mình sẽ rút ra những bài học giáo lý cực kỳ sâu sắc.

Tiếp theo, mình học về một nhân vật nữa để kết thúc ngày hôm nay, đó là trưởng giả Cấp Cô Độc. Quý vị để ý, trong tiếng Pali, phần về ông Cấp Cô Độc rất đáng nhớ. Trường hợp của ông Cấp Cô Độc cũng giống như trường hợp của bà Visakha, bởi vì ông là một người cực kỳ nổi tiếng. Nổi tiếng đến mức hầu như phật tử không ai là không biết đến Cấp Cô Độc, người không biết là rất hiếm.

Tên của ông, mỹ danh hay tên mẹ đẻ là Sudatta. Còn ngoại hiệu, cũng là mỹ danh của ông, là Anathapindika, nghĩa là người cấp dưỡng cho kẻ cơ nhỡ. Cấp Cô Độc nghĩa là như vậy. Ý nghĩa của chữ này là người cấp dưỡng cho những người cơ nhỡ. Cơ nhỡ là gì? Đó là bốn hạng: góa, quả, cô, độc. Cô là trẻ nhỏ không cha không mẹ. Độc là tuổi già không có con cháu nuôi dưỡng. Quan là đàn ông góa vợ. Quả là đàn bà góa chồng. Bốn hạng này nếu không tiền, không cơm áo thì ông nuôi hết. Cô là mồ côi, độc là người già không ai chăm sóc, quan là đàn ông góa vợ sống một mình, quả là đàn bà góa chồng sống như vậy. Bốn hạng này nói chung là Anathapindika, ông là người cung dưỡng, nuôi dưỡng họ. Cho nên ông có một vị thế rất hoành tráng.

Có lần ông đi đến thành Vương Xá. Các vị trưởng giả ở đó đều là những người rất giàu có. Ông cũng là sui gia với bà Visakha, nghĩa là con trai của Cấp Cô Độc lấy em gái của bà Visakha. Như vậy, con trai Cấp Cô Độc là em rể của bà Visakha. Ông này có một người anh rể biết đạo trước. Ông Cấp Cô Độc là một thương gia, anh rể ông cũng là thương gia, cả hai đều rất giàu có. Năm nào ông cũng đi đến thăm anh rể. Mọi khi anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng, ôm chầm lấy nhau, nói chuyện líu lo rồi dọn tiệc ăn uống, trò chuyện đến khuya. Nhưng lần này ông đến thì người anh rể chỉ nói: "Anh đang bận, phòng ốc có sẵn đó, người nhà sẽ giúp em nha, xin lỗi em".

Ông Cấp Cô Độc tự hỏi, trong ngôi nhà to lớn, đông tiện nghi như thế này mà sao anh mình lại có thái độ lạ vậy. Ông thấy người anh bận rộn, đang dựng lều rạp, sắp xếp chỗ ngồi rất hoành tráng. Ông hỏi thì người anh bảo: "Không có gì đâu, ngày mai anh thỉnh Thế Tôn và tăng đoàn đến cúng dường". Nghe nói đến chữ "Phật", ông Cấp Cô Độc chấn động lắm. Ông hỏi anh: "Bây giờ em muốn gặp Thế Tôn, gặp Phật lắm". Người anh bảo: "Để ngày mai gặp". Nhưng ông không ngủ được, cứ thao thức mãi.

Ông hỏi anh mình: "Bây giờ em muốn gặp Phật lắm rồi". Người anh bảo ngày mai hãy gặp, nhưng ông không ngủ được, muốn đi ngay bây giờ. Thế là ông Cấp Cô Độc tự đi. Nhưng khổ nỗi là phải băng qua một cánh rừng, mà bây giờ trời tối mịt, khu rừng đó lại là nghĩa địa, ban đêm rùng rợn lắm.

Ông mở cửa, băng qua cái sân rộng của lâu đài, hướng về cánh rừng đó. Ở Ấn Độ có nhiều cách an táng. Một là địa táng, tức là chôn trong đất. Hai là thủy táng, bỏ xác xuống sông cho cá ăn. Ba là hỏa táng, đem đốt. Bốn là thiên táng, để cho chim trời ăn. Năm là lâm táng, tức là đem xác bỏ vào rừng cho thú ăn hoặc để tự phân hủy.

Khu rừng đó ghê lắm, bao nhiêu là xác chết, có những bộ xương đầu lâu trắng hếu. Nói thật, đầu lâu trắng hếu thì không đáng sợ bằng những cái xác mới bắt đầu sình thối, trương phình, rỉ nước. Những cái xác đó mới kích thích sự tưởng tượng, làm mình sợ hãi.

Ông đang đi như vậy, giữa đêm tối nghe tiếng chó rừng hú, tiếng chim heo, cú mèo kêu rợn người. Đang đi, tự nhiên ánh sáng vụt tắt, bóng tối bao trùm, ông thấy những cái xác mới hiện ra. Lúc đó ông sợ quá, định quay trở lại. Nhưng khi ông vừa định quay lui thì có một vị thiên nhân hiện ra khích lệ. Vị đó nói rằng: "Một bước chân đi về phía Đấng Đạo Sư bây giờ trị giá bằng trăm ngàn đồng vàng".

Với một người thương gia, khi nghe nói một bước chân trị giá trăm ngàn vàng thì họ tưởng tượng ra giá trị lớn lao thế nào. Không phải ông tính toán lời lỗ, nhưng ông ý thức được rằng cuộc đời mình đang bước qua một bước ngoặt mới, một yếu tố tâm linh rất lớn. Nghe lời khích lệ đó, ông không còn sợ nữa. Ông tiếp tục đi qua bãi tử thi rùng rợn đó để đến gặp Phật.

Cái vị cư sĩ nam này giàu có nổi tiếng đó, hễ đến đâu là xôn xao đến đó. Cái người mà biết danh tánh là ông Cấp Cô Độc, nhưng mà kêu ngay chóc cái tên cúng cơm của ông là Tu-đạt-đa. Khi nghe danh hiệu Đức Phật, ông không còn biết trời trăng mây nước gì nữa, tâm hướng về Ngài. Sau khi nghe pháp xong, ông xin thỉnh Đức Thế Tôn về quê hương của mình để hoằng pháp. Trở về nhà người anh rể, ông tự mình lo liệu mọi sự, sắm sửa cúng dường Đức Phật. Ông muốn dẹp hết mọi việc để trở về Xá Vệ, tìm một nơi cho Đức Thế Tôn và Thánh chúng có chỗ cư trú để độ sinh. Từ đó mới có chuyện ông đi thương lượng với ông chủ đất là Thái tử Kỳ Đà để mua khu vườn.

Thái tử nói: "Thôi được, bây giờ ông năn nỉ thì tôi bán, nhưng tôi nói thiệt là giá vô giá. Ông trải vàng tới đâu tôi lấy tới đó". Thái tử muốn làm khó để ông đừng có năn nỉ nữa. Nhưng không ngờ ông Cấp Cô Độc vừa giàu có, vừa có tín tâm, hai cái này cộng lại khiến ông quyết tâm làm. Ông cho người nhà đem vàng ra trải, trải đến đâu là lấy đất đến đó. Khi còn một miếng đất nhỏ nữa thôi, ông đứng chống nạnh suy nghĩ. Thái tử mới hỏi: "Ông tiếc của hay sao mà không trải vàng tiếp?". Ông nói rằng: "Ta không tiếc của, vàng của ta làm sao mà hết được. Ta đang suy nghĩ xem cái kho nào của ta còn vàng để lấy ra cho đủ". Thái tử nghe vậy thì rúng động, thấy được cái tâm dõng mãnh của ông Cấp Cô Độc. Thái tử nói: "Thôi đủ rồi, phần đất còn lại coi như tôi đóng góp vào". Như vậy là giáo đoàn có thêm một ngôi chùa.

Kể từ đó, mỗi ngày tại nhà ông Cấp Cô Độc đều có ít nhất 500 vị Tỳ-kheo đến thọ trai. Có những vị đi khất thực xa xôi, hoặc những vị lớn tuổi mệt mỏi, thì cứ việc tới thẳng nhà ông để thọ thực. Trong chú giải có ghi, hôm nào Đức Thế Tôn nghỉ trưa hay ngủ đêm ở chùa Kỳ Viên, hoặc ở chùa của ông Cấp Cô Độc, hay chùa Đông Viên của bà Lộc Mẫu Visakha. Ngài thường luân phiên nghỉ ngơi giữa các nơi này. Trong các ngôi chùa đó, hội trường tên gì, chiều cao, chiều ngang bao nhiêu, tốn bao nhiêu công sức xây dựng, chú giải đều ghi rất đầy đủ, nhưng tôi chỉ nói vắn tắt thôi.

Đức Thế Tôn nghỉ trưa bên đây thì ngủ đêm bên kia, sự qua lại giữa Kỳ Viên và Lộc Mẫu tạo nên một không khí tu học rất hay. Khi chúng ta vào chùa, các vị sư thường nhìn xem trên tay ta có cầm vật thực gì cúng dường không. Buổi sáng là vật thực, buổi chiều là nước uống. Tại nhà ông Cấp Cô Độc cũng vậy, mỗi ngày có mấy trăm vị đến thọ trai. Các vị được hỏi thăm, chăm sóc rất tận tình. Còn riêng ở những nơi khác như vườn Trúc Lâm, khi các vị đến cũng cảm nhận được sự hộ trì như vậy.

Sức mạnh của dòng Thích Ca nằm ở chỗ thâm cung. Vua Ba Tư Nặc bao nhiêu năm nay cúng dường, nhưng dòng Thích Ca vốn kiêu mạn, chỉ thương con cháu mình, coi người ngoài không ra gì. Vua Ba Tư Nặc muốn cầu hôn một người trong dòng Thích Ca để kết thân. Dòng Thích Ca không muốn gả người ngoài vòng tộc, nhưng vì vua Ba Tư Nặc là vị vua của mười sáu vương quốc, uy quyền rất lớn, nên họ không thể từ chối.

Họ mới bàn với nhau, tìm một cô gái không phải hàng thật, tức là không phải công chúa thuần chủng, để gả đi. Có người trong dòng Thích Ca nói rằng nước mình nhỏ, nếu tỏ thái độ thì không hay, nhưng dòng Thích Ca vốn kiêu ngạo, không muốn gả công chúa thật. Cuối cùng, họ chọn cô con gái của một vị hoàng thân với một cô nữ tỳ để gả cho vua.

Cô vợ này sinh được một đứa con. Khi đứa con lớn lên, một hôm nó đi về quê ngoại. Quê ngoại chính là nơi mẹ nó sinh ra. Cậu bé đó tên là Tỳ Lưu Ly. Khi về đó, dòng Thích Ca đối xử không hay. Mấy đứa trẻ cùng lứa tuổi khinh rẻ, nói rằng mẹ của cậu làm nô tỳ cho nhà họ.

Đến lúc Tỳ Lưu Ly từ giã ra về, cậu bỏ quên đồ nên quay lại. Lúc đó, cậu nghe thấy một cô cung nữ vừa lau dọn bàn ghế vừa nói: "Con của nô tỳ mà dám ngồi lên chỗ này, thật là dơ bẩn." Nghe câu nói đó, Tỳ Lưu Ly nảy sinh lòng sân hận. Một người lính hầu đi cùng cũng nghe thấy. Tỳ Lưu Ly nói: "Hôm nay họ lấy sữa tươi mà lau chỗ ngồi của ta, mai này ta sẽ lấy máu của họ mà lau chỗ ngồi này."

Đúng như vậy, sau này Tỳ Lưu Ly đã xua quân tàn sát dòng Thích Ca. Tất cả mọi cớ sự đều bắt đầu từ câu nói vô ý thức đó. Nhìn sâu xa hơn, nguồn cội là từ việc vua Ba Tư Nặc đi cưới vợ ở dòng Thích Ca.

Chúng ta có một bài học lớn ở đây: chuyện đẹp trên đời có thể là nguồn cơn của chuyện xấu, và chuyện xấu có thể là nguồn cơn của một chuyện rất đẹp. Chúng ta phải nhớ, dù cuộc đời có suôn sẻ, cũng đừng quá chủ quan. Đôi khi cái đẹp lại là nguồn cơn của sự đổ vỡ. Ngày mai chủ nhật, chúc quý vị có một ngày vui vẻ.

Là nguồn cơn của một chuyện. Giờ sắp xếp các việc ngày mai, con còn ba buổi về. Có nghĩa là ngày mai, ngày Chủ nhật và thứ Hai đi đâu thì đi, cũng tranh thủ để không bỏ lớp như nửa năm qua. Bây giờ có tuổi, sẽ dành hết. Bây giờ sẽ phụ thuộc sự xuất hiện vấn đề của một đa năng.

Khi chúng ta nghe nhạc Việt Nam tung ra... Anh đang đi cùng anh, nhìn mặt anh yêu nhau song ca.

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở mục lục Tăng Chi để đọc bản kinh gốc.