Pháp Học Online
Bài 62 · Pháp thoại

Bài 62. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Sa Môn (tt1). Phẩm Hạt Muối

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

1:08:538.952 từƯớc đọc 34 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 62 / 163 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
  1. Giới thiệu bài kinh

    Tổng quan về nội dung kinh và các tầng thánh trong tu tập tam học.

  2. Phân loại các tầng thánh

    Chi tiết về ba hạng Dự lưu và các mức độ chứng đắc tuệ học.

  3. Ý nghĩa tam học

    Vai trò của giới, định và tuệ trong quá trình tu hành và chứng quả.

  4. Ba khổ trong đời sống

    Giải thích về khổ khổ, hoại khổ và hành khổ ảnh hưởng đến tâm thức.

  5. Thách thức tu hành

    Những khó khăn trong việc giữ giới và duy trì chánh niệm trong cuộc sống.

  6. Tầm quan trọng của gương sáng

    Vai trò của người làm gương trong việc hỗ trợ tu tập và giữ giới.

  7. Con đường giải thoát

    Khẳng định sự hành trì và đắc chứng không có ‘người’ tạo ra khổ.

Transcript đã chỉnh

Các vị có nghe rõ không? Hôm qua chúng tôi bắt đầu một bài kinh mới nhưng lúc đó đường truyền không rõ nên hôm nay chúng ta nói lại. Bài kinh này có nội dung về tu tập Tam học. Ở các bài trước, Ngài chỉ nói vắn tắt.
Trong bài kinh trước, Đức Thế Tôn dạy rằng: Có trường hợp các vị tỳ-kheo chỉ hoàn tất về Giới nhưng chưa hoàn tất về Định và Tuệ, thì trong trường hợp này vị ấy vẫn có thể chứng đắc Dự lưu. Trường hợp thứ hai, vị tỳ-kheo hoàn tất về Giới và Định nhưng Tuệ vẫn còn có chỗ chưa xong, thì vị này vẫn có thể chứng thêm hai tầng thánh nữa là Nhị quả và Tam quả. Chỉ có tầng cuối cùng, khi vị tỳ-kheo hoàn tất được cả Tam học thì mới chứng đắc quả A-la-hán.
Bài kinh trước giảng như vậy, nhưng bài kinh sau nội dung cũng tương tự mà Ngài nói chi tiết hơn về các tầng thánh. Chi tiết là cũng có những vị hoàn tất riêng về Giới học, có những vị hoàn tất thêm Định học, và có vị hoàn tất cả Tuệ học để chứng quả A-la-hán. Nhưng ở đây, Ngài cho mình biết Tu-đà-hoàn có ba hạng.
Xin hỏi các vị mình đang học đến đoạn số mấy? Đoạn số 86. Trong bài kinh này, Ngài phân tích rõ về Dự lưu gồm ba hạng như sau:
Hạng thứ nhất gọi là Ekabījin, tức là Nhất chủng, có nghĩa là chứng Dự lưu xong rồi chỉ còn tái sanh một kiếp nữa là chứng A-la-hán. Còn trường hợp chứng Dự lưu rồi chứng luôn A-la-hán trong kiếp này thì không kể vào đây.
Hạng thứ hai gọi là Kolaṅkola, tức là Gia gia. Chữ "Kola" có nghĩa là gia đình, dòng tộc. Vị này còn tái sanh vào các gia đình thêm tổng cộng tối đa sáu lần nữa. Hán Việt gọi là Gia gia Dự lưu.
Hạng cuối cùng là Sattakkhattu-parama, tức là Thất lai, có nghĩa là vị này còn tái sanh tối đa bảy kiếp nữa rồi mới chứng đắc A-la-hán.
Đó là ba hạng Dự lưu. Nhưng nếu nói chi tiết nữa thì Dự lưu có tới 12 hạng. Tức là ba hạng này đem nhân với bốn trường hợp tu tập mà mình đã học: tu khó đắc nhanh, tu dễ đắc chậm, tu khó đắc chậm và tu dễ đắc nhanh. Bốn kiểu đó nhân với ba hạng này là thành mười hai hạng.
Tổng cộng là bốn hạng như vậy. Bốn kiểu đó nhân với ba hạng này là mười hai. Mười hai lại đem nhân với hai nữa, nhân với hạng gọi là tín nhiều và trí nhiều. Như vậy mình thấy rõ ràng là nhân hai nữa nó ra tới hai mươi bốn. Hai mươi bốn tức là ba hạng vừa kể đó đem nhân với bốn trường hợp tu nhanh đắc chậm, tu chậm đắc nhanh... thành ra mười hai. Mười hai này lại nhân đôi trường hợp trí nhiều và niềm tin nhiều. Quý vị thấy chưa? Trong chú giải nói rằng chúng sanh ở đời này đức tin nhiều thì đông hơn hạng trí nhiều.
Càng nói càng thấy thú vị. Các vị còn nhớ ba khổ không? Khổ khổ là sự có mặt của những gì khiến cho thân tâm khó chịu, đau đớn. Trường hợp thứ hai là hoại khổ, là sự vắng mặt của những gì làm cho thân tâm dễ chịu. Thứ ba là hành khổ, tức là tính lệ thuộc các duyên mới có. Mình nghe kể ba khổ nhìn thấy không có gì hết, nhưng thực ra nó rất quan trọng. Bởi vì thứ nhất, qua cách kể đó mình thấy nước mắt hay nụ cười đều là khổ hết. Nước mắt, nụ cười đều là khổ hết. Đó là chuyện thứ nhất.
Chuyện thứ hai là tùy vào căn cơ của chúng sanh. Có hạng người phải đổ lệ, đổ máu họ mới chịu tu hành giải thoát, chán sợ sinh tử. Hạng thứ hai không cần máu lệ, chỉ cần nhìn thấy sự đổ vỡ của cái gì đó hay ho, sự mất mát của cái gì mình thương thích thì đủ để họ chán sợ sinh tử. Hạng này không cần máu lệ, cũng không cần nhìn hoa héo, không cần bị sốc nhẹ hay sốc nặng. Tự nhiên họ chỉ cần nghĩ thôi là đã sợ mọi thứ ở đời vì nó lệ thuộc điều kiện. Ví dụ như khi bước vào phòng tắm, thấy cảnh mỗi ngày phải đi tắm là người ta đã chán cái thân này rồi. Có cái thân này mình phải ăn, phải có nhà cửa, phải mang giày dép, phải làm bao nhiêu chuyện bình thường. Hạng trí tuệ thấy vậy là đã chán rồi.
Thời này, khoan nói chuyện buồn chán, chỉ riêng việc hiểu điều tôi đang giảng đây là đã hiếm người rồi. Rất nhiều người hỏi tôi: Tại sao lại chán? Mình đang có thân thì đương nhiên phải vậy thôi. Khi bạn nghĩ đó là đương nhiên thì thua rồi. Cũng giống như quý vị tưởng tượng mình có đứa con, mình nói: Con thấy không, con mà làm biếng thì lớn lên khổ. Nó nói: Chuyện đó bình thường mà. Bây giờ thức khuya dậy sớm, học hành sách vở, trường lớp, nó thấy ngán dữ lắm. Nhưng nó coi chuyện đó là hiển nhiên, còn chuyện mình đem ra so sánh với người khác thì nó không quan tâm. Tôi nghe rất nhiều kiểu nói giống như vậy.
Khi nghe giảng tới hành khổ, họ thấy vô lý. Họ nói bị khổ, bị đau đớn thì mới chán sinh tử là đúng; bị mất mát cái mình thương thích thì chán là đúng; còn cái thứ ba là mình có thân thì dĩ nhiên nó phải lệ thuộc, tại sao lại chán? Chính vì trong nhiều kiếp mình đã có tri kiến này, mình cứ luân hồi hoài vậy đó. Nhớ nha, đây cũng là chỗ của tà kiến và hoài nghi.
Trách nhiệm này mình có lương hoài hoài vậy đó. Nhớ nha. Đây cũng vậy, dứt được thân kiến và hoài nghi. Nhưng ở trong Tu-đà-hoàn chia ra hai trường hợp: vị đức tin nhiều và vị trí nhiều. Với người trí nhiều là nó hiếm, bởi vì đa phần chúng sinh họ ngại suy tư. Hễ cái gì mà cần suy nghĩ là thấy nhức đầu, sợ. Chưa kể đa phần chúng sinh còn bị cái bệnh tâm lý đám đông cho nó đỡ nhức đầu. Thiên hạ sao mình làm vậy, chứ không phải suy nghĩ.
Những ngày tháng ở xứ người, cái hạng đó đông lắm. Ví dụ như cả đời đi làm nail, cả đời đi làm công sở, rủ đi chùa cũng đi, vô ngáp lên ngáp xuống rồi đi về. Cứ mấy chục năm như vậy, đi về rồi nghĩ mình xong rồi. Cái căn duyên đi chỗ khác, tới đó chỉ cầu phép thuật thôi. Cho nên thấy cái chuyện học giáo lý không phải là nhu cầu lớn. Từ đó nó mới ra 24 hạng Dự lưu. Còn trường hợp thứ hai là Nhị quả.
Cuộc đời được chia thành 12, làm sao ta? Lấy 4 cái: tu dễ đắc dễ, tu dễ đắc khó, tu khó đắc dễ, tu khó đắc khó. 4 hạng đó nhân cho 3 cái giải thoát môn. Còn nhớ không? Giải thoát môn là sao? Đức tin nhiều thì khi quan sát danh sắc, họ thấy cái tướng vô thường nổi bật. Đạo thì cũng y chang như mấy người khác thôi, nhưng được gọi là Vô tướng giải thoát. Hễ thấy một tướng thì sẽ thấy được hai tướng còn lại. Thấy tướng vô thường sẽ thấy tướng khổ và vô ngã. Khi thấy tướng vô ngã thì cũng thấy luôn tướng vô thường và tướng khổ. Khi thấy tướng khổ thì cũng thấy luôn tướng vô thường và tướng vô ngã. Nghe kịp không?
Nhưng tùy vào căn cơ của chúng sinh, có người thấy sự vô thường là bị sốc, có người thấy sự đau khổ, có người thấy cái tính lắp ráp duyên khởi. Đó là 4 trường hợp: tu dễ đắc dễ, tu dễ đắc khó, tu khó đắc dễ, tu khó đắc khó, đem nhân với 3 giải thoát môn.
Một, đức tin nhiều. Vị nào mà đức tin nhiều thì khi tu tập quán xét thấy tướng vô thường nổi bật. Vị nào mà định mạnh thì quán sát danh sắc thấy tướng khổ nổi bật. Khi mình quan sát tướng vô thường, nếu tướng vô thường nổi bật thì mình đắc Vô tướng giải thoát. Quan sát các tướng khổ, thấy nó nổi bật hơn hai tướng kia mà mình đắc thì gọi là Vô nguyện giải thoát.
Tại sao có cái tên này? Khi mình quán danh sắc, mình thấy nó không còn là tay chân mắt mũi nữa, mà tất cả là chớp nhoáng. Không có cái gì vuông tròn dài ngắn, mà tất cả là những đốm sáng sinh diệt liên tục. Chỉ thấy những đốm sáng, không có hình thù vuông tròn dài ngắn, nam nữ đẹp xấu, mập ốm trắng đen. Lúc này chỉ còn lại những đốm sáng, cho nên gọi là Vô tướng giải thoát là như vậy.
Còn Vô nguyện giải thoát là sao? Khi vị định mạnh, họ có cơ hội thấy cái thân này toàn là bất toại, thân luôn luôn khổ và tâm luôn luôn khổ. Khi thấy cái thành phần thân tâm này là đau khổ, họ sẽ thấy không còn gì trên đời này đáng để mong đợi, trông chờ nữa. Cho nên khi đắc quả được gọi là Vô nguyện giải thoát. Người định mạnh thường thấy tướng khổ nổi bật.
Còn hạng thứ ba là hạng trí mạnh. Trí nhiều, cho nên khi quan sát đi đứng nằm ngồi, thở ra thở vô, quán Tứ Niệm Xứ...
Đó là hạng trí tuệ tính mạnh. Cho nên khi quan sát đi đứng nằm ngồi, thở ra thở vô, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc... thì cái tướng vô ngã nổi bật. Thấy rõ ràng mọi thứ do duyên nhiếp trì, sự sống vô ngã vô thường nổi bật. Không thấy đau đớn máu lệ nổi bật, mà thấy cái cảnh sắc đó đúng là do duyên, do duyên mà có, do lắp ráp mà thành. Do duyên mà có, do lắp ráp mà thành được gọi là Không tánh. Giải thoát này không còn nam, không còn nữ, không còn đẹp xấu, không còn trắng đen, mập ốm, không còn gì hết. Đó là Không tánh giải thoát. Ba cái này mà đem nhân với 4 trường hợp đắc chậm đắc nhanh là 4 x 3 = 12.
Còn cái tiếp theo, hạng thứ hai là hạng An Na Hàm. Có nhiều cách phân tích, nó tới 48 cách. 48 cách này kể ra nhức đầu luôn, tôi cũng làm biếng, chỉ kể 5 cách là đủ rồi. 5 cách này nó đẻ ra 48 cách. 5 cách là gì chúng ta còn nhớ không? Tại vì tính ra các vị còn nhớ Ngũ căn, Ngũ lực không ạ?
Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Đó, bây giờ mình học sâu, một bài kinh ngắn mà mình triển khai ra rất là nhiều. Muốn giảng kinh này là phải có kiến thức Vi Diệu Pháp thì mới hiểu, chứ không là không hiểu đâu. Nên mình phải ôn lại cái vụ Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Có nghĩa là cùng một đạo tràng, cùng một pháp hội, cùng một vị thuyết giảng, cùng một đề tài, sau đó bước ra cùng tu chung một Niệm xứ. Giả định như vậy, cùng cách hướng dẫn, nhưng do căn cơ của mỗi người khác nhau, thiện ác của mỗi người khác nhau, Ba-la-mật của mỗi người khác nhau, tâm tư tình cảm khác nhau, nên vẫn có chuyện cùng tu thiền quán giống nhau, kể cả cùng Niệm xứ luôn, nhưng có người thì đức tin mạnh, có người thì tinh tấn mạnh, niệm mạnh, định mạnh và tuệ mạnh. Ngay khoảnh khắc đắc thiền, năm quyền này phải cân bằng nhau. Nhớ nha, ngay khoảnh khắc đắc thì năm cái này phải cân bằng nhau. Tuy nhiên, ngay khoảnh khắc đó thôi, chứ buông ra thì người này vẫn có cái mặt mạnh nhất, có cái sở trường.
Chính vì vậy, cho nên vị nào đắc An Na Hàm xong rồi nhập Niết-bàn luôn thì mình không nhắc tới. Còn mình đang nói đến những vị đắc An Na Hàm mà không có đắc thiền gì hết, thì sau khi mạng chung sẽ sanh về cõi Sơ thiền. Mà Sơ thiền mình biết có ba bậc: Thượng, Trung, Hạ. Sơ thiền mà yếu, nghĩa là chỉ vừa đủ Ba-la-mật để đắc Sơ thiền thôi chứ không có gì đặc biệt, trí tuệ thì chậm, thì cũng lên Sơ thiền nhưng ở tầng gọi là Phạm Chúng Thiên. Còn nếu cũng đắc Sơ thiền mà Ba-la-mật nhiều, trí khá hơn chút thì sanh vào Phạm Phụ Thiên. Cũng là Sơ thiền nhưng mấy ông này ngon lành hơn, cảm giác thiền và đắc thiền mau lẹ hơn. Còn nếu đắc Sơ thiền mà ngon lành nhất thì sẽ sanh vô Đại Phạm Thiên. Đó là nói người đắc trực tiếp Sơ thiền. Còn có vị đắc An Na Hàm...
Quý vị nhớ rồi, đã nhớ nên Đại Phạm Thiên đó là nói người đắc thiền trực tiếp. Vì đắc Sơ thiền, còn có vị là bậc A-na-hàm, không đắc thiền nhưng mà đã là A-na-hàm rồi thì khi chết vị đó không trở lui cõi dục. Vị này không còn dục cái và sân thì lấy cái gì mà quay lại? Bậc A-na-hàm là vị đắc Sơ thiền, bởi vì trong kinh ghi rất rõ, cả chú giải cũng xác nhận rất rõ: A-na-hàm thì cái định của vị này bắt buộc phải tương đương với Sơ thiền. Nếu không tu thiền định ngày nào hết, nhưng đã đắc A-na-hàm rồi thì cái định của vị này tương đương với Sơ thiền. Tại vì sao? Tại vì vị này không còn dục cái và sân. Khi không còn dục cái và sân thì khả năng định tâm nền là tương đương với Sơ thiền.
Bây giờ mình nói thêm các loại A-na-hàm mà trong kinh nói. Có loại A-na-hàm đắc Ngũ thiền, nếu đức tin mạnh hơn mấy cái kia thì sinh vào cõi Vô Phiền. Tấn mạnh thì sinh cõi Vô Nhiệt. Niệm mạnh thì sinh ra cõi Thiện Kiến. Còn Tuệ mạnh thì sinh thẳng lên cõi Sắc Cứu Cánh. Còn trường hợp cả năm quyền đều yếu thì cũng vẫn phải sinh vào cõi Tịnh Cư thấp nhất là Vô Phiền. Bởi vì trong kinh ghi rất rõ, khi cả năm quyền đều yếu thì đương nhiên đức tin là mạnh nhất. Như vậy, khi sinh vào trong năm cõi Tịnh Cư này, có những vị họ sống chưa được một nửa tuổi thọ là đã đắc A-la-hán. Hạng này gọi là Upahacca-parinibbāyī, có nghĩa là giảm thọ hữu để chứng Niết-bàn. Có nghĩa là đắc xong rồi Niết-bàn luôn.
Hạng này sống chưa được nửa tuổi thọ là đã chứng Niết-bàn. Còn một hạng nữa gọi là Antara-parinibbāyī, sống quá nửa tuổi thọ của cõi đó mới chứng A-la-hán. Như vậy, hạng trước mình gọi là hưởng dương A-na-hàm, còn hạng sau mình gọi là hưởng thọ. Trong tiếng Hán, hưởng dương có nghĩa là sống chưa được một nửa tuổi thọ. Cho nên trong cáo phó mình thấy người ta để hưởng dương là mình hiểu người này sống chưa được nửa đời, còn hưởng thọ là từ nửa đời trở đi, từ 50 tuổi trở đi. Hưởng dương nghĩa là sống từ nửa tuổi thọ trở về trước. Tôi dịch hạng Upahacca-parinibbāyī là hưởng dương A-na-hàm, còn hạng kia là chứng A-la-hán sau. Cõi nào cũng có mấy hạng này hết.
Thứ hai nữa là Asaṅkhāra-parinibbāyī và Sasaṅkhāra-parinibbāyī. Asaṅkhāra có nghĩa là vô hành, không có khổ cực, không mất công nhiều. Còn Sasaṅkhāra có nghĩa là hạng này phải nỗ lực nhiều lắm mới đắc, gọi là cần lao. Một cái là bất lao, một cái là cần lao. Bất lao có nghĩa là đắc rất dễ, không cần làm nhiều. Còn cái kia gọi là cần lao, nghĩa là cần tinh tấn mới đắc được. Như vậy mình thấy A-na-hàm có bao nhiêu hạng rồi? Một là hưởng dương A-na-hàm, chưa hết nửa tuổi thọ là đã đắc A-la-hán rồi.
Mình thấy có bao nhiêu hạng rồi? Một là Trung ban Niết-bàn, tức là chưa hết nửa tuổi thọ là đã đắc A-la-hán rồi Niết-bàn. Hạng thứ hai là Tổn ban Niết-bàn, tức là hưởng thọ đời sống từ nửa tuổi thọ trở về sau mới đắc A-la-hán.
Thứ ba gọi là Vô hành ban Niết-bàn, có nghĩa là chứng đắc A-la-hán mà không có cực khổ gì hết. Thứ tư gọi là Hữu hành ban Niết-bàn, có nghĩa là cần khổ lắm mới đắc.
Thứ năm gọi là Thượng lưu ban Niết-bàn, có nghĩa là ở cõi này chưa đắc, lên cõi trên mới đắc, rồi lên cõi thứ hai, thứ ba, thứ tư, cho đến cõi thứ năm mới đắc. Hạng đi đủ năm cõi này được gọi là Uddhamsota. Uddham là cao, sota là dòng chảy, cứ chảy ngược lên như vậy cho đến khi nào đủ duyên mới đắc.
Một hạng nữa gọi là Akanittha-gami, nghĩa là hạng này một là sang thẳng lên cõi Sắc Cứu Cánh của tầng Tịnh Cư cao nhất rồi đắc, hoặc trường hợp nữa là sau khi trải qua các cõi kia không đắc, lên đến cõi cao nhất của Tịnh Cư mới đắc.
Nãy giờ tôi còn quên kể, Tịnh Cư là gì? Tịnh Cư là năm cõi Sắc giới cao nhất dành cho các vị A-na-hàm. Tam giới chia ra ba tầng: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Năm cõi Tịnh Cư này nằm ở chóp cao nhất của phần Sắc giới.
Nếu muốn tìm hiểu thêm thì nói ra sẽ rất dài dòng. Càng về lớn tuổi, tôi thấy dạy đạo cho người có căn bản thì dễ, chứ giảng cho người không biết gì thì rất cực. Giống như dạy một bài toán đố lớp ba mà người học không biết cục xà bông là gì, không biết cắt đôi là gì, không biết nhà tắm là gì thì cứ đụng đâu phải giải thích đó, không còn là bài toán nữa. Ở đây cũng vậy, tôi không thể đi quá xa, chỉ nói vắn tắt như vậy thôi.
Như vậy, mình thấy có rất nhiều hạng: Trung ban, Tổn ban, Vô hành, Hữu hành, rồi Thượng lưu ban. Thượng lưu ban có nghĩa là đi qua các cõi. Các vị nhớ, giống như trong trường học, học trò nào học dở thì ở lại lớp.
Cuối cùng, A-la-hán cũng có 12 hạng. Có nghĩa là bốn kiểu tu: tu nhanh đắc nhanh, tu nhanh đắc chậm, tu chậm đắc nhanh, tu chậm đắc chậm, đem nhân với ba giải thoát môn. Ba giải thoát môn là: đức tin mạnh thì thấy vô thường rõ nhất, định mạnh thì thấy khổ rõ nhất, tuệ mạnh thì thấy vô ngã rõ nhất. Bốn kiểu tu nhân với ba giải thoát môn thành mười hai. Nhớ nha, tôi nhắc lại lần nữa vì cái này dễ quên. Các vị có thấy các...
Hành bốn nhân ba là mười hai. Nhớ nha. Rồi một chuyện nữa tôi nhắc lại một lần nữa, nhắc hoài cái này vì sợ các vị quên. Dù trong trường hợp nào đi nữa, các vị thấy vô thường nổi bật, khổ nổi bật hay vô ngã nổi bật, thì khi đắc đạo rồi cũng giống nhau.
Cũng giống như bây giờ mình đi vào nhà bằng cửa trước, cửa sau, cửa sổ, hay từ trên nóc xuống, hoặc từ dưới đất chui lên. Khi vào được trong nhà rồi thì mình thấy cái nhà giống nhau, đúng không? Các vị hiểu không? Không biết là mình đột nhập vào cái nhà đó bằng tầng hầm, hay từ trên mái la-phông đi xuống, qua cửa sổ, hay đi cửa trước vào phòng khách, đi cửa sau từ nhà bếp. Tôi leo vô từ phòng ngủ, nhà bếp, phòng khách, cửa trước, la-phông, tầng năm hay cửa sổ, tôi vô ngõ nào kệ tôi, nhưng khi vô tới nơi rồi thì cái thấy của tôi trong căn nhà đó y chang như mấy người kia, phải không? Hay là khác? Y chang nhau chứ. Nhớ nha, cái này nhớ nha. Đừng có ngồi đó mà dệt mộng, chắc mình tu pháp này vô thấy Niết-bàn màu xanh lè, còn người kia thấy Niết-bàn màu đỏ, ông nọ thì thấy Niết-bàn màu vàng khè. Không đúng nha. Vô tới nơi rồi là y chang nhau, nhưng con đường vô thì mỗi người đi một cách.
Cho nên ở đây Ngài mới nhắc là làm gì thì làm, muốn chấm dứt sinh tử thì chuyện đầu tiên là phải tu tập Tam học: Giới, Định, Tuệ. Vì sao? Vì phải có Giới - Định - Tuệ thì mình mới có đủ cái nền để có được cái thấy về bản chất của thế giới. Thiếu Giới, thiếu Định, thiếu Tuệ thì chúng ta không thấy được những sự thật mà tôi đã nói không biết bao nhiêu lần, đó là sự thật về vô ngã. Tôi vẫn thường nói, phật tử Việt Nam trong mắt của tôi chỉ có một phần trăm là phật tử thứ thiệt, còn chín mươi chín phần trăm là đi chùa để cầu phước. Nếu như vậy thì Khất sĩ, Bắc tông hay Nam tông cũng giống nhau, bởi vì mình đâu có học giáo lý và cũng đâu có hành thiền Tứ Niệm Xứ.
Tại sao tôi nói phũ phàng như vậy? Bởi vì tôi phải nói một câu thẳng thừng như thế này: Ai không thấy sự có mặt của mình trên đời này là khổ - dù giàu cách mấy, đẹp cách mấy, khỏe trẻ cách mấy, quyền lực cách mấy, tiếng tăm cách mấy - ai mà không thấy được sự có mặt ở đời này là khổ, dù ở cõi nào đi nữa, thì người đó vẫn còn trong vòng luân hồi. Nếu là một người phật tử thứ thiệt, tối thiểu phải có kiến thức này: Sanh về cõi nào đi nữa, hết tuổi thọ rồi cũng phải trở về chỗ thấp nhất, đó là quy luật tự nhiên.
Ở đây, tại sao trở về chỗ thấp nhất? Tôi xin trả lời như thế này: Bởi vì căn cơ của mình, cái ác lúc nào cũng nhiều hơn cái thiện. Các vị có về cõi Phạm thiên Phi tưởng phi phi tưởng, sống hết tuổi thọ rồi cũng phải rớt xuống cõi dục. Mà đã về tới cõi dục rồi thì cơ hội để các vị gặp thầy, gặp bạn, gặp môi trường, gặp hoàn cảnh để tu thiền nữa, hoặc để làm thiện, làm phước, tu Tứ Niệm Xứ đó, rất là hiếm. Tôi nói rõ là rất hiếm. Nhiều người cái đầu họ chứa cái gì trong đó mà nghe nói không có hiểu, cứ tưởng là dễ. Nhưng các vị tưởng mới dễ thôi. Cái Bát quan trai là cái gì? Giữ giới là cái gì? Chỉ riêng việc giữ Bát quan trai đã khó lắm rồi. Các vị biết không? Bởi vì chung quanh mình toàn là những người không biết Bát quan trai là gì, không hiểu tại sao phải giữ, và khi mình giải thích họ cũng không hiểu.
Biết là Bát Quan Trai này là gì, nhưng không hiểu tại sao phải thọ. Đã không biết nó là gì, khi mình giải thích cũng không hiểu tại sao, nói chi là thọ trì hạnh. Muốn thọ Bát Quan Trai cho trong sạch là phải có một địa điểm và một hoàn cảnh như ý. Đừng có tưởng là muốn là được. Đừng tưởng thọ Bát Quan Trai là một cái vèo, nó khó dữ lắm. Không phải thọ Bát Quan Trai kiểu mình vừa thọ giới xong về là đi ra ngoài tiệm bán hàng, rồi chiều về không ăn cơm, quậy ly sữa uống cho no rồi đi ngủ. Cái đó là Bát Quan của ngoại đạo, gọi là Bát Quan kiểu người chăn bò. Nghĩa là giữ đủ 24 giờ rồi đi trả giới lại cho Phật.
Bát Quan Trai có nghĩa là trong ngày đó, tâm tư mình phải chuyên tu miên mật trong suốt thời gian thọ giới. Cái đó mới là Bát Quan của bậc Thánh. Có nghĩa là trong thời gian đó, mình phải gắn chặt tâm mình với sáu pháp tùy niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên. Như vậy mới được gọi là Bát Quan Trai. Chứ còn tự nhiên mình đi thọ xong về đi bán hàng, ra chợ làm việc bình thường thì cái này tôi không có cản. Muốn làm gì thì làm, không ai cản. Nhưng nếu hỏi, tôi nói rốt ráo thì ráng chịu.
Giống như mình bị tiểu đường mà không chịu ăn kiêng, cứ mỗi ngày uống một viên thuốc rồi ăn uống thoải mái thì tôi không biết bác sĩ có cho hay không. Tiểu đường không được như vậy. Ngoài việc uống thuốc ra, anh phải ăn kiêng, phải tập thể dục, chạy bộ, bơi lội, leo núi, đi xe đạp. Nếu anh thực sự sợ tiểu đường thì phải như vậy. Còn nếu anh thấy thôi kệ, tới đâu hay tới đó thì loại người này không nói tới. Nhưng nếu đúng là điều trị bệnh tiểu đường theo kiểu đúng thầy đúng thợ thì ngoài việc uống thuốc đúng giờ, đúng liều lượng, còn phải kiêng khem ăn uống và vận động thể thao.
Thế giới 7 tỷ người, mấy trăm quốc gia, bao nhiêu địa phương, phong tục tập quán, nền văn hóa, cấu trúc xã hội. Quý vị tìm cho tôi chỗ nào mà người ta đề nghị chuyện giữ giới cũng vậy. Trong đạo Hồi có không? Đạo Chúa, đạo Khổng, đạo Lão, Do Thái giáo, Hindu có không? Thứ nhất là có hay không, thứ hai là có bao nhiêu người làm gương để cho mình giữ năm giới. Cái gương làm mẫu quan trọng lắm, đừng có coi thường. Đừng tưởng giữ năm giới là dễ, phải có cái gương. Ví dụ bây giờ mình nhìn quanh toàn là dân sát sanh, toàn dân chôm chỉa, toàn dân lăng loàn, sẵn sàng ngoại tình, toàn dân ăn nhậu, toàn dân nói dối. Từ nhỏ đến giờ sinh hoạt toàn với những người không giữ giới thì mình giữ với ai? Giữ với ai cũng quan trọng lắm. Giữ với ai, chung với mình hay làm gì, từ nền tảng nào, cơ sở nào...
Ai cũng quan trọng lắm. Với ai nữa thì chung với mình hay làm đó, biết mình từ cái nền tảng nào, cơ sở nào, từ sự hỗ trợ nào mà mình giữ được năm giới. Thử hỏi nếu chính mình không có, anh cũng không có, thì hỏi giới nó đi đâu? Nhớ cái này, cho nên tôi nói hoài: một người phật tử mà không sợ luân hồi thì chưa hiểu đạo. Cơ hội làm thiện rất là hiếm.
Nếu nói vậy thì cơ hội được hưởng quả lành cũng rất là hiếm. Khoa học không cần phải chứng minh gì hết, con nít còn bú nó nghe cũng hiểu được. Cơ hội làm thiện hiếm lắm, mà nếu cơ hội làm thiện hiếm thì cơ hội hưởng quả lành đương nhiên là hiếm rồi. Chuyện mình nằm ngửa bú bình mình cũng hiểu nữa. Chỉ cần nghĩ bao nhiêu đây là không dám luân hồi nữa.
Trong kinh kể có nhiều lý do tại sao phải sợ luân hồi. Một là cơ hội hành thiện quá ít, cơ hội làm ác quá nhiều. Hai nữa là ác hữu tà sư quá đông, mà minh sư thiện hữu quá ít. Những cái này dựa vào đâu mà ra? Rất là khoa học. Khi cơ hội làm thiện ít hơn làm ác thì đương nhiên tà sư ác hữu nhiều hơn minh sư thiện hữu. Hãy tự nhìn bản thân mình: ác nhiều hơn thiện, mà quơ tay chung quanh toàn là tà sư ác hữu. Hai cái này cộng lại thì mình đi đâu? May là bây giờ mình biết đạo mà mình còn trầy trật, không tinh tấn, huống gì những người không gặp Phật pháp thì họ đi về đâu?
Theo mô tả trong kinh, ranh giới giữa người với thú mỏng hơn sợi tóc. Khoảng cách giữa con người với con thú mỏng hơn sợi tóc là sao? Có nghĩa là từ khoảnh khắc thiện sang ác gần như sát bên. Mình làm ác rất dễ, nhưng ngược lại, từ ác qua thiện lại rất là khó.
Cho nên kinh này nói phải có Tam học. Ba cái cộng lại mới giúp mình hiểu bốn sự thật. Sự thật thứ nhất: mọi thứ ở đời là khổ. Hình hài nào, cảnh giới nào, hoàn cảnh nào cũng là khổ. Do đó, thích cái gì, thích ở đâu, thích ai cũng là thích trong khổ. Muốn hết khổ thì không thích gì, không thích ở đâu và cũng không thích ai.
Sống bằng ba nhận thức này thì được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Cách nào để liên tục sống trong ba nhận thức này? Chỉ có Tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ chính là hành trình của Tam học. Nếu học không kỹ, không rõ, cứ tưởng giới là phải gắn liền với mấy con số là sai bét. Giới là sự cố ý ngăn trừ điều ác của thân, khẩu, ý. Nếu giới mà còn nằm ở trong mấy con số là chưa đủ.
Đối với hành giả tu Tứ niệm xứ, khi sống bằng chánh niệm thì giới của họ là vô số chứ không phải nằm ở mấy con số nữa. Mà tôi nói đây là chánh niệm thực thụ, chứ còn kiểu cả lơ phất phơ thì tôi không kể. Nếu mà chánh niệm miên mật...
Nếu chỉ giữ mấy trăm giới thôi thì chưa đủ. Chỉ bằng cái nền tảng của giới, của niệm, của định, của tuệ, với nền tảng này mình mới thấy được bốn sự thật đó. Không ngồi lại để mình nhìn thân, nhìn tâm thì làm sao thấy rằng thân này là khổ. Tôi nói không biết bao nhiêu lần, nhờ mình phóng dật, nhờ mình thất niệm cho nên mình thấy cái thân này vui, thấy mát mẻ, thấy lòng vui vui. Sáng giờ ngồi nghỉ thấy khoái, thấy thích, chứ nếu có chánh niệm một chút, mình quan sát cái thân mình sẽ thấy khổ nhiều hơn, cảm giác khó chịu nhiều hơn dễ chịu.
Qua tâm cũng vậy, từ lúc mình ngủ cho đến lúc mình thức, cái bất toại nó nhiều hơn. Cái khổ ở chỗ là không có chánh niệm. Khi không thấy những sự thật này, khi không có chánh niệm và trí tuệ thì tôi hứa bằng cái mạng của tôi, quý vị sẽ thấy thân tâm này chủ yếu là khổ, chủ yếu là bất toại. Còn cứ ngồi nghe pháp như thế này thì không hiểu được đâu, không thấy được điều tôi nói. Cứ ngồi nghe hoài tới ba ngàn năm nữa cũng không thấy thân này là khổ. Quý vị chỉ cần nhắm mắt lại theo dõi một chút xíu thôi, không cần quán chiếu, chỉ cần chánh niệm. Trong vòng ba phút sẽ thấy thân bất toại và tâm bất toại.
Mở cửa nhìn ra đường toàn là bực bội, đụng chạm, cà chớn không. Tôi bảo đảm luôn, không biết quý vị ở nhà quê hay thành phố, chỉ cần mở mắt nhìn ra đường là thấy toàn những thứ đụng tới là nó quậy mình tới bến. Toàn là tham lam, sân hận ngoài đường đó. Cho nên đời này là khổ, thân là khổ, tâm là khổ và thế giới chung quanh cũng là khổ. Còn thiếu chánh niệm thì như con thú, nói làm gì.
Như vậy mình qua đoạn khác, trang 87. Trang 87 cũng y chang như những gì tôi đang giảng ở trang 86. Qua đến trang 88 cũng y chang như vậy, nhưng ở đây Ngài giải thích Tam học là gì. Có chỗ giải thích Tam học là thu thúc, ngăn trừ ác pháp gọi là Giới. Tùy căn cơ của người ngồi trước mặt mà Giới được Ngài giải thích ở nhiều chỗ khác nhau, nhưng nội dung vẫn là một. Chẳng hạn như bài 88 này, Ngài giải thích Giới theo kiểu thông thường mình hiểu, nghĩa là giữ được mấy trăm giới là có Giới học. Còn Định ở đây là đắc từ Sơ thiền trở lên thì gọi là Định học. Còn Tuệ ở đây tức là tu tập Bốn Niệm Xứ để thấy rõ Tứ đế, đó gọi là Tuệ học.
Xong trang 88, bây giờ qua đến 89. Trang 89 y chang như vậy. Qua tới trang 90, trong đây kể có một lần Đức Thế Tôn đi với một đại chúng Tỳ-kheo rất đông đến một thị trấn đó. Trong nhóm...
Có một lần đó, Đức Thế Tôn đi với một đại chúng Tỳ-kheo rất đông đến một thị trấn. Trong nhóm 500 Tỳ-kheo đi chung đó, có một vị Tỳ-kheo ngồi nghe Phật thuyết pháp, vị đó nghĩ thế này: Thế Tôn nói đại khái thì được rồi. Nghĩ bụng là nói đại khái được rồi, nội dung có nhiêu đó mà chia sẻ chi mà lúc chút lúc chút. Ông Tỳ-kheo đó nghĩ vậy.
Đức Thế Tôn biết nhưng Ngài không nói gì. Ngài biết khi nhân duyên tới thì tự ông này sẽ biết lỗi. Bởi vì mình nghĩ là nói đại khái hiểu rồi, có nhiêu đó mà còn xé to xé nhỏ ra làm chi. Cái suy nghĩ đó vừa thiếu trí mà vừa phạm thượng. Ông không hề biết cái người ngồi trước mặt ông là ai. Nếu biết, ông không có suy nghĩ như vậy. Ông không biết người ngồi trước mặt ông là vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bậc Nhất thiết trí. Pháp gì Ngài cũng biết và căn cơ chúng sanh Ngài hiểu không sót một mảy may, một tơ tóc nào hết.
Ông không biết chuyện này, không thấy tại sao Ngài cứ có nhiều chỗ phân tích chi ly. Vì ông không biết rằng căn cơ của các đối tượng thính giả đó phải nói như vậy. Cái khổ là ở chỗ không biết, cho nên trong bụng có suy nghĩ rất bậy bạ, mang tính phạm thượng: Nói đại khái được rồi, mắc chi mà chi ly đến mức quá cỡ như vậy.
Chuyện đó qua đi, sau khi Đức Thế Tôn đã đi rồi, ông ngồi một mình. Ông cũng là người có lòng tu. Ông nghĩ: Đúng rồi, cái này mà không giải thích chi ly thì làm sao mình hiểu nổi. Nói thẳng luôn là nếu Thế Tôn không chi ly thì cái đầu ông không sao hiểu nổi. Ông nghĩ như vậy rồi hết hồn. Ông tự hỏi tại sao lúc trước mình lại lười biếng mà nghĩ rằng chỉ cần nói đại khái thôi. Nhưng bữa nay khi chính thức bước vào thực hành, ông thấy cái này mà nói đại khái thì cái đầu ông sao hiểu được. Ông biết lỗi, hối hận tìm về gặp Phật để xin sám hối cái suy nghĩ phạm thượng đó.
Lúc đó Đức Thế Tôn mới giảng cho ông nghe một bài kinh. Bài đó Ngài giảng cách đây 26 thế kỷ mà nội dung cho đến hôm nay vẫn mang tính thời sự, nghĩa là vẫn cực kỳ cần thiết và chính xác cho bối cảnh Phật giáo toàn cầu hôm nay. Khi một Tỳ-kheo mới tu, hay tu hơi khá lâu, hay đã trở thành một bậc trưởng lão mà lại lười biếng, không thiết tha với pháp học, pháp hành ở bản thân, mà cũng không muốn khích lệ người khác pháp học, pháp hành thì Ta không tán thán vị Tỳ-kheo đó.
Bây giờ điều này đang tràn lan trên toàn cầu. Đi tu là chỉ mong có cái chùa, còn bên Thái Lan thì mong có được bằng Pali lớp 9 rồi có được một nhóm đại gia hộ trì là xong. Phải nói hôm nay đốt đuốc đi tìm cũng khó mà thấy một ông sư gặp mặt mình là kêu gọi học giáo lý và kêu gọi hành Tứ niệm xứ. Tôi biết tôi nói cái này là đang chạm vào một núi kiến lửa, nhưng tôi vẫn nói. Cứ sáp vô ngồi là nghe quyên góp. Cho nên bài kinh này nói rằng, dù là một Tỳ-kheo mới tu hay tu lâu thì phải luôn luôn bản thân mình tinh tấn học pháp.
Nói ở đây, dù là một tỷ-kheo mới tu hay tu lâu thì phải luôn luôn bản thân mình tinh tấn học pháp hành và không ngừng khích lệ người khác. Chứ có đâu mà mới nghe rồi còn trách người ta sao chi li chi tiết. Xin lỗi, đầu buổi của pháp hội mình mà không chi li thì hiểu cái gì? Người ta nói thâm sâu mà còn không hiểu, nói gì mà nói sơ sơ. Ngồi học mà thấy chi li rồi mệt, nhưng đến hồi buông ra, xa thầy xa sách, xa trường xa lớp, thấy học mà sơ sài thì cái hiểu sơ sài. Hiểu sơ sài thì hành trì kiểu nào đây?
Ở đây Ngài nói một chuyện mang tính thời sự nóng bỏng suốt 26 thế kỷ, đó là tỷ-kheo nào, dù là bất cứ ai, mới tu hay tu lâu, thì đối với bản thân phải nỗ lực tinh tấn trong pháp học pháp hành; đối với người khác thì phải không ngừng khích lệ người khác. Có nghĩa là thắp lửa, trao lửa pháp học pháp hành cho người khác thì Ta tán thán. Còn những tỷ-kheo mà bản thân không có lửa, mà cũng không có khả năng trao lửa cho người khác thì Ngài không tán thán. Đây là Ngài nói nhẹ lắm, mà Ngài nói nhẹ đó, đúng ra với một vị Phật từ bi tràn trề mà nói rằng Ta không tán thán có nghĩa là Ngài chê đó. Nhớ cái đó.
Cho nên ở đây nói rất rõ là bản thân mình không ưa thích học tập mà cũng không khích lệ người khác thì coi như hết xài. Có một chuyện nữa, muốn cầu đạo giải thoát cũng giống như muốn ra khỏi rừng. Muốn ra khỏi rừng mà làm biếng tìm hiểu con đường đi thì không biết ra khỏi rừng đi ngả nào, trừ phi anh muốn ở lỳ trong rừng làm hươu làm nai thì thôi. Nếu anh thiết tha muốn ra khỏi rừng, muốn trở về với con người ta, thì anh phải tìm đường đi, mò ra. Đằng này cứ ở ngoài rừng hái hoa bắt bướm, hái hoa bắt bướm thì làm sao mà có đường thoát?
Theo tinh thần Phật pháp, đường ra rừng chính là đường vào rừng, và đường vào rừng chính là đường ra rừng. Tức là cũng sáu căn sáu trần mà tùy vào thái độ của mình. Thái độ mình ra sao? Như ngày xưa giờ mình chìm sâu trong sáu trần đó thì chính sáu trần đó trở thành đường vào rừng. Còn hôm nay mình cũng vẫn tiếp tục sống với sáu trần bằng Niệm và Tuệ, thì lúc bấy giờ sáu trần trở thành các Niệm xứ. Mà khi sáu trần thành Niệm xứ thì lập tức trở thành đường ra rừng. Còn nếu sáu trần không được mình xem là Niệm xứ, mình biết sáu trần mà không bằng Niệm và Tuệ, thì lúc bấy giờ cũng sáu trần ấy nhưng nó lại là đường vào rừng.
Nhắc lại, sáu trần khi được mình coi là Niệm xứ, coi là thân, thọ, tâm, pháp thì lập tức đó là đường ra rừng. Còn nếu sáu trần chỉ được mình biết đến bằng tình cảm thích và ghét, trốn chạy và kiếm tìm, bằng tham bằng sân, thì lúc bấy giờ sáu trần ấy lập tức trở thành con đường vào rừng. Chỉ vậy thôi, không có gì khó.
Phải thiệt bụng hỏi lòng mình có muốn ra khỏi rừng hay không. Chứ nếu không có lòng thì không còn chuyện gì để nói. Không có một vị Phật nào đủ khả năng đi lôi một người không muốn ra khỏi rừng để đem ra ngoài, trở về thế giới loài người được. Không có vị Phật nào làm được việc đó. Nhắc lại, trừ phi người đó trong nhiều kiếp đã có cái chán sợ sanh tử rồi.
Làm được việc đó, có thể nhắc lại rằng người đó trong nhiều kiếp đã có cái chán sợ sanh tử rồi, đã có tu tập Ba-la-mật, đã huân tu công đức rồi. Chẳng qua bây giờ tạm thời họ quên. Họ quên rồi đang ngủ quên dưới một cái gốc cây nào đó, mình tới mình lay, mình gọi dậy. Lúc này đang ngủ, Ngài kêu dậy, hoặc là đang tham nên Ngài dùng lời nhắc nhở, rồi sau đó Ngài đem ra khỏi rừng. Ngài giúp bằng cách nào? Ngài chỉ đường thôi, chứ mình vẫn phải thắp đuốc lên mình đi và vẫn phải đi bằng đôi chân của mình, chứ không có bồng, không có bế, không có cõng người nào được hết.
Nhớ điều quan trọng này: Dầu cho có duyên lành cách mấy thì chư Phật chỉ hỗ trợ đến mức nào đó thôi. Còn nói đến chuyện người vô duyên, không có căn lành giải thoát thì chư Phật cũng bó tay. Tôi nói có chứng minh luôn: Nếu mà chư Phật có thể tu giùm người khác thì coi như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ lâu, chứ đâu có đợi tu hành khổ hạnh cho máu lệ tràn trề. Và nếu Ngài có thể độ cho người vô duyên thì cái đám mình đây hiện giờ đã lên tòa sen hết rồi. Nhìn ra ngoài kia, trùng dế, cào cào, châu chấu, chư Phật thò tay lên vớt hết rồi. Làm gì còn cào cào châu chấu nữa.
Phật lực thì vô biên mà Phật trí thì vô hạn, nhưng không thể độ kẻ vô duyên. Cái này phải ghi nhớ kỹ: Phật lực vô biên, Phật trí vô hạn nhưng không thể độ kẻ vô duyên. Có nghĩa là hai cái vô cộng lại, một cái vô biên và một cái vô hạn, mà cộng lại cũng không dễ độ cho người vô duyên được. Tại vì người đó đã quên một cách siêu cấp rồi, không còn chỗ nắm thì làm sao mà Ngài độ được. Nếu độ được thì thế giới này đã khác rồi.
Bây giờ mình qua trang khác, mình học kinh khác gọi là kinh Cấp Thiết. Kinh này có nội dung hay lắm, bởi vì nó dạy: Một người nông dân chỉ cần làm đúng những việc chuẩn bị như dọn đất, gieo giống, phân rồi nước, chăm sóc đúng mức thì tự nhiên lúa ruộng nó phát triển, không cần phải dùng phép màu, không cần cầu nguyện khấn vái van xin gì hết. Chỉ cần làm đúng như vậy: dọn đất đúng mức, gieo trồng hạt giống đúng mức, rồi chăm sóc phân và nước, nắng gió mưa sương đúng mức thì tự nhiên có thành quả ngay.
Ở đây, một vị Tỳ-kheo mà tu tập Tam học đúng mức thì tự nhiên trổ quả giải thoát đến ngay, chứ không cần phải cầu khẩn ông này bà nọ giúp cho con đắc quả này quả kia. Cứ bắt chước người nông dân, họ đâu có thấy kết quả ngay đâu mà vẫn cứ làm đúng những chuyện cần làm. Tự nhiên lúa ba tháng thì đủ ba tháng nó ra, lúa sáu tháng thì đủ sáu tháng nó ra. Không có cách nào mình cầu nguyện mà lúa sáu tháng nó ra trước ba tháng được. Măng cụt, sầu riêng thì nó phải đủ năm năm, mười năm mới ra trái. Điều quan trọng là mình trồng trên mảnh đất nào và mình đã dành cho nó sự chăm sóc ra sao. Tới ngày đủ tháng đủ năm nó ra trái, không cần cầu nguyện gì hết. Một vị Tỳ-kheo khi đã tu tập Tam học đúng mức thì tự nhiên công viên quả mãn, chứng thánh lìa khổ.
Để làm một chuyện, một vị khi đã tu tập tâm học đúng mức thì tự nhiên là công viên quả mãn, chứng thắng lìa khổ. Chuyện đó là đương nhiên. Nhưng ở đây có một chuyện vô cùng quan trọng mà tôi nghĩ rằng nếu không nói ra thì tối nay tôi ngủ không yên. Các vị mở giùm tôi phần cuối của kinh gọi là Kinh Đại Niệm Xứ. Alo, các vị còn nghe không hay là ngủ sập trời rồi?
Các vị nhìn phần cuối của Kinh Đại Niệm Xứ, trong Trường Bộ hoặc Trung Bộ có câu này: Nếu một Tỳ-kheo tinh tấn miên mật hành trì Bốn Niệm Xứ này thì sẽ nhận được các quả báo như sau: trong 7 năm hoặc 7 tháng hoặc 7 ngày sẽ đắc chứng quả vị A-la-hán, hoặc tối thiểu cũng là Bất Lai. Nghe ham lắm, nhưng tôi tu năm nay là 8 năm, 10 năm mà vẫn đứng lì một chỗ, không đắc như vậy. Vấn đề nằm ở đâu?
Thưa các vị, vấn đề nằm ở chỗ là các vị chưa có đúng mức. Phải hiểu chữ đúng mức là sao? Là phải có Ba-la-mật kiếp trước chín mùi. Khi Ba-la-mật đã chín mùi rồi, còn cần những điều kiện tâm sinh lý hiện tại như thời tiết, thực phẩm, đề mục, thầy bạn, trú xứ, chưa kể những thứ lắt nhắt như áo quần, thuốc men có thích hợp hay không.
Các vị coi trong kinh kể có những người trong nháy mắt mà đắc, có những người ở nơi ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí mà đắc, họ đâu có cần điều kiện gì đâu. Tôi xin thưa, các vị so sánh như vậy là tào lao quá. Các vị biết mấy người đó là ai không? Những người mang thân nam, được gặp Phật, được xuất gia, các vị tưởng tượng cái phước gì bằng họ không? Đừng có so với mấy vị đó. Cái chuyện họ được mang thân người, được gặp Phật, được xuất gia là thấy họ không phải là tay mơ rồi. Cho nên chuyện họ cực khổ đau đớn mà đắc là chuyện của họ. Mình đang nói chuyện của mình bây giờ, cái của mình nó ra sao?
Thêm một chuyện rất quan trọng nữa là tu đúng. Tôi hỏi các vị có dám hứa 100% là chánh niệm suốt trong 7 năm đó hay không? Trong suốt 7 năm đó, các vị có mắc vào các chướng ngại hay không? Trong 7 năm đó, các vị có bị mắc vào 10 cái pháp ràng buộc không? 10 pháp đó nghĩa là bị ràng buộc bởi tình cảm, ràng buộc bởi trú xứ, ràng buộc bởi vật chất, ràng buộc bởi tình trạng sức khỏe, bởi điều kiện tài chính, với quan hệ xã hội. Tổng cộng lại có những thứ ràng buộc như vậy, thì tôi hỏi các vị có dám chắc trong 7 năm đó cái đầu của các vị hoàn toàn rảnh rỗi với 10 thứ này không? Đâu dám hứa. Đừng có ngồi đó mà nói dóc, không phải dễ đâu. Các vị không nhớ chồng, nhớ vợ, nhớ con, nhớ mẹ cha thì cũng phải bận tâm đến vấn đề sức khỏe, bận tâm đến thầy bạn chung quanh. Đa phần đi tu trong thiền viện là nữ, mà nữ là tổ sư bồ đề cái vụ ghen tị.
Tôi nói luôn, đa phần đi tu thiền viện là nữ, mà nữ là "tổ sư" cái vụ ghen tị nha. Biết bao nhiêu phần trăm nhân loại là nạn nhân của cái lòng sân đó. Thấy dễ thương như vậy, mà chỉ cần thấy thiền sư chăm sóc hành giả khác một chút là bắt đầu. Nam thì không sao, mà nữ là chịu không nổi. Tôi đi dạy học tôi biết, chỉ cần hơi chăm sóc một học trò, một thành viên trong lớp thôi là mấy người khác nhìn người đó bằng cặp mắt dã can rồi, dễ sợ chưa? Mà nếu cô đó còn có một chút nhan sắc, một chút tài chính, một chút học vị nữa là bắt đầu nó tới bến luôn. Nam thì không như vậy. Nam ngồi chung một đám, mình lấy một cái quýt đưa cho thằng Tèo, thằng Tí kế bên nó tỉnh bơ. Nhưng mà nữ, đưa cho con Lan là con Cúc, con Yến nó nổi tam bành lên nha.
Cho nên đừng có ngồi đó mà nói với tôi là bảy phần nó còn nguyên. Cái này có bí mật, coi như bảy phần đó là phóng dật, ghen tị, bủn xỉn, nhiều chuyện, tùm lum hết nha. Cho nên mình thấy người ta bảy phần, hoặc là bảy tháng, bảy ngày, mình phải coi cái "bảy" của mình nó là bậy rồi. Bởi vì chỉ có ba-la-mật tới chín muồi thì mình mới đẩy dạt hết mấy cái thứ không cần thiết đó ra một bên. Điều này rất quan trọng, đó là Ngài có nói rằng: ông nông dân phải dọn đất, phải chọn giống, rồi phải chăm sóc đúng mức thì mới có kết quả trong ruộng đồng. Trong chuyện tu tập Tam học cũng y chang như vậy.
Chuyện này quan trọng nè: mình luôn luôn bị ám ảnh là tôi tu, tôi hỷ lạc, tôi phiền não, tôi tiến bộ, tôi chánh niệm, tôi trí tuệ. Nếu người ba-la-mật nhiều thì không có như vậy. Người ba-la-mật nhiều họ nghe nhắc một lần là nhớ: Ở đây chỉ có sự khổ chứ không có người bị khổ; ở đây chỉ có con đường dẫn đến đau khổ chứ không có ai tạo ra đau khổ; ở đây chỉ có sự hành trì chứ không có ai hành trì; và mai này chỉ có sự đắc chứng chứ không có ai đắc chứng. Đây là cái câu thần chú mà bắt buộc phải nhớ nha.
Nhưng mà 99,9% là không biết. Người Miến Điện hay người Việt Nam mình tiếp xúc, cứ gặp mình là họ "nổ". Cứ gặp tôi là họ nói đúng một câu. Hỏi: "Tu học lúc này ra sao?", thì họ nói: "Dạ, lúc này con hoan hỷ lắm, con thấy tiến bộ lắm". Mà hỏi tiến bộ chỗ nào thì không nói được. Mổ xẻ cho nó banh xác luôn, có nghĩa là mình phải vô ngã. Bởi vì nếu tiếp tục cái "tôi" đó thì nó văng lên tới mây luôn mà không biết mổ xẻ cái gì. Bây giờ quý vị ghi cái câu này mang về xăm lên người nè: "Nếu ta có cái đáng để khoe thì ta không còn muốn khoe nữa". Nhớ nha, nếu ta có cái đáng để khoe thì ta không muốn khoe nữa; còn khi ta còn muốn khoe thì ta không có cái gì đáng để khoe. Câu này quý vị phải xăm cho đúng chỗ, hoặc viết vô giấy rồi nuốt luôn cũng được. Đây là "bùa" của đạo Phật nhé, đây là một cái bùa rất linh để hỗ trợ cho tu tập.
Uống xong mấy gói với lại nuốt bây giờ, đây là tu ở trong Đạo Phật nhé. Đây là một cái câu rất là linh để hỗ trợ cho tất cả những người đang theo đuổi pháp học, pháp hành đều phải thuộc lòng.
Cứ nhớ cái này: Khi mà ta có cái đáng để khoe thì lại không còn muốn khoe nữa. Khi mà ta còn muốn khoe thì ta không có cái gì để đáng khoe.
Thời tiết lạnh nên uống mỗi ngày, một ngày ba lần. Uống cho đến khi nào mà nó hết cái bệnh khoe đó nha.
Bây giờ xong rồi, bây giờ đủ giờ. Chúc anh chị em một ngày vui vẻ.

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.
↑