Pháp Học Online
Bài 58 · Pháp thoại

Bài 58. Kinh Tăng Chi | Chương Ba pháp | Phẩm Ananda

Bản transcript pháp thoại đã được chỉnh dấu câu và trình bày lại để dễ đọc. Video YouTube đặt bên cạnh để đối chiếu khi cần; phần đọc chính là transcript bên dưới.

1:51:2019.754 từƯớc đọc 76 phútĐã xuất bản
Vị trí trong playlistBài 58 / 163 transcript đã xuất bản

Thuộc Chương Ba pháp . Dùng các nút bên dưới để quay lại danh sách, lọc theo chương hoặc tiếp tục bài kế tiếp.

Mốc nội dungNhấn để mở/thu gọn
  1. Các loại tu sĩ

    Phân biệt các hình thức tu hành và đặc điểm của từng nhóm tu sĩ trong bối cảnh Ấn Độ cổ đại.

  2. Ý nghĩa lìa bỏ tham sân si

    Giải thích tại sao việc từ bỏ ba độc tham, sân, si là cốt lõi của con đường giải thoát.

  3. Nguyên nhân khổ đau

    Phân tích tham sân si là nguồn gốc chính gây ra khổ đau và vòng luân hồi.

  4. Tu-đà-hoàn và dòng chảy tu tập

    Khái niệm Sotāpatti như bước vào dòng chảy không thể quay lui trong hành trình giác ngộ.

  5. Tâm thức và thiền định

    Mối liên hệ giữa chí, định và trí trong quá trình tu tập và phát triển tâm linh.

  6. Sự thấm nhuần giáo pháp

    Tầm quan trọng của việc đọc, nghe và trải nghiệm nhiều lần để hiểu sâu sắc kinh điển.

  7. Khuyến khích tu tập kiên trì

    Lời nhắn nhủ về sự cần thiết của lòng kiên trì và trí tuệ trong con đường tu học.

Transcript đã chỉnh

Hello các vị, xin chào các vị. Các vị nghe rõ không? Các vị cho xin bài mới. Có bài mới mình mới học tiếp.

Được rồi, bài mới. Mới có cái tựa thôi. Cái bài kinh đầu tiên của buổi giảng sáng nay là mình học về cái kinh... là kinh Channa. Có một ông du sĩ, một ông du sĩ Channa. Du sĩ, tiếng Pali gọi là paribbājaka. Cái paribbājaka này kể động từ là paribbajeti, có nghĩa là liệng bỏ, hay là quăng, hay là vất bỏ. Từ đó mới ra chữ paribbājaka, có nghĩa là cái người đúng là xả bỏ tất cả, lìa ra các ái, toàn diện.

Có nghĩa là sao? Có nghĩa là không còn cha mẹ, vợ chồng, con cái bên cạnh nữa, mà cũng không có tự viện, không có đạo tràng, không có tịnh thất, không có thảo am, lưu phòng nữa, mà đi lang thang. Cho nên mới có chữ “du”, du sĩ, giống như du ca vậy đó. Du sĩ là cái gì cũng liệng hết.

Thật ra, ở Ấn Độ có nhiều loại tu sĩ như vậy. Chẳng hạn như tāpasa, là cái loại đạo sĩ sống trong rừng. Tāpasa từ chữ tapeti, có nghĩa là thiêu đốt, có nghĩa là người tu là người thiêu đốt tất cả phiền não. Đó là nghĩa gốc trong từ ngữ, còn nghĩa đen bên ngoài thì chỉ cho mấy ông tu trong rừng sâu, giữ sáu giới, tức là năm giới cộng với giới ăn chiều, thành ra sáu giới. Nhớ không? Cái đó gọi là tāpasa.

Còn mấy ông du sĩ, paribbājaka này, thì coi như không có theo một tôn chỉ, tín ngưỡng nào đặc biệt hết. Ông cứ đi lang thang, cốp nhặt bên này, bên kia. Ông không có một tôn chỉ, cương lĩnh tâm linh nào đặc biệt, cố định hết.

Sẵn mình nói về khái niệm du sĩ một chút. Ở Ấn Độ có nhiều loại như vậy. Rồi còn có một loại du sĩ nữa là brāhmaṇa. Mấy ông này có học hành giáo điển Veda, rồi có tự viện, rồi bồng thờ lửa, cũng tế thần linh mỗi ngày.

Nhưng mà trong đám Bà-la-môn, nó lại chia ra hai, ba nhóm nữa. Có nhóm thì vừa tu hành mà có vợ, có con, có tài sản, có trang trại, có chuồng trại, có nông trại đầy đủ, có tài sản lớn, y như một đại gia vậy đó. Nhưng mà vừa làm đại gia mà vừa tu.

Còn có ông thì coi như chỉ một đời trì tụng Veda, thờ cúng thần lửa, nhưng mà sống độc thân. Nhớ nhé, Ấn Độ nó nhiều tôn giáo như vậy.

Rồi bây giờ, cái ông Channa này, ông tên là A-nan. A-nan mới hỏi ngài: “Muốn hỏi gì chứ? Tôi nghe nói hình như cái con đường tâm linh mà các ngài đang theo đuổi đó, theo lối, theo lối là cái gì, là giáo thuyết của Sa-môn, của Thế Tôn đó, thì nội dung đó là hướng tới sự lìa bỏ tham, sân, si, có đúng như vậy hay không?”

Ổng hỏi gọn như vậy, nhưng cái ngụ ý của ổng là: “Lìa bỏ, lìa bỏ là như thế nào?” Chứ còn nói suông thì nghe nó đơn giản quá. Và vì đâu? Vì trong nội dung giáo pháp, hướng đến cứu cánh là lìa bỏ tham, sân, si. Tôi muốn nghe cái đó đó.

Ngài nói rất là gọn. Ngài nói là lìa bỏ tham, sân, si chỉ vì tham, sân, si là ba nguồn chính yếu của tội khổ nhân gian. Chính vì có lòng tham... Chỉ nói chuyện trước mắt là phải sống trong tham, trong sân, trong si, coi như đang đi theo con đường hại mình, hại người.

Nói chuyện trước mắt là phải sống trong tham, trong sân, trong si, thì coi như đang đi theo con đường hại mình, hại người. Xưa giờ, trong vô số kiếp, lưng ngồi mình sống thất niệm, mình sống không có trí tuệ. Thường xuyên là như vậy, 99% thời gian là mình sống không có niệm, không có tuệ, không có tàm, không có quý, không tự tâm, không chánh niệm.

Cho nên mình không có ngờ, mình không có nghĩ ra một số chuyện sau đây. Đó là hãy sống bằng phiền não là dứt khoát là khổ. Chưa biết cái tội báo nó ra sao, chưa biết, chỉ biết trước mắt là sống bằng phiền não là khổ. Mà trong khi đó, mình luôn luôn sống bằng phiền não, thì có nghĩa là mình luôn luôn sống trong đau khổ.

Và càng sống trong đau khổ thì mình lại càng tìm giải pháp giải quyết cái đau khổ đó bằng khổ trong khổ, khổ trong khổ, khổ trong khổ, khổ trong khổ. Tức là cái khổ mà từ phiền não đó, ngay trong hiện tại, mình đã không thấy rồi, mình đã không để ý rồi.

Và cái điều nữa là, từ chỗ không thấy cái khổ hiện tại thì làm sao mình đủ sức thấy cái khổ trong tương lai do phiền não tạo ra?

Rồi từ đó, từ hai cái đó, mình lại có một cái nữa. Từ kiểu sống phiền não đó, mình lại rơi vào cái thứ ba nữa. Đó là sao? Là mình không ngờ rằng trong một ngày, phiền não của mình nhiều như vậy.

Thứ nhất là mình không ngờ rằng phiền não của mình dày đặc như vậy. Thứ hai là mình không ngờ được là mình đang sống trong đau khổ chỉ vì mình đang sống trong phiền não. Nếu không đủ sức thấy cái tội khổ của phiền não hiện tại thì làm sao mình thấy được quả báo tương lai của nó?

Ba cái không này nè. Cái không thứ nhất là không ngờ mình đang sống trong phiền não liên tục, thường trực. Cái không thứ hai là mình không nghĩ ra được một chuyện sờ sờ đó, nghĩa là hễ còn phiền não là còn khổ, khổ trước mắt đó. Và cái thứ ba, cái không thứ ba là khi không thấy được cái khổ hiện tại thì làm sao mình thấy được cái khổ tương lai?

Lâu lâu mới có một người nhảy ra khỏi bóng tối của phiền não để chứng đắc thiền định, có được túc mạng minh, có được trí tuệ để thấy được là có đời sau, có kiểu khác; thấy có tội báo, luân hồi. Thấy làm lành thì được đi lên các cõi nhân thiên, bớt khổ một chút; còn làm ác thì có khổ, khổ toàn tập, khổ 100%, khổ toàn diện.

Không có thấy đây là lý do vì đâu, lý do vì đâu mà bài giáo pháp của Đầu sư chúng tôi luôn luôn kêu gọi: lìa bỏ tham, lìa bỏ sân, lìa bỏ si.

Tại sao mà phải lìa bỏ tham? Mình đã học, đã nghe không biết bao nhiêu lần: tham là chạy theo cái mình muốn. Cái muốn còn có hai: muốn có cái này, muốn có cái kia; rồi cái nữa là muốn đừng có cái này, đừng có cái kia. Mà các vị tưởng tượng trong cuộc đời của các vị, bị hai cái ước muốn này chi phối bao nhiêu phần trăm?

Mà các vị tưởng tượng trong cuộc đời của các bạn bị hai cái ước muốn này, toại nguyện bao nhiêu phần trăm? Chỉ cần nghĩ đó là biết tại sao tham là khổ, mình nghĩ ra ngay tại sao tham là khổ mình, khổ người. Bởi vì chuyện đơn giản là cái tham nó có hai: muốn được cái này, muốn được cái kia; muốn đừng có cái này, muốn đừng có cái kia.

Mỗi hai cái món này trong đời của mình, mình được toại nguyện bao nhiêu lần? Có bao nhiêu phần trăm cái mà mình muốn tránh mà mình tránh được? Có bao nhiêu một trăm cái mình muốn có mà mình có được?

Trong đời của mình, có biết bao nhiêu người nhe răng ra mà cười, tưởng như sung sướng. Nhưng mà thật ra có vô vàn những cái chuyện mà họ muốn tránh mà tránh không được. Có bao nhiêu cái họ muốn mà muốn không được. Chỉ hai cái đó là mình đã thấy khổ trùng điệp rồi.

Rồi tới cái thứ hai, đó là tâm sân. Tâm sân nó là sự bất mãn trước cái trần cảnh. Tâm sân nó cũng có hai. Nó khổ là vì nó bất mãn, là vì nó không có được cái mà nó muốn. Và cái thứ hai là mình bất mãn là vì mình phải chấp nhận cái mà mình ghét.

Hai cái này làm cho người có tâm sân luôn luôn khổ. Thấy chưa? Nó sân, nó có hai: một là nó khổ là vì mình phải chấp nhận cái mình ghét; hai là mình không có được cái mình thích. Thế là mình cứ sân. Cái sân đó gọi là sự bất mãn trước trần cảnh.

Mà như vậy, chỉ riêng cái sân này thôi đó, các bạn tưởng tượng nó khổ cỡ nào. Nó khổ ngập trời, nó khổ vô bờ, vô bến, vô lượng, vô biên. Chỉ riêng cái sân này là đã thấy nó khổ rồi.

Rồi qua tới cái si. Cái si là sống trong cái tâm thức bóng tối, có nghĩa là không thấy được cái bản chất thật của đời sống. Nó là cái nền cho hai ông kia. Chính vì có sống trong cái bóng tối của nhận thức, không thấy mọi thứ vô ngã, vô thường, cho nên một đời cứ đi trốn chạy cái này, kiếm tìm cái kia. Đó là do ông si, nó mới tác động cho tham, cho sân có mặt.

Chính cái ông si này mới xui khiến cho tham có mặt, si, sân có mặt. Như vậy thì cái ông si này có phải là tội khổ hay không? Dứt khoát rồi. Ông là mẹ đẻ của hai ông kia mà sao mà không phải được.

Đây là lý do vì đâu mà tham, mà sân, mà si nó được gọi là tội khổ trong luân hồi. Và nó chính là cái đối tượng triệt tiêu, đối tượng lìa bỏ của giáo pháp chư Phật. Nghe kịp không?

Rồi ông cư sĩ nghe tới đó, ông thấy đã rồi, ông dịu rồi. Ông ấy hỏi thêm, ông ấy nói: “Bây giờ nghe ớn quá rồi đó, nhưng mà cách nào mình phải bỏ tham, bỏ sân, bỏ si?”

Tu tập Tam học cũng là Bát Chánh Đạo. Tu tập Chỉ Quán cũng là Bát Chánh Đạo. Tu tập Thất Giác Chi, tu tập Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tinh Tấn, Niệm, Định, Tuệ; tu Tứ Như Ý Túc: Dục, Cần, Tâm, Quán; tu tập Tứ Niệm Xứ: thân, thọ, tâm, pháp, đều là Bát Chánh Đạo hết. Nhớ nha, nhớ cái này.

Chứ còn cứ khư khư con số tám mà...

Tập Tứ Niệm Xứ, thân, thọ, tâm, pháp đều là Bồ-đề phần đạo hết, nhớ nha, nhớ cái này. Chứ còn cứ khư khư con số tám mà thì… Trật thì không trật, nhưng mà nó thiếu, nha. Tại mình cứ ôm con số tám không thì kẹt lắm, nha.

Phải nhớ rằng tất cả có mấy nhóm trong 37 Bồ-đề phần, thì mấy cái nhóm này chính là nhóm kia, nhưng mà tùy duyên, tùy căn cơ chúng sinh. Có khi Thế Tôn gom 37 còn có hai thôi, đó là chỉ và quán. Cái này mình học rồi. Có khi Ngài gom còn có một thôi, đó là không có dễ duôi.

Không có dễ duôi là sao? Tức là không có dễ duôi trong các pháp thiện, không có dễ duôi trong các pháp ác. Không dễ duôi trong pháp thiện là không có chê điều thiện nào là nhỏ. Không dễ duôi trong các pháp ác có nghĩa là không có chê điều ác, không có coi thường điều ác nào là nhỏ.

Mình dễ duôi là tại vì mình thấy cái thiện này nhỏ quá, mình không thèm làm; cái ác kia thấy nó nhỏ, cho nên mình không thèm tránh. Mà thật ra làm gì có cái thiện nhỏ, làm gì có cái ác nhỏ. Bởi vì cái thiện, cái ác giống như là lửa.

Lửa thì mình lấy mắt mà nhìn, đúng, có đốm lửa nhỏ, có đốm lửa lớn. Nhưng mà tác dụng của mỗi ngọn lửa thì hình như không có lớn, không có nhỏ, phải không ta?

Rồi, nói mới có hiểu không? Lấy mắt mà nhìn thì có đốm lửa lớn, có đốm lửa nhỏ. Nhưng mà trong tác dụng thực tế thì làm gì có lớn, làm gì có nhỏ.

Các vị không tin phải không? Các vị cầm điếu thuốc, lại cây xăng, mở cái nắp xăng ra thì tự nhiên đốm lửa nó lớn nhỏ, biết liền, nhé. Mà có ngon, có cái chai này mới ngon nè: lại cây xăng, mở cái nắp bình xăng của mình ra rồi mới bật quẹt, coi cây xăng của mình còn nhiều hay ít, nhé.

Một trong những bản cáo phó ngắn nhất trên thế giới đó là bản cáo phó bên Cali. Đó là: “Đêm qua, lúc 9 giờ 21 phút, trên đường cao tốc 215 ở cửa Bắc Cali, Nguyễn Văn Dương, trong lúc đang chạy xe lộ, nghe xe trục trặc, bèn tấp vào lề đường, mở nắp xăng, bật quẹt xem xăng còn hay hết.” Chấm. “Nguyễn Văn Dương, 21 tuổi.”

Thì lúc đó các vị thấy, các vị có thấy là lửa nó không có lớn, nó không có nhỏ không? Nhìn thì thấy có lớn, có nhỏ, nhưng mà thật ra làm gì có. Làm gì có.

Rồi, không như mình thấy bệnh nè. Ai có biết chút ít về bệnh lý, về y học, cái mầm ung thư đó mình đâu có đánh giá nó là lớn hay nhỏ. Chỉ cần bác sĩ nói là vô bệnh ung thư là đủ rồi. Dù có ung thư óc, ung thư máu, ung thư gan, ung thư phổi gì đó, nó đâu cần lớn nhỏ gì đâu. Chỉ cần bác sĩ phán có ung thư là được rồi, có tế bào ung thư là được rồi.

Mà các vị có biết là một cái tế bào ung thư nó nhỏ xíu xiu à? Nó nhỏ như cái xeo, tế bào mình nó chút xíu, đâu có lớn như là gì. Nhưng mà các vị có biết nó có thể ảnh hưởng đến thế giới hay không? Các vị có tin điều đó không? Trong room này, ai tin điều đó không ta?

Cái tế bào ung thư, tôi nói cho các vị tin nè. Đó là cái tế bào ung thư trong người của thằng cha Steve Jobs. Biết thằng cha đó không ta? Thằng cha mà vua Apple, vua iPhone á.

Các vị có biết là cái chết của thằng cha, nếu nói về chuyện cá nhân thì nó không có đáng kể. Nhưng mà phải nói cái sự ra đi của ổng ảnh hưởng đến công nghệ điện toán thế giới kinh khủng lắm. Cho nên đừng có chê cái tế bào ung thư là nhỏ nha, bởi vì từ cái tế bào đó mà nó đánh gục một nhân vật kiệt xuất của thế giới.

Đấy. Và cái sự ra đi của ổng ảnh hưởng, làm chao đảo đến bao nhiêu thị trường stock trên toàn cầu, biết không? Nha.

Cái sự ra đi của ổng đó đã ảnh hưởng, làm chao đảo đến bao nhiêu thị trường stock trên toàn cầu, biết không? Và bản thân người đang nói chuyện đây cũng bị ít nhiều ảnh hưởng. Từ ngày Steve Jobs mất đó, cái design của iPhone nhìn xấu ác kìa. Ừ, biết không? Đấy.

Cho nên, đứng vào ngày gì, khi mình nói đến con đường tu học ấy, thì mình phải nhìn nhận đó là Phật pháp có nhiều cách nói, tùy duyên, tùy duyên. Có khi Ngài nói là tám muôn bốn ngàn pháp môn. Có khi Ngài nói là ba tạng. Có khi Ngài nói là chín bộ pháp. Có khi Ngài nói là ba mươi bảy phẩm Bồ-đề. Còn khi Ngài nói là Bát Chánh Đạo. Có khi là Thất Giác Chi, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần. Còn lúc Ngài nói là Tam Học. Có lúc Ngài nói là Chỉ Quán. Có lúc Ngài nói chỉ còn có một thôi, đó là không phóng dật.

Đây là bài kinh một. Xong rồi. Giỏi rồi. Giờ học tiếp bài khác. Học tiếp bài khác. Đó là cái bài gọi là... đó, mà các bạn thấy không? Cái bài kinh này, nếu mà mình đọc chính kinh thì nó không có lớn chuyện như vậy đâu, quý vị. Nhưng mà tới hồi mình xé qua bên chú giải một chút là lòi chuyện. Bài kinh này rất là sâu. Sâu lắm. Bài kinh này có thể là khuôn vàng thước ngọc cho hành giả, chứ không phải là chuyện đùa, sâu lắm.

Nhưng mà khổ cho mình, đọc thẳng chính kinh thì mình thấy lặng trang, không có cái gì đáng để ý hết.

Bài kinh số hai, đó là bài kinh số hai của buổi giảng hôm nay. Đó là bài kinh Tà Mạng Ngoại Đạo. Nghe cái tựa thì nó hơi tối nghĩa. Tà mạng ở đây tức là tên gọi, mà tên gọi có nghĩa là ngoại đạo đó, ngoại đạo đó. Nhưng mà trong tiếng Việt, trong tiếng Hán, để “tà mạng” thế này thì kỳ, nên tà mạng nghĩa là ngoài đạo, tà mạng hay là bàng môn, tà đạo.

Có một vị đệ tử của mình, ngoại giáo. Ngày kia, có một ông tín đồ của ngoại đạo đến gặp Ngài.

Cái bài kinh này nó có những cái đặc biệt mà nếu mà mình có trí, có niềm tin, thì mình lại nhìn bài kinh này từ góc độ rất là đẹp. Còn không đọc bài kinh thì điếc con ráy luôn, nha.

Ông hỏi Ngài câu hỏi như thế này: “Pháp của những ai được khéo thuyết, những ai khéo hành trì ở đời, những ai khéo vượt qua ở đời?”

Bây giờ câu này mình diễn dịch qua tiếng Việt bây giờ cho nó sáng. Ông hỏi vậy chứ: “Cái giáo thuyết nào được xem là xuất sắc? Cái đạo nào được xem là hay nhất? Ai là người có khả năng đưa ra một đường hướng tu hành ngon lành nhất? Ai là những người tu hành ngon lành nhất và có khả năng đưa ra những đường hướng tu hành ngon lành nhất?”

Nguyên đoạn dài sọc, Ngài chỉ trả lời rất ngắn gọn. Ngài nói rằng, có tu hành kiểu gì đi nữa, có ăn nói hay cỡ nào đi nữa, thì ở đây có hai chuyện cần phải lưu ý.

Cái người nào mà hành trì con đường dẫn đến chuyện diệt trừ tham, sân, si, thì người đó được xem là hành trì con đường đúng đắn nhất.

Cái giáo nghĩa nào, cái học thuyết nào mà dẫn đến mục đích đoạn trừ tham, sân, si, thì giáo nghĩa đó được xem là giáo nghĩa đẹp nhất, tốt nhất.

Chỉ có hai chuyện đó thôi. Có nghĩa là cá nhân nào mà hành trì, nhắm đến mục đích đoạn trừ tham, sân, si, thì cá nhân đó được xem là tu hành ngon lành nhất, đủ tư cách để giảng nhất.

Và cái nội dung hướng dẫn nào mà có mục đích là diệt trừ tham, sân, si, thì nội dung đó, giáo thuyết đó, con đường đó đáng được xem là... Vì đâu vậy?

Mục đích là việc trừ tham, sân, si. Cái nội dung đó, cái giáo thuyết đó, cái con đường đó đáng được xem là vì sao vậy?

Nghe chừng đó nội dung thì thấy cái bài kinh nó không có ghê. Nhưng mà nó ghê chỗ này nè, bà con. Nó ghê chỗ này nè: Có không biết là bao nhiêu người mang tiếng là tu Phật, học Phật, tin Phật, thờ Phật, đệ tử Phật, con Phật, mà lại không biết cái bài kinh này đã đành rồi, mà cũng không biết cái nội dung nó mới ghê.

Chứ có nhiều khi mình không biết cái bài kinh đó, nhưng mà cái nội dung bài kinh đó thì mình có biết. Còn đằng này, tôi có không ít Phật tử Việt Nam không đọc bài kinh này, tôi mới trách. Nhưng mà cũng không từng nghĩ đến, không từng nghĩ qua, không từng biết tới nội dung này.

Đó là cái người mà được xem là tu hành đúng đắn nhất phải là cái người đang hành trì cái con đường diệt trừ tham, sân, si. Và cái giáo pháp mà được xem là hay ho nhất cũng phải là cái giáo pháp mà có nội dung diệt trừ tham, sân, si.

Là vì sao? Là vì, các bạn nghe chậm lại nè: Đi chùa, bố thí, cúng dường mà cầu quả nhân thiên, thì như vậy không phải là đang đi trên cái con đường diệt trừ tham, sân, si.

Bố thí, cúng dường, hành thiền, giữ giới mà mê danh, mê lợi, mà lại hướng đến cái chuyện cầu danh, cầu lợi, hướng đến cái việc sở hữu này nọ, thì chắc chắn đó không phải là đang đi trên cái con đường diệt trừ tham, sân, si nha.

Rồi thêm chút nữa: Giữ giới ba mớ thấy mình hay, học đạo ba mớ thấy mình hay, ngồi thiền ba mớ thấy mình hay. Rồi ngay cả đắc thiền, cảm thấy sung sướng, đam mê trong cái thiền chứng đó, để rồi chết sanh về các cõi Phạm thiên. Sống hết tuổi thọ đó, rớt cái đùm trở lại đơn vị gốc.

Thì như vậy đó, lấy mắt mà nhìn thì mấy cái hạng này ngon thiệt đó: với giới trong sạch, thiền định tinh chuyên, miên mật. Nhưng mà cái lòng nó thật sự chưa có chán sợ sanh tử, thì như vậy vẫn chưa được gọi là người đang đi trên con đường diệt trừ tham, sân, si.

Là vì sao? Vì còn mê ở trong cái thiện pháp: mê danh, mê lợi, mê quyền lực, mê tiếng tăm, mê nhan sắc. Thì đó là mê trong ác pháp, là đúng rồi. Nhưng mà mê ở trong những cái thành tựu, những cái sở đắc, sở chứng của mình, thì trời ơi, nói lại là mê kiểu khác. Tôi nói không biết là bao nhiêu lần.

Ví dụ như ngôi nhà đang cháy, mình chui xuống dưới sàn cũng là một cách giải quyết vấn đề. Mình leo lên nóc cũng lại là một cách giải quyết vấn đề. Nhưng mà hai cách này không có cách nào là thông minh. Chỉ có cách thứ ba thôi: đó là ra khỏi căn nhà đang cháy.

Chứ còn leo lên cao hay là chui xuống thấp trong một căn nhà đang cháy thì nó không phải là cái giải pháp thông minh. Các bạn nghe kịp không? Nó lớn chuyện lắm, các bạn biết không?

Không biết bao nhiêu lần tôi đã nói: Đã là bị xiềng thì dầu cho cái dây xiềng đó, cái dây xích đó, nó có bằng vàng, cẩn kim cương, hay là cái dây xiềng bằng đồng, bằng sắt, thì vẫn cứ là bị xiềng.

Thì dù chúng ta có đam mê trong những thứ rẻ tiền như là danh lợi, nhan sắc, sức khỏe, tiếng tăm, quyền lực, quan hệ xã hội, tình cảm cá nhân, thì tất thảy cũng đều là đang có mặt trên con đường tham, sân, si.

Chúng ta đam mê trong những sở chứng, những thành tựu, những sở đắc của mình về tâm linh, về tinh thần, như giới luật, thiền định, kiến thức, thì lại là một kiểu đam mê nữa. Nhà nó cao hơn một xíu, giống như nhà đang cháy, leo lên nóc trốn vậy đó.

Định, kiến thức... thì lại là một kiểu đam mê nữa. Nhà nó cao hơn xíu, giống như nhà đang cháy, leo lên nóc trốn vậy đó. Nhưng lát nữa nó cháy cũng lên tới đó thôi, nghe?

Mà nói cho vui, cho biết tuổi biết đời, có ai thấy nhà cháy bao giờ chưa? Cái nhà mà đang cháy, còn chỉ leo lên nóc, có an toàn không? Thì nó bệnh hơn cái đứa chui dưới sàn thôi, chứ còn nhà nó đang cháy mà bảo leo lên nóc đi, thì tôi nói thiệt, tôi dọt ra ngoài cửa rồi chứ tôi không dám leo lên nóc nữa.

Lát sau, một là nó cháy tới; mà nếu nó không cháy tới, nội ở dưới mà nó sụm rồi thì cái nóc nó cũng rớt xuống rồi. Cũng là xem như nhau. Mà trong khi mình đa phần tu hành, mình không có thấy chỗ này. Mình cứ tưởng là leo nóc là an toàn. Thật ra, mình đam mê đồng giới, thiền định, kiến thức, Phật pháp, thì nó là cái gì? Là leo lên nóc đó. Nó ngon hơn cái đứa mà đam mê danh lợi, sắc, tài, tình ở dưới. Đúng, nó cao hơn chứ, nó phải cao hơn. Nhưng con đường mà Đức Phật đề nghị cho chúng ta chính là con đường mở cửa, dọt ra ngoài, thoát ra khỏi cái đám cháy, chứ không có lẩn quẩn quanh trong cái đám cháy.

Bởi vậy, con đường của Ngài mới được gọi là con đường dễ thoát. Ngài không có dạy mình trèo lên hay là tuột xuống, mà Ngài dạy mình đi ra. Bởi vì nhà đang cháy mà trèo lên, tuột xuống cũng vậy thôi.

Như vậy thì để trả lời câu hỏi của ông du sĩ này, của các ông cư sĩ này, Ngài An nói là: Ổng hỏi cái con đường nào là cái con đường đẹp nhất, rồi ai là người xứng đáng nhất để tuyên thuyết một giáo thuyết? Ngài nói, giáo thuyết đẹp nhất chính là giáo thuyết dẫn đến việc lìa tham, sân, si. Và người xứng đáng nhất để tuyên thuyết một con đường hành trì, lại cũng là người tối thiểu đang trên con đường lìa bỏ tham, sân, si.

Và tôi nhắc lại lần nữa, tham, sân, si nó có nhiều cấp độ, nhiều chủng loại. Tham, sân, si cấp thấp thì đưa mình vào bốn cõi đọa. Tham, sân, si cấp cao đưa mình vào các cõi dục, thiên, nhân loại. Tham, sân, si một bậc cao hơn nữa, nó đưa mình về các cõi phạm thiên.

Và đa phần chúng ta, biết đạo hay không biết đạo, cứ quẩn quanh trong các niềm đam mê. Mà có đam mê thì là có khổ. Vì tập đế ở đâu, khổ đế đó. Muốn hết khổ thì phải lìa tập. Khi nào hết tập thì mới hết khổ. Sống trong ba nhận thức này được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Đó là nội dung Tứ đế, các vị nghe kịp không?

Rồi, tiếp tục. Tôi không biết tôi nói như vậy trong rừng có nghe kịp không, có theo dõi kịp không. Alo, các bạn có nghe kịp không?

Đó, nội dung nó gọn như vậy đó, nó gọn như vậy. Mà cứ nghe đi nghe lại cái này. Để coi, bây giờ tôi để ý, mình đang học phần ba, pháp ba chi. Mà trong Tăng Chi nữa là nó mười một chi. Nếu mà học nhanh, học mỗi ngày thì nó mau lắm.

Nhưng sở dĩ trong thời gian này tôi dạy mỗi ngày là bởi vì tôi biết trước thời gian sắp tới có thể là tôi sẽ vắng mặt. Phải vắng mặt ít lâu, không có gì mờ ám, bí mật hết, mà bởi vì công việc thôi. Tại vì có những chỗ tôi ở nó không được tiện, không có chỗ ngồi đàng hoàng để giảng. Nhiều chỗ nó ồn, rồi lăng xăng, lích kích, rồi chật, rồi cái chỗ ngồi nó không như ý. Rồi cái bối cảnh nhìn nó không muốn nói. Mấy chỗ này hay nè, ngồi tự nhiên nhìn nó muốn nói. Có nhiều chỗ nhìn nó muốn nói ngộ lắm. Nhiều chỗ nhìn nó muốn nói. Các bạn có tin không?

Ờ, tự nhiên nhìn nó muốn nói à. Có nhiều chỗ nhìn nó muốn nói ngộ lắm. Nhiều chỗ nhìn nó muốn nói: “Các bạn có tin nó không?”

Bài kinh tiếp theo là cái kinh Mahānāma.

Rồi, cái chuyện mình ngưng lại ông này một chút xíu. Cái ông này nè. Ông này là một người cũng chú họ của Đức Thế Tôn. Cái chuyện đời của ông này cũng ba chìm bảy nổi, chính với linh đinh. Ông ấy là một ông hoàng, nhưng mà khi mà dòng họ Thích-ca bị tàn sát thì ông ấy tự trầm.

Biết tự trầm không? Tự trầm có nghĩa là ông ấy cột tóc ông ấy vào trong cái ngón cái, rồi ông ấy nhảy xuống hồ nước, rồi đó, ông ấy chết. Nhưng mà do cái mạng của ổng đó, cái kiếp đó là kiếp đắc A-la-hán. Bởi vì A-la-hán thì không có cách chi mà chết được hết. Kiếp chót á, chưa đắc thì không có cửa nào chết hết; đắc vừa xong thì muốn chết kiểu gì cũng được. Nhưng mà đó là kiếp chót thì không có cách chi chết.

Cho nên khi mà ổng cột búi tóc ổng vô trên đầu của con chim gái, ổng nhảy xuống dưới hồ để ổng tự trầm. Xong nó nói luôn, cái nước Việt Nam bây giờ đó, sau bao nhiêu năm mà đỉnh cao trí tuệ đó, tiếng Việt nó xài “tự sát”, kiểu gì nó cũng kêu là “tự vẫn”.

Thấy mình dốt quá, mình xài cha cái chữ “tự tử” hoặc “tự sát” đi. Chứ còn xài cái chữ khác nó dễ nhầm lắm. Tự vẫn là gì? Tự vẫn có nghĩa là không phải do ngẫu nhiên, không phải là do người khác xô đẩy, mà do chính mình chọn cái chuyện rơi xuống để chết. Cái đó mới gọi là tự vẫn, có nghĩa là tự sát bằng cách gieo mình xuống từ chỗ cao. Còn tự giảo là tự mình treo cổ.

Mà trong nước bây giờ họ xài nhiều cái từ vui lắm. Họ xài cái chữ “cưỡng hôn”, có nghĩa là mình hôn người ta trong lúc người ta không thích. Mà lúc đầu á, thì có người họ còn xài cái chữ “cưỡng hôn” trong ngoặc kép. Họ kép có nghĩa là họ muốn người ta biết rằng chữ đó mang tính hài hước. Nhưng mà từ từ họ xóa ngoặc kép đi, và bây giờ thì trong nước họ dùng phổ biến cái chữ “cưỡng hôn” đó, có nghĩa là mình hôn người ta khi người ta không thích, tức là mình ép người ta để mình hôn người ta đó.

Các bạn không có tin thì vào Google đánh cái chữ “cưỡng hôn” coi có phải như vậy không? Còn cái chữ “tự trầm” có nghĩa là tự mình nhảy xuống dưới nước để mình chết. Tự trầm, tự ải, tự giảo, tự tử, tự vẫn, tự sát, mà cứ xài chữ mà không có tra tự điển, không có biết mà thấy lạ lạ là nhảy vô xài, ai tới kiếm nữa.

Rồi thì ổng nhảy như vậy là do ổng không thể chết được trong lúc ổng chưa có chứng. Cho nên Long Vương mới rước ông xuống dưới, ở dưới bảy năm, ở dưới Long Cung. Tại sao ông ấy mới trở lên, viên sức gia, đắc A-la-hán?

Đây là nói về ông này. Và ông này là một trong những nhân vật có công lớn với Phật giáo ở chỗ này. Ngoài cái việc hộ trì Đức Phật và chư Tăng, thì ông ấy coi như là người đặt ra những câu hỏi hay, không có chỗ nào để chê hết.

Nó hay ở đây có nghĩa là gì? Nó là những câu hỏi thiết thực và rất là quan trọng cho hàng Phật tử cư sĩ nói chung và tất cả Tăng chúng nói riêng, mà người ta không ít ai hỏi.

Ví dụ như hỏi thế này: Cách hộ niệm cho người cận tử là sao? Mà bây giờ nó lạ một chỗ là trong Phật pháp đã đến hơn nửa tuổi thọ rồi, cho nên nó là sao lạ luôn. Tôi không có nghe chư Tăng thời trước nhắc đến cái đó.

Thực pháp là đã đến hơn nửa tuổi thọ rồi, cho nên nó là sao lạ luôn. Tôi không có nghe chư Tăng thần tử nhắc đến cái đó. Cứ đè nó ra là tụng, nào là nhờ quý Đức Phật, báo Tăng, báo chư thiên gia hộ cho vong linh… Cái đó là kiểu ngoại đạo, tôi nói thẳng luôn.

Còn cái hộ niệm cho người cận tử là mình phải giảng cho họ nghe. Nếu họ nghe không được thì coi như cho họ ra đi trong sự im lặng. Chứ họ đã ngáp ngáp, tay bắt chuồn chuồn, thì đọc chỉ là quấy động cái không gian yên tĩnh của người sắp ra đi. Ôm khóc, kể lể, kêu réo cũng bậy. Ê a tụng ầm sùm mà cả người tụng lẫn người nghe không hiểu gì hết cũng là bậy. Cứ lần đến cái giờ là đè người ta ra tụng, la đời như vậy.

Dạ, ông hỏi Thế Tôn về cách thức hỗ trợ trợ niệm cho người cận tử. Câu đó rất là hay. Quả là ông hỏi Đức Phật một lần:

“Bạch Thế Tôn, nếu vì tai nạn bất trắc mà con ra đi đột ngột, thì chuyện tái sanh của con sẽ ra sao?”

Đó, mấy câu rất là hay. Đức Phật nói ngay ở miệng của Ngài.

Có lần ông đi đến hầu Phật. Rồi có con voi đi nhầm vào mùa phát dục. Voi cũng có mùa phát dục. Chó tháng bảy, mèo tháng ba, người ta nói vậy. Nhưng con voi thì một năm nó cũng có cái tháng phát dục.

Các bạn biết, khi mà cơn nguy nan của mấy ảnh tới rồi thì kinh khủng lắm. Trung Bộ Kinh mới nói rằng trên đời này có những đối tượng rất khó khống chế:

Một là ông vua khi bị xâm phạm lãnh thổ.

Hai là phụ nữ khi bị cướp tình cảm.

Ba là con voi khi nó bị phát dục. Lúc đó mà không cho nó giải quyết là nó phá banh hết.

Ông voi này tới bữa đó đang lên cơn, ông phá chuồng, bứt xích, giọt ra ngoài. Ông rống, ông cuốn, ông quật, ông quăng, ông chà, ông giày, ông xéo biết bao nhiêu người.

Lúc ông đang trên đường đến lễ Phật nghe Pháp thì đám thị vệ bị sốc, đưa ông vào trong một chỗ an toàn để lánh nạn. Lát sau, đám nài cũng tìm cách khống chế được, kiểm soát được con voi đó. Ông qua một cơn cuồng nộ, rồi vào lạy Phật và kể lại chuyện đó.

Cái chết bất trắc thì sao mình nói trước được để mình tránh? Sao mình lường được? Có ai lường trước được đâu?

Nhưng với một người mà tu hành bình sinh, các bạn có nghe không? Nghĩa là khi cái lu dầu qua sông, mà lỡ vì một lý do nào đó cái lu bị bể, thì những mảnh vỡ bằng gốm cứ chìm xuống sông, nhưng dầu thì cứ nổi lên.

Cái ví dụ này tôi chịu quá, tôi chịu cái ví dụ này quá. Nghe nói kẻ tu hành thường xuyên giống như cái lu dầu vậy đó. Có chuyện gì thì những mảnh vỡ cứ chìm xuống đáy sông, đáy biển, nhưng dầu thì cứ bền nổi lên thôi.

Kẻ mà thường xuyên có vật trung tâm, thì coi như có chuyện gì đó, thân xác tan tành, như tai nạn máy bay, xe cộ gì đó, nhưng phần dầu cứ nổi lên thôi.

Tôi đã nói không biết bao nhiêu lần: nước có ba dạng, chất lỏng, chất khí và chất đặc, đúng không? Chất đặc là nước đá, băng, tuyết. Ở dạng khí là hơi nước. Còn ở dạng lỏng là những cái mà mình có thể rửa ráy, tắm, uống, ăn, thì gọi là chất lỏng.

Nước mà ở dạng lỏng thì luôn luôn có khuynh hướng tìm về chỗ thấp.

Rửa tắm rồi uống ăn đó thì gọi là nó ở trạng lỏng. Nước mà ở dạng lỏng thì luôn luôn có khuynh hướng tìm về chỗ thấp. Mà nước ở dạng hơi, dạng khí thì luôn luôn bốc lên, dù mình có đè, có nén cỡ nào đi nữa.

Ở đây có ai xài cái nồi áp suất không? Cái nồi pressure cooker, biết không? Cái nồi nén, cái nồi áp suất. Có nghĩa là mình đã che chắn rồi, chèn nhét cỡ nào đi nữa, kín kẽ đến mức nào đi nữa, nhưng mà đã là hơi nước thì nó tìm đủ cách để xì, để bốc lên trên. Chưa gặp hơi nước nào mà chui xuống dưới chân nó nha. Dù cái lỗ thoát có chĩa xuống dưới thì hơi nó cũng bật lên trở lên, đúng không ta?

Thì cái tâm mà tu hành, khi mà nó đã nhẹ nhàng rồi, thì nó chết kiểu gì nó cũng bốc hơi. Nó chết trên trời, nó chết dưới nước, nó chết trên lầu, nó chết trong nhà, nó chết ngoài nhà tắm, nhà xí, nó chết ngoài đống rác, thì tự nhiên nó cũng bốc hơi.

Cho nên tôi coi cái bài kinh đó. Bài kinh là: “Giả sử có phải ra đi đột ngột thì cái cõi tái sanh của con sẽ ra sao?” Thì nghe nói là người nào mà có tu hành, nó giống y chang như cái dầu vậy đó. Khi mà đi qua một con sông, mà con sông xanh thẳm đó, mảnh vỡ có thể rơi, mảnh vỡ có thể chìm xuống đáy sông, nhưng dầu thì cứ nổi phiêu trên mặt nước. Đó là bài kinh số một.

Rồi một bài nữa, ông hỏi cho tôi: “Cư sĩ chúng con làm sao mà có thể trợ niệm cho người cận tử?”

Trời ơi, mấy bài kinh nó hay lắm mà năm nay mình chưa học. Cứ lựa mấy cái cao siêu, mấy cái mơ màng như nghe chim hót trên cao.

Thì trợ niệm là sao? Nếu cái người đó đã hôn mê, không biết gì, thì coi như không có chuyện để nói ở đây. Bây giờ họ đã là khúc gỗ rồi. Nhưng mà nếu họ còn nghe được, hiểu được, nhận thức được, thì hãy nói với họ như thế này:

“Bố ơi, mẹ ơi, việc nhà đã có người lo rồi. Bố mẹ ra đi để người ở lại lo. Không lẽ thế giới này nó ngừng quay hay sao? Không lẽ mình lo cho đã rồi, mình tắt thở là trái đất ngừng quay à? Mặt trời quên mọc, rồi nắng, gió, mưa, sương không xuất hiện nữa hay sao? Thế giới vẫn bình thường, đúng không ta?

Cho nên cứ thanh thản ra đi. Và bố nhớ rằng cái thân này nó đã quá mệt, nó đã quá cũ kỹ, nó đang đau đớn, nó già nua, nó đã xấu xí, nó cũng không còn đáng để mà luyến lưu nữa. Bây giờ nếu bố mẹ có lòng tu hành thì coi như đang đổi cái đồ mới, xịn tốt hơn.”

Tôi nói thật, những lần đau đớn đó tôi có nghĩ đến vụ đó. Tôi nghĩ: “Nó đau quá thôi, đổi qua cái hàng mới đi. Chỉ còn cái này, nó bị hết hạn rồi nha, nó bị quá hạn rồi.”

Mà tôi hỏi gì đâu, mà nó tám mươi tuổi rồi, coi như nó rệu rã hết rồi, mà còn tiếc là tiếc cái nỗi gì? Nhưng bình thường tại mình không có tu, mình không có tin. Chứ tim gan, phèo phổi nó banh bà long hết rồi, ốc bù lon, con tán rồi, coi như nó tiêu tùng. Mà còn cái gì nữa mà nắm níu?

Tại mình, xin lỗi, mình sống u mê quá đi. Cho nên rồi sợ chết, rồi sợ bỏ con bỏ cháu.

Tôi biết còn một bà cụ ở bên Houston, bác sĩ kêu mổ mà không dám mổ, bởi vì bác sĩ có nói cái phần trăm thành công nó hơi thấp. Bà nói: “Vậy chết làm sao rồi khỏi mổ.” Cuối cùng bà cũng đi rồi.

Mà chứ cái bà này còn sang nữa nè, bên Florida, chín mươi tuổi mà bà không dám ngủ. Biết không? Bà chỉ ngủ khi nào bà bị kiệt sức rồi tự nó đi vào giấc ngủ, chứ bà không dám vào giấc ngủ. Là vì sao?

Ủa, thì biết không? Bà chỉ ngủ khi nào bà bị kiệt sức rồi tự nó đi vào giấc ngủ chứ bà không có dám nhắm mắt ngủ. Là vì sao? Là bà sợ chết rồi bỏ lỡ con cháu bà. Bà có mấy đứa cháu cố, bà thương lắm. Bà có mấy đứa cháu nội, bà thương lắm. Bà có mấy đứa con, bà thương lắm.

Mà khi bà đã 90 rồi đó, thì các bạn biết con bà cũng 70 chứ. Bà mất năm 98 tuổi, thì con bà 70 ngoài, mà còn cái nước non gì nữa?

Rồi đứa con bà, tôi thấy bà muốn đi lúc đầu đi rồi đó. Mà bà còn sợ mất. Có nghĩa là khi mà mình chưa sẵn lòng ra đi thì đi nó nặng lắm, chứ biết không? Nó vướng vướng gót chân đó, nó khổ lắm.

Cho nên, sẵn nhân cái bài kinh này, tôi nói là lạc đề, nhưng mà lạc đề có lợi thì cũng nên lạc nha. Đó, thì không phải hỏi gì, hộ niệm là sao? Đây, ngài nói chuyện cái nhất là tránh ngăn người mất đó.

Bây giờ, dù mà có lo cho cô, là cô tắt thở, thế giới ngừng quay, trái đất ngừng quay hay sao? Thứ hai, bỏ cái cục nợ này đi là coi như bỏ cái chén đất mà đổi chén vàng. Đó là một cái sự đổi thông minh, đúng không?

Cõi nhân loại không có đáng gì đâu. Hãy nghĩ đến các cõi chư thiên. Cõi Tứ Thiên Vương hơn cõi người gấp trăm lần. Cõi Đao Lợi hơn cõi Tứ Thiên Vương gấp trăm lần. Cõi Dạ Ma hơn cõi Đao Lợi về mọi mặt gấp trăm lần. Cõi Đâu Suất hơn cõi Dạ Ma gấp trăm lần. Cõi Hóa Lạc Thiên hơn cõi Đâu Suất gấp trăm lần về mọi mặt. Cõi Tha Hóa Tự Tại hơn cõi Hóa Lạc Thiên gấp trăm lần. Cõi Phạm Thiên thấp nhất cũng hơn cõi dục thiên cao nhất gấp trăm lần.

Và thưa bố, thưa mẹ, giàu có, tái sanh vào cảnh giới nào đi nữa thì so với quả vị Tu-đà-hoàn, nó cũng kém, chỉ chưa bằng được một phần trăm. Còn sanh tử thì còn đau khổ thôi. Bố mẹ hãy nghĩ đến cái sự sanh diệt của danh sắc để mà lìa bỏ sanh tử, khỏi đi đâu hết.

Hồi nãy giờ trò hàng các cõi cho vui, nhưng mà cái quan trọng nhất, bố mẹ coi từng giọt, từng giọt luôn chứ đừng có quay. Cái vụ mà lòng vòng làm con chóng mặt quá. Con kể cho bố mẹ nghe mà con đã thấy chóng mặt rồi.

Cái cách hộ niệm là như vậy đó, từng bước từng bước dìu em, giống như nó hướng dẫn nó dancing: một, hai, ba; một, hai, ba. Cho nên mình đưa nó đi từng bước, từng bước như vậy đó. Cho nên là phải như vậy.

Mà ổng có cái công, ông Ma-ha-nam á. Trong lúc mà ổng chưa có xảy ra cái vụ tai nạn lâm đầu, chưa có xảy ra cái vụ xuất gia đó, ông là tác giả của mấy cái câu hỏi lạ lạ này nè.

Mà còn tử mình thì sợ kinh lắm, cho nên có đời nào dám cầm cuốn kinh đâu. Cứ vô chùa nghe nói là muốn có trí tuệ thì bỏ tiền ấn tống. Ấn xong chở sách đống về thờ chơi cho vui.

Trời đất ơi, chết cái con gái này! Em lười như chùa. Chứ cuốn kinh nó có nhiều cuốn coi như chưa có rọc giấy luôn, coi như cái bọc bao ni lông chưa có xé, cứ đem về chất đầy nhà. Mà bao nhiêu cái tinh hoa trí tuệ của Đức Phật cũng nằm trong đó. Mà mình có gì mà rớt tới đâu, bao nhiêu những câu trả lời hay ho cho những cái thắc mắc ngang đời của mình đó, mình có tìm trong đó đâu. Cứ là đem đi ếm hẹn.

Trời ơi, chết rồi, con gái này xử lý thường vụ Quốc hội!

Cho nên đây là những bài kinh rất là quan trọng. Hôm nay cũng như thường lệ, ông đến chùa gặp Phật để mà thỉnh pháp, để mà vấn đạo. Ông thỉnh pháp, vấn đạo. Bữa nay ông hỏi ngài câu này nè. Ông hỏi ngài câu này, để coi hỏi sao.

“Đừng quên cha nó lại đây. Đây, đây, ông hỏi thế này: Trí đến trước hay là Định đến trước?”

Con biết rồi, người không có Định thì không có Trí.

Đây, ông hỏi thế này: “Trí đến trước hay là Định đến trước? Con biết rồi, người không có Định thì không có Trí. Nhưng mà đối với người tu chứng, trong hành trình tu chứng thì Trí đến trước hay là Định tới trước? Định đi trước Trí hay là Trí đi trước Định?”

Tức là ông cũng ngồi thiền mà ngồi chưa tới, ông hơi thắc mắc, không biết cái nào tới trước. Bây giờ hai ông này cứ chen qua chen lại hoài.

Câu hỏi này, người mà dốt đặt phần pháp thì thứ nhất không hiểu hỏi cái gì, còn thứ hai nữa là mau chóng tìm ra câu trả lời theo cái kiểu con vẹt, con két của mình: “Giới năng sinh Định, Định năng sinh Tuệ.” Móc cái bài đó ra là tưởng giảng như vậy là hay rồi.

Nhưng mà ở đây có hai chuyện mình cần phải lưu ý.

Một là lúc ông đặt câu hỏi này, Đức Thế Tôn vừa mới bình phục sau một cơn bệnh. Dầu là Phật nhưng cũng mang cái thân tứ đại, đúng không? Cho nên Ngài A-nan nóng ruột. Ngài thấy rằng cái câu hỏi này, thứ nhất là để cho Thế Tôn nghỉ ngơi. Thứ hai, câu này Ngài biết là Ngài hoàn toàn có thể trả lời thỏa mãn cho ổng. Thứ ba, Ngài biết cái tâm của ông này là không cần thiết phải làm phiền Thế Tôn.

Cái vặt vãnh của ông này thì cỡ mình đó, mình xử được rồi, để cái thân nghỉ ngơi. Mà các bạn biết, Ngài A-nan thương kính Đức Phật vô điều kiện, các bạn biết không?

Ngài thương thì Ngài lo cho cái thân Ngài. Ví dụ như cái thân khát nước mà Ngài thương quá, Ngài quên chuyện là cái thân khát cả ngày. Ngài thương quá, Ngài chỉ nghĩ là nước đục thì không cho uống rồi.

Người ta đến hầu Phật mà lúc đêm cuối cùng, sắp tịch, Phật sắp tịch, Ngài A-nan không cho cái thân uống nước. Cái thân mệt lắm, cho gặp nhiều lắm, quý vị.

Rồi con voi Nalagiri đến tấn công Đức Phật. Ngày nay là ai? Ngài là Tu-đà-hoàn chứ đâu phải là phàm phu. Ngài hơn ai hết, Ngài nhớ rất rõ Thế Tôn là bậc bất khả xâm phạm, đao thương bất nhập mà bách độc bất xâm.

Các bạn có biết bốn, tám chữ đó không? Đao thương bất nhập có nghĩa là không có gươm, giáo, vũ khí, tên nhọn nào mà xâm phạm một vị Chánh đẳng giác được. Còn bách độc bất xâm có nghĩa là không có ai mà đầu độc rồi dùng độc tố sai khiến được. Hai chuyện đó không bao giờ có.

Ngài biết. Nhưng mà lúc đó, cái phản xạ tự nhiên bằng một tấm tình mà phải nói là trời biển hướng về Đức Phật, cái phản xạ đầu tiên của Ngài là thấy con voi điên từ xa lao tới. Phản xạ tự nhiên là Ngài bước tới chặn Đức Phật, chặn nó trước. Có gì thì con đi trước. Không thèm nhớ đến Phật là ai nữa, chỉ còn biết thương thôi.

Thì Đức Phật dạy A-nan phải bước ra phía sau. Ngài A-nan không bước. Đó là lần đầu tiên mình thấy Ngài A-nan cãi Đức Phật đó. Ngài lại bước ra phía sau. Ngài A-nan không bước.

Đức Phật, các bạn biết Đức Phật là ai không ạ?

Đang cãi Đức Phật đó, lần nữa A-nan bước ra phía sau Ngài. A-nan không bước đi, Đức Phật chỉ nghĩ thôi là đã thực hiện thần thông. Ngài dời Ngài A-nan từ chỗ đang đứng ra phía sau. A-nan không cần nhúc nhích mà thấy mình lại tiếp tục đứng sau lưng nữa.

Ngài dời Ngài A-nan ra phía sau. Thì con voi nó sầm sầm tới. Các vị nghe cái tên nó là các vị thấy lạnh xương sống mà nó tên là Nalagiri. Nalagiri có nghĩa là đồi lau. Lau là cỏ lau, có nghĩa là nó to như cái núi mà lông nó lơ thơ, nhìn như mấy cọng cỏ lau. Nói chung mình nhớ lù lù, mình nhìn mình liên tưởng đến cái đồi lau.

Cho nên tôi tính có một cái đạo tràng, tôi đặt tên là Nalagiri. Tại đó là cái tên rất là thơ mộng. Trên đời này không có cái gì đẹp bằng trăng lên, mình ngó xuyên qua những cồn cát, có những cái đồi lau, nó đẹp lắm. Nó là cái lý mà sợ mình đặt xong rồi người ta nói mình là con cháu ông này, chắc có theo cái hành vô điên thế mà đặt nữa.

Thì lúc đó, khi nó sừng sững tới, Đức Thế Tôn rải cái từ tâm cho nó: “Khải được an lành, đừng sống trong nhân xấu và quả xấu.” Khi mà nó chạm vô cái vòng, mình tạm gọi là bức màn từ tâm của Ngài, là nó khuỵu chân xuống. Toàn thân nó tràn ngập một cảm giác mát lạnh và dễ chịu, đến mức mà nó mất đi toàn bộ cái ý tưởng hung sát, manh động.

Nó đang lao tới với tốc độ của hai mươi toa tàu hỏa, đó là tốc độ nhanh nhất. Nó như một ngọn đồi như vậy. Nhưng khi nó chạm vào bức màn từ tâm của Thế Tôn, nó khuỵu xuống, nó nghe mát lạnh toàn thân.

Đức Phật chỉ nói một câu thôi: “Voi chúa không thể hại voi chúa con. Ta là voi chúa trong các loài voi, và ta là voi chúa của nhân nhân. Voi chúa không hại voi chúa con. Là vị Phật tương lai.”

Và từ đó nó hiền như bột, suốt kiếp hiền như bột. Gớm như vậy, nghe?

Mà Hà Nam đó, bây giờ tôi trở lại cái chuyện Mà Hà Nam đó. Rồi, lạc đề hơi nhiều.

Thì sau khi cái chuyện thứ nhất là Ngài A-nan thấy rằng Đức Phật đang mệt, Ngài muốn Đức Phật nghỉ ngơi. Cái chuyện thứ hai là Ngài thấy câu hỏi của ông này, Ngài giải quyết được, không nhất thiết phải làm phiền Thế Tôn.

Nhưng mà hai cái này chưa có ghê. Cái ghê thứ ba nè. Ngài biết rõ Ngài chỉ là vị tu-đà-hoàn, có nghĩa là trong cái tầng hữu học. Ngài biết rồi, Ngài có thể trả lời trọn vẹn câu này, trả lời luôn cả cái vực A-la-hán, mặc dù Ngài chứ không phải là A-la-hán. Ngài biết, dĩ nhiên là trong cái trình độ của vị hữu học thôi.

Nhưng mà trong tâm thái khiêm tốn của một vị đại trí, và cũng là một vị thánh nhân, cho nên Ngài trả lời câu hỏi này cho ổng một cách rất là khiêm tốn. Ngài khơi mào, Ngài bắt đầu câu trả lời đó từ góc độ của một vị hữu học.

Đọc kỹ nè. Ổng hỏi nè: “Con biết, con biết là không có định thì không có trí. Con biết. Nhưng mà con muốn hỏi cho nó chắc chắn là định tới trước hay là trí tới trước trong quá trình tu chứng?”

Thì Ngài mới trả lời. Mình đọc từ đó suốt ngày, nguyên một đoạn dài, Ngài nói toàn là hữu học không. Đây, Ngài nói là giới của bậc hữu học đó. Đức Thế Tôn có từ nói đến giới hữu học nè, rồi giới vô học nè, định hữu học, định vô học, tuệ hữu học rồi tuệ vô học. Thế Tôn từng nói tới.

Thế nào là bậc hữu học? Thế nào là định hữu học? Thế nào là trí tuệ của bậc hữu học? Xong chưa?

Bậc Hữu Học, Thế Tôn từng nói tới. Thế nào là Bậc Hữu Học? Thế nào là Định Hữu Học? Thế nào là Trí Tuệ của Bậc Hữu Học? Xong chưa?

Với một người có học A-tỳ-đàm thì sẽ hiểu như thế này: mình còn là phàm phu, thì mình ác cỡ nào, mình thiện cỡ nào, cái thiện ác đó cũng giống như những giọt nước mưa rơi xuống trong khu rừng.

Các bạn biết nước mà rơi trong rừng thì có bao nhiêu chỗ để nó đi, có bao nhiêu cách nó đi, đâu ta có thể hình dung được không? Ở đây toàn là người trên mười tám tuổi, và ít nhất đều có tu tập, có thể hình dung được không?

Nước mưa đổ trên khu rừng thì có bao nhiêu chỗ để nó đi. Một mớ thì dính lại trên cành lá rồi bốc hơi, đúng không? Một mớ thì ngấm vào thân cây, một mớ thì thấm xuống đất, một mớ thì đi vào sông, suối, thác, có đúng không ta?

Một khi các vị đã chứng Thánh, tối thiểu là Tu-đà-hoàn rồi, thì các vị chỉ còn có một con đường duy nhất để đi. Nếu nói về cõi tái sinh thì chỉ còn sinh về các cõi lành. Mà cõi lành ở đây là gì? Là Dục Thiên hoặc Phạm Thiên. Còn nhân loại thì hiếm. Thường là Dục Thiên và Phạm Thiên. Đường đi thì chỉ có đi về một hướng là cõi lành.

Thứ hai nữa, tâm tư của vị này, đó là nói về tái sinh. Còn nói về tâm tư thì vị này chỉ còn có một con đường duy nhất, đó là hướng tới tầng Thánh cao hơn. Nghe kịp không?

Cho nên đó là lý do vì sao cứ Tu-đà-hoàn. Sotāpati, Sotāpanna: sota là stream, apanna là entering, có nghĩa là người đã bước vào dòng chảy, bước vào cái dòng chảy mà không thể quay lui nữa, không thể tuột xuống thấp, không thể đi vào hướng khác, chỉ có một đường thẳng mà đi, gọi là Sotāpanna.

Cho nên Ngài không cần nói nhiều về quả vị Vô Học, A-la-hán, mà Ngài chỉ nói cái vụ Tu-đà-hoàn, Hữu Học là đủ rồi. Ngài chỉ nói đó là đủ rồi. Bởi vì một khi đã đạt Tu-đà-hoàn rồi thì, nói ví von một chút, dẫu không muốn cũng không được, bởi vì không có đường quay lui.

Trong khi đó, đối với phàm tâm thì giống như nước mưa trong rừng. Có nghĩa là từ trên trời rớt xuống thì chỉ có một hướng, nhưng xuống tới đất rồi thì nó đi tùm lum. Có đứa thì quẹo vô đất, còn đứa thì đi theo sông, theo suối, theo thác; đứa thì dính trên lá, nhánh, cành, bông, trái, rồi bốc hơi, vân vân.

Nhưng riêng về nước mà đổ vô cái máng xối, nước rơi trên mái nhà đó, thì nó đi đâu ta? Nó xuống máng xối. Mà vô máng xối rồi, biết máng xối không? Nếu nó vô máng xối thì nó chỉ có một con đường đi thôi. Tức là chủ nhà muốn nó đi về hướng nào thì nó đi hướng đó, đúng không?

Chứ nếu không thì làm máng xối làm cái gì? Người ta làm máng xối là bởi vì người ta muốn nước đi về đâu đó. Cho nên mình mới nói, đạt Tu-đà-hoàn là đã vô cái dòng chảy, là như vậy đó.

Rồi cho nên ở đây Ngài không có nói theo cái kiểu tào lao của mình là vừa nghe hỏi: Chính định có trước hay tuệ có trước? Các thiện pháp hỗ trợ cho nhau theo chiều ngang.

Đôi lúc trong mô tả nghe chừng như chiều dọc, mà chiều ngang có nghĩa là đồng bộ. Các bạn có hiểu đồng bộ không? Các bạn có hiểu không? Là đồng bộ.

Vì khi mô tả thì mình nghe làm như có hàng trước, có hàng sau, theo hàng dọc. Nhưng mà thật ra nó là hàng ngang. Mà hàng ngang này có nghĩa là đồng bộ. Các bạn có hiểu, đồng bộ hả? À, nó còn đồng bộ.

Nhưng mà thật ra nó là hàng ngang, mà hàng ngang này có nghĩa là đồng bộ. Các bạn có hiểu chứ? Đồng bộ hả? À, nó còn đồng bộ. Đấy là sao?

Do có trí, người ta mới tu định. Nghe kịp không? Tức là tu khả năng định tâm. Nhưng mà nhờ định, nó lại tạo ra cái trí cao hơn. Các bạn biết trong rung rung, nghe kịp không ta? Tôi lạy, các bạn hiểu giúp tôi nhờ. Yeah!

Tức là nhờ có trí, tôi mới không đi săn bắn, câu cá, bài bạc, nhậu nhẹt. Cái đó phải nhờ trí không? Tôi mới đi ngồi thiền, đúng không? Mà khi tôi ngồi thiền, tôi mới đắc thiền. Tôi đắc sơ thiền, thì cái đầu của thằng sơ thiền nó không giống của cái thằng mà nó chưa đắc thiền, đúng không ta?

Rồi như vậy thì trí nó mới tạo ra định, nhưng mà từ định nó lại tiếp tục đẻ ra trí. Bây giờ hiểu chưa? Rồi trí của thằng cha sơ thiền đó lại dẫn tới cái định nhị thiền, đúng không? Rồi từ cái định nhị thiền nó mới đẻ ra cái trí của cái người nhị thiền, đúng không? Rồi từ cái trí nhị thiền nó mới đẻ ra cái định tam thiền, đúng không ta?

Có nghĩa là kỳ nhông nó đẻ kỳ đà, mà kỳ đà nó là cha cát ké, mà cát ké nó là mẹ kỳ nhông, nhưng mà kỳ nhông nó là ông kỳ đà. Nó cứ đi vòng vòng như vậy nha. Cho nên mình không thể trả lời một chiều. Mình trả lời một chiều, mấy cái trong group mình nó không hiểu. Nó ghê chứ!

Các bạn nghe kịp chưa?

Cho nên Ngài không có móc cái bài kinh mà mình hay nghe “Giới năng sinh định”, mà Ngài trả lời một chiều. Ngồi nghe bài kinh này, Ngài trả lời rất là gọn, mà mình giảng lại đây, mình làm sao còn cứ nhăn? Hiểu không? Vấn đề này hiểu hay không, chứ còn nhăn ra cười làm sao biết em hiểu hay không? Nghe em?

Rồi. Cho nên ý là Ngài không có trả lời một chiều. Mà trong cái cách trả lời rất ngắn gọn này, đọc bên chú giải mình mới: “Ồ, thì ra là cái thiện pháp hỗ trợ nhau theo cái chiều ngang. Nhưng mà cái chiều ngang một đó, so với chiều ngang hai đó, thì nó là hàng dọc.”

Biết nói nghe hiểu không? Cái chiều ngang một hỗ trợ cho cái chiều ngang hai bằng hàng dọc. Nhưng mà những cái thiện pháp trong mỗi cái chiều ngang, nó lại hỗ trợ cho nhau bằng sự đồng bộ. Có hiểu không ta?

Từng group thì nó hỗ trợ cho nhau bằng cách đồng bộ. Nhưng mà group một so với group hai thì nó hỗ trợ cho nhau theo kiểu đường hàng dọc. Có nghĩa là sự tu tập của tôi ngày hôm qua, nó hỗ trợ sự tu tập của tôi ngày hôm nay theo kiểu hàng dọc, đúng không? Nhưng mà những thiện pháp mà tôi đang tu tập ngay bây giờ và tại đây, right here and right now, thì nó lại là hàng ngang. Nghe kịp không?

Cho nên không thể nào nói một chiều rằng là cái nào có trước, cái nào sau. Kịp không?

Tôi tiếc cho những người nào sáng nay không nghe bài kinh này. Cứ ngồi chờ đến giờ làm rồi mới tới.

Tôi có viết một cái câu chuyện trong truyện phim hai. Đó là có một cái thiền viện hai chục mẫu đất, mà ngẫu nhiên có một con suối cắt ngang mảnh đất hai chục mẫu đó. Ngài thiền sư viện trưởng mới đặt một cái cầu bắc ngang con suối đó. Cái cầu đó gọi là cái cầu bắc ngang suối, cái cầu đó là cái cầu gì tôi quên tên rồi.

Nhưng một bên là người nằm bên đây, đất là bờ mê; bên kia là bến giác. Bờ mê thì gồm có nhà bếp, rồi có phòng ngủ cho khách. Còn cái bến giác này có thiền đường, thiền viện, rồi có chỗ ở chư tăng.

Mà nó lạ luôn đó, hầu hết thì sinh hoạt bên bờ mê thôi. Để có cái buổi sáng Chủ nhật đó, ông thiền sư ổng đi vòng vòng, không thấy hành giả mất tiêu.

... bên bờ mê thôi.

Để có cái buổi sáng Chủ nhật đó, ông thiền sư đi vòng vòng, thấy hành giả mất tiêu. Rồi ông hỏi ông thị giả:

“Sao mà hành giả đi đâu mất rồi?”

Thị giả nói:

“Dạ, hầu hết hành giả sáng nay qua bên bờ mê hết, bởi vì bên đó đang đổ bánh xèo.”

Tôi khoái câu chuyện đó. Mỗi khi tôi viết câu chuyện đó mà bắt đầu đọc lại, tôi còn thấy khóc. Như mình đẻ ra một đứa con, mà nó hơi khôi ngô, mình đọc vừa hết một đoạn là tôi khóc.

Tôi khóc cái câu: “Dạ, hôm nay hành giả qua bờ mê hết rồi.”

Bờ mê tức là một nửa suối đó, bên đó. Mà không hiểu lý do nghe, rất là buồn cười. Bên đó sáng nay đổ bánh xèo.

Các vị từng ở tù, các vị từng đi lính, các vị từng đi hành thiền ở trong thiền viện, các vị biết: ở tù là một, đi lính là hai, mà hành thiền ở trong thiền viện là ba. Những chỗ đó, vấn đề ăn uống rất là hạn chế. Cho nên lâu lâu mà xúc chùa, cho ăn những món mà mình khoái, thì nó đã không thể tưởng tượng được.

Các bạn biết không? Cho nên đó, làm hành giả mà lâu lâu được cho ăn bánh xèo, nhất là ăn tập thể: người thì chuẩn bị bột, người thì lạc, người thì lặt rau, người thì làm nước chấm. Rồi xôn xao trong nhà ngoài ngõ. Nó bán lắm cũng khoảng chỉ ba, bốn chục ngàn, mà chuẩn bị một bữa bánh xèo tập thể luôn. Nó sung sướng luôn, đậu phộng nó lên, coi như đủ năm loại luôn đó, nghe?

Cho nên đó là... Tôi nói cái gì tôi quên rồi.

À, tôi đang hỏi tại sao mới nay bà con vắng mặt. Nhớ rồi.

Cho nên ngày hôm nay, ngài trả lời câu này nhắm đến hai, ba chuyện rất là hay.

Cái chuyện thứ nhất là ngài trả lời một cách rất là khiêm tốn. Ai rình nghe hoặc tình cờ nghe lại thì thấy ngài trả lời rất là khiêm tốn. Ngài không có quăng quang, lu loa ba la, mà ngài nói ảo ảo để cho người ta mơ hồ, không biết ngài là cái tầng nào. Cách trả lời của ngài rõ ràng là ngài ngầm cho biết: “Tôi chưa là A-la-hán.”

Cái hay của ngài nằm ở chỗ đó. Ngài trả lời, nhưng ngài không có nói ngài là ai; ngài chỉ cho biết ngầm ngầm là: “Tôi chưa phải là A-la-hán.” Đó là cái dễ thương thứ nhất.

Cái dễ thương, cái hay thứ hai của câu trả lời này là ngài không có nói rõ cái nào đi trước, cái nào đi sau, mà ngài chỉ vẽ một cái đường đi.

Ngài đó, thấy chưa, đường đi như vậy. Ông hiểu sao? Ông hiểu. Còn cái ông nào đi trước, ông nào đi sau thì mình thấy rõ ràng là ở đây các pháp trong từng phút hỗ trợ nhau đồng bộ. Nhưng mà thành tựu trước hỗ trợ thành tựu sau bằng đường dọc. Trong mỗi cái thành tựu đó thì mọi thứ hỗ trợ nhau bằng hàng ngang.

Bây giờ hiểu chưa? Nếu như vậy thì ta không nên nói một chiều là cái nào có trước, cái nào có sau. Nghe kịp không? Có hiểu không? Hiểu hả? OK.

Ngài mới giải thích. Trước hết, ngài giải thích theo hàng dọc. Giải thích hàng dọc trước là vị tỳ-kheo có giới. Nhờ có giới thanh tịnh thì mới hỗ trợ cho chuyện vắng mặt của năm triền cái. Rất nhiều, bởi vì sao? Vì có giới thì coi như là trấn áp ít nhiều cái tham dục, sân, hôn trầm, trạo hối, rồi nghi.

Nhưng mà ngài không nói rõ cái đó, mình mới đọc thêm để biết. Nhưng tới định thì trạo hối một lần nữa được trấn áp, mà lần này trấn áp hiệu quả hơn. Nhờ sự vắng mặt của năm triền cái, cho nên tuệ mới có mặt để làm cái gì ta? Có mặt để soi rọi.

Trấn áp hiệu quả hơn. Nhờ sự vắng mặt của năm triền cái, cho nên tuệ mới có mặt để làm gì? Có mặt để soi rọi.

Nếu một người còn sự chi phối của năm triền cái thì không thể thấy được mọi thứ là khổ. Phải có sự vắng mặt của năm triền cái. Khi mà có giới, có định thì vị đó mới có trí. Chính cái định nó mới hỗ trợ cho niệm. Chỉ có niệm và định, chỉ có định nó mới hỗ trợ cho niệm, và nhờ có định nó mới giúp cho năm triền cái vắng mặt.

Mà chính vì năm triền cái vắng mặt, cho nên hành giả mới có thể thấy ra những điều sau đây. Thứ nhất là, chính vì định có tác dụng trấn áp năm triền cái, cho nên nó mới làm nền cho trí tuệ.

Trí tuệ thấy cái gì? Trí tuệ thấy là cái gì mình thích nó cũng là khổ, cái gì mình ghét nó cũng là khổ. Vui nào cũng là khổ, thiện nào cũng là khổ, ác nào cũng là khổ. Mà hãy còn đam mê trong thiện ác, buồn vui là coi như tiếp tục tạo ra sanh tử. Muốn hết sanh tử thì không còn đam mê trong thiện ác, buồn vui.

Sống bằng ba cái nhận thức này được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Và cái trí tuệ bốn đế này chỉ có được khi mà anh có định, bởi vì định hỗ trợ cho niệm, mà niệm làm nền cho tuệ. Nghe kịp không?

Nếu nói như vậy thì rõ ràng cái quan hệ giữa định và tuệ là quan hệ theo hàng dọc, đúng không? Định có trước. Nhưng trước khi có định, một người ngu có tu định không? Một người không có trí tuệ có tu định được không? Cái thằng nó ngu như chó thì làm sao nó đi tu thiền? Khổ quá đi! Trời đất ơi!

Tại sao bà lại tu nặng lời như vậy? Tại sao cô không đi đánh bài? Tại sao cô không đi theo trai? Mà tại sao cô vô đây cô nghe Pháp? Cái đó có phải là vô trí hay không? Cho nên không có trí thì làm sao mà mình chọn con đường tu định? Biết chưa?

Nói nôm na ra thì, không có cái trí dục giới thì làm gì có cái định dục giới, định đáo đại? Mà không có định đáo đại thì khó mà có cái trí siêu thế. Nghe kịp chưa?

Nói thật ra thì tâm ấy, cho nên nó phải có cái cao hơn. Mà tôi không ngờ là tôi nói cả buổi gãy cái lưỡi, mà tôi hỏi ngược lại, trả lời ngu như vậy. Tại sao mà không đi đánh bài? Tại sao không đi khiêu vũ? Không đi nhậu, nhậu nhẹt, mà tại sao tôi vô đây ngồi, phải ngồi thiền ở đây làm cái gì? Cái đó phải trí nó xúi không?

Các điều kiện tâm linh hỗ trợ cho nhau theo cả hai hướng, chiều dọc và chiều ngang. Đó là chuyện thứ nhất.

Chuyện nữa đó là, ngài rõ ràng không có nói nhiều về cái trí vô học, ngài chỉ nói về thánh hữu học thôi. Mình nghe làm gì hơi thiếu thiếu, mà không phải. Đó là cách nói khiêm tốn. Chứ thật ra đó, ngài nói vậy đủ rồi.

Các bạn nghe kịp không? Bởi vì trí hữu học ở đâu thì trí vô học cách đó có ba centimet thôi, chưa tới bốn centimet nữa, chỉ có ba centimet thôi. Nghe kịp không? Nó có ba centimet thôi. Cái thời gian mình đi qua bên kia chỉ có một giây thôi nha.

Cho nên ngài nói rất là khiêm tốn, ngài nói hiền, nói lòng vòng trong trí hữu học thôi. Nhưng mà nói về trí hữu học là đủ rồi.

Và phải nói thêm, ngài Mục Kiền Liên, ngài Xá Lợi Phất đều là bậc đại trí ngang ngửa nhau. Nhưng mà sở dĩ ngài Xá Lợi Phất được xem là đệ nhất trí tuệ, còn ngài Mục Kiền Liên mới là đệ nhị, tại sao?

Nhưng mà sự dị biệt là Ngài Xá Lợi Phất được xem là đệ nhất trí tuệ, còn Ngài Mục Kiền Liên mới là đệ nhị thôi. Tại sao?

Làm ơn mở Trung Bộ Kinh ra coi cái bài Đế Phân Biệt dùm tôi. Trung Bộ Kinh, cái bài Đế Phân Biệt nha.

Trong bài Đế Phân Biệt, Đức Phật có nói rất là rõ. Ngài nói rằng: “Này các tỳ-kheo, Xá Lợi Phất giống như bà mẹ ruột của các tỳ-kheo, còn Mục Kiền Liên giống như bà vú nuôi của các tỳ-kheo.” Là vì sao?

Vì Xá Lợi Phất có một sở trường tuyệt thắng mà kể cả Mục Kiền Liên cũng không sánh bằng, đó là chuyên gia hướng dẫn cho người ta từ phàm phu bước vào dòng Thánh. Còn Ngài Mục Kiền Liên thì có khả năng đưa người từ Tu-đà-hoàn lên cái tầng cao nhất.

Hai vị này rất giỏi, cho nên hai vị này gần như một cặp bài trùng. Có nghĩa là những người sơ cơ đưa vô, Ngài Xá Lợi Phất sẽ lo làm việc trước, xong rồi Ngài mới đưa qua cho Ngài Mục Kiền Liên xử lý phần sau.

Ngài Xá Lợi Phất là vô địch về chuyện đó. Mà cái mình nghe, mình thấy là ngày xưa, Ngài Xá Lợi Phất đưa người từ phàm phu vào trong quả Dự lưu, mình coi thường. Nhưng mà tôi xin thưa với các vị, cái đó mới chua đó. Từ phàm phu mà đưa qua Tu-đà-hoàn là chua, coi như chua hơn axit.

Chứ còn từ Tu-đà-hoàn mà đã đắc rồi, đưa lên trên đó thì tôi không phải chê Ngài Mục Kiền Liên nha. Tôi không dám chê, chết ba trăm lần tôi cũng không dám chê. Nhưng mà so ra, theo tôi, nó dễ hơn cái kia.

Bởi vì đã lấy vô trong cái vòng chảy rồi, mình chỉ cần mình coi, mình đẩy nó một cái là nó đi luôn. Nước ở trong cái vòng chảy rồi thì nó dễ lắm. Nhưng mà cái khó nhất là nó ở bên ngoài dòng chảy, mà đưa dìu dắt làm sao cho nó vô được, cái đó mới là cái khó nhất.

Chỉ còn cái bè chuối mà nó đã vô trong dòng chảy rồi thì mình chỉ cần nhúc nhích ngón tay, đẩy nhẹ một cái là vô luôn. Nó dễ lắm.

Cho nên là mình có biết mấy bài kinh đó, mình mới thấy: “Ồ, thì ra là ở đây.” Tại sao Ngài nói dòng dòng, nguyên cái câu đó là mình thấy hầu hết là Ngài nói toàn là ủng hộ không à.

À, nhiêu đó được rồi. Chỉ cần anh từ phàm phu vô được cái dòng Thánh là đủ rồi. Còn cái chuyện mà anh đắc vô Tu-đà-hoàn xong không được, anh khỏi tu lên tới nữa, thì bây giờ anh không còn đường để đi. Cái người không còn thân kiến nữa thì còn đường nào để đi nữa hết rồi?

Một chiếc xe lừng hồ, nó đã chạy tám ngàn năm trăm triệu tỷ cây số. Bây giờ nó chỉ còn lăn có bảy mét nữa thôi. Cái xe đó thật sự nó đã bị hỏng rồi, nó đã chết máy. Chẳng qua là do cái trớn của mấy trăm ngàn triệu tỷ cây số lăn hồi đó, bây giờ khi chiếc xe đã hỏng rồi thì trước khi nó thật sự dừng lại, phải cho nó lăn thêm vài inch chứ không phải không, một hai mét chứ không phải không.

Thì cái chuyện mà nó lăn thêm trước khi nó vĩnh viễn nằm lại đó, cái trớn nó không có đáng kể. Chiếc xe đã bị hỏng rồi nha.

Và tôi đã từng bị trong tình trạng đó. Tôi còn nhớ, đó là ở bên Jacksonville. Tôi vừa chen lên để vô làn thì nó không có chạy nữa, và bắt đầu nó bốc khói. Tôi nói với các vị đó là lần đầu tiên tôi hiểu cảm giác tóc lông dựng ngược là thế nào.

Tôi ngó kiếm chú Hậu rồi tôi thấy phía sau nó tràn tới đông như nguyên nguyên vậy. Lúc đó tôi chỉ bật cái đèn emergency, bắt đầu chầm chậm mở cửa, chầm chậm dòm, chầm chậm đưa tay ra đám xe rồi chầm chậm nhào vô làn. Nó còn trớn, nhưng mà nó tới cái trớn nó vừa đủ đưa em ra giữa lộ thôi. Nhưng mà dĩ nhiên nó ác cho là nó…

Chạm nhào vô lề, nó còn trớn, nhưng mà tới cái trớn đó, nó đủ đưa em ra giữa lộ thôi. Nhưng mà dĩ nhiên nó đã hư rồi, nhưng vẫn lăn vài mét. Quý như vậy nha.

Cho nên, lại vì tôi đâu quên là người đã đi trên một cỗ xe đã mấy trăm ngàn triệu tỷ cây số rồi. Bây giờ hết rồi, chiếc xe đó đã hết xăng, hết nhớt, coi như khô máy, coi như bị hỏng hóc, coi như gãy nhíp, gãy láp hết rồi. Bây giờ chỉ còn lăn vài tua nữa, bánh lăn vài tua rồi là xong.

Trong trường hợp đó thì không còn gì để làm nữa hết. Mấy chuyện trên nghe kịp không ta? Cái này quan trọng lắm nha. Và Tứ đế này, tôi nhắc lại biết bao nhiêu lần.

Mới đầu tu hành, mình không phân biệt thiện ác. Sống chìm trong cái thế giới thiện ác. Đứa ngu thì chìm trong tham, sân, si, phiền não. Đứa khá hơn là mê man trong thập thiện và cầu cái quả nhân thiên. Rồi khá hơn chút nữa là bỏ dục, mình tìm tới thiền.

Nhưng mà khá nhất đó là thấy rằng còn có thiện ác là còn có thăng đọa, mà còn có thăng đọa là còn có sinh tử.

Trong thế giới dục giới, nó chia có hai: một là sống trong phiền não để đi vào bốn cõi đọa. Còn nếu đi theo đường thiện thì quẩn quanh trong các cõi nhân thiên, dục thiên. Còn khá hơn chút là bỏ cái tầng dục giới đi mà lên tới tầng sắc, bỏ tầng sắc lên được tầng vô sắc, nhưng mà nó lại là sự quẩn quanh.

Như vậy, hễ còn thiện, còn ác, còn quẩn quanh trong ba cõi, sáu đường và bốn sanh: noãn, thai, thấp, hóa.

Thì cái người mà tu Tứ niệm xứ, buổi đầu họ chỉ hiểu mơ hồ thôi: đây là thiện, đây là ác. Thêm một bước nữa thì vị đó sẽ thấy rằng thiện ác đều là nhân sinh tử hết. Vì đó không còn đam mê trong thiện đâu, mà chỉ biết thiện đang có mặt, ác đang có mặt.

Bước đầu thì hành giả tu Tứ niệm xứ chỉ quan sát mình đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang giận, đang buồn, đang thích, đang ghét. Sau đó mới biết thêm: đây là thiện, đây là ác. Rồi sau đó bỏ luôn tất cả, mà chỉ còn biết là nó đang sinh diệt thôi.

Chính ở cái giai đoạn này, hành giả mới thấy rằng mọi thứ là khổ. Bởi khi mình thấy rằng đây là khổ, đây là tập, thì cái gọi là khổ đó bao gồm cả thiện ác, đều khổ hết. Nhớ cái đó.

Cái trí trong bốn đế, trong đó không còn thiện ác nữa. Chỉ còn có cái gì là khổ, cái gì là tập thôi. Ngoài tham ái ra, tất cả đều là khổ đế. Cứ nhớ như vậy.

Đạo đế, xét rốt ráo, nó cũng là khổ đế. Chắc mọi người nghe cái này bể đầu, chịu nổi phải không? Bởi vì đạo đế là gì? Đó là mấy tâm sở, đúng không ta? Mà mấy tâm sở đó có phải là nó còn trong cái vô ngã, vô thường không? Quay lại, mấy tâm sở đó còn nằm trong danh sắc không? Còn nằm trong danh không? Mà hữu vi là vô ngã, vô thường, đúng không ta?

Cho nên đó là nguyên một cái trái xoài thì mình gọi đó là trái xoài. Nhưng mà trong đó, khi nào cần thì mình đem đi trồng, mình mới lấy cái hột mình trồng, chứ mình không có trồng bằng cơm xoài, đúng không? Mà mình trồng cái hột thôi, đúng không? Nhưng mà mình gọi chung nguyên trái xoài, mình gọi là trái xoài thôi, đúng không?

Chỉ khổ đế là mọi thứ ở đời đều khổ hết. Nhưng mà trong nguyên cái khối khổ này, khi nào nói đến tập đế thì người ta rút riêng cái tham, cái thích trong khổ ra. Lấy riêng cái đó ra thì người ta gọi đây là nhân sinh khổ. Nó có cái tên đặc biệt đó là tập đế, anh hiểu không?

Trong khổ đó, lấy riêng cái đó ra thì người ta gọi đây là nhân sanh khổ. Nó có cái tên đặc biệt đó là Tập đế, anh hiểu không?

Rồi cũng trong cái đống khổ tù lù đó, người ta mới rút riêng ra, người ta nói cái này là con đường thoát khổ. Nó có cái tên là Đạo đế, hiểu không? Bây giờ hiểu chưa?

Cho nên “phiền não tức Bồ-đề, sanh tử với Niết-bàn là một” là chỗ đó đó, hiểu không? Bây giờ hiểu chưa?

Xưa nay, nguyên một cái cục khổ trộn đủ này, nó cứ lăn, lăn, lăn, lăn, mà mình cứ để cái thằng Tập đế, mình nuôi cho nó mập ú, ú, ú. Còn cái Bát Chánh Đạo này, có gì mình làm lơ, lóm thóm, đóm teo. Nhớ không?

Đó, cho nên là lý do tại sao mình ngộ đạo đó, mình nhận ra nhiều cái điều mà động trời rồi đó.

Giờ mình tưởng biết rồi, mình tưởng biết là… Nguyên cái đám huyên thuyên hồi tối, bây giờ lại lật mặt mới ghê. Những cái cơm gạo áo tiền, nó làm cho mình ảnh hưởng cái đường tu học rất là nhiều, các bạn thấy không?

Cho nên đừng có coi thường những thiện pháp. Mình nói đừng có phước bố thí. Khi mà mình nghèo quá, mình cũng phải đi làm. Hoặc khi giàu quá, mình cũng không muốn đi tu nữa. Lúc đó, vấn đề nó không còn nằm ở vụ giàu nghèo mà nó chuyển qua cái gì? Trí, niềm tin, tàm quý, hiểu không?

Cho nên thiện pháp nào cũng cần hết. Nghèo quá mà phải đi làm thì cái đó là do phước bố thí có vấn đề, đúng không? Nhưng mà khi có phước bố thí rồi đó thì sao ta? Mà mình không có dịp tu học thì lúc đó lại lọt qua cái vụ khác, đúng không? Thiếu mấy thiện pháp khác.

Phải có hết để cho mình mới được thong thả về tài chánh, có đời sống thoải mái, có điều kiện thoải mái về đời sống vật chất rồi thì mình lại có đủ điều kiện tâm lý để mà chuyên tu tinh tấn, miên mật, thành khẩn. Nghe kịp không? Bây giờ hiểu chưa?

Cái bài giảng này mà nghe lại nó không bằng nghe live, và nhất là cái giọng của tôi đó. Nếu mà gặp mặt tôi trực tiếp thì còn nghe không? Có những người mà nói nghe, mà nghe lại đó, nghe cái giọng tôi nó chua, mà giọng kim, giọng mũi, nó khó nghe lắm.

Dạ rồi, bây giờ các vị còn nghe không? Các vị còn nghe không? Mà các vị có nắm được bài giảng sáng nay không ta? Alo! Cô có nắm được hay không?

Bài giảng sáng nay mà không nắm thì ổn lắm, nghe? Tôi nói lần nữa, tôi không có bao giờ dại dột làm cái chuyện mà kêu gọi người khác nghe tôi giảng vì tôi giảng hay. Cái chuyện này ngu, không có kể được. Nhưng mà chỗ nào tôi thấy nội dung cần thiết thì tôi cũng phải bấm môi nói thiệt.

Mà cái bài giảng này nên nghe, nghe? Bài giảng sáng nay mình đọc qua chánh kinh, mình thấy không có gì phê hết, bởi vì khó hiểu quá. Nhưng mà nếu mà dưới bài chú giải mà hiểu thì bài kinh nó sâu banh xác luôn, các bạn nghe kịp không? OK, sâu banh xác.

Rồi, bây giờ là tới cái kinh tiếp theo, là cái kinh gọi là Kinh Lõa Thể.

Sáng nay mình học được về các loại tu sĩ bên Ấn Độ. Bên Ấn Độ nó có nhiều loại tu sĩ. Có loại tu sĩ ăn mặc theo kiểu trang phục, màu sắc trang phục rất là đặc biệt. Nhưng mà có những kiểu tu sĩ coi như không mặc gì hết thì tiếng Pali gọi là Acelaka, có nghĩa là lõa thể.

Họ biết lý do lõa thể là điều thứ nhất: họ nói rằng xưa nay mình chăn êm nệm ấm, ăn ngon mặc đẹp thì về não nó mới có cơ hội được nuôi dưỡng.

Thứ nhất là họ nói rằng xưa nay mình chăn êm nệm ấm, ăn ngon mặc đẹp thì cái não nó mới có cơ hội được nuôi dưỡng. Còn bây giờ ăn uống thì khó khăn, khắc khổ, mà coi như không mặc gì hết, cho mày lạnh, cho mày nóng, cho mày chết luôn.

Bây giờ nói cái thân này, khi nó khổ quá thì cái thân đó không có cơ hội sinh sôi. Cái đầu mình cứ lo chuyện lạnh, chuyện nóng, ngứa ngáy, côn trùng chích đốt, rồi nóng quá, lạnh quá, hiểu không? Thì họ nói nhờ tập trung như vậy đó, cho nên nó không còn quẩn cái đầu nữa. Nó lo cái vụ thích cái này, ghét cái kia, theo đuổi, trốn chạy cái này cái nọ, hiểu không ta?

Họ có niềm tin như vậy đó, cũng không phải là giỡn, nhưng mà nó hơi kỳ kỳ. Bị bắt tránh đọa cũng phải thể hiện qua cái hình thức như vậy nha. Đó là lý do thứ nhất mà người ta tu hành lõa thể.

Lý do thứ hai: một miếng cơm bỏ vào miệng là mắc nợ bá gia bá tánh. Một miếng áo khoác lên người là mắc nợ bá gia bá tánh. Bây giờ mình ăn là ăn hạn chế tối đa luôn, mà mặc thì tự nhiên khỏi mặc luôn, coi như mắc tối đa cái vụ nợ nần.

Quốc gia nào cũng vậy, cái nợ xấu mà nó càng nhiều thì quốc gia nó khó phát triển. Thì biết gì, biết nợ xấu không? Nợ của mấy nhà băng, mấy ngân hàng quốc tế đó. Người nợ nhiều, quốc gia nợ nhiều thì khó phát triển, đúng không? Cho nên họ chủ trương là bớt nợ thì nó tốt hơn.

Cái thứ ba, họ nói rằng mình càng có nhiều nhu cầu thì mình càng xâm phạm cái quyền lợi và cái sức sống của chúng sanh khác, đúng không? Thí dụ như để có một tấm vải cho mình mặc, điều đó có nghĩa là có biết bao nhiêu chúng sanh liên quan nó phải chết, đúng không ta?

Ở đây sao không ai biết gì nữa nè? Bởi vì để vận hành cái nhà máy rồi phải có điện đóm, máy móc cơ khí hoạt động, thì theo họ, nó chết biết bao nhiêu sinh linh. Cho nên bây giờ tôi không mặc gì hết là coi như tôi bớt được cái vụ giết chóc chúng sanh. Hiểu không? Không, tôi đang nói họ chứ tôi vẫn còn đang mặc ngon lành nha.

Thì coi như đây là những lý do mà cái đám này, thứ nhất là họ phải hành hạ thân thể cho phiền não nó tiêu mòn.

Các bạn có biết cái tiêu thổ kháng chiến không? Là vườn không nhà trống. Cũng không biết luôn. Có nghĩa là khi nhà không có gì để ăn, vườn không có gì để hái thì coi như địch tràn vào, địch cứ ở đó, đói nhăn răng. Đó là tiêu thổ kháng chiến.

Thì đối với họ, tu hành kiểu lõa thể là cái kiểu tiêu thổ kháng chiến. Mà nó khổ vô cùng. Nói trong room đi, coi người hiểu hay không mà tu. Rồi cái room này nó ướt lấp.

Cái ông này nè, ổng mới tới, ổng mới hỏi đạo Ngài Nigantha. Hỏi Nigantha rồi. Cái ông gì ta, cái ông Hoàng tử Abhaya. Hoàng tử Abhaya. Nhờ một người nữa, đó là ông Panditakumaraka. Hai ông tới hỏi đạo. Nghe anh em hỏi thế này nè, hỏi gì cho nói Ngài vậy chứ...

Hiện giờ ở Ấn Độ có lục đại môn phái, giống như Kim Dung mà có lục đại môn phái vậy đó: Nga My, Không Động, Thanh Thành, Võ Đang, Thiếu Lâm, vậy đó. Thì Ấn Độ thời đó cũng coi như là có lục đại môn phái, do sáu vị giáo chủ đứng đầu. Ông nào cũng tiếng tăm lừng lẫy hết.

Thì một trong sáu ông đó là Nigantha Nātaputta, nhớ nha. Mà ông này, sở dĩ mà ông có cái ngoại hiệu này là nó nhiều lý do. Thứ nhất là các bạn thấy cái chuyện Nigantha không?

Mà ông này sở dĩ có cái ngoại hiệu này là vì nhiều lý do. Thứ nhất, các bạn thấy cái chuyện Ni-kiền-đà không? “Ni” là không, còn “kiền-đà” là nắm bắt, là chấp giữ. Cho nên người ta mới dịch Ni-kiền-đà là ly hệ, là bởi vì ông chủ trương tu hành buông bỏ càng nhiều càng tốt.

Trình độ tu chứng của một người tu là thể hiện qua khả năng buông bỏ, chứ không phải khả năng anh ta có được cái gì, mà là dựa vào chuyện anh ta đã bỏ được cái gì. Hiểu không ta?

Cái đạo này cũng có một câu rất hay trong Lục Đại Môn Phái. Đây là cái môn phái mà gần với Phật pháp nhất. Tôi nói để các vị xem lên trang nè. Cái câu này phải xem nè: Thành quả tu hành nên nhìn vào việc anh đã bỏ được cái gì, chứ không phải là anh đang có được cái gì.

Kể cả vật chất, tinh thần đều như vậy hết. Nghe kịp không?

Thay vì anh nói rằng: “Tôi có giới, tôi có định, tôi có tuệ”, thì không bằng nói: “Tôi đã bỏ được bao nhiêu tham, bao nhiêu sân, bao nhiêu si, bao nhiêu ái, mạn, kiến, nghi.” Anh hiểu không ta?

Như vậy thì có hai kiểu tu hành. Kiểu thứ nhất là tôi đã có được bao nhiêu thiện pháp. Còn kiểu thứ hai là tôi đã bỏ được bao nhiêu ác pháp. Thì ổng chọn kiểu thứ hai này. Ổng nói tu mà buông càng nhiều càng tốt.

Còn bên Cái Bang của Hồng Thất Công thì dựa vào cái túi, số túi mà mình đánh giá người đó thuộc hàng trưởng lão cấp nào. Nếu một túi, hai túi thì còn thường; phép lên tới tám túi coi như là lên tới hàng cao thủ võ lâm trong Cái Bang.

Còn ở đây, ổng không dựa vào túi mà ổng dựa vào khả năng buông bỏ, bởi vì buông riết coi như tụi nó không còn gì hết.

Hôm nay có biết sẵn, tôi nói về ổng này một chút xíu. Nó lạc đề nhưng quan trọng, mà tôi nhớ là tôi đã dẫn rồi. Nhưng mình dành cho mấy người chưa nghe.

Ông này có quan điểm giáo pháp rất giống đạo Phật. Nhưng mà giống ở đây không phải là ổng với đạo Phật ngang nhau, mà giống ở một đoạn thôi. Có nghĩa là cái kiến thức toán học của một đứa bé lớp Một với ông tiến sĩ toán, nó có điểm nào giống nhau không? Có không? Có thôi, không? Có. Tại vì... beginning... Yes! Yes!

Rồi, nhớ như vậy chứ đừng có nghe nói nó có điểm giống nhau nữa. Lấy thằng này bồng lên ngồi chung với ông professor thì hơi kẹt, nhé. Giống cái beginning ấy.

Đó. Ví dụ như hỏi hai cộng hai là mấy, thì thằng tiến sĩ với thằng nhóc lớp Một nó phải làm giống nhau chứ. Chứ đâu phải tự nhiên thằng tiến sĩ nghĩ: “Tao cao quá rồi, hai cộng hai là tám”, thì nó hơi kẹt. Nhé. Rồi.

Nó phải làm giống nhau chứ. Chứ đâu phải tự nhiên thằng trai tiến sĩ... Tao cao quá rồi, 22 là 8 thì nó hơi kẹt. Nhé.

Rồi, thì ông này có cái này dễ thương lắm. Ông thấy đạo Phật hay quá, mà bây giờ mặt mũi mình nó lớn quá. Bây giờ mình theo đạo Phật thì coi như cái mặt giấu vào đâu? Thôi thì bây giờ con theo Phật từ xa, mà theo trong lòng thôi. Trời biết, đất biết, con biết, giờ có thể là Phật biết. Chứ bây giờ mặt mũi con, bây giờ đệ tử con nó răng răng thế này mà bây giờ kêu con đi theo, theo cái cửa nào đây?

Trước khi ông chết, ông nói cái đạo ông là đạo tào lao, chứ không phải giải pháp rồi. Nhưng mà phải giải tán kiểu nào kín kín chứ, còn giải tán mà kêu con về hết thì cũng hơi bể mặt, ê mặt quá.

Chắc mới kêu hai đệ tử lớn vô. Ông kêu thằng lớn nhất vô, ông nói:

“Người ta từng nói với con là mọi thứ đều là vô thường. Nhưng mà thật ra đó là có cái vô thường, có cái vĩnh cửu. Mình tu hành là mình hướng tới cái vĩnh cửu.”

Đó là thằng lớn nhất. Ổng kêu thằng lớn nhì, cái thằng lớn nhì tên là đệ tử số 2 đó, số 2 nắm đầu anh em đó. Ổng nói:

“Mọi thứ ở đời là vô thường, ông biết không? Mọi thứ đều vô thường hết. Tốt, xấu, thiện, ác, buồn, vui, vô thường hết. Nhưng mà mình đi theo cái thiện, dù nó vô thường, nhưng mình đi theo cái vô thường thiện thì nó vẫn tốt, mà mình đi theo cái vô thường xấu...”

Ổng nói xong rồi ổng tắt thở. Tắt hơi xong thì dĩ nhiên khi ông chết rồi, hai ông đại ca này phải đứng lên, gọi là giám quản giáo chúng, đúng không? Thì khi hai ông giảng, dĩ nhiên nó trỗi nhau rồi.

Cái ông số 1 thì ông nói rằng sư phụ đã từng giảng rằng trên đời này có cái vô thường, có cái vĩnh cửu. Chúng ta lấy cái vô thường này để mà đạt tới cái vĩnh cửu. Đó, đời đời bất diệt.

Cái ông thứ 2, ông nói:

“Nói quá, sư phụ đâu có nói gì về... Sư phụ nói tất cả đều là vô thường. Thiện ác, buồn vui đều vô thường. Có điều là mình nên theo cái vô thường thiện hơn cái vô thường ác.”

Nghe kịp không? Thế là hai người trỗi nhau. Mà chính vì trỗi nhau cho nên không nhìn mặt nhau được nữa, mới chia đôi đệ tử ra.

Cái dụng ý của ông thầy đó là tại sao mình chia? Tại sao mới chia? Là bởi vì ông muốn phân tán lực lượng. Mà khi nó phân tán ra thì nó mỏng, nó yếu đi, thì cuối cùng tự quậy, tự quại, nghe kịp không?

Chứ ổng khả năng cũng làm tới đó thôi, chứ ổng không có khả năng làm hơn. Nếu mà ổng có khả năng chia tám, chia mười thì ngon quá rồi. Nhưng mà ổng dẹp cái nhóm, chẻ đôi ra cho nó yếu nữa cơ mà. Rồi khi hai, nếu có thể, nó sẽ thành ra là bốn, rồi tám, rồi cái gì nữa? Mười sáu, ba mươi hai, sáu mươi tư, phải không ta?

Ừ. Ổng hy vọng như vậy mà đúng.

Ngay cả Phật giáo mình mất ở Ấn Độ cũng là do cái vụ đó. Cũng do cái vụ mà khi Phật tịch rồi, anh em đó chia hai, rồi cái là bốn, rồi tám, rồi mười sáu, ba mươi hai, sáu mươi tư, một trăm hai mươi, thêm mấy rồi bầm... Bây giờ Ấn Độ coi như là clear, đổ Phật luôn, là nhờ cái vụ anh em chia rẽ đó.

Mà cái kiểu tình hình này bây giờ nó đang tràn qua Thái Lan. Bây giờ mình thấy Phật giáo trên mặt nổi thì nó rất là thịnh, nhưng mà trong cái mặt chìm đó là khả năng chia rẽ cực lớn.

Các bạn thấy cái mà làm cái Thăm Ba Cai không? Phát triển ào ạt, nhưng mà phát triển về mặt thương mại, phát triển về mặt quan hệ xã hội, còn về mặt giáo lý thì bị lờ mờ. Dạy thiền mà dạy bằng một cái kỹ thuật, tôi không có bàn, bởi kỹ thuật đó là chuyện cá nhân.

Giáo lý thì bị lầm lẫn. Dạy thiền mà dạy bằng một cái kỹ thuật, tôi không có bàn, bởi kỹ thuật đó là chuyện cá nhân. Nhưng cái lý tưởng, nội dung hướng dẫn của Tamakai là hoàn toàn không có trong kinh.

Phát cho anh em một cục crystal, nhìn gì trong đó? Nhìn nào thấy Phật hiện ra là coi như đó. Rồi cái đạo crystal, đạo nó sang; em nào cũng cầm một cục sáng trưng như thế này. Chuyện kiểu đó thì dễ tu.

Mà con có làm vụ nữ, con ham đẹp, ham shopping, con ham ăn ngon, ham ăn đồ đặc biệt, không có vấn đề. Cứ đến giờ, con đến gặp sư phụ, cứ để một cục trước mặt, nhìn nào thấy nó lấp lánh là tự nhiên con đắc rồi đó.

Dĩ nhiên, có những người phản đối cái đó. Khi phản đối cái đó thì họ bị mang tiếng là ganh tị, hiểu không? Có hiểu không? Đệ tử của ông Tamakai chửi tôi là ganh tị, rồi đệ tử của tôi nói đám kia là tà kiến. Nó cứ như vậy, nó làm cho bành trướng cái nào cũng vậy.

Và chưa kể là những ngôi vị quan trọng, quyền lực ở trong Phật giáo Thái Lan, đa phần không dựa vào đạo hạnh của vị đó, mà chỉ dựa vào có ba chuyện thôi.

Thứ nhất, vị này có bị mang tai tiếng hay không? Mà mang tai tiếng là vô phương. Cho nên đầu tiên, vị này phải có một lý lịch clear.

Thứ hai là vị này có những đóng góp lớn lao nào cho xã hội, cho Phật giáo mà mọi người nhìn vào đều thấy.

Thứ ba, vị này có những quan hệ tốt với chính quyền, với các thành phần quyền lực trong chính phủ, lẫn các đại gia ngoài xã hội.

Chỉ cần ba cái này cộng lại là vị đó đương nhiên có mặt ở trong cái hàng ngũ gọi là Hội đồng Tăng già, trưởng quản Giáo hội Thái. Các bạn nghe kịp không?

Như vậy là chết rồi. Như vậy thì ba cái điều kiện này các bạn có thể thấy: điều kiện đầu tiên còn có cái mùi đạo một chút, có nghĩa là vị này không có bad history. Đúng không? Nhưng mà cái chuyện mình không có bad history không có hẳn là mình có good history. Cái đó đúng không ta?

Bây giờ, Ngô Đình Nhu không có nói thế này: nó không đen chứ chắc nó màu trắng. Cái này hiểu không ta? Nó không đen chứ chắc nó màu trắng; maybe nó brown hoặc là grey. Nghe? Nó kẹt cái chỗ đó. Đó là cụ Nhu của tôi nói như thế.

Cho nên là tôi đang nói một dòng lớn như vậy để các vị có thêm chút ít hiểu biết về ông Nigantha Nataputta. Vì đâu mà ông có cái tên là Nigantha, nghe? Rồi tiếp theo gọi là Nataputta là vì sao?

Nata có nghĩa là dancer. Đây, nata là dancer, putta là son, là con trai. Ông này, xuất thân ổng là con trai của một người vũ công. Cho nên cái ngoại hiệu của ổng nó gắn liền với xuất thân, với gia thế của ổng. Nghĩa là gọi là Nigantha Nataputta. Nigantha là nội dung, hay là cương lĩnh, giáo lý, tu hành, đường hướng của ông; còn Nataputta là xuất thân hay gia thế của ông.

Có một ông khác trong luật Đại Bổn Thái có cái tên là Makkhali Gosala. Go là con bò, còn gosala là chuồng bò. Bây giờ, ông này khi mẹ ổng trở dạ là lại sinh ngay trong cái chuồng bò. Cho nên lớn lên, người ta gọi ông là Makkhali, là tên mẹ đặt, nhưng mà người ta gắn luôn cái nơi đó vào, gắn luôn là Gosala, tức là ông đẻ trong chuồng bò. Ở Ấn Độ thì cái đó là bình thường.

Nhưng mà người Việt Nam mình, trong văn hóa, trong tâm linh, trong nhận thức, mình nghe vậy thì nó hơi kỳ kỳ, hiểu không ta?

Chứ bên Thái Lan, các bạn biết có một chuyện thế này: Thái Lan có tới một tỷ vị tên là Anuruddha, một tỷ vị tên là Ananda, một tỷ vị tên là Vipula. Rồi hỏi gì, chứ bây giờ kêu làm sao người ta biết?

Tên là Anuruddha, vị sư. Rồi một tỷ vị tên là Ananda, một tỷ vị tên là Wipula. Rồi hỏi gì chứ? Bây giờ kêu làm sao người ta biết? Người ta mới bèn gắn cái tên, cái bản quán của vị đó, cái sinh quán của vị đó vô.

Thí dụ như là Anuruddha Virginia. Đó, Anuruddha Washington, Maryland, hay là Anuruddha Florida. Không, Florida là bự quá, phải kêu nhỏ nhỏ chút: Anuruddha Naples, Anuruddha Fairfax, hay là Annandale. Đừng đụng với ông khác. Làm gì có cái Anuruddha mà ở đây có tới hai ông? Rồi nếu mà có hai ông, họ mới bèn kiếm cái chỗ nào mà nó hơi nhỏ hơn nữa. “Không, anh Anuruddha Trần Lý.” Đó. Đặt tên người xưa, cái góc đó, cái góc địa dư nó như vậy đó, nghe?

Rồi hổng tới, Ngài mới nói với Ngài Đăng-đa. Ngài Đăng-đa hổng nói thế này, hổng nói cái này nè. Hổng có cái quan điểm đại khái như sau.

Thứ nhất, hổng thừa nhận ổng là cái vị toàn tri, cái giống gì trên đời cũng biết hết. Đó là quan điểm thứ nhất.

Cái quan điểm thứ hai đó, ổng nói rằng cái sự có mặt của mình trong cuộc đời này, buồn vui, đều là do nghiệp cũ quá khứ. Cho nên hôm nay mình tu hành là mình hạn chế, từ hạn chế cho đến triệt tiêu, không tạo ra nghiệp mới nữa. Nghe phảng phất giống cái mùi đạo Phật phải không? Nhưng mà nó có điểm khác nè: triệt tiêu nghiệp mới bằng cách nào? Là hạn chế bớt động tay động chân, không có làm gì hết, hiểu không?

Không có làm cái gì đặc biệt hết, không có bố thí, không trì giới, không sát sanh, không trộm cắp. Ăn rồi cứ ở trong cái chuồng, ngồi như thế này nè. Nghe hiểu không? Hiểu hả? Đó, có nghe không?

Cái giáo lý đó có ba điều thôi. Thứ nhất là không sát sanh, trộm cắp, không làm gì hết. Ổng nói rằng cái giống gì trên đời cũng biết hết. Và coi như là bất cứ khi nào đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, lúc nào cái trí toàn tri ấy cũng ngự trị trong tâm của mình hết. Hiểu không? Đó là ý thứ nhất.

Ý thứ hai là ổng nói rằng tất cả mọi sự có mặt ở đời này, buồn, vui, thiện, ác, nó đều do tiền nghiệp quá khứ. Bây giờ mình không muốn có mặt ở cái cõi tào lao này nữa thì mình đình công toàn diện, không có làm cái gì hết. Nghe kịp không?

Thì ông hỏi Ngài như vậy đó: “Đó là cái giáo lý mà con được học từ bên kia đó. Bây giờ bên đây, đức Thế Tôn, sư phụ của Ngài, nói làm sao cái vụ này? Bên kia có nghe cái đạo giải thoát như vậy đó, còn bên đây sao?”

Bên này nói hiểu là sao? Thì Ngài mới trả lời, Ngài nói là:

“Bên đây có nói đến con đường giải thoát, nhưng mà thông qua cái tam học. Thứ nhất là thanh lọc thân nghiệp và khẩu nghiệp bằng giới. Trên nền tảng sạch sẽ của thân nghiệp, khẩu nghiệp ấy thì tâm mới gọi là trong sạch.

Trong sạch bậc một có nghĩa là lìa bỏ năm triền cái để chứng đắc các tầng thiền định. Đó gọi là trong sạch bậc một.

Trong sạch bậc hai là lìa bỏ niềm đam mê đối với các tầng thiền đã đành, mà còn lìa bỏ luôn niềm đam mê trong tất cả các cõi tái sinh.

Thì đây mới chính là con đường chấm dứt nghiệp cũ lẫn nghiệp mới. Bởi vì đắc đạo là gì? Đắc đạo là xù cái nợ cũ mà không vay thêm cái nợ mới.

Các bạn có nghe cái đó chưa? Một vị La Hán mà đắc quả đó là xù không biết bao nhiêu nợ cũ. Các bạn biết không? Coi như là các bạn tưởng tượng, ví dụ nghe cũng hơi khó tin. Đức Thế Tôn, khi mà Ngài đi bàn, là có bao nhiêu cái phước báu mà Ngài hưởng chưa hết. Các bạn có tin không ta?”

Các bạn hãy đăng ký kênh để ủng hộ kênh của mình nhé!

Vậy là vị kia chủ trương muốn trừ nghiệp thiện ác hết, không làm gì hết, cứ không mặc gì hết. Ăn thì ăn rất kiêng khem, khổ hạnh cực khổ. Còn đời sống bình thường thì coi như hạn chế tối đa.

Bởi vì vậy cho nên đạo Jain này bây giờ nó lay lắt. Nó tồn tại gần ba ngàn năm rồi. Bây giờ mới Ấn Độ là nó cất cái nhà hay cất làm sao đó, mà cái chân tường thì để trống được càng nhiều càng tốt, cho gió đi qua, xà nhà khỏi quét. Bây giờ quét là sát sanh chứ biết không? Uống nước là phải lọc. Uống nước là tính đồ rồi, cho nên giáo sĩ, tu sĩ đều uống nước lọc hết. Như vậy bây giờ là ba cái gì đó, ba cái UV, UVX gì đó, họ không dám dùng. Họ chỉ xài nước lọc thôi, lọc bằng vải thủ công đó.

Bây giờ họ hạn chế. Như mình nói cái vụ chia rẽ hồi nãy, trong giáo chúng chia ra hai phe. Không tưởng chia ra là nó rã, ai ngờ nó không rã mà nó bèn phát triển.

Có một phe chủ trương là Digambara, có nghĩa là mặc áo da trời, có nghĩa là trụi lủi, không thêm bớt gì hết. Cái phe thứ hai gọi là Svetambara, có nghĩa là không mặc gì thì kỳ quá. Không mặc kỳ quá thì phải mặc, nhưng mà mặc ở mức tối giản. Có nghĩa là không có kiểu dáng đặc biệt, chỉ cần áo có tay, quần có ống là được rồi, chứ không có kiểu dáng đặc biệt. Và đặc biệt là không có nhuộm màu, bởi vì số chúng sanh chết trong quá trình làm vải đó đã đủ để mình mắc nợ rồi. Còn tạo ra quá trình nhuộm, giặt, sấy, lung tung, nó còn biết bao nhiêu tội nữa. Cho nên họ chỉ chơi màu trắng cho nó bớt tội.

Cho nên hôm nay ở Ấn Độ có hai phe: một phe Svetambara là màu trắng, còn phe Digambara thì không có màu gì hết. Trên người chỉ có lấy phần vải phủ lên thôi. Mùa hè, mùa đông gì cũng vậy, có nhiêu đó là tới hai tập, ba tập như mình.

Thì đó, là đại khái trường hợp như vậy. Mà nói đến đây tôi mới nhớ một câu chuyện tào lao. Cô giáo hỏi mấy em học trò trong lớp:

— Muốn người ta tha lỗi, em phải trước hết phải làm gì?

Nói:

— Dạ, trước hết mình phải phạm lỗi.

— Hả?

— Chính xác!

Thì ở đây, họ chủ trương không làm gì hết là không có lỗi. Nghe kịp không?

Nhưng mà cái đó theo tinh thần đạo Phật, đúng không? Anh muốn không có lỗi không phải là anh không làm gì, mà chuyện đầu tiên là không làm bậy, và anh phải làm những điều tốt. Nhờ cái tốt này nó mới trở thành nhiên liệu để đẩy cái quả tiện anh rời bệ phóng.

Thiện pháp chỉ là helium để đẩy quả tiện đi, chứ helium này nó không có ăn nhậu được gì với nó đâu. Nhưng mà nó dùng nó để phóng quả tiện ra khỏi quỹ đạo, nghe kịp không?

A-lô, trung tâm còn nghe không? Khổ chưa, mình cứ nói, mình cứ hỏi chừng chừng. Bây giờ mình không có thấy mặt nhau, mới ghê chứ.

Các bạn có biết chất helium không? Thì bao nhiêu thiện pháp mình tu hành, nó chỉ có cái giá trị là đẩy mình lên giàn phóng thôi. Thì nó là phần của mình. Còn bên kia nói là không muốn có lỗi thì đừng làm gì hết, thì nó kỳ quá đi.

Các bạn tưởng tượng, các bạn đừng có nói tu hành gì mệt. Các bạn có hai đứa con, các bạn nói:

— Tụi bây làm gì thì làm, bây giờ má mệt quá rồi. Bây giờ tụi bây đừng có làm cho má phiền nữa, được không?

Các bạn có hai đứa con. Các bạn nói: “Tụi bây làm, bây giờ má mệt quá. Bây giờ tụi bây đừng có làm cho má phiền nữa, được không?”

Trong hai đứa con, nó nghe như vậy thì có hai hướng. Hướng thứ nhất là nó vẫn sinh hoạt bình thường, vẫn rửa chén, vẫn quét nhà, hút bụi, nhưng nó tránh những chuyện làm má phiền.

Còn đứa thứ hai là nó cứ ngồi yên như thế này. Vì má dặn là đừng làm cho má mệt nữa, nó không thèm làm gì, nó ngồi như thế này.

Thì cái gì? Chọn đứa nào? Cái đứa thứ hai là nó bị Down syndrome. Nó bị gọi là thần kinh, thiểu năng. Tự nhiên nó không làm gì cả, suốt ngày nó cứ ăn, cứ ngồi, mắt nó thừ ra phía trước như thế này. Thì cái đứa đó là bệnh.

Cái bệnh là mình phải chọn cái đứa thứ nhất kìa. “Mày lại đừng làm cho má mệt nữa.” Nó vẫn hút bụi, vẫn quét nhà, vẫn nấu ăn, vẫn rửa chén, vẫn giặt đồ, vẫn đi học, vẫn làm mọi chuyện bình thường, nhưng nó rút bớt những cái làm cho má phiền, những thứ có nguy cơ tạo nên nếp nhăn trên gương mặt xấu quắc của má nó. OK?

OK, như vậy là xong rồi đó. Như vậy là cái này, để giải thích cho ông nghe. Bên đạo bên đây là vậy đó.

Thầy cũng đồng ý là mọi thứ trong đời sống có một phần là do nghiệp tạo. Sanh tử là do nghiệp tạo. Nhưng có một điều: để giải quyết nó, không phải là mình cứ thúc thủ bó gối, ngồi yên, mà phải hành thiện lánh ác.

Nhưng ngày xưa đó, những đứa tào lao hành thiện lánh ác để nó trốn khổ tìm vui. Còn ở đây, chúng tôi hành thiện lánh ác để không còn thiện ác, buồn vui nữa. Anh biết hai cái này, có hiểu không? Khác hay giống?

Một người có tiền để đi trồng răng, có người để dành tiền để đi nhổ răng. Khác hay giống?

Một đứa làm ra tiền, để dành đi giải phẫu thẩm mỹ; còn một đứa làm ra tiền, để dành đi cắt ruột thừa. Một đứa để dành tiền để đắp cái này, đắp cái kia vô.

Giống như ở Việt Nam, ngày Tết có cái ông đóng chân. Bốn trái là vừa, ba trái là vừa đủ xài. Trái gì trái? Ông đọc sai chẳng tả đó. Từ trái dừa đến đủ trái xài.

Nhưng mà ông kia lại trưng trái apple. Vậy ông thấy vợ đi thẩm mỹ là bơm đủ xài, chứ không sợ vợ bơm nhiều quá rồi hết xài. Các bạn nghe hiểu không?

Nhưng mà có cái nhà hàng xóm là không trưng trái apple, mà trưng trái trộm trộm. Mấy nhà họ đó làm nghề ăn trộm, chứ chỉ trộm đủ xài thôi.

Cũng trong chuyện đi làm, có người thì để dành tiền để đi lắp cái này, thêm cái kia vào cơ thể. Có người để dành tiền để bỏ bớt cái gì đó ra khỏi cơ thể. Có người để dành tiền để đi nhổ răng, có người để dành tiền để đi trồng răng. Nghe kịp chưa?

Có người hành thiện lánh ác để trốn khổ tìm vui, cái chữ “tìm” này gạch dưới, nghe. Còn có kẻ hành thiện lánh ác để không còn khổ vui, thiện ác. Nó khác nhau.

OK. Mà không biết nó hiểu hay không, nó im re chứ. Trời đất, mình giảng nó y như cái nghĩa trang vậy đó. Nó im re, nó lặng như tờ vậy đó. Chưa chắc.

Dạ rồi. Thì cái nội dung về kinh này là như vậy đó, nghe. Mà nếu mình chỉ liếc vào kinh, một là không hiểu, hai là coi thường. Thấy cũng hơi... Cái này thấy nghe hoài, đọc hoài, nhưng mà sai bét.

Tôi nói cho các vị nghe một cái chuyện động trời thế này. Cái ly cà phê mình uống một triệu lần, có thể chỉ có một thứ cảm giác thôi, không có phát hiện gì đặc biệt. Nhưng mà một bài kinh Phật thì không phải như vậy.

Thể chỉ có một thứ cảm giác thôi, không có phát hiện gì đặc biệt. Nhưng mà một bài kinh Phật thì không phải như vậy. Mỗi một lần mình nghe, mỗi một lần mình đọc lại, là nó lại thêm một lần thấm thiết khác.

Mà nếu các vị không thấy cái gì mới thì đương nhiên, cái đó không phải là do kinh, mà do cái đầu của mình không chịu đổi mới. Nghe rõ không? Có hiểu không ta?

Nó lớn lắm. Cái chuyện đó lớn lắm. Khi mà đó là lời dạy của bậc Chánh đẳng giác, mắt nhìn thấu ba cõi, lòng nghĩ suốt ngàn đời, chứ đâu phải tầm thường. Mà ta đọc vào, ta thấy lần một, lần hai, lần một trăm, mà nay chê không phải là kinh cũ xì, mà cái đầu của ta nó cũ xì. Nghe kịp chưa?

Chứ các vị biết, những vị pháp sư Tam tạng thuộc làu làu như vậy mà các cha cứ quẩn quanh, các cha cũng lôi kinh lên đọc. Thuộc trong đầu nó khác, nhưng mà coi bằng mắt nó khác. Rồi cứ mỗi lần lướt vô đó, mấy cha phát hiện ra nhiều cái chuyện động trời ở trong đó.

Tôi nói cái chuyện nghe nhẹ thôi. Các vị thấy chuyện nấu ăn không? Cũng món đó, chừng đó nguyên liệu, gia vị là đủ. Nhưng một người mà chí thú, đam mê trong việc nấu ăn, họ không ngừng cải tiến. Họ phát hiện ra lắm chuyện về tiêu, về củ tỏi, có đúng không ta?

Nhờ họ hiểu sâu, hiểu rộng rất nhiều về từng thứ, từng thứ, từng thứ, cho nên họ mới nghĩ ra nhiều món trời ơi đất hỡi. Họ có thể tạo ra những kết hợp phải nói thần thánh, có đó không ta?

Tôi ví dụ như có những món tôi không ngờ. Tôi đang nói kiểu nhà quê này. Có một lần tôi thấy một chuyện rất là lạ, đó là họ dám lấy rau quế, đem nó chiên trong dầu sôi, rồi lấy ra. Mấy cái lá nó giòn rụm. Rau quế mà ăn tươi thì nó có mùi vị khác, mà rau quế giòn rụm thì mùi vị nó khác. Các bạn biết không? Thử đi, nó lạ lắm.

Cái đó là mấy cái tài mà người đam mê nấu ăn mới mày mò, mới phát hiện ra. Nhiều phát minh của người nấu ăn nó đi ra từ những tai nạn, các bạn biết không? Có hiểu cái tai nạn không? Lỡ tay rồi nó thấy hay quá, cái nó trộn, nó làm ra công thức luôn.

Rồi mình nghĩ chắc là phải đắc thiền, đắc thông nó mới nghĩ ra. Không có. Tai nạn mà ra, nghe?

Mà có rất nhiều phát minh học từ tai nạn. Ví dụ như penicillin được phát hiện ra từ một khúc bánh mì bỏ quên. Các bạn biết điều đó không? Móc Google ra. Trong đó người ta nói, cái penicillin nó được phát hiện từ một miếng bánh mì cũ lên mốc, lên meo.

Cho nên mỗi một bài kinh mà người ta càng đọc nhiều lần thì càng phát hiện ra lắm điều thú vị. Mà nếu không phát hiện được thì không phải kinh nó cũ xì, mà cái đầu chúng ta cũ xì. Cái đầu cũ xì là phải qua Trung Quốc thai. Mà thai thì phải lựa.

Bây giờ mình học qua cái vụ khác. Bạn kênh khác, bạn kênh khác là kênh gì ta? Bữa nay mình... Trời ơi, quá nhiều nghĩ! Ờ, tới giờ là mình ăn bánh xèo rồi.

Chúng tôi xin lỗi, phải trở về bờ mê. Chúc các vị một ngày vui. Ngày mai mình gặp nhau. Mà không gặp bữa nay, cho ma đưa lối, quỷ đưa đường.

Mà tôi giảng lâu dữ vậy trời. Cảm ơn.

Vì đang mê nhặt tinh anh hô tú, sức khí ta hôn tú nhặt tayô.

Vì đang mê nhặt tinh anh hô tú, sức khí ta hôn tú nhặt tayô.

Vì đang mê cùnh nhằn ác sứa khai áo hoa anh hô tú.

Hặt tayô.

Vì đang mê nhặt tinh anh hô tú, sức khí ta hôn tú nhặt tayô. Vì đang mề cùnh nhằn ác sứa khai áo hoa anh hô tú.

I-đan-me-bu-nhan-ni-pa-ra-sa-pa-cha-yo-ho-tu-ma-mang-ku-nha-pa-gan-sa-sa-ba-ta-nan-ti-ma-sa-sa.

Sau khi đọc

Giữ lại một điều có thể thực hành

Đừng cố nhớ toàn bộ transcript. Chọn một ý chính, quan sát nó trong sinh hoạt hôm nay, rồi quay lại đọc tiếp khi tâm còn sáng và dễ tiếp nhận.

  • Ý nào liên hệ trực tiếp đến khổ và nguyên nhân khổ?
  • Ý nào có thể đem vào lời nói, việc làm, hoặc chánh niệm hôm nay?
  • Nếu cần đối chiếu, mở Kinh Tăng Chi Bộ để đọc bản kinh gốc.
↑