Các vị có nghe rõ không? Giờ đây, hôm qua chúng tôi bắt đầu một bài kinh mới, nhưng lúc đó các vị nói là nghe không rõ, với lại cũng hết giờ, cho nên mình hẹn là bữa nay học tiếp.
Bài kinh này có một nội dung thôi, đó là đề cập đến việc tu tập tam học. Ở bài trước, Ngài chỉ nói vắn tắt là có những vị tỳ-kheo chỉ tu tập giới học.
A-lô, các vị có nghe không?
Dạ rồi.
Các vị nghe được bao nhiêu? Một trăm hay là tám mươi phần trăm? Các vị nghe được tám mươi hay là một trăm?
Dạ rồi.
Rồi, nói lại nữa, cái bài kinh này có lẽ nó chạm vào cái vấn đề nào đây, cho nên Long thần Hộ pháp không cho nghe cái kinh này. Lạ ha? Kinh này giảng ba lần, giảng được kinh này lạ luôn. Nếu mà trục trặc nữa thì mình quyết định nhau là kinh này thông qua nha, không có giải kinh này nữa.
Ở bài kinh trước thì Đức Phật chỉ giải vắn tắt thôi. Tức là có trường hợp các vị tỳ-kheo chỉ hoàn tất giới học, nhưng mà chưa hoàn tất định học và tuệ học. Trong trường hợp này, vị ấy vẫn có thể gọi là chứng đắc quả Dự lưu.
Rồi trong trường hợp hai, vị tỳ-kheo hoàn tất được giới và định, nhưng mà tuệ cũng còn có chỗ chưa xong, thì vị này vẫn có thể đi thêm hai tầng thánh nữa, đó là Nhị quả và Tam quả. Chỉ có tầng cuối cùng là vị tỳ-kheo hoàn tất được cả tam học thì mới chứng đắc quả A-la-hán.
Đó là bài kinh trước, Ngài giảng như vậy. Nhưng mà kinh sau thì nội dung giống như vậy, nhưng Ngài nói chi tiết về các tầng thánh. Chi tiết là sao? Cũng y hình như vậy. Cũng có những vị hoàn tất một vị riêng, có giới học; có những vị thì hoàn tất thêm định học; có vị thì phải hoàn tất cả tuệ học mới thành A-la-hán.
Nhưng mà ở đây, Ngài nói cho mình biết tu-đà-hoàn có ba hạng. Tu-đà-hoàn có ba hạng, đừng quên có ba hạng.
Mình đang học đoạn số tám mươi mấy, các vị có biết được không? Mình đang học đoạn số mấy? Tại vì tôi thấy phần quý vị đăng lên thì nó lại không giống. Mình đang học đoạn nào, đoạn số mấy?
Tám mươi sáu.
Tám mươi sáu.
Hạng một gọi là Ekabījī, hạng hai là Kolaṃkola, hạng ba là Sattakkhattuparama.
Đem nhân với bốn trường hợp, mình học có nhớ không? Tức là tu khó đắc nhanh, tu dễ đắc chậm, tu khó đắc chậm, tu dễ đắc nhanh. Tổng cộng là bốn hạng như vậy.
Bốn kiểu đó cộng với ba hạng này là mười hai: bốn nhân ba là mười hai. Mười hai lại đem nhân với hai nữa. Nhân với cái gì ta? Nhân với một cái hạng mà gọi là trí nhiều hoặc là niềm tin nhiều.
Trí nhiều hay là niềm tin nhiều. Như vậy là mình thấy rõ ràng, nhân hai nó chạy ra là hai mươi bốn nha, nó ra tới hai mươi bốn luôn.
Nó ra tới hai mươi bốn, tức là ba hạng Dự lưu vừa kể đó đem nhân với bốn trường hợp tu nhanh đắc chậm, tu chậm đắc nhanh vậy đó, thành là bốn nhân ba, mười hai. Mười hai này lại nhân đôi với cái hạng, nhân đôi trường hợp là trí nhiều hay là niềm tin nhiều đó. Các bạn thấy chưa?
Theo trong chú giải nói nữa là trong chúng sanh ở đời này, hạng đức tin nhiều lại đông hơn hạng trí nhiều. Vì sao? Vì thêm một chuyện nữa. Càng nói nó càng rõ ra. Một chuyện nữa là các bạn còn nhớ ba khổ không?
Ồ, là vì thêm một chuyện nữa. Càng nói, nó càng thấy vui ra. Lại một chuyện nữa là các bạn còn nhớ ba khổ không? Tức là khổ khổ, tức là sự có mặt của những gì khiến cho thân tâm khó chịu, đau đớn. Trường hợp hai là hoại khổ, là sự vắng mặt của những gì làm cho thân tâm dễ chịu. Trường hợp ba là hành khổ, có nghĩa là cái tính lệ thuộc các duyên mà có.
Mình nghe kể ba cái khổ, mình thấy nó không có gì hết, nhưng thực ra nó rất là quan trọng. Là bởi vì, thứ nhất, qua cách kể này, mình thấy nước mắt hay nụ cười đều là khổ hết. Chỉ cần nhớ: nước mắt hay nụ cười đều là khổ hết nha. Đó là chuyện thứ nhất.
Chuyện thứ hai là tùy vào cái căn cơ của chúng sanh. Người hạ căn thì phải có đổ lệ, đổ máu, họ mới chịu tu hành, giải thoát, chán sợ sinh tử. Hạng thứ hai thì không cần phải có máu lệ, mà chỉ cần nhìn thấy một sự đổ vỡ của cái gì đó hay ho, sự mất mát của cái gì mà mình thương thích, thì đủ để họ chán sinh tử. Còn hạng thứ ba là bậc thượng căn. Vị này không cần phải có máu lệ, mà cũng không cần nhìn cái hoa héo, không cần bị sốc nhẹ, sốc nặng. Vị này tự nhiên chỉ cần nghĩ thôi.
Nghĩ sao? Tại sao mọi thứ ở đời đều lệ thuộc điều kiện? Ví dụ như vị đó bước vào trong phòng tắm mà thấy cái cảnh mỗi ngày phải đi tắm là vị đó đã chán rồi. Có cái thân này rồi là mình phải ăn. Có cái thân này là mình phải có nhà cửa. Có cái thân này là mình phải mang giày, mang dép. Có cái thân này là mình phải làm bao nhiêu là chuyện, nghe không? Bao nhiêu là chuyện. Thì bậc thượng trí họ chỉ thấy vậy là họ đã chán rồi.
Thời này, khoan nói đến cái chuyện mình chán. Riêng cái chuyện mà mình hiểu điều mà tôi đang giảng này nè, đã hiếm người rồi. Rất nhiều và rất nhiều người hỏi tôi, họ nói: “Trời đất ơi, ở đâu chán mình mang thân? Chuyện đó đương nhiên.”
Khi mà họ nghĩ đó là đương nhiên thì thua rồi. Cũng giống như bây giờ, tưởng tượng đi, mình có đứa con mà mình nói: “Con thấy không, con mà làm biếng, con không có học hành á, thì lớn lên con sống cực như ông đó vậy đó.” Cái đó nói chuyện đương nhiên. Nó giàu thì nó sướng, còn nó nghèo thì nó khổ. Chuyện bình thường mà, có gì mà ba phải lo? Chỉ để con thấy bình thường thôi.
Bây giờ cái gì trên đời cũng phải trả hết. Bây giờ nó muốn có tiền thì nó phải thức khuya, dậy sớm, nó cày bừa, cuốc xới, nằm tầng tảo một nắng hai sương. Còn con thì con không có cần như nó, dĩ nhiên con không có giàu bằng nó. Chuyện đương nhiên. Tại sao ba phải bận tâm?
Bây giờ tưởng tượng nếu một đứa con nói vậy thì còn gì nữa để nói nữa? Kêu nó đi học bác sĩ, đi học kỹ sư, mà nó phán một câu, nó nói là: “Ở đời có gì cũng có giá để trả hết. Bây giờ ba thấy không? Con không có học bác sĩ, đúng. Nhưng mà ba thấy sáng con còn ngủ thẳng cẳng tới mười giờ mới ra khỏi giường, ba thấy không? Rồi con xuống, con lục cơm nguội có gì ăn nấy, ăn mì gói, ba thấy không?”
Tới 10 giờ cũng mới ra khỏi giường. Ba thấy không? Rồi con xuống, con lục cơm nguội có ăn, có khi là ăn mì gói. Ba thấy không? Xuống dốc luôn vậy đó.
Bây giờ bài nào là học hành, sách vở rồi trường lớp, bà bị cô ngán dễ lắm. Mà học cái chuyện đó là chuyện còn cái chuyện mà bà đem bà so sánh với người khác, là chuyện này bà thấy không đồng ý.
Mỗi người có cái phận đó. Tôi đã nghe rất nhiều con, họ có kiểu nói giống như vậy. Khi mà nghe giảng tới cái hành khổ đó, họ nói vô lý. Họ nói vô lý là bởi vì mình bị khổ, mình bị đau đớn thì mình mới chán, đúng không? Phản ứng thứ hai là họ bị mất mát cái gì đó họ thương thích thì họ chán, đúng không? Còn cái thứ ba là mình có thân thì dĩ nhiên nó phải lệ thuộc rồi.
Chính vì trong nhiều kiếp mình đã có cách nghĩ thế này, cho nên mình cứ lưng chừng hoài vậy đó. Nhớ nha, ở đây cũng vậy. Cái tuệ đạo là chấm dứt tà kiến và hoài nghi, đúng không?
Nhưng mà trong Tứ đạo, Tứ quả là chia ra hai trường hợp: cái vị đức tin nhiều, rồi cái vị trí tuệ nhiều. Người trí nhiều thì hiếm, là bởi vì đa phần chúng sanh họ ngại suy tư. Họ thích suy nghĩ cái kiểu gì cho nó mềm mềm vậy đó. Chứ còn nghĩ nhức đầu quá thì họ sợ.
Mà chưa kể phần chúng sanh còn bị cái bệnh nữa. Nó là cái bệnh thích chạy theo đám đông cho nó đỡ nhức đầu. Thấy người ta làm sao thì mình đi theo, chứ không có chịu suy nghĩ.
Những ngày tháng mở mắt, tôi thấy cái hàng nó đông lắm. Ví dụ như cả đời anh đi làm, cả đời anh đi làm công sở, rồi cứ quẩn quẩn. Người ta đi chùa thì cũng đi, vô ngáp lên ngáp xuống rồi đi về, cúng mấy chục bạc rồi xong rồi đi về. Vậy là nghĩ là xong rồi.
Mà căn duyên nó chỉ cho phép họ tới đó thôi, chỉ cho phép họ tới đó. Họ thấy việc học giáo lý không phải là một cái nhu cầu lớn.
Từ đó nó mới ra mười hai cái hạng gì đó, mười hai cái hạng dự lưu. À, xin lỗi, hai mươi bốn hạng dự lưu.
Đức tin nhiều thì khi quan sát, họ thấy tướng vô thường nổi bật. Khi mà chứng đạo thì cũng y chang như mấy người khác thôi, nhưng mà được gọi là vô tướng giải thoát. Tức là khi thấy một tướng thì sẽ thấy được hai tướng còn lại.
Khi thấy tướng vô thường thì sẽ thấy tướng khổ và vô ngã. Khi thấy tướng vô ngã thì cũng thấy luôn tướng vô thường và tướng khổ. Khi thấy tướng khổ thì cũng thấy luôn tướng vô thường và tướng vô ngã. Nghe kịp không?
Nhưng mà tùy vào căn cơ của chúng sanh. Có người họ thấy sự vô thường thì họ bị sốc. Có người họ thấy sự đau khổ thì họ sốc. Có người họ thấy cái tính lắp ráp, cái kiểu mà lắp ráp mới có, do duyên mà có, lắp ráp mà thành, họ lại đắc.
Cho nên đó là bốn trường hợp: tu khó, đắc dễ; tu dễ, đắc khó, vậy đó. Đem nhân với ba cái giải thoát môn.
Một, đức tin nhiều. Cái vị nhị quả mà đức tin nhiều, khi tu tuệ quán, họ thấy tướng vô thường nổi bật. Cái vị nhị quả mà định mạnh, khi quan sát, họ thấy tướng khổ nổi bật.
Khi mình quan sát tướng vô thường, thấy tướng vô thường nổi bật thì mình đắc, gọi là vô tướng giải thoát. Quan sát tướng khổ, thấy nó nổi bật, nổi hơn hai tướng kia mà mình đắc thì gọi là vô nguyện giải thoát. Tại sao có cái tên này?
Sát tướng khổ, thấy nó nổi bật, nổi hơn hai tướng kia, mà mình đắc thì gọi là vô nguyện giải thoát. Tại sao có cái tên này?
Gọi là vô tướng giải thoát là khi mình quán sát, mình thấy nó không còn là tai, chân, mắt, mũi nữa, mà tất cả nó là chấm nhỏ, chấm nhỏ, chấm nhỏ. Không có cái gì vuông tròn, dài ngắn, không có. Mà tất cả những cái đốm sáng này, nó là có mắt, có mắt, có mắt, có mắt. Chỉ là những đốm sáng, không có cái gì hình thù, vuông tròn, dài ngắn, nam nữ, đẹp xấu, mập ốm, trắng đen, lùn cao gì không hề có. Chỉ còn là những cái đốm sáng, chấm nhỏ, chấm nhỏ. Thế nên gọi là vô tướng giải thoát là như vậy.
Còn vô nguyện giải thoát là sao? Khi mà vị định mạnh thì họ lại có cơ hội thấy cái thân này là toàn bất toại, thân luôn luôn khổ mà tâm luôn luôn khổ. Khi mà họ thấy, họ nhìn cái thân tâm này qua cái ngõ đau khổ đó, thì họ sẽ thấy là không còn gì trên đời này đáng để nghĩ đến, mong đợi trong đời hết trơn. Cho nên khi đắc quả được gọi là vô nguyện.
Cái hạng này là định mạnh. Định mạnh thì khi quán sát thấy tướng khổ nổi bật.
Còn cái hạng thứ ba đó là hạng trí mạnh, trí nhiều, trí nhanh. Cho nên khi quán sát đi, đứng, nằm, ngồi, thở ra, thở vô, tử thi rồi bốn oai nghi như người ta vậy đó, nhưng mà họ thấy tướng vô ngã nổi bật.
Là sao? Là thấy rõ ràng mọi thứ do duyên. Ông kia thì thấy sự chấp thường, vô thường nổi bật, còn ông thấy đau đớn, máu lệ nổi bật. Còn ông này thấy một cảnh khác. Ông thấy mọi thứ đúng là do duyên: do duyên mà có, do lắp ráp mà thành. À, do duyên mà có rồi do lắp ráp mà thành. Ông này chú ý đến cái cảnh đó. Khi ông đắc quả thì được gọi là không tánh giải thoát.
Cái hạng này có nhiều cách phân tích, nhưng kể ra nhức đầu lắm. Tôi làm biếng lắm, tôi chỉ kể có năm cách là đủ rồi nha. Kể năm cách thôi. Năm cách này nó đẻ ra tám cách.
Năm cách là gì? Chúng ta còn nhớ không? Chúng ta còn nhớ nằm... nằm... Ở đây tôi phải làm biếng. Cái cách tính này nó tự tính ra. Các vị còn nhớ ngũ căn, ngũ lực không? Các vị nhớ không ta?
Ở đây, cái cách tính này nó tự tính ra. Các vị còn nhớ ngũ căn, ngũ lực không? Các vị nhớ không?
Tính Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ có nghĩa là cùng một đạo tràng, cùng một pháp hội, cùng một vị thuyết giảng, cùng một đề tài, rồi sau đó bước ra cũng cùng tu chung một pháp môn; cái gì cũng cùng hết. Mình giả định như vậy thôi nha. Giả định là cùng cái gì cũng cùng hết, nhưng do căn cơ của mỗi người khác nhau, cái thiện ác của mỗi người khác nhau, nên ba-la-mật của mỗi người khác nhau. Từ đó, tâm tư, tình cảm của mỗi người khác nhau, nó mới dẫn tới chuyện là cùng tu thiền quán giống nhau, kể cả có cùng niệm xứ luôn, nhưng có người thì tín mạnh, có người thì tấn mạnh, niệm mạnh, định mạnh và tuệ mạnh.
Ngay cái khoảnh khắc đắc thì năm quyền phải cân bằng nhau, nhớ nha. Ngay khoảnh khắc đắc thì quân bình, cả năm thứ phải cân bằng nhau. Tuy nhiên, ngay khoảnh khắc đó thôi, chứ còn buông ra thì người này vẫn có cái mạnh nhất, có cái sở trường.
Chính vì vậy cho nên vị nào mà đắc A-na-hàm, mà xong rồi đắc A-la-hán luôn thì mình không có nhắc tới. Còn mình đang nói tới những vị đắc A-na-hàm mà không có đắc thiền gì hết.
Thì chết rồi, chắc chắn phải sanh về cõi Sơ thiền. Mà Sơ thiền, mình biết là Sơ thiền có ba bậc: thượng, trung, hạ.
Sơ thiền mà yếu, yếu có nghĩa là chỉ vừa đủ ba-la-mật để đắc Sơ thiền thôi, chứ không có gì đặc biệt, mà trí tuệ thì chậm rì, chậm rịch, thì cũng lên Sơ thiền, nhưng mà ở tầng gọi là Phạm Chúng Thiên.
Còn nếu cũng đắc Sơ thiền mà ba-la-mật nhiều, trí khá hơn một chút, thì sanh vô cũng cái tầng đó, mà ở trong cái nhóm gọi là Phạm Phụ Thiên. Cũng là Sơ thiền, nhưng mấy ông này ngon lành hơn, nhập thiền thì đắc thiền mau lẹ hơn.
Còn nếu mà đắc Sơ thiền mà ngon lành nhất thì sẽ sanh vô cái nhóm gọi là Đại Phạm Thiên. Đó là nói về đắc thiền.
Còn vị đắc Sơ thiền, còn vị A-na-hàm không đắc gì hết, không đắc thiền. Nhưng mà đã là A-na-hàm rồi thì khi chết, vị đó không thể trở lui cõi dục. Vị này không còn dục ái và sân thì lấy cái gì mà quay lại cõi dục đây? Thế là tối thiểu vị này phải sanh về cõi Sơ thiền.
Bởi vì trong kinh ghi rất rõ, cả Chú giải lẫn A-tỳ-đàm đều xác nhận rất rõ: đã là A-na-hàm thì cái định của vị này bắt buộc phải tương đương với Sơ thiền. Nếu không thì không có tu thiền chỉ ngày nào hết.
Đã đắc A-na-hàm rồi thì cái định của vị này tương đương với Sơ thiền là vì sao? Là vì vị này không còn dục ái và sân. Khi không còn dục ái và sân thì năng lực tâm tương đương với Sơ thiền.
Nếu Tín mạnh hơn mấy cái kia thì sanh vào cõi Vô Phiền. Tấn mạnh thì sanh vào cõi Vô Nhiệt. Niệm mạnh thì sanh vào cõi Thiện Hiện. Định mạnh thì sanh vào cõi Thiện Kiến. Còn Tuệ mạnh thì sanh thẳng lên cõi Sắc Cứu Cánh.
Còn trường hợp cả năm điều yếu thì cũng vẫn phải sanh vào cõi thấp nhất, đó là cõi Vô Phiền. Bởi vì trong kinh ghi rất rõ, khi cả năm quyền đều yếu thì đương nhiên Tín vẫn mạnh nhất.
À, đây là cái diện lạ luôn. Khi mà cả năm điều yếu đó thì tự nhiên trong đó Tín phải mạnh nhất. Đó là chuyện thứ nhất.
Luôn như vậy. Khi mà cả năm điều yếu đó thì tự nhiên trong đó, cái tức tinh phải mạnh nhất. Đó là chuyện thứ nhất.
Chuyện thứ hai, khi sanh vào trong năm cái cõi Tịnh cư này, có những vị sống chưa được một nửa tuổi thọ thì đã đắc A-la-hán. Hạng này gọi là Upahacca-parinibbāyī. Có nghĩa là gì? Upahacca có nghĩa là giảm thọ. Có nghĩa là đắc xong rồi Niết-bàn luôn, sống chưa được nửa tuổi thọ thì đã Niết-bàn.
Còn một hạng nữa gọi là Antara-parinibbāyī, nghĩa là sống quá nửa, từ nửa cho đến hơn nửa tuổi thọ của cái cõi đó rồi mới chứng A-la-hán. Hạng trước gọi là giảm thọ, còn hạng sau gọi là hưởng thọ.
Bây giờ, trong tiếng Hán, “hưởng dương” có nghĩa là sống chưa được một nửa tuổi thọ. Mọi người Việt mình không biết cái đó. “Hưởng dương Na-hàm”, tức là sống chưa hết nửa tuổi thọ thì đắc A-la-hán. Còn Antara-parinibbāyī là hưởng thọ, có nghĩa là sống từ nửa cho đến hơn nửa tuổi thọ thì mới chứng Niết-bàn. Mà cõi nào cũng có mấy hạng này hết.
Rồi trường hợp thứ hai nữa là Asankhāra-parinibbāyī. Còn Sasankhāra-parinibbāyī là sao? Cũng là A-na-hàm, nhưng Asankhāra-parinibbāyī có nghĩa là búng tay ra là đắc, là hạng liền, không có khổ cực, không mất công nhiều.
Còn hạng Sasankhāra-parinibbāyī có nghĩa là hạng này phải nỗ lực nhiều lắm mới đắc. Tôi dịch là cần lao, bất lao. Còn cái hạng đứng trước kia là bất lao. Chứ mình dịch “cần” là tinh tấn, mà hôm nay tôi dịch là bất cần, bất lao thì kỳ quá. Bất cần là không thèm, không phải.
Cái hạng thứ nhất là bất lao. Bất lao Na-hàm có nghĩa là đắc A-na-hàm rất dễ, không cần cố gắng nhiều, gọi là bất lao. Còn cái hạng kia gọi là cần lao, có nghĩa là cần, là tinh tấn đó.
Giảm thọ Na-hàm, tức là chưa hết nửa tuổi thọ đã đắc A-la-hán rồi Niết-bàn. Hạng thứ hai là hưởng thọ Niết-bàn, tức là sống từ nửa tuổi thọ trở về sau mới đắc A-la-hán, gọi là Antara-parinibbāyī.
Đường học tiếng Pali gọi là Asankhāra-parinibbāyī, có nghĩa là không cần nỗ lực; Sasankhāra-parinibbāyī, có nghĩa là cần nỗ lực.
Uddhaṃsoto-akaniṭṭhagāmī là lên cõi thứ hai không đắc, lên cõi thứ ba mới đắc. Lên cõi thứ ba không đắc, lên tới cõi thứ tư mới đắc. Cứ đi thêm cõi thứ tư, không đắc, mới lên tới cõi thứ năm mới đắc.
Hạng mà đi đủ năm cõi này được gọi là Uddhaṃsoto. Uddhaṃ có nghĩa là cao, còn soto là dòng chảy. Cứ chảy ngược, chảy ngược, chảy ngược hoài như vậy, chờ đúng duyên mới đắc.
Rồi một hạng nữa gọi là Akaniṭṭhagāmī. Có nghĩa là hạng này, một là trực tiếp từ cõi Ngũ Tịnh cư đi thẳng lên cõi sắc cứu cánh, là cõi Tịnh cư cao nhất, rồi đắc. Hoặc trường hợp nữa là sau khi trải qua năm cái cõi kia, bốn cái cõi kia mà không thành đắc, lên tới cõi cao nhất của Tịnh cư mới đắc.
Nãy giờ tôi còn quên kể nữa, Tịnh cư là gì? Tịnh cư là năm cái cõi sắc giới cao nhất, để dành cho mấy vị A-na-hàm, A-la-hán.
Nói như vậy càng nói nó càng thanh thui, nó té ra, té ra, té ra. Bởi vì mọi người biết, càng về lớn tuổi là biết dạy đạo. Là bởi vì tôi chỉ dễ dàng cho người nào có căn bản, tụi tôi đổi cực quen kịp không?
Càng về lớn tuổi là biết dạy đạo, là bởi vì tui chỉ dễ dàng cho người nào có căn bản. Tui nói, quý vị có kịp không?
Ví dụ như tui muốn dạy cho quý vị một bài toán đố lớp 3, mà trong khi đó quý vị không biết gì hết. Tui nói là có bốn cục xà bông, thì có chị hỏi tui: “Xà bông là cái gì?” Là chết tui rồi. Tui nói: “Trong nhà tắm, mẹ mua bốn cục xà bông. Mỗi cục xà bông như vậy đó, mẹ cắt đôi nó ra”, thì chị hỏi: “Cắt đôi là sao?”
Thượng lưu ban có nghĩa là đi qua các cõi. Các bạn nhớ trong lớp, ngoài trường, học trò nhiều đứa nó học dở quá, nó ở lại lớp đó, người ta kêu là lưu ban. Có đúng không ta?
Cái chữ này còn nhớ dữ đó không? Nó khổ dữ đó. Các bạn nhớ dữ đó không? Đó, tức là nó ở lại, nó ở lại hoài, nó gọi là lưu ban. Mà ở đây mình thêm chữ thượng nữa. Thượng lưu ban là nó ở lại, nhưng mà nó không phải ở yên cái cõi đó nha. Không có chuyện ở lại rồi trở lại cái cõi cũ, là không có.
Tức là ở lại nhưng mà phải đi, phải đổi trường. Ở lại nhưng mà phải đổi trường. Cho nên có thêm chữ thượng nữa: ở lại nhưng mà đổi trường, chứ không phải ở lại là tiếp tục cái trường đó thì không. Ở lại lớp nhưng mà phải đổi trường. Đổi như nào, đủ năm trường rồi mới chịu đậu, nha.
Đó là lý do tại sao đã lưu ban, còn quất thêm cái thượng lưu ban là vậy. Có nghĩa là cứ hết là phải đi lên nữa, lên nhưng mà cái trình độ vẫn như cũ.
Như vậy thì tui đồ quờn đó, là có kể bao nhiêu hạng đi nữa, gom gọn là có nhiêu đó thôi. Đó là A-na-hàm.
Rồi cuối cùng là A-la-hán thì cũng có mười hai, y như là... gì... gì quả vậy đó. Có nghĩa là bốn cái kiểu tu: tu nhanh đắc chậm, tu chậm đắc nhanh, mà đem nhân với ba cái giải thoát môn. Có nghĩa là tinh tấn mạnh thì thấy vô thường rõ nhất, định mạnh thấy khổ rõ nhất, tuệ mạnh thấy vô ngã rõ nhất. Ba cái này gọi là ba cái giải thoát môn. Đem nhân với bốn cái kiểu tu, thành bốn nhân ba là mười hai. Nhớ nha.
Rồi một chuyện nữa, tui nhắc lại một lần nữa. Nhắc hoài, cái này sơ sẩy là quên. Dầu cho các vị có thấy trường hợp nào đi nữa, các vị có thấy vô thường nổi bật, hay là khổ nổi bật, vô ngã nổi bật, thì khi mà đắc rồi, các vị thánh này giống nhau.
Cũng giống như bây giờ mình đi vào nhà bằng cái cửa trước, cửa sau, hay là cửa sổ, hay là trên nóc trổ xuống, hay là dưới đất mình chui lên. Thì đã mình lọt vô trong nhà rồi, mình thấy cái nhà giống nhau, có đúng không ta? Các bạn nghe hiểu không?
Tức là mình đột nhập vô cái nhà bằng cái tầng hầm, basement; tui đột nhập từ trên mái la-phông xuống; tui trèo cửa sổ vô; hay là tui đi cửa trước vào phòng khách; hay là tui đi cửa sau, từ cái ngõ bếp. Nghe kịp không ta?
Tui trèo vô từ phòng ngủ, từ nhà bếp, từ phòng khách, từ cửa trước, từ la-phông, từ tầng hầm, từ cửa sổ. Tui vô cửa nào, tui vô ngả nào kệ tui, nhưng mà khi tui vô tới nơi rồi thì cái thấy của tui trong cái căn nhà nó y chang như mấy người kia, phải không? Hay là thấy khác?
Khi tui vô tới nơi rồi thì cái thấy của tui trong cái căn nhà nó y chang như mấy người kia, phải không? Hay là thấy khác? Nó y chang nhau chứ. Nhớ nha, cái này nhớ nha, chứ đừng có ngồi đó mà dạy mộng đó. Chắc mình tu đức tin nhiều, cái vô đó mình thấy cái nếp bàn màu xanh lè; còn cha kia trí nhiều, thấy nếp bàn đỏ chét; còn ông nội nó định nhiều, thấy nếp bàn là vàng khè, thì không có đúng.
Mà vô rồi, đạt rồi thì y chang nhau. Nhưng mà cái con đường vô thì mỗi người đi vô một cách.
Ở đây, nãy mới nhắc lại đó, là làm gì thì làm, muốn chấm dứt sinh tử thì chuyện đầu tiên là phải tu tập Tam học: giới, định, tuệ. Vì sao? Là vì phải có giới, định, tuệ thì mình mới có đủ cái nền để mà mình có được một cái thấy về bản chất thật của thế giới.
Thiếu giới, thiếu định, thiếu tuệ thì chúng ta không thấy được một sự thật mà tôi đã nói không biết bao nhiêu lần. Đó là sự thật về Tứ đế.
Tôi vẫn từng nói, Phật tử Việt Nam trong mắt của tôi thì chỉ có 1% là Phật tử thứ thiệt thôi, còn 99% đó là đi vô chùa để cầu phước. Mà nếu như vậy thì đối với các vị cư sĩ Bắc Tông hay Nam Tông cũng giống nhau. Bởi vì mình đâu có học giáo lý, cũng đâu có hành trì Tứ niệm xứ.
Tại sao mà tôi nói phũ phàng như vậy? Là bởi vì tôi phải nói một câu xanh lè như thế này: Ai không thấy sự có mặt của mình trên đời này là khổ, giàu sang cách mấy, đẹp cách mấy, khỏe trẻ cách mấy, quyền lực cách mấy, tiếng tăm cách mấy, thì người đó không phải là Phật tử. Không phải là Phật tử.
Bởi vì nếu là một người Phật tử thứ thiệt, tối thiểu họ phải có cái kiến thức này: Sinh về cõi nào đi nữa, hết tuổi thọ rồi cũng phải trở về chỗ thấp nhất. Đó là cái luật tự nhiên.
Rồi ở đây, ai mà thắc mắc hỏi tôi: “Chứ tại sao phải trở về chỗ thấp nhất?” thì tôi trả lời như thế này: Bởi vì cái căn cơ của mình, ác lúc nào cũng nhiều hơn cái thiện hết á.
Các vị có về Phạm thiên, Phi tưởng, Phi phi tưởng, sống hết tuổi thọ rồi các vị cũng phải rớt trở xuống cõi dục. Mà về tới cõi dục rồi thì cái cơ hội mà các vị gặp thầy, gặp bạn, gặp môi trường, gặp hoàn cảnh để mà tu thiền nữa, hoặc là để làm thiện, làm phước, bố thí, trì giới, nó rất là hiếm. Nha, tôi nói rõ, rất là hiếm.
Mà nhiều người có đầu họ nói chứa cái gì ở trong đó, họ nghe rồi họ cũng hiểu, họ nói: “Dễ mà, dễ mà.” Nhưng mà các vị tưởng tượng quá dễ. Các vị có hiểu Bát quan trai là cái gì không? Bát quan trai là cái gì không? Chỉ riêng cái Bát quan trai thôi, khó lắm, các vị biết không?
Hiểu bát quan trai là cái gì không? Bát quan trai là cái gì không? Chỉ riêng cái bát quan trai thôi, khó lắm, các vị biết không?
Bởi vì chung quanh mình toàn là những người không biết bát quan trai là gì. Không hiểu tại sao với bát quan trai, họ đã không biết nó, mà khi mình giải thích, họ cũng không hiểu là tại sao. Nói chi là thọ trì, hành trì.
Bát quan trai mà muốn hành, muốn thọ bát quan trai cho trong sạch, các vị phải có một địa điểm và một hoàn cảnh như ý. Chứ đừng có tưởng là muốn là được. Đừng có tưởng như vậy, đừng có tưởng bát quan trai là chuyện dễ. Nó khó dữ lắm.
Nó khó lắm chứ không phải dễ. Bát quan trai mà kiểu chạy vừa thọ giới xong, về đi ra ngoài tiệm ngồi bán hàng, rồi cứ tới chiều chiều về thay vì cơm, quậy ly sữa uống, chơi, leo vô giường ngủ, thì cái thứ bát quan trai đó là cái bát quan trai của ngoại đạo, cái gì biết không? Chứ là bát quan trai kiểu hẳn chế đó, hoặc là bát quan trai kiểu người chăn bò đó. Nghĩa là chờ cho đủ hai mươi bốn giờ rồi đi trả giới lại cho Phật.
Chứ cái kiểu bát quan trai của Phật không phải như vậy. Bát quan trai có nghĩa là trong cái ngày đó, mình phải học xong, đó là tâm tư mình phải chuyên tu miên mật trong suốt thời gian bát quan trai. Thì cái đó mới gọi là bát quan trai kiểu bậc Thánh.
Có nghĩa là trong thời gian đó, mình phải gắn chặt cái tâm mình với sáu pháp tùy niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên. Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới, Thiên, thì mới được gọi là bát quan trai.
Chứ còn tự nhiên mình đi thọ xong, mình về đi bán hàng, rồi ra công sở làm việc bình thường, thì cái này tôi không có cản. Có gì muốn thì có gì làm, ai còn cản? Nhưng mà nếu nói, nếu hỏi thì tôi nói rốt ráo, ráng chịu.
Giống như mình bị tiểu đường, không chịu ăn kiêng, cứ mỗi ngày uống một viên thuốc xong rồi ăn thoải mái, thì tôi không biết bác sĩ có cho hay không, các bạn đi hỏi bác sĩ. Chứ tôi biết là không có được. Tiểu đường không có được như vậy. Tiểu đường là ngoài việc anh uống thuốc ra, anh cũng phải ăn kiêng, rồi phải tập thể dục, chạy bộ, bơi lội, leo núi, đi xe đạp, tập gym hết.
Nếu mà đúng là anh sợ tiểu đường, nếu mà đúng, nghe. Còn kiểu mà anh không có ngán, anh thấy thôi kệ, nó tới đâu hay tới đó, thì thôi. Cái loại người này tôi không có nói tới, cái thứ này tôi không có nói tới.
Nhưng mà nếu đúng là điều trị bệnh tiểu đường, mà đúng như thầy thuốc dặn, thì ngoài cái việc uống thuốc đúng giờ giấc, đúng liều lượng, còn phải kiêng khem ăn uống. Rồi cái gì nữa? Phải vận động thể thao. Đó, nó khổ như vậy đó.
Chỉ riêng cái tiểu đường không, nó cũng phải có đủ cái nguyên tắc của nó, chứ không phải là muốn làm gì thì làm. Thì nói chi là cái chuyện tu hành, giải thoát, lìa bỏ sinh tử, thì đâu có phải đơn giản.
Cho nên chỉ riêng cái thọ bát quan trai không là nó đã khó, nó là ngàn trùng rồi. Rồi tôi hỏi các vị thọ trì giới, các vị dựa vào đâu mà các vị thọ trì giới?
Không, nó đã khó, nó là ngàn trùng rồi.
Rồi tôi hỏi các vị trì ngũ giới: Các vị dựa vào đâu mà các vị trì ngũ giới? Nếu mà không có Phật pháp, các bạn tưởng tượng đi, nếu không có Phật pháp, ai là người kêu quý vị giữ ngũ giới? Quý vị nói đi. Tự trả lời mình, đừng có trả lời cho tôi nha. Tự hỏi lòng mình đi.
Trên thế giới này bảy tỷ người, mấy trăm quốc gia, trong đó bao nhiêu là địa phương, bao nhiêu là phong tục tập quán, bao nhiêu là nền văn hóa, bao nhiêu là cấu trúc xã hội, văn hóa, văn minh.
Đừng có chê cái vụ làm gương nha. Cái này quan trọng lắm, rất quan trọng. Đừng có tưởng giữ năm giới là dễ. Phải có cái gương, phải có cái gương.
Thí dụ như bây giờ mình nhìn quanh mình toàn là dân sát sanh không mà, toàn là dân chôm chỉa không mà, toàn là cái dân mà lăng loàn, lẳng lơ, mất nết, sẵn sàng ngoại tình không mà, toàn là dân ăn nhậu, toàn là dân ba xạo, nói dóc không mà. Từ nhỏ tới già, xung quanh mình toàn là cái thứ đó không mà.
Giữ năm giới là giữ với ai? Cái đầu tiên là ai kêu mình giữ? Mà thứ hai là giữ với ai? Cái “với ai” này cũng quan trọng lắm nha.
Cơ hội làm thiện rất là hiếm. Nếu mà nói vậy thì cái cơ hội mà được hưởng quả thiện cũng rất là hiếm. Nó rất là khoa học, không có cần mấy chứng minh gì hết. Con nít còn bú, nó nghe nó cũng hiểu nữa.
Cơ hội làm thiện nó hiếm lắm. Thì nếu mà cơ hội làm thiện mà hiếm, cái cơ hội mà hưởng quả lành nó đương nhiên là hiếm rồi. Mình nằm ngửa bú bình, mình cũng hiểu nữa.
Cơ hội mà làm thiện nó hiếm thì cái cơ hội mà hưởng quả lành vui vẻ nó cũng hiếm. Cơ hội hành thiện quá ít, cơ hội làm ác quá nhiều. Tà sư ác hữu quá đông, minh sư thiện hữu quá ít.
Khi mà cái cơ hội làm thiện nó ít hơn làm ác thì tự nhiên cái gọi là tà sư ác hữu nó nhiều hơn minh sư thiện hữu. Chuyện đương nhiên rồi, chuyện rất là khoa học mà.
Trong khi bản thân mình ác nhiều hơn thiện, mà quơ tay chung quanh toàn là tà sư ác hữu, thì hai cái này cộng lại, quý vị nghĩ mình đi đâu? Mình đi đâu?
Mà may là bây giờ mình biết đạo, mà mình còn trây, không có tinh tấn, thì nói gì cái thứ mà không gặp Phật pháp. Quý vị nghĩ quý vị giống cái con gì?
Theo mô tả trong kinh, cái ranh giới giữa người với thú nó mỏng hơn sợi tóc. Quý vị biết không? Quý vị biết sợi tóc không? Đường kính của một sợi tóc là bao nhiêu?
Theo mô tả trong kinh, khoảng cách giữa con người với con thú nó mỏng hơn sợi tóc. Mỏng hơn là sao? Có nghĩa là từ cái khoảnh khắc thiện với ác, nó gần như không có luôn. Có nghĩa là mình coi như ác suốt mùa thu cách mạng luôn, coi như là nó dễ. Từ thiện qua ác, nó dễ lắm, nó dễ lắm.
Nhưng mà ngược lại, ác qua thiện tuy nó sát bên, nhưng mà lại rất là khó. Cái này mới ghê chứ.
Cho nên bài kinh này nói cái gì? Bài kinh này nói phải có Tam học. Chỉ có Tam học, ba cái cộng lại, nó mới giúp cho mình thấy được bốn sự thật.
Sự thật thứ nhất: mọi thứ ở đời là khổ. Hình hài nào, cảnh giới nào, hoàn cảnh nào cũng là khổ. Do đó, thích cái gì, thích ở đâu, thích ai cũng là thích trong khổ. Muốn hết khổ thì không có thích gì, không có thích ở đâu và cũng không thích ai.
Sống bằng ba nhận thức này thì được gọi là đang có mặt trên con đường thoát khổ. Mà cách nào để sống bằng ba nhận thức này? Cách nào? Cách nào để liên tục sống trong ba nhận thức này? Chỉ có Tứ niệm xứ thôi.
Để sống bằng ba nhận thức này, cách nào? Cách nào để liên tục sống trong ba nhận thức này? Chỉ có Tứ niệm xứ thôi.
Mà Tứ niệm xứ là gì? Tứ niệm xứ chính là hành trình của Tam học. Tứ niệm xứ là hành trình của Tam học.
Học không có kỹ, không có rõ, cứ tưởng giới là phải gắn liền với mấy con số, xài bét. Giới này là sự cố ý ngăn trừ điều ác của thân, khẩu, ý, đều gọi là giới. Giới mà còn bị nằm trong mấy con số là quá ít.
Cho nên, đối với hành giả tu Tứ niệm xứ này, khi mà họ sống bằng chánh niệm, thì cái giới của họ cũng gọi là vô số, chứ không phải nằm trong mấy con số nữa. Tôi phải nói là chánh niệm, chứ còn cà lơ phất phơ, cà giật cà giật nữa thì tôi không có kể. Có những trường hợp tôi không muốn nhắc tới, bởi vì cái đó là tào lao rồi, nhắc làm chi.
Nhưng mà nếu mình chánh niệm miên mật, thì cái giới của người hành giả nó cũng ghê hơn là cái giới mấy trăm giới nữa.
Rồi thì chỉ bằng cái nền tảng của giới, của niệm, của định và của tuệ đó, với cái nền tảng này thì coi như mình mới thấy được bốn sự thật đó. Không có ngồi lại để mà nhìn thân, nhìn tâm thì làm sao mà thấy rằng thân này là khổ?
Tôi nói không biết là bao nhiêu lần: nhờ mình phóng dật, nhờ mình thất niệm, cho nên mình thấy cái thân này nó vui. Thấy gió mát mát, thấy cái lòng vui vui. Sáng giờ cứ ngồi nghỉ nghỉ, thấy khoái khoái, thấy thích.
Chứ nếu mà có chánh niệm một chút, mình quan sát cái thân này, mình thấy khổ nhiều hơn vui, cảm giác khó chịu nhiều hơn dễ chịu. Và tâm cũng vậy. Trong một ngày, trừ lúc mình ngủ nha, chứ lúc mình thức, cái bất toại nó nhiều hơn là cái như ý.
Nhớ cái này. Phải nói mà khổ chỗ là không có chánh niệm. Khi mà mình thất niệm và khi mình phóng dật thì mình không thấy ra những sự thật này.
Khi mà có chánh niệm, có trí tuệ thì tôi hứa bằng cái mạng của tôi. Tôi hứa bằng cái mạng, khi mà quý vị sống bằng niệm, bằng tuệ đó, thì tôi hứa luôn là quý vị sẽ thấy thân tâm này chủ yếu là khổ, chủ yếu là bất toại.
Còn cứ ngồi nghe Pháp như thế này thì không có hiểu được đâu, không có thấy được cái điều tôi nói. Cứ ngồi nghe hoài tới ba ngàn năm nữa thì cũng có thấy cái thân này là khổ đâu. Mà chỉ cần nhắm mắt lại, theo dõi nó một chút xíu thôi. Không có cần quán chiếu, chỉ cần chánh niệm thôi. Nói sao thấy như vậy, tôi hứa đàng hoàng là thấy thân bất toại và tâm bất toại. Ly dị gì nữa.
Chỉ cần tránh niệm thôi. Nói sao thấy như vậy, tôi hứa dòng dòng là ba khúc. Thấy thân bất tịnh và tâm bất tịnh, đổi gì nữa? Mở cửa nhìn ra đường, toàn là bất tịnh không à, toàn là thứ lố bịch, thứ trời ơi, thứ cà chớn không à. Bảo đảm luôn, cái đó tôi hứa luôn á, cái đó tôi hứa nha.
Tôi không biết quý vị là nhà quê hay là ở tỉnh phố, tôi không cần biết. Chỉ cần mở cửa ra nhìn ra đường, toàn thứ cà chớn, thì làm sao? Toàn là những cái thứ mà đụng tới nó là nó quậy cho mày tới bến luôn, nha. Toàn là cái thứ tham lam, sân hận không à, ngoài đường á.
Cho nên đời này là thân khổ, tâm khổ, và thế giới chung quanh cũng là khổ. Còn cái thứ mà thất niệm, nói làm chi? Nói như con thú, nói làm chi, nha?
Như vậy thì ngày mai mới kêu gọi tại tâm, hoặc là vậy đó. Mình qua đoạn khác, gọi là đoạn tám mươi mấy ta, tám mươi bảy. Tám mươi bảy cũng y chang như vậy nha quý vị. Nói làm sao, nãy giờ là tôi đang giảng tám mươi sáu rồi. Tám mươi bảy y chang, y chang tám mươi sáu, rồi qua bản kinh đó luôn.
Sang tới tám mươi tám. Tám mươi tám cũng y chang như vậy luôn. Nhưng mà ở đây Ngài giải thích qua tám mươi tám. Đây là Ngài giải thích tam học là gì. Có một chỗ Ngài giải thích giới học là tu tâm; cái sự ngăn trừ ác pháp gọi là giới. Nhưng có chỗ, tùy căn cơ của người ngồi trước mặt, tôi nhắc lại nha, tùy căn cơ người ngồi trước mặt mà giới được Ngài giải thích ở mỗi chỗ khác nhau. Nhưng nội dung vẫn là một.
Chẳng hạn như ở bài tám mươi tám này thì Ngài giải thích giới theo kiểu mà thông thường mình hiểu. Có nghĩa là giới ở đây tức là mấy trăm giới. Giữ được mấy trăm giới là có giới học. Còn định ở đây là đạt từ sơ thiền trở lên thì gọi là có định. Còn tuệ ở đây tức là tu tập bốn niệm xứ để thấy rõ bốn đế. Tu tập bốn niệm xứ để thấy bốn đế thì đó gọi là tuệ học.
Rồi xong tới tám mươi tám. Bây giờ qua tới tám mươi chín. Tám mươi chín y chang như vậy. Rồi qua tới chín mươi. Học cái này cho nó lẹ nha, qua tới chín mươi.
Chín mươi thì trong đây kể rồi. Có một lần nữa, Đức Thế Tôn đi với một đại chúng tỳ-kheo rất là đông, đi du hóa đến một cái thị trấn ở xứ Kiều Tát La, tức là xứ Cô-sa-la đó. Ở đó, trong nhóm năm trăm tỳ-kheo đi chung, có một vị tỳ-kheo ngồi nghe Ngài thuyết pháp. Vị đó mới nghĩ thế này:
“Đức Thế Tôn nói đại khái được rồi.”
Ông nghĩ trong bụng như vậy đó:
“Đức Thế Tôn nói đại khái được rồi, cũng nội dung đó mà chia chẻ làm chi, lút chút lút chút cho nó rối.”
Ông trong bụng nghĩ như vậy đó. Đức Thế Tôn không biết mà Ngài không nói, Ngài im lặng. Ngài biết rằng duyên tới thì vị tỳ-kheo này sẽ biết lỗi. Bởi vì người ta phân tích cho mình mà mình lại đi nghĩ như vậy đó, mình nghĩ là nói đại khái hiểu rồi. Có nhiêu đó, nói hoài, mà còn xé to, xé nhỏ ra làm chi. Một cái suy nghĩ.
Như vậy đó, mình nghĩ là nói đại khái hiểu rồi. Có nhiều thứ nói hoài mà còn xé to, xé nhỏ ra làm chi. Một cái suy nghĩ mà vừa thiếu trí, vừa phạm thượng.
Bây giờ ổng không biết, ổng không hề biết người ngồi trước mặt ổng là ai. Chứ nếu mà ổng biết thì ổng không có suy nghĩ như vậy. Mà ổng quên, ổng không biết. Hoặc là có thể ổng quên, mà chắc không biết là đúng hơn.
Ổng không biết người ngồi trước mặt ổng là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Nhất thiết trí. Cái pháp gì Ngài cũng biết, và căn cơ chúng sanh Ngài hiểu không sót một ai, một căn cơ nào hết.
Ổng này cũng không biết cái chuyện này. Ổng thấy tại sao có nhiều chỗ người phân tích tách chi li, thì vì sao? Là vì ổng không biết rằng căn cơ của đối tượng thính giả đó phải nói như vậy, người ta mới thấm. Mà cái chuyện này ổng không có biết. Cho nên trong bụng ổng có một cái suy nghĩ rất là bậy bạ, mang tính phạm thượng: “Nói đại khái được rồi, mắc làm chi mà chi li đến cái mức quá cỡ như vậy?”
Thì cái chuyện đó qua đi. Rồi một ngày kia, khi Đức Thế Tôn đã đi mất rồi đó, cái này mà không giải thích chi li thì làm sao mình hiểu? Cái đầu bự của mình làm sao mình hiểu nổi? Nói thẳng luôn á, tôi nói hơi nặng á. Nếu mà không chi li đó, thì cái đầu bự của mình làm sao hiểu trời?
Ổng nghĩ như vậy đó. Thì đến lúc thực hành, ổng mới hết hồn. Bữa hôm đó, ổng đang làm biếng thì ổng nghĩ: “Cần gì chi li đâu, nói đại khái là được rồi.” Nhưng mà bữa nay, khi ổng chính thức bước vào hành trì, ổng mới thấy: Cái này mà nói đại khái thì cái đầu bự này làm sao hiểu được?
Ổng mới hết hồn, ổng hối hận, tìm về gặp Phật để xin sám hối cái suy nghĩ phạm thượng đó. Lúc đó, Đức Thế Tôn mới giảng cho ổng nghe một bài kinh. Bài đó Ngài giảng cách đây hai mươi sáu thế kỷ, mà nội dung cho đến hôm nay vẫn mang tính thời sự nóng bỏng. Là sao? Có nghĩa là vẫn cực kỳ cần thiết và chính xác cho bối cảnh Phật giáo toàn cầu hôm nay.
Là khi ông tỳ-kheo làm biếng đó nghĩ: “Đại khái được rồi, cần gì chi li”, thì khi ông tới thưa hỏi Ngài, Ngài mới nói thế này:
“Một tỳ-kheo, dù là mới tu, tu hơi khá lâu, hay đã trở thành một trưởng lão...”
Hỏi ngài thì ngài mới nói thế này: Một vị tỳ-kheo, dù mới tu, tu hơi khá lâu hay đã trở thành một trưởng lão, nhưng lại là một người lười biếng, không thiết tha với pháp học, pháp hành ở bản thân, mà cũng không khích lệ người khác học pháp, hành pháp, thì ta không có tán thán vị tỳ-kheo đó.
Trường hợp này bây giờ đang tràn lan trên toàn cầu. Đi tu là chỉ mong có cái chùa. Còn bên Thái Lan thì thêm một cái nữa là mong có được cái bằng Pali lớp 9. Rồi có được một nhóm đại gia hộ trì cho sung sướng là xong.
Phải nói hôm nay, đốt đuốc đi tìm cũng khó mà thấy một ông sư gặp mặt mình là kêu gọi học giáo lý và kêu gọi hành niệm xứ. Tôi biết tôi nói cái này là đang chạm vào một núi kiến lửa, tôi vẫn nói. Cứ xáp vô một hồi là nghe nguyên góp, cứ xáp vô là nghe nguyên góp.
Cho nên bài kinh này mới nói: Ở đây, dù là một vị tỳ-kheo mới tu hay tu lâu, thì phải luôn luôn và luôn luôn tinh tấn, học pháp, hành pháp, và không ngừng khích lệ người khác. Chứ có đâu mà nghe ba mớ rồi còn trách người ta là chi ly làm chi. Cái đầu mối của phạm vi mình mà không có chi ly thì nó hiểu cái gì? Người ta nói tường tận mà còn không hiểu, nói gì mà nói sơ sài.
Hồi học thì thấy chi li mệt. Nhưng tới hồi buông ra, xa thầy, xa sách, xa trường, xa lớp mới thấy: Học mà sơ sài thì cái hiểu sơ sài, mà hiểu sơ sài thì hành trì kiểu nào đây?
Cho nên bài kinh này nói một cái chuyện mang tính thời sự nóng bỏng suốt hai mươi sáu thế kỷ. Đó là, tỳ-kheo nào, dù là bất cứ ai, dù mới tu hay tu lâu, thì đối với bản thân, phải nỗ lực tinh tấn trong pháp học, pháp hành; và đối với người khác thì phải không ngừng khích lệ người khác, không ngừng thắp lửa, trao lửa pháp học, pháp hành cho người khác. Thì ta tán thán vị tỳ-kheo ấy.
Còn những tỳ-kheo mà bản thân không có lửa, rồi cũng không có khả năng trao lửa cho người khác, thì ta không có tán thán. Đây là ngài nói nhẹ lắm à. Ngài nói nhẹ đó, chứ đúng ra, khi một vị Phật mà từ bi tràn trề nói là “không tán thán” thì có nghĩa là ngài chê đó.
Anh muốn ở lì trong rừng, làm heo ở trong đó, làm heo rừng thì thôi. Chứ nếu mà anh thiết tha, anh muốn ra khỏi rừng, anh muốn trở về thế giới của con người, thì anh mới tìm đường đi mò ra. Còn đằng này, cứ là cái dòng hái hoa bắt bướm, hái hoa bắt bướm, thì làm sao mà anh có đường thoát?
Trong kinh, theo tinh thần Kinh Tạp, đường ra rừng chính là đường vào rừng, và đường vào rừng chính là đường ra rừng. Tức là cũng sáu căn, sáu trần, mà tùy vào thái độ của mình.
Ví dụ như xưa giờ mình chìm sâu trong sáu trần, thì đó chính là biến sáu trần trở thành đường vào rừng. Còn hôm nay mình cũng vẫn tiếp tục sống với sáu trần, nhưng bằng niệm, bằng tuệ, thì lúc bây giờ sáu trần trở thành niệm xứ. Mà khi sáu trần trở thành niệm xứ thì lập tức nó trở thành đường ra rừng.
Còn nếu sáu trần không được mình xem là niệm xứ, mình biết, nhận biết sáu trần mà không bằng niệm và tuệ, thì lúc bây giờ cũng sáu trần ấy, nhưng nó lại là đường vào rừng.
Các bạn biết, nghe kịp không?
Nhưng mà không bằng niệm và tuệ thì lúc bấy giờ cũng sáu trần ấy, nhưng nó lại là đường vào rừng. Các bạn biết, nghe kịp không?
Tôi nhắc lại, sáu trần khi mà mình coi nó là niệm xứ, coi nó là thân, là thọ, là tâm, là pháp, thì lập tức nó là đường ra rừng. Còn nếu sáu trần chỉ được mình biết đến bằng cái tình cảm thích và ghét, trốn chạy và kiếm tìm bằng tham bằng sân, thì lúc bấy giờ, sáu trần nó cũng là nó đó, nhưng lập tức trở thành con đường vào rừng. Chỉ vậy thôi, không có gì rối.
Nhưng mà tôi nhắc lại, phải thiệt bụng hỏi lòng mình có muốn ra khỏi rừng hay không. Mà khi cái lòng nó nói không, thì không còn chuyện gì để nói. Chứ không có một vị Phật nào có đủ khả năng đi lôi một người không muốn ra khỏi rừng mà đem nó ra ngoài, trở về thế giới loài người được. Không có vị nào làm được chuyện đó. Tôi nhắc lại, không hề có.
Mà bản thân người đó trong nhiều kiếp đã có cái chán sợ sanh tử rồi, đã có tu tập ba-la-mật rồi, đã huân tu công đức rồi, mà chẳng qua bây giờ tạm thời họ quên. Tạm thời họ quên, họ đang ngủ quên dưới một gốc cây nào đó. Thì Ngài tới, Ngài lại gọi: “Nè, con, dậy, dậy, dậy.” Đó, lúc họ đang ngủ, Ngài lại kêu. Hoặc là người ta đang ham mê ngũ dục thì tới ngày Ngài nhắc. Rồi ngày đêm người ta ra khỏi rừng.
Ngài giúp, Ngài giúp, nhưng mà giúp bằng cách nào? Giúp bằng cách là Ngài chỉ đường thôi, chứ mình vẫn phải thắp đuốc lên, mình đi, và vẫn phải đi bằng đôi chân của mình. Chư Phật không có bồng, không có ẵm, không có cõng người nào được hết. Nhớ cái này nha, nhớ cái này. Cái này quan trọng.
Và dù chúng ta có duyên lành cách mấy thì chư Phật chỉ hỗ trợ đến cái mức nào đó thôi. Còn nói đến chuyện người vô duyên, không có căn lành để thoát, thì chư Phật bó tay. Tôi nói, tôi có chứng minh luôn đó. Nếu mà chư Phật có thể tu giùm người khác, thì coi như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ lâu rồi, chứ đâu có đợi mà tu hành gì khổ, máu lệ tràn trề.
Và nếu mà chư Phật có thể độ cho người vô duyên, thì cái đám mình ở đây hiện giờ coi như lên tòa sen hết rồi. Phật lực vô biên, Phật trí vô hạn, nhưng không thể độ kẻ vô duyên. Phật lực thì vô biên, Phật trí thì vô hạn, nhưng không thể độ kẻ vô duyên. Có nghĩa là hai cái vô cộng lại đó: một cái vô biên, một cái vô hạn, mà cộng lại không thể độ cái anh vô duyên được. Tại vì ảnh coi như siêu cấp rồi, coi như là không còn chỗ nắm, thì làm sao mà Ngài độ được. Bởi vì nếu mà độ được thì thế giới đó đã khác rồi.
Rồi, bây giờ mình qua kênh khác. Mình học qua một cái kênh khác, cái kênh gọi là kênh cấp thiết.
Người nông dân chỉ cần làm đúng những chuẩn bị như dọn đất, gieo giống, phân bón, nước, chăm sóc đúng mức, thì tự nhiên rẫy ruộng nó phát triển. Không có cần phải dùng phép màu hay là cầu nguyện, khấn vái gì hết. Không có cần, chỉ cần làm đúng thôi.
Chỉ cần dọn đất đúng mức, rồi gieo trồng hạt giống đúng mức, rồi chăm sóc, tưới nước, nắng gió, mưa sương đúng mức, thì tự nhiên có thành quả ngay.
Ồi, gieo trồng lúa giống đúng mức, rồi chăm sóc thân và nước, nắng, gió, mưa, sương đúng mức thì tự nhiên có thành quả ngay.
Ở đây, một vị tỳ-kheo mà tu tập Tam học đúng mức thì tự nhiên quả giải thoát đến ngay, chứ không cần phải cầu khẩn ông này bà nọ: “Con được đắc, giúp cho con đắc cái đạo này, đạo kia.” Không có. Cứ bắt chước mấy thằng cháu nông dân. Mấy thằng cháu đâu có khẩn ai đâu. Mấy thằng cháu cứ làm đúng mức những chuyện cần làm thì tự nhiên lúa ba tháng, đủ ba tháng, nó ra; lúa sáu tháng, đủ sáu tháng, nó ra.
Chứ mình không thể nào cầu nguyện mà lúa sáu tháng ra trước ba tháng được. Chuyện đó không có. Măng cụt, sầu riêng thì phải đủ năm, phải trên năm năm, trừ cây ghép. Còn nếu trồng từ hột thì bắt buộc phải đủ năm năm, mười năm nó mới ra trái. Có điều là anh đã trồng ở mảnh đất nào và đã dành cho nó sự chăm sóc ra sao; đủ ngày, đủ tháng, đúng độ, nó ra trái, không phải cầu nguyện gì hết.
Đấy là một chuyện. Một vị tỳ-kheo khi đã tu tập Tam học đúng mức thì tự nhiên công viên quả mãn, chứng Thánh, lìa khổ. Cái chuyện đó là đương nhiên.
Nhưng ở đây có một chuyện vô cùng, vô cùng quan trọng mà tôi nghĩ, nếu tôi không nói ra ở đây thì coi như tối nào tôi ngủ cũng không yên, bởi vì đối với tôi đó là một thiếu sót. Các vị mở dùm tôi cái đuôi của bài kinh gọi là Kinh Đại Niệm Xứ, cái phần cuối. Đại Niệm Xứ, Trường Bộ hoặc Trung Bộ, có câu này:
“Nếu một vị tỳ-kheo tinh tấn, miên mật hành trì Bốn Niệm Xứ này thì sẽ nhận được các quả báo như sau: trong bảy năm, hoặc bảy tháng, hoặc bảy ngày, sẽ đắc chứng quả vị A-la-hán, hoặc tối thiểu cũng là Bất Lai, A-na-hàm.”
Với điều kiện này phải tu đúng.
Nhiều người nghe như vậy ham lắm. Những điều kiện tâm sinh lý hiện tại gồm có thời tiết, thực phẩm, đề mục, thầy bạn, trú xứ, rồi chưa kể những cái lặt vặt, ví dụ như áo quần, thuốc men có thích hợp hay không.
Còn các vị coi trong kinh, trong kinh kể là có những vị ở trong miệng cọp mà đắc, có những vị ở chỗ ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí mà đắc. Chứ họ đâu có cần điều kiện gì đâu?
Thì tôi xin thưa: các vị cứ so sánh như vậy mà tào lao quá. Các vị biết mấy người đó là ai hay không? Mấy người được mang thân người, mang thân nam, được gặp Phật, được xuất gia, các bạn tưởng tượng cái thứ gì bằng họ hay không mà sao cứ đi so toàn là mấy con cóc nội không vậy?
Đừng có so với họ. Đừng có so. Đừng có so với mấy vị đó, là bởi vì nội cái chuyện họ được mang thân người, được gặp Phật, được xuất gia, đó là mình thấy họ đã không phải tay mơ rồi. Cho nên chuyện họ cực khổ, đau đớn mà vẫn đắc là chuyện của họ. Mình đang nói chuyện của mình bây giờ nè: cái ba-la-mật của mình nó ra sao?
Và thêm một chuyện nữa rất là quan trọng. Nói là tu đúng, vậy tu làm sao? Tôi hỏi các vị: các vị có dám hứa một trăm phần trăm là các vị chánh niệm suốt trong bảy năm đó hay không? Trong suốt bảy năm đó, các vị có mắc một cái sở tri chướng, có nghĩa là thấy ta hay, ta giỏi, hay không? Trong bảy năm đó, các vị có bị mắc vào mười cái palibodha, là mười cái pháp trói buộc, hay không?
Tôi dám bảo đảm không? Các vị có biết mười cái pháp đó không?
Mắc vào mười cái palibodha là mười cái pháp trói buộc hay không? Tôi dám bảo đảm không? Các vị có biết mười cái pháp đó không?
Có nghĩa là bị ràng buộc bởi tình cảm, ràng buộc với trú xứ, ràng buộc với vật chất, ràng buộc bởi tình trạng sức khỏe, bởi điều kiện tài chánh, bởi quan hệ xã hội. Tổng cộng lại là mười thứ ràng buộc. Thì tôi hỏi các vị, có dám chắc với tôi là trong bảy năm đó, cái đầu của các vị hoàn toàn rảnh rỗi với mười cái thứ này hay không? Các vị có hứa không?
Đâu dám hứa. Đừng có ngồi đó mà nói dóc, đừng có ngồi đó mà nổ. Không phải dễ đâu. Các vị không nhớ chồng, nhớ vợ, nhớ con, nhớ mẹ, nhớ cha thì cũng phải bận tâm đến vấn đề sức khỏe, bận tâm đến thầy bạn chung quanh.
Mà sẵn đây tôi nói luôn, các vị hận tôi cũng nói. Đa phần đi tu trong thiền viện là nữ, mà nữ là tổ sư bồ đề cái vụ gì? Ganh tị.
Biết bao nhiêu nhân loại, biết bao nhiêu phần trăm nhân loại đã là nạn nhân của cái lòng ganh tị. Thấy dễ thương như vậy mà chỉ cần thấy thiền sư chăm sóc hành giả khác một chút là bắt đầu nói.
Nam thì không sao, mà nữ họ chịu không nổi. Mình đi dạy học, mình chỉ có vẻ hơi chăm sóc một học trò, một học viên trong lớp thôi là mấy người khác họ đã nhìn người học viên đó bằng cặp mắt ác cảm rồi. Dễ sợ chưa?
Mà nếu cô đó còn có một chút nhan sắc, một chút tài năng, một chút học vị gì đó là bắt đầu nó thả hồn, nó về nó dệt nhé. Mà đôi khi nam thì cái chuyện này không có. Nam thì không. Nó là như vậy.
Nam ngồi chung một đám nam, tự nhiên mình lấy một trái quýt ra, mình đưa cho thằng Tèo, thằng Tý, thì mấy thằng bên nó tỉnh bơ. Nhưng mà nữ thì không. Đưa con Lan, con Ngương, con Cúc, con Đào, con Yến là nó nổi dịch lên nhé.
Cho nên đừng có ngồi đó mà nói với tôi đó là bảy năm chuyên miên mật. “Miên mật” là miên Campuchia chứ làm gì có cái miên mật. Coi như là suốt bảy năm đó là bị phóng dật rồi, ganh tị rồi, bủn xỉn rồi, nhiều chuyện rồi, tùm lum hết.
Cho nên mình thấy trong kinh, bảy năm, hoặc là bảy tháng, hoặc là bảy ngày, mình phải coi cái bẫy của mình đó. Nó là bẫy mà... bẫy hay là bẫy hả? Nó là bẫy hay là bẫy? Muốn tu đúng, nó rất là khó.
Bởi vì chỉ có ba-la-mật nó chín muồi thì mình mới đẩy dạt hết mấy cái thứ tùm lum tầm bậy đó ra một bên.
Và cái điều này rất quan trọng. Ngài có nói rằng cái ông nông dân, ổng phải dọn đất, ổng phải chọn giống, rồi ổng phải chăm sóc đúng mức thì nó mới có kết quả trong rẫy, trong ruộng.
Thì trong cái chuyện tu tập là ba học, hoặc là tu tập Tứ niệm xứ, cũng y chang như vậy.
Cái chuyện này quan trọng nè. Luôn luôn bị ám ảnh là: tôi tu, tôi viễn lạc, tôi viễn não, tôi tiến bộ, tôi chánh niệm, tôi trí tuệ.
Nếu mà người ba-la-mật nhiều thì không có như vậy. Người ba-la-mật nhiều, họ nghe nhắc một lần họ nhớ:
Ở đây chỉ có sự khổ chứ không có người bị khổ.
Ở đây chỉ có con đường dẫn đến đau khổ, chứ không có ai tạo ra đau khổ.
Ở đây chỉ có con đường hành trì, chỉ có sự hành trì chứ không có ai hành trì.
Và mai này chỉ có sự đắc chứng, chứ không có ai đắc chứng.
Đây là cái câu thần chú mà bắt buộc phải nhớ nhé.
Nhưng mà theo 99,9% không có... Biết người Miến Điện rồi, tôi không nói chứ. Người Việt Nam mà tôi tiếp xúc là cứ... là...
Nhưng mà theo 19,9% không có... Biết người Miến Điện rồi, tôi không nói chứ. Người Việt Nam mà tôi tiếp xúc là cứ... là... là mai này mà gặp mình, chắc biết người khác họ nổ cỡ nào đó. Cứ gặp tôi là họ nói. Lúc này tôi hỏi họ học lúc này ra sao thì họ khoe, lúc này họ cũng hoan hỷ lắm, xuyên biến điện rồi. Coi như một năm bây giờ, coi như là hơn nửa năm rồi, họ đã biến điện tiến bộ lắm.
Họ nói, còn chồng họ hỏi là tôi không biết họ tiến chỗ nào mà họ khoe, cho nên nó banh xác luôn. Có nghĩa là tôi phải vội vã từ giã, bởi vì nếu tiếp tục tôi đứng mà họ nói, văng lên cây luôn, mà tôi không biết họ khoe cái gì.
Nếu mà ta có cái để khoe thì ta không còn muốn khoe nữa. Nếu ta có cái đáng để khoe thì ta không có muốn khoe nữa. Mà khi ta còn có cái muốn khoe thì ta không có cái gì đáng để khoe.
Cái câu này là quý vị phải xâm vô trong người rồi viết vô cái giấy, cái giấy học thuộc á, xong rồi xé riêng lại nuốt, bởi vì cái đây là bùa trong đạo Phật nha. Đây là cái bùa rất là linh để hỗ trợ cho tất cả những người đang theo đuổi pháp học, pháp hành. Đều phải thuộc lòng cái câu này rồi xé riêng nuốt. Còn không, đốt ra cho khói với nước lạnh uống mỗi ngày, mỗi ngày ba lần uống, chuyện nào mà nó hết cái tật khoe đó nha.
Một là cứ nhớ lấy này: Khi mà ta có cái đáng để khoe thì ta không còn muốn khoe nữa. Mà khi ta còn muốn khoe thì ta không có cái gì đáng khoe.
I-đan-me-ya-ti-na-ngo-tu-su-ki-ta-hun-tu-nya-te-yo.
I-đan-me-ya-ti-na-ngho-tu-su-ki-ta-hun-tu-nya-te-yo.
I-dan-me-pu-nyan-pa-so-wa-ka-ya-wa-ham-ho-tu.
I-đang-me-bu-nhan-ni-pa-na-sa-pa-ca-yo-ho-tu-ma-man-pu-nya-pa-gan-sa-pa-sat-ta-nan-ti-ma.
Sa-lu-sa-lu-sa...